Tứ pháp là gì

Tứ pháp là gì

Tứ Pháp là một sáng tạo tín ngưỡng đặc biệt của Việt Nam. Về sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng ở những ngôi chùa Tứ Pháp, chủ yếu là lễ cầu mưa, lễ cầu tạnh và rước giao hiếu. Các lễ này tiến hành vào hai dịp là ngày 17 tháng Giêng – ngày hóa Phật Mẫu Man Nương và ngày mùng 8 tháng Tư âm lịch – ngày sinh Phật Thích Ca (Phật Đản) và Tứ Pháp.

Tứ Pháp là một sáng tạo tín ngưỡng đặc biệt của Việt Nam. Về sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng ở những ngôi chùa Tứ Pháp, chủ yếu là lễ cầu mưa, lễ cầu tạnh và rước giao hiếu. Các lễ này tiến hành vào hai dịp là ngày 17 tháng Giêng – ngày hóa Phật Mẫu Man Nương và ngày mùng 8 tháng Tư âm lịch – ngày sinh Phật Thích Ca (Phật Đản) và Tứ Pháp.

Tứ pháp là danh từ để chỉ các Phật, Bồ Tát được dân gian coi như các nữ thần trong tín ngưỡng Việt Nam gồm: Mây-Mưa-Sấm-Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò quan trọng trong xã hội nông nghiệp. Sau này khi Phật giáo vào Việt Nam thì xuất hiện tín ngưỡng Tứ pháp với truyền thuyết về Phật Mẫu Man Nương. Tuy cai quản các vấn đề tự nhiên như: Vân – Vũ – Lôi – Điện (mây, mưa, sấm, chớp) nhưng khái niệm Tứ Pháp khác với các Thần trong tín ngưỡng dân gian ở chỗ: nếu chư thần là cái gì đó thuộc vê tự nhiên có quyền năng ban phúc giáng họa thì Tứ Pháp là do Phật, Bồ Tát vì tâm đại bi hóa hiện ra để thỏa mãn các mong cầu của chúng sinh, tức Tứ Pháp cũng là giả danh mà bản thể căn bản là Từ Bi, Trí tuệ. Tóm lại Tứ Pháp là sự “Phương Tiện” biến hóa các Bồ Tát ra các Vị cai quản các hiện tượng tự nhiên để nhân dân cầu mưa, cầu mát chứ không phải các thần tự nhiên thâm nhập vào Phật giáo, tuy hình thức có điểm chung nhưng ý nghĩa lại khác xa nhau.

Liên quan đến tín ngưỡng thờ Tứ Pháp còn có hệ thống các chùa gọi là Tứ pháp, hiện chỉ thấy trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Các vị đó gồm:

Tượng Pháp Vân tại chùa Keo, Gia Lâm, Hà Nội

Tượng Pháp Vũ, tục gọi Bà Đậu ở Chùa Dâu, Bắc Ninh

  • Pháp Vân (chủ quản mây)
  • Pháp Vũ (chủ quản mưa)
  • Pháp Lôi (chủ quản sấm)
  • Pháp Điện (chủ quản chớp)

Tuy được dân gian gắn cho vai trò như các thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp tự nhiên nhưng tên gọi có chữ “Pháp” đứng phía trước cho thấy các vị vẫn thuộc về Phật giáo. Phật giáo quan niệm “chư Pháp do duyên sinh” tức các khái niệm, sự vật như sông, núi cây cỏ, thần mây, ý tưởng… là các pháp vốn do nhiều nhân duyên tạo thành dựa trên nền tảng chung của các pháp là Tánh Không (đại diện bởi Thạch Quang Phật), và các vị Phật, bồ tát muốn tạo lợi ích cho vô lượng chúng sinh có thể hóa ra cả các vị thần, trời, vua… để giúp đỡ họ. Được sinh ra từ Phật giáo nên họ được gọi là Tứ Pháp chứ không ai gọi là Tứ Thần. Ngay tên gọi bốn ngôi chùa Thiền Định – Thành Đạo – Phi Tướng – Trí Quả cũng nêu biểu các giai đoạn tu tập Phật giáo chứ không phải tín ngưỡng thần linh.

Các tượng Tứ Pháp rất đặc biệt, tuy các tượng còn tồn tại đa số là tạc lại vào thế kỷ 17-18, được gọi là các “bà” nhưng tượng không hề ảnh hưởng của tín ngưỡng Mẫu bản địa vốn phát triển giai đoạn này mà vẫn giữ được những nét cổ kính như khuôn mặt của phụ nữ Ấn độ, dáng cao to (Pháp vân) và điểm chung là đầu tượng là đầu “bụt ốc” tức tóc xoăn bện lại như các pho tượng Phật. Đây là hình ảnh khác xa với tên gọi các “bà” hay hình ảnh mẫu, nữ thần đương thời. Tượng Tứ Pháp lại không bao giờ tạc bầu ngực của phụ nữ thay vào đó cơ thể mang đậm phong các Nam giới, có lẽ cách gọi các “bà” và tượng tạc thân nam là dạng kết hợp Từ Bi – Trí Tuệ của nhà Phật (trong Phật giáo người nam biểu thị cho phương tiện, từ bi, người nữ biểu hiện cho trí tuệ, các Phật, bồ tát là các vị viên mãn hay tích lũy hai phẩm tính này). Mặc dầu phần đầu các pho tượng Tứ Pháp được tạc giống như chư Phật nhưng các tượng này thường là tượng sơn son chứ không thếp vàng như tượng Phật.

Trong bốn vị Tứ Pháp thì Pháp Vân, Pháp vũ là hai vị được thờ cúng rộng rãi nhất. Thông thường Pháp vân được coi là vị đại diện cho cả Tứ Pháp.

Ở bất cứ tôn giáo nào, ngoài những ý tưởng xây nên học thuyết, bên cạnh đó là cả một hệ thống kiến trúc minh họa cho ý tưởng trên, các công trình kiến trúc hoàn thành dựa trên nhận thức, thói quen, sở thích xây dựng của mỗi dân tộc, cho nên khó mà nói rằng các công trình kiến trúc bằng đá đã hơn các dạng kiến trúc được dựng từ các chất liệu khác.

Chùa Tổ

 

Chùa Tổ có tên chữ là “Phúc Nghiêm tự” thuộc thôn Mãn Xá (Làng Mèn), tổng Khương Tự, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc. Nay là thôn Mãn Xá, xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Từ lâu đời, chùa Tổ đã nổi tiếng cổ kính thâm nghiêm với truyền thuyết về Phật mẫu Man Nương. Đây là điểm di tích quan trọng, gắn liền với hệ thống các chùa thờ Tứ Pháp ( Chùa Dâu, Đậu, Dàn, Tướng) trong vùng. Chùa nằm trên một khu đất cao, thoáng, rộng thấp thoáng dưới những tán cây cổ thụ, bao quanh là nhà cửa dân cư và những cánh đồng lúa, hoa màu tươi tốt.

Theo thư tịch cổ và truyền thuyết dân gian, cụ thể là truyền tích ” Cổ Châu Phật bản hạnh” chùa Tổ thờ Phật mẫu Man Nương là người “sinh” ra Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) từ thế kỷ II đầu Công nguyên. Truyền rằng, chùa được xây trên nền nhà cũ của ông bà Tu Định – thân phụ và Ưu Di – thân mẫu của Man Nương (Tại làng Mãn Xá Đông hiện có nhà thờ Họ Man, trong giao phả và các tài liệu thư tịch mà dòng họ Man hiện còn lưu giữ cũng có ghi chép về gia đình ông bà Tu Định và A Man/ Man Nương). Khi ông bà Tu Định hiển Thánh thì ngôi nhà trở thành chùa ( Bán Gia vi Tự). Chùa Tổ vốn được khởi dựng từ lâu đời và được nhiều triều đại trùng tu, đến nay chỉ còn tòa Tam Bảo thượng (Thượng điện) là công trình kiến trúc của thời Nguyễn còn bảo lưu khá nguyên vẹn. Trung tâm điện phật (Tòa thượng điện) là nơi thờ Phật mẫu Man Nương. Tượng Phật mẫu Man Nương được tạo tác trong tư thế tọa thiền trên tòa sen, cao gần 1,70m, được tạo giống với các tượng Tứ Pháp, khuôn mặt từ bi thánh thiện, toàn thân phủ một lớp sơn mầu mận chín đầy vẻ huyền bí linh thiêng. Phía trên cao hơn là tượng ông bà Tu Định là thân phụ và thân mẫu của Man Nương, toàn thân sơn mầu nâu sẫm, áo cà sa khoác ngoài trùm kín đùi. Góc bên phải của Thượng điện tượng sư tổ Khâu Đà La, đầu trọc để trần, khuôn mặt từ bi, ngồi thiền trên tòa sen, áo cà sa khoác ngoài.

Hiện chùa Tổ còn bảo lưu được nhiều tài liệu cổ vật quý giá như: tượng thờ, bia đá, sắc phong, hoành phi, câu đối… Trong đó, sắc phong triều vua Cảnh Hưng thứ 14 (1786) phong cho sư tổ Khâu Đà La và một sắc phong triều vua Khải Định thứ 8 (1923) phong cho Phật Mẫu Man Nương. Các tài liệu cổ vật quý giá đó đã minh chứng sự có mặt của hai con người Khâu Đà La và Man Nương là có thật, và chính họ đã tạo nên Sơn môn Dâu cùng hệ thống Tứ Pháp đầu Công nguyên. Đặc biệt chùa còn bảo lưu được một tấm bia đá còn khá nguyên vẹn, có kích thước (cao 172,5cm, rộng 98cm, dày 15cm) trán bia chạm nổi hình lưỡng long chầu nguyệt, diềm chạm hoa lá, vân mây cách điệu, tên bia “Phúc Nghiêm tự sự tích bi” được dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 12, đến năm Tự Đức 26 (1873) được khắc lại, nội dung cho biết sự tích của Phật mẫu Man Nương và hệ thống Tứ Pháp, nội dung có thể tóm tắt như sau:

Xưa, sư Khâu Đà La người nước Thiên Trúc hành đạo Bà La Môn. Từng ở trên núi cao, không cần tu viện lớn mà chu du khắp bốn biển. Bấy giờ, vào thời Hán đã đến thành Luy Lâu nước ta. Bên cạnh thành Luy Lâu có ông bà Tu Định người làng Mãn Xá rất kính mộ phép thuật của nhà sư. Khâu Đà La thường ngồi tĩnh tọa không ăn uống. Trong lòng Tu Định biết là Phật xuất thế nên rất kính cẩn mến mộ. Tu Định có một người con gái xinh đẹp nết na, đã cho theo thày học đạo. Nhà sư nói với Tu Định rằng: “Ông nhập Phật Pháp của ta là sớm có duyên, Man Nương có đạo ngày kia sẽ thành Đại pháp khí” và còn giúp Tu Định phép thuật lấy nước cứu hạn giúp dân, rồi nói lời từ biệt vào trong núi tu hành. Một hôm, Man Nương đến bỗng có rồng mây cuốn quanh mình rồi cảm động mà mang thai. Man Nương sợ hãi nói rõ sự việc với cha mẹ. Ông bà Tu Định kinh ngạc vào núi để nói rõ sự tình với Đà La. Nhà sư bảo rằng: “Man Nương có thai là do nhân thiên hợp khí”. Man Nương có mang được 14 tháng, đến ngày 8 tháng 4 sinh được một bé gái, trong phòng hương thơm khác lạ lan tỏa đầy nhà. Man Nương liền bế con vào nơi núi non tìm thày, trời âm u không thấy rõ ràng, chỉ nghe thấy tiếng tụng niệm, bèn quay lại nói với cây dung thụ rằng: “Nếu có thiêng hãy ôm lấy hài nhi này”. Cây bèn mở thân, bèn đặt đứa bé vào đó, cây khép lại…

Sau đó, trời mưa to gió lớn giật đổ cây dung thụ trôi đến cửa bến thành Luy Lâu, trong cây như có tiếng nhạc, ánh sáng chiếu rọi, mùi hương thơm phức, mọi người đều thấy. Sĩ Vương trong thành thấy lạ, bèn lệnh cho quan quân xem xét, quả nhiên như vậy, đến đêm mộng thấy một vị Thần nói rằng: “Cây này là thần mây, mưa, sấm, chớp”. Vương bèn ban bố với quần thần trong triều tạc tượng Phật để thờ và lệnh cho thợ cắt cây làm bốn đoạn tạc thành bốn tượng. Khi tượng tạc xong đã lệnh cho nhân dân sáng lập các chùa: Thiền Định – Diên Ứng (Dâu), Thành Đạo (Đậu), Phi Tướng tự và chùa Phương Quan (Dàn) Trí Quả để thờ phụng. Lúc khánh thành khi còn chưa đón vào chùa thì gặp đại hạn. Vương bèn cầu khấn, bỗng nhiên mưa to. Vì thế nhớ mộng trước bèn đặt tên là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Đến khi rước vào chùa, ba tượng xe chở rất nhẹ, còn tượng Pháp Vân nặng không thể được. Vương cho thợ tạc tượng đến hỏi, thợ tâu trong cây có hòn đá đã vứt xuống sông, lại lệnh cho ngư dân đi mò tìm vì biết cây đó chứa con của Man Nương và tạc thành tượng Thạch Quang để thờ. Vương lại lệnh cho nhân dân tạc tượng Tam tổ sáng lập chùa Phúc Nghiêm.

Thời Tam quốc, Đào Hoành làm thái thú Giao Châu nghe thấy tiếng Tứ Pháp linh thiêng, đã lệnh cho xây đàn lớn, không được xâm phạm, hương hoả cung kính; mỗi khi gặp dịch bệnh thì phụng quốc mệnh cầu đảo, tai ương lập tức qua khỏi. Thời Tấn, Đào Khản làm thái thú Giao Châu, muốn rước tượng về nước, lấy hàng ngàn tráng sĩ hợp sức di chuyển cũng không được. Thời Tùy, sai Lưu Phương đến châu của ta tìm đến Tam tổ chùa Tứ Pháp yết bái để thoả sự mong mỏi. Đường Xương khi rời qua châu của ta đã đích thân đến chùa Phúc Nghiêm, lệnh cho chép lại sự tích để dâng lên vua Đường. Nước ta đến mùa thu năm đầu thời Lý Nhân Tông, mưa mãi không tạnh, ngài đã đích thân đến cầu mưa tạnh. Năm Thái Ninh thứ 3 gặp đại hạn, vua lệnh cho rước tượng Phật vào Thủy Tinh điện, thân cung pháp phục dâng hương bái lạy, đêm ấy trời đã đổ mưa. Quân Tống đến cướp nước, tướng Cao Quỳ định áp sát lấy trộm mang về. Khi đến cánh đồng Vũ Bình đã bị quân ta truy đuổi đánh cho tan tác, mọi người trong nước đều nghĩ Phật đã bị mất. Mùa đông năm ấy thả lửa đốt đồng, chỉ có đức Phật ở đó vẫn xanh tươi. Vua nghe thấy thế liền lệnh cho đón về chùa. Thời vua Lý Anh Tông gặp đại hạn, liền đón về chùa Báo Thiên, nhà vua và Thái hậu đích thân hành lễ cầu mưa, khi xa giá trở về trời đã đổ mưa lớn. Đến thời vua Lê chúa Trịnh, hàng năm sai quan triều đình đến cúng tế để giữ mạch đất nước lâu dài. Năm Canh Thân lại đại giá thân chinh đặc mệnh cho Thuyên nghĩa hầu Lê Kim Hội đến lấy trống làm hiệu, khi đại định lại gia ban áo gấm mũ trụ. Tiếp nối về sau, phàm việc cầu tạnh, cầu mưa, trước tiên đến đón Tứ Pháp về bái yết chùa Phúc Nghiêm và chùa Diên Ứng cầu đảo ba ngày. Sau mới đón Tam tổ hội cùng tế cáo, đặt làm lệ mãi như vậy. Nước Việt ta có Phật khởi phát ở nơi này.

Chùa Tổ và hệ thống chùa Tứ Pháp vùng Dâu huyện Thuận Thành là tinh hoa của sự dung hội giữa Phật giáo Ấn Độ khi du nhập vào nước ta với tín ngưỡng bản địa của người Việt cổ thờ các lực lượng tự nhiên (mây, mưa, sấm, chớp), để tạo nên một trung tâm tín ngưỡng tôn giáo mang đậm sắc thái dân tộc. Từ trung tâm Dâu, Phật giáo đã lan tỏa đi khắp các vùng miền của cả nước. Vì vậy, chùa Tổ và hệ thống của Tứ Pháp đã trở thành dấu tích quan trọng của quá trình hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam. Với giá trị đặc biệt về lịch sử Văn hóa,Tôn Giáo và tín ngưỡng của ngôi chùa Tổ – Phúc Nghiêm Tự, đã được Bộ Văn Hóa và Thông Tin xếp hạng và công nhận là di tích cấp Quốc Gia từ năm 2001 ./.

Nho Thuận

Tục thờ Tứ Pháp ở Hiệp Hòa

 

(BGĐT) – Thờ Tứ Pháp là nét văn hóa đặc sắc tồn tại khá phổ biến ở Đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có vùng đất Hiệp Hòa (Bắc Giang). Tứ Pháp bao gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, tượng trưng cho những thế lực thiên nhiên như: Mây, mưa, sấm, chớp.

Tục thờ Tứ Pháp được lưu truyền từ lâu và đã được ghi chép trong rất nhiều truyện sách cổ xưa với những chi tiết khác biệt. Tuy nhiên, nguồn gốc của Tứ Pháp được nhiều người biết đến nhất được ghi lại qua bản “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục” khắc gỗ tại chùa Dâu (Bắc Ninh) được khắc vào năm thứ 13 niên hiệu Cảnh Hưng (1752) với nội dung chính: Ở vùng Thuận Thành, Bắc Ninh, có cô gái 12 tuổi Man Nương đến chùa Phúc Nghiêm học đạo.

Tứ Pháp, Bắc Giang, Hiệp Hòa, Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện
Đền Tam Đông Vọng thờ thần Tri Nông gắn với tục cầu mưa tại xã Lương Phong (Hiệp Hòa).

Trụ trì chùa là nhà sư người Ấn Độ tên Khâu Đà La. Nhà sư tình cờ bước qua người Man Nương, nàng thụ thai sinh hạ một bé gái, đứa bé được nhà sư dùng phép chú đưa vào cây Dung Thụ già. Sau đó, nhà sư trao cho Man Nương một cây gậy thần có thể làm mưa cứu hạn hán cho dân làng.

Khi Man Nương 80 tuổi, cây Dung Thụ đổ trôi về bến sông Dâu thì không trôi nữa. Thái thú Sĩ Nhiếp cai quản Giao Châu lúc đó nằm mộng phải tạc tượng Phật từ cây Dung Thụ đó nhưng bằng cách nào cũng không kéo được cây lên bờ, chỉ khi có dải yếm của Man Nương kéo vào thì mới được cây lên bờ. Cây Dung Thụ được tạc thành 4 pho tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện mang vào chùa thờ tự. Trong thân cây, con của Man Nương đã hóa thành đá và được gọi là “Thạch Quang Phật”, hiện được thờ tại chùa Dâu. Bà Man Nương mất vào ngày mồng 8 – 4, cũng chính là ngày đản sinh của Thái Tử Tất Đạt Đa. Sau khi mất bà được người đời xưng tụng thành Phật Mẫu Man Nương.

Tích truyện trên cho thấy bản chất của hệ thống Tứ Pháp ở Việt Nam, đó là sự dung hòa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian bản địa của cư dân nông nghiệp. Đầu tiên, Phật Tứ Pháp chỉ được thờ trong các chùa ở vùng Luy Lâu (Bắc Ninh). Sau này, tín ngưỡng thờ Tứ Pháp phổ biến tại nhiều vùng miền khác nhau, trong đó có Hiệp Hòa.

Tại xã Lương Phong (Hiệp Hòa) có nhiều di tích thờ Tứ Pháp và tên địa danh gắn với tục thờ này. Điển hình như chùa Pháp Lôi thờ tượng Tứ Pháp, đền Tam Đông Vọng thờ thần Tri Nông gắn với tục cầu mưa. Tại đình Hậu, thôn Sơn Quả còn thờ Thành Hoàng là thần Pháp Lôi, một trong bốn vị Tứ Pháp. Nơi đây còn có các địa danh như: Làng Sấm, làng Chớp, chợ Gió, kẻ Gió… gợi sự liên tưởng tới các vị thần Tứ Pháp. Điều đặc biệt trong lễ hội làng Sấm và làng Chớp còn có tục cầu mưa gắn liền với tín ngưỡng nông nghiệp của cư dân Việt cổ. Tục cầu mưa chỉ diễn ra vào những năm hạn hán.

Tại đền Tam Đông Vọng có tục thờ thần Tri Nông cũng gắn với nghi lễ cầu mưa. Hằng năm vào ngày 10-10 âm lịch, dân làng tổ chức lễ hội truyền thống. Những năm hạn hán, làng lập đàn lễ cầu đảo trong ba ngày, cũng có năm chỉ làm lễ một hai ngày thì trời đã có mưa. Trong lễ hội có nghi thức độc đáo vũ văn tức đọc văn cầu đảo. Đây là tín ngưỡng nông nghiệp của cư dân Việt cổ. Qua hình thái tín ngưỡng này người nông dân muốn thể hiện ước muốn cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

Thờ Tứ Pháp có nguồn gốc từ tín ngưỡng bản địa mang đậm sắc thái của nền văn minh nông nghiệp lúa nước kết hợp với Phật giáo. Từ trung tâm Luy Lâu (Bắc Ninh), tín ngưỡng đã phát triển rộng ra trong đó có vùng đất Hiệp Hòa. Nghiên cứu tìm hiểu về tục thờ Tứ Pháp ở Hiệp Hòa góp phần làm sáng tỏ hơn về vùng đất, con người nơi đây. Đồng thời thấy được ý nghĩa việc bảo tồn và phát huy giá trị của tục thờ này trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc.

 width=

Huyện Hiệp Hòa phục chế trống đồng Bắc lý

(BGĐT) – UBND huyện Hiệp Hòa vừa thực hiện khôi phục trống đồng Bắc Lý, một loại hình cổ vật quý hiếm chứa đựng những tinh hoa và trí tuệ của người Việt cổ được tìm thấy trên địa bàn.

 width=

Sức sống mới ở vùng ATK II Hiệp Hòa

(BGĐT) – An toàn khu II (ATK II) Hiệp Hòa, nơi diễn ra nhiều hoạt động thời kỳ tiền khởi nghĩa của Trung ương Đảng, Xứ ủy Bắc kỳ, Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ… Tiếp nối truyền thống Anh hùng, vùng quê này đang chuyển mình mạnh mẽ, KT-XH phát triển, cuộc sống nhân dân ngày càng cải thiện.

Quốc Khánh

Tứ Pháp, Bắc Giang, Hiệp Hòa, Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện

* Hình ảnh độc đáo về đình, chùa cổ Việt Nam – Vườn CVA 5461

 

Đàm Hữu Cẩn sưu tầm

 

 

Chùa Thiên Niên (Hà Nội) : hay còn gọi là chùa Trích Sài nằm ngay sát bờ hồ
Tây, thuộc làng Trích Sài, phường Bưởi, quận Tây Hồ. Chùa xuất hiện từ thời Lý
Nam Đế (544 – 548). Chùa đã được bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch đánh giá, xếp
hạng và tổ chức trùng tu nhân sự kiện 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.

 

Chùa Trấn Quốc (Hà Nội)  : Là một
trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, nằm cạnh Hồ Tây bên đường Thanh Niên. Chùa
được xây từ thời Lý Nam Đế ở gần sông Hồng, đến năm 1615, được di dời vào vị
trí ngày nay. Nơi đây có vườn tháp cổ u tịch, có nhiều tượng Phật giá trị, đặc
biệt là tượng Thích Ca nhập Niết Bàn và là di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Đền Quán Thánh (Hà Nội), : Tên chữ là Trấn Vũ Quán, có từ đời Lý Thái Tổ
(1010 – 1028). Nơi đây thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, là một trong bốn vị thần được
lập đền thờ để trấn giữ bốn cửa ngõ thành Thăng Long khi xưa. Bốn ngôi đền đó
gồm Đền Bạch Mã, Voi Phục, Kim Liên và Quán Thánh. Đền Quán Thánh nằm gần Hồ
Tây cùng với Kim Liên và Trấn Quốc tạo nên sự hài hoà trong kiến trúc cảnh quan
và văn hoá tín ngưỡng đối với cả khu vực phía Tây Bắc của thủ đô.

Đình Chèm :  Là đình của làng Chèm
(Thủy Phương), phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm. Đình là công trình kiến
trúc có nghệ thuật chạm khắc độc đáo, thờ Thượng đẳng Thiên vương Lý Ông Trọng
(Lý Thân hay Đức Thánh Chèm), một nhân vật huyền thoại và Hoàng phi Bạch Tĩnh
Cung sống vào thời An Dương Vương. Đình Chèm là một trong những ngôi đình cổ
nhất Việt Nam. Từ nghìn năm nay, đình Chèm vẫn là nơi thờ cúng tín ngưỡng của
người dân ba làng gồm làng Hoàng, làng Mạc và làng Chèm (Đông Ngạc, Bắc Từ
Liêm).

Đình Bảng : Là một ngôi đình nằm ở làng Đình Bảng (xưa là làng Cổ Pháp),
thị xã Từ Sơn (Bắc Ninh). Đình được xây dựng vào cuối thế kỷ 18 thờ các vị
thành hoàng gồm Cao Sơn Đại vương (thần Núi), Thủy Bá Đại vương (thần Nước) và
Bách Lệ Đại vương (thần Đất) đồng thời thờ sáu vị có công lập lại làng vào thế
kỷ 15.

 

Chùa Tiêu :  Hay còn gọi là chùa
Thiên Tâm, Tiêu Sơn tự, nằm trên lưng chừng núi Tiêu thuộc xã Tương Giang,
huyện Tiên Sơn (Bắc Ninh). Ðây là nơi trụ trì của thiền sư Lý Vạn Hạnh, người
đã có công nuôi dạy Lý Công Uẩn.

Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) : Chùa nằm hiện lên với vẻ cổ kính và trang
nghiêm và nằm dưới chân đê của con sông Cầu thơ mộng. Tên chữ là Ninh Phúc Tự,
được xây dựng từ thời vua Trần Thánh Tông theo kiểu “nội công ngoại quốc” với
một hệ thống các công trình hài hoà, cân xứng và sinh động. Đây còn là nơi lưu
giữ bức tượng Phật nghìn mắt, nghìn tay cổ độc nhất vô nhị Việt Nam.

Chùa Cần Linh (Nghệ An) : Thường được gọi là chùa Sư Nữ, tọa lạc ở phường
Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Chùa thuộc hệ phái Phật giáo Bắc tông,
xây dựng vào thời Hậu Lê. Năm 1942, sư bà Diệu Viên đã tổ chức đại tu ngôi
chùa, bảo tồn được nhiều tượng cổ. Sau đó đến Ni sư Diệu Niệm trong 20 năm trụ
trì đã trùng hưng ngôi chùa thành một danh lam xứ Nghệ ngày nay.

Chùa Nhất Trụ (Ninh Bình) : Được tạo lập năm 995. Vua Lê Đại Hành đã cho
dựng cột kinh (trụ đá) để khắc kinh dâng nhà Phật và xây dựng theo kiểu chữ
Đinh, hướng chính Tây, gồm có cột kinh, chính điện, nhà tổ, phòng khách, nhà
ăn, tháp… Chùa có tên Nhất Trụ vì trước chùa có cột đá cao hơn 3m, tiết diện
hình bát giác. Trên thân cột ngoài 3 phần chữ khắc gồm có Lạc khoản, Kệ, Kinh
còn có các chữ “Đệ tử Thăng Bình Hoàng đế tả đạo” (“Hoàng đế Thăng
Bình” tức vua Lê Hoàn). Chùa nằm ở vị trí trung tâm, là di tích quan trọng
nhất, là nơi tu hành và họp bàn việc nước của các nhà sư thế kỉ X như Pháp
Thuận, Khuông Việt và Vạn Hạnh. Trải qua các thời kì lịch sử của dân tộc, trước
thử thách của gió bão, bom đạn chiến tranh, trụ đá vẫn còn đứng mãi với thời
gian.

Chùa Cổ Lễ : Thuộc thị trấn Cổ Lễ huyện Trực Ninh (Nam Ðịnh), cách thành
phố Nam Định 15 km về phía Nam. Chùa do Hoà thượng Phạm Quang Tuyên xây dựng
tháng 11/1920, có quy mô kiến trúc rộng lớn, hài hòa, được kết hợp các yếu tố
cổ truyền Việt Nam với kiến trúc gothic châu Âu.

Chùa Đồng Đắc : Thuộc thôn Đồng Đắc, xã Đồng Hướng (Ninh Bình), là chùa lớn
nhất ở vùng Công giáo huyện Kim Sơn. Năm 1829, một nhà sư họ Lê đã đến nơi đây
và được Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ ủng hộ chọn một khu đất cao nhất ở trung
tâm xã Đồng Đắc để xây dựng chùa.

Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang : Là một biểu tượng Phật giáo tâm linh của người dân
Quảng Trị. Chùa được hình thành từ thời chúa Nguyễn Hoàng khi mới vào Nam lập
nghiệp. Đây là một trong những ngôi tổ đình có mặt sớm nhất và có ảnh hưởng rất
lớn đến Phật giáo và văn hóa của xứ Đàng Trong. Ngày 15/11/1991, Nhà nước đã
chính thức xếp hạng chùa là di tích cấp quốc gia hạng A1.

Chùa Bửu Long  : Có kiến trúc vừa
hoành tráng vừa hiện đại nhưng cũng có nhiều nét cổ kính nhất của nền văn minh
Suvannabhumi cổ đại trong vùng Đông Nam Á. Chùa có ảnh hưởng của văn minh Phật
giáo Ấn Độ thời đại vua Asoka. Thiền Viện Tổ Đình Bửu Long nguyên là một Tịnh
Thất có khuôn viên rộng hơn 11 ha, tọa lạc trên ngọn đồi phía Tây ngạn sông
Đồng Nai, trong công viên Lịch sử Văn hóa Dân tộc tại khu phố Thái Bình 1,
phường Long Bình, Quận 9 Saigon.

 

 

Đầu năm tìm về những ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam

 

(Tổ Quốc) – Với người Việt Nam, đầu xuân năm mới, mọi người thường rủ nhau đi lễ chùa để cầu sức khỏe, bình an và may mắn. Đạo Phật có nguồn gốc từ Ấn Độ du nhập vào Việt Nam ( khoảng 563-487 trước công nguyên) và Bắc Ninh là cái nôi Phật giáo Việt Nam phồn thịnh còn tới ngày nay. Nhân dịp đầu xuân Kỷ Hợi 2019, hãy cùng báo điện tử Tổ Quốc tới thăm 3 ngôi chùa cổ được coi là có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam trên mảnh đất Bắc Ninh – Kinh Bắc.

Đầu năm tìm về những ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam - Ảnh 1.
Đầu năm tìm về những ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam - Ảnh 2.
Đầu năm tìm về những ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam - Ảnh 3.

Tượng phật cổ tại chùa Dâu

Đầu năm tìm về những ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam - Ảnh 4.

Nói đến chùa cổ của xứ Kinh Bắc – Bắc Ninh, không thể không nhắc tới chùa Dâu, là ngôi chùa được coi là có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam mặc dù các dấu tích vật chất không còn, nó đã được xây dựng lại. Chùa là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay. Đây cũng là một di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam được xếp hạng đợt 4.

Chùa Dâu, còn có tên là Diên Ứng, Pháp Vân, hay Cổ Châu, là một ngôi chùa nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km. Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam. Chùa còn được người dân gọi với những tên gọi khác nhau như chùa Cả, Cổ Châu tự, Diên ứng tự.

Chùa Dâu tọa lạc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Chùa được xây dựng vào buổi đầu Công Nguyên. Các nhà sư Ấn Độ đầu tiên đã từng đến đây. Vào cuối thế kỷ 6, nhà sư Tì-ni-đa-lưu-chi từ Trung Quốc đến chùa này, lập nên một phái Thiền ở Việt Nam. Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, là ngôi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa, Phật giáo Việt Nam, được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử ngày 28 tháng 4 năm 1962.

Đầu năm tìm về những ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam - Ảnh 5.
Đầu năm tìm về những ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam - Ảnh 6.
Đầu năm tìm về những ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam - Ảnh 7.
Đầu năm tìm về những ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam - Ảnh 8.

Tượng phật cổ trăm tay nghìn mắt tại chùa Bút Tháp

Đầu năm tìm về những ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam - Ảnh 9.

Chùa Bút Tháp (Ninh Phúc tự) thuộc xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, là một ngôi chùa cổ có quy mô kiến trúc lớn ở đồng bằng Bắc Bộ còn lại đến ngày nay. Chùa có kiến trúc độc đáo, được thiết kế hài hòa với môi trường thiên nhiên, bảo đảm nguyên tắc Phật giáo nhưng vẫn giữ phong cách văn hóa truyền thống của người Việt. Năm 2013, chùa Bút Tháp được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.

Chùa Bút Tháp Bắc Ninh là một quần thể kiến trúc còn giữ lại nhiều di tích của thế kỷ 17. Phật điện của chùa gần như nguyên sơ của chùa cổ Việt Nam, gồm 10 nếp nhà nằm trên mộ trục dài hơn 100 m. Qua cửa Tam quan, đến gác chuông hai tầng, tám mái.

Chùa Bút Tháp Bắc Ninh có tháp Bảo Nghiêm thờ Hòa thượng Chuyết Chuyết, trông tháp giống như cây bút khổng lồ vươn thẳng tới trời cao thanh vắng. Tháp cao 13,05 m, năm tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh; ngoài tầng đáy rộng hơn, bốn tầng trên gần giống nhau, rộng 2 m. Năm góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ. Lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,29 m. Ngoài kỹ thuật xây dựng đá, phần bệ tượng được bao quanh bằng hai vòng tường cấu tạo bằng cột và lan can. Riêng ở tầng trệt của tòa tháp này có mười ba bức chạm lấy đề tài động vật làm chính. Tháp thể hiện tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc tuyệt vời của người thợ Việt Nam xưa.

Đầu năm tìm về những ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam - Ảnh 10.
Đầu năm tìm về những ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam - Ảnh 11.
Đầu năm tìm về những ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam - Ảnh 12.
Đầu năm tìm về những ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam - Ảnh 13.

Tượng A Di Đà thời Lý được coi là báu vật quốc gia

Chùa Phật Tích: Chùa có tên là Vạn Phúc thuộc thôn Phật Tích, xã Phật Tích huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội 20 km về phía Đông. Nếu từ Hà Nội, đi theo đường quốc lộ số 1 mới (đường cao tốc), đến biển chỉ đường “Chùa Phật Tích”, rẽ tay phải vào đường số 295, đi 7 km thì đến chùa Phật Tích.

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư” (tập I, NXB Khoa học xã hội, H. 1971) thì chùa Vạn phúc được xây dựng vào năm 1057. Nhưng theo “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh” (bộ ván khắc còn lưu ở chùa Dâu huyện Thuận Thành) và truyền thuyết dân gian thì có thể chùa Phật Tích có từ cuối thế kỷ thứ III.

Cũng như chùa Dâu, chùa Bút Tháp,… chùa Phật Tích là di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu được giới nghiên cứu các ngành khoa học xã hội, nghiên cứu nghệ thuật, nghiên cứu tôn giáo trong và ngoài nước rất quan tâm tìm hiểu./.

Những bí ẩn của lịch sử Việt Nam: Ngôi chùa cổ của Việt Nam

 

Người
ta nói Hà Bắc (hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang bây giờ) là đất thần đất
thánh. Có nhiều chùa cổ nằm trên miền đất này: chùa Dâu, chùa Bút Tháp,
chùa Phật Tích,… Chùa Dâu là ngôi chùa cổ nhất ở cố đô Luy Lâu (thế kỷ
thứ 2 sau Công nguyên), và là trung tâm Phật Giáo lớn nhất ở Việt Nam.

 

Chùa nằm phía nam cổ thành Luy Lâu,
trên một khu đất rộng bên bờ sông Thiên Đức cũ (nay thuộc thôn Khương
Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Theo sử sách, xa
xưa người dân ở đây thường sống bằng nghề trồng dâu, nuôi tằm và cấy
lúa nước. Có lẽ vì vậy mà dân gian xưa gọi là vùng dâu hoặc Kẻ Dâu.

 

Với ý nghĩa là một trung tâm Phật
giáo từ đầu Công nguyên, ở đây đã đào tạo được 500 vị tăng ni, dịch được
15 bộ kinh, làm được hàng chục bảo tháp. Nhiều vị cao tăng nổi tiếng đã
đến đây trụ trì như: Mâu Bát, Tì Ni Da Lưu Chi, Khang Tăng Hội, Pháp
Hiền,…

 

Chùa Dâu ngày nay là kiến trúc tu sửa
của thời Hậu Lê (thể kỷ 17-18). Chùa chính được bố cục theo kiểu “nội
công ngoại quốc”, nằm trong khuôn viên hình chữ nhật 30×70 mét) bao gồm
tiền đường, tháp Hòa Phong, tả trường lang, hữu trường lang, đại bái
đường, Phật điện, cung cấm, hậu đường, Thạch Quang am. Dân gian có câu:

 

Dù ai đi đâu về đâu

Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về

Dù ai buôn bán trăm nghề

Tháng tư, ngày tám nhớ về hội Dâu

 

Năm 12 tuổi, Man Nương được bố mẹ đưa
vào chùa Linh Quang (thuộc huyện Tiên Sơn ngày nay) để tu. Một hôm Man
Nương đang nằm ngủ, nhà sư Khâu Đà La vô tình bước ngang qua người. Bà
Man Nương có mang, sau 14 tháng thì sinh ra một cô con gái. Trước khi về
Tây Trúc (Ấn Độ), ông Khâu Đà La đã trao cho Man Nương một cây gậy tầm
xích dặn là khi nào hạn hán mang ra cắm xuống đất sẽ cứu được mọi sinh
linh. Còn em bé gái, nhà sư niệm chú rồi gửi vào một hốc cây dâu bên bờ
sông Thiên Đức.

 

Sau khi sư về Tây Trúc, hạn hán kéo
dài ba năm. Man Nương liền dùng gậy tầm xích cắm xuống đất. Nước phun
lên tràn ngập. Rồi tiếp đó là một trận mưa to khủng khiếp. Cây dâu bị đổ
trôi về thành Luy Lâu. Thái thú Sĩ Nhiếp cho quân kéo lên mà không
được. Bà Man Nương ra sông giặt yếm, nhìn thấy cây dâu chợt nhớ đến con
liền gọi: “Có phải con của mẹ thì vào đâỵ” Cây dâu từ từ trôi vào. Bà
Man nương dùng dãi yếm kéo cây lên bờ, cho xẻ tạc thành bốn tượng Phật
gọi là tứ pháp, đặt phật hiệu là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện
tượng trưng cho mây, mưa, sấm, chớp. Khi tạc đến khúc giữa, những người
thợ gặp phải hòn đá. Họ ném hòn đá xuống sông. Ban đêm, lòng sông sáng
rực lên. Thì ra đó là người con gái của Khâu Đà La gửi vào cây dâu đã
hóa đá. Bà Man Nương đi thuyền ra sông thì hòn đá nhảy vào thuyền. Bà
đưa lên thờ, gọi là đức Thạch Quang (đá toả sáng). Man Nương sau được
tôn là Phật mẫu, tu ở chù Tổ (Mãn xá), còn tứ pháp được thờ ở bốn chùa
khác nhau trong cùng một khu vực.

 

Các đời vua của các triều đại xa xưa
đã từng về chùa Dâu để rước tượng Pháp Vân về chùa Báo Thiên (Hà Nội) để
cầu đảo (tức cầu mưa cầu gió). Vua Lý Thánh Tông cũng đã về chùa cầu
tự, khi đi thuyền trên sông đã gặp nguyên phi Ỷ Lan. Chùa Dâu được coi
là một ngôi chùa rất thiêng nên được gọi là chùa Diên Ứng (diên là câu,
ứng là hiệu, tức cầu gì được nấy). Du khách đến thăm chùa Dâu thường cầu
khẩn một sự bình yên trong tâm hồn như cái tên bình dị, mộc mạc của
ngôi chùa cổ trên đất Bắc Ninh…

 

MỘT SỐ ẢNH VỀ NGÔI CHÙA DÂU Ở THUẬN THÀNH, BẮC NINH

CÁC GIAI THOẠI VỀ CHÙA DÂU:

Nhân vật Mạc Đĩnh Chi “Lưỡng quốc Trạng nguyên” có truyền thuyết xây
chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp chuộc tội cho mẹ dưới âm
phủ. Hai nhân vật bà Trắng bà Đỏ vốn gốc gác người vùng Dâu thì cũng có
truyền thuyết riêng. Sau đây là một số truyền thuyết liên quan đến hai
nhân vật này.
1. Truyền thuyết Ghênh đẻ Khe nuôi.
Chúa Chiêu tổ Khang vương Trịnh Căn ở ngôi từ 1682 đến 1709 lập con
trưởng Lương Mục vương Trịnh Vịnh làm Thế tử. Không may Thế tử mất sớm,
chúa lập cháu trưởng Tấn Quang vương Trịnh Bính kế ngôi thái tử. Một lần
Thế tử dẫn quân đi Hải Đông, lúc về qua làng Ghênh thấy người con gái
vừa cắt cỏ vừa hát: “Tay cầm bán nguyệt xênh xang/Hai hàng cây cỏ lai
hàng tay ta”. Thấy người con gái trẻ đẹp, lao động nhanh nhẹn Thế tử đem
lòng yêu mến liền kén vào cung làm phi. Ít lâu sau phi tử ấy sinh con
trai, đó là chúa Trịnh Cương sau này.
Không may bà phi Trương Thị Ngọc Chử bị mất sữa, Trịnh Cương khóc ngằn
ngặt suốt ngày đêm, ai bế dỗ cũng không được khiến phủ chúa cũng mất ăn
mất ngủ theo. Khi ấy bà phi có cô em con dì ruột là Nguyễn Thị Cảo lấy
chồng về làng Khe cũng vừa sinh con nên mời vào cung nuôi con cùng. Bà
Cảo thương chị thương cháu nhận lời. Ai dè bà Cảo vừa đón cháu lên tay
thì Trịnh Cương đã nín khóc đòi bú liền. Từ đó bà Cảo ở lại trong cung
nuôi con nuôi cháu.
Năm Trịnh Cương 17 tuổi thì người cha qua đời. Chúa Chiêu tổ Khang vương
lập chắt làm thế tử, được mở phủ Lý Quốc riêng. Mấy năm sau chúa Chiêu
tổ Khang vương qua đời, thế tử nối ngôi là chúa Hi tổ Nhân vương. Chúa
phong mẹ làm thái phi, tục gọi là “bà chúa Ghênh”. Bà Cảo được phong là
phu nhân, tục gọi là “bà vú Khe”. Vì thế dân gian lưu truyền câu phương
ngôn “Ghênh đẻ Khe nuôi” là từ tích này.
Giai đoạn chúa Trịnh Cương nắm quyền (1709 – 1729) được coi là thịnh trị nhất của thời Hậu Lê.
2. Truyền thuyết Đường vào phủ chúa
Thời Lê có gia đình phú hộ làng Tướng (nay là Thanh Tương – Thuận Thành)
đón thầy địa lí về tìm đất quý đặt mộ mong con cháu vinh hiển. Thầy tìm
được đất liền bẻ cành cây đánh dấu, dặn ba ngày sau cành lá vẫn tươi
thì táng mộ vào sẽ phát đến công khanh. Không ngờ có người thợ cày ngồi
nghỉ giải lao ở bụi cây gần đó nghe được. Chờ mọi người đi khỏi người
thợ cày nhổ cành cây cắm ra chỗ khác. Ba ngày sau người phú hộ ra xem
cành cây thấy khô héo thì không để ý huyệt đất đó nữa. Người thợ cày bí
mật táng hài cốt bố vào nơi thầy địa lí cắm cành cây. Từ đó gia đình này
làm ăn khấm khá dần.
Đặc biệt, nhà này sinh được một gái tên Nguyễn Thị Cảo xinh đẹp, hát hay
và đã lấy được chồng là cấm quân bảo vệ phủ chúa, tên Nguyễn Gia Đa ở
làng Khe. Ít lâu sau bà sinh con trai, tên Nguyễn Gia Châu, cùng thời
điểm người chị con nhà già là Thái tử phi Trương Thị Ngọc Chử sinh Thế
tử Trịnh Cương nhưng bị mất sữa nên đã được mời vào phủ chúa nuôi cùng.
Khi Thế tử lên ngôi chúa đã phong vú nuôi là phu nhân, phong Nguyễn Gia
Đa là Bỉnh quận công. Đặc biệt người em Nguyễn Gia Châu trở thành tướng
tài thân tín, được phong Siêu quận công, nhiều năm trấn thủ đất phên
giậu Nghệ An bình yên, tước lộc như chúa lưu đồn, lúc mất được phong Ý
Túc đại vương cho dân thờ. Con cháu Siêu quận công nhiều người được
phong quận công và hầu tước, trong đó có cháu nội Ôn Như hầu Nguyễn Gia
Thiều là danh nhân văn hoá. Đúng là huyệt đất quý phát đến công khanh.
Chuyện bà Ngọc Chử vào cung cũng liên quan đến việc đặt mộ. Bấy giờ họ
Trương nhà nghèo, bán nước ven đường kiếm sống. Một hôm có vị đạo sĩ vào
quán được họ Trương chào mời rất cung kính. Đạo sĩ cảm ơn lòng tốt bằng
cách chỉ cho huyệt đất quý. Xong việc đạo sĩ chỉ bảo họ Lã ở đầu ngõ
Hàng Nghiên. Họ Trương tìm đến tạ lễ nhưng không có ai họ Lã, chỉ có
miếu thờ Thuần Dương tổ sư, tên hiệu của Lã Đồng Tân, mới biết nhà được
tiên ông ban phúc. Sau đó họ Trương sinh ra Ngọc Chử rồi duyên may gặp
được Tấn Quang vương mê người mê nết và giọng hát hay được kén làm phi.
3. Truyền thuyết bà Đỏ bà Trắng chùa Dâu
Hai chị em Trương thái phi và Nguyễn phu nhân khi được vinh hiển liền
nghĩ đến quê hương. Gốc phát tích từ vùng Dâu, nơi có ngôi chùa thờ Tứ
Pháp linh thiêng nhất nước. Thế là hai bà mua ruộng vùng Nghĩa Trụ cúng
chùa hàng trăm mẫu. Hai bà được dân bầu Hậu chùa, có tượng thờ. Tượng
Trương thái phi sơn màu trắng điệp gợi da thịt nõn nà quý phái. Cổ tay
chạm vòng cườm dấu hiệu hoàng tộc. Tượng Nguyễn phu nhân vẻ phúc hậu,
sơn màu nâu đỏ, một quan niệm dân gian biểu hiện tốt sữa. Dân gian quen
gọi là bà Trắng bà Đỏ. Trong hội Dâu tượng hai bà được rước ngay sau
tượng Pháp Vân, bà cả của Tứ Pháp. Có câu ca:
Tượng cụ Hậu rước sau Tứ Pháp
Dân kéo theo để đáp ơn người.

Sưu tầm./.

Hội chùa Dâu | Du lịch Bắc Ninh

 

 

Hội chùa Dâu

Hội Dâu được tổ chức tại vùng Dâu, Bắc Ninh bao gồm năm ngôi chùa cổ: chùa Dâu thờ Pháp Vân (法雲寺, “mây pháp”), chùa Đậu thờ Pháp Vũ (法雨寺, “mưa pháp”), chùa Tướng thờ Pháp Lôi (法雷寺, “sấm pháp”), chùa Dàn thờ Pháp Điện (法電報寺 “chớp pháp”) và chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ của Tứ Pháp. Năm chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần. Ngày 8/4 âm lịch được chọn làm ngày mở hội chùa Dâu, đây cũng được coi là ngày sinh của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni.

Hội Dâu được tổ chức tại vùng Dâu, Bắc Ninh bao gồm năm ngôi chùa cổ: chùa Dâu thờ Pháp Vân (法雲寺, “mây pháp”), chùa Đậu thờ Pháp Vũ (法雨寺, “mưa pháp”), chùa Tướng thờ Pháp Lôi (法雷寺, “sấm pháp”), chùa Dàn thờ Pháp Điện (法電報寺 “chớp pháp”) và chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ của Tứ Pháp. Năm chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần. Ngày 8/4 âm lịch được chọn làm ngày mở hội chùa Dâu, đây cũng được coi là ngày sinh của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni.

Tuy nhiên trước khi đạo Phật được truyền vào thì người dân bản địa đã có tín ngưỡng thờ Thần Nước, tức là những vị Thần Nông nghiệp. Câu chuyện nàng Man Nương, cô gái Kẻ Mèn mộ đạo Phật, nằm ngủ quên giữa cửa, sư Khâu Đà La vô tình bước qua mà thụ thai, được giải thích là sự mầu nhiệm của “Thiên Nhân hợp khí”. Thực chất đó là cuộc hôn phối giữa đạo Phật với tín ngưỡng bản địa. Kết quả sau đấy đã sinh ra bé gái, tiền thân của Phật Tứ Pháp (Mây, Mưa, Sấm, Chớp) thờ ở vùng Dâu – Luy Lâu rồi lan tỏa ra nhiều nơi khác.

Người xưa cũng làm cuộc “đánh tráo khái niệm” tài tình, cho bé gái sinh trùng khớp vào ngày Phật đản. Thành ra mồng 8/4 không chỉ là ngày sinh Phật Thích Ca mà còn là ngày sinh của Phật Tứ Pháp ở Việt Nam. Song ý nghĩa quan trọng nhất của Hội Dâu là cầu cho mưa thuận gió hòa, ước vọng ngàn đời của cư dân nông nghiệp.

hội chùa dâu

Ban ngày rước Tứ Pháp về chùa Dâu “công đồng” là hội tụ các yếu tố Mây, Sấm, Chớp, Mưa. Ban đêm rước Tứ Pháp đi “tuần nhiễu” một vòng khép kín từ Đông sang Tây là mô tả chu kỳ quả đất xoay tròn, tạo ra năm tháng, bốn mùa.

Tổng thể 5 chùa cùng mở hội. Lễ hội có lễ rước lớn, đám rước 4 chị em về chùa Tổ bái vọng mẹ. Dâng hương cầu kinh xong, đám rước lần lượt trở về các chùa. Trong lúc rước có các trò múa gậy, cướp nước, múa sư tử, múa hóa trang rùa, múa trống, đấu vật, cờ người, đốt cây bông.

“Múa gậy” không chỉ để dẹp đám mà còn tái diễn sự tích cây gậy thần kỳ. Giếng cổ trong chùa là dấu vết Man Nương cắm gậy xuống đất làm ra nước cứu sống sinh linh.

Đặc biệt cuộc thi “Cướp nước” được đón đợi nhiều nhất, là cuộc thi chạy giữa bà Sấm (Pháp Lôi) với bà Mưa (Pháp Vũ). Người ta bói xem ai về đích trước để dự báo mùa màng. Nếu là bà Mưa thì năm ấy được mùa. Nếu là bà Sấm thì năm ấy ruộng đồng lắm sâu, nhiều đỉa, làm ăn trắc trở.

Chùa Dâu – Niềm tự hào của người Kinh Bắc

 

Phạm Tiến – Hải Yến -&nbsp&nbsp

(VOV5) – Là một trong những ngôi của cổ nhất Việt Nam, chùa Dâu tọa lạc tại xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Không chỉ mang trong mình nhiều giá trị lịch sử, kiến trúc, điêu khắc mà đó còn là nơi khởi nguồn của đạo Phật. Đây là một trong những công trình di tích tín ngưỡng tiêu biểu, thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến hành hương, tìm hiểu về giá trị lịch sử.

Chùa Dâu – Niềm tự hào của người Kinh Bắc - ảnh 1

Nghe nội dung chi tiết tại đây:

Chùa Dâu còn có nhiều tên gọi: Diên Ứng tự, Pháp Vân tự, Thiền Đình tự, Cổ Châu tự. Nơi đây là trung tâm thành cổ Luy Lâu từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên. Theo ghi chép trong sách sử và bia đá tại chùa, chùa Dâu được xây dựng từ thế kỉ thứ 2 (khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226) dưới thời Sĩ Nhiếp làm thái thú. Chùa Dâu ngày nay là kiến trúc tu sửa từ thời Hậu Lê (vào thế kỷ 17-18), được xây dựng gồm: bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhất bao quanh ba ngôi nhà chính: Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện. Đây là di tích gắn với huyền tích Phật mẫu Man Nương và Tứ Pháp (Pháp Vân – Nữ thần Mây, Pháp Vũ – Nữ thần Mưa, Pháp Lôi – Nữ thần Sấm, Pháp Điện – Nữ thần Chớp), đó là biểu hiện sinh động sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tín ngưỡng dân gian của người Việt với Phật giáo. So với nhiều ngôi chùa ở miền Bắc, chùa Dâu là một trong số ít các ngôi chùa vẫn duy trì các nhóm tượng thờ theo phong tục tín ngưỡng thờ tự của Phật giáo thời Lê, đó là tín ngưỡng thờ tự các tượng: Tứ trấn, Hộ pháp, Kim cương, Thập điện Diêm vương, Phật và Bồ tát, các vị La hán… Trải qua nhiều lần trùng tu và tôn tạo, chùa Dâu vẫn còn lưu lại nhiều hiện vật có giá trị đặc biệt là bản khắc “Cổ Châu Pháp vân Phật bản hạnh” có niên đại 1752 và 6 đạo sắc phong có giá trị lịch sử có từ thời vua Minh Mạng (1791 – 1842),  Tự Đức (1829 – 1893) và vua Khải Định (1885 – 1925). Qua nghiên cứu, các nhà sử học và Phật học đã khẳng định “Chùa Dâu là Tổ đình của Phật giáo Việt Nam”.

 

 

Chùa Dâu – Niềm tự hào của người Kinh Bắc - ảnh 2
18 vị La Hán trong chùa Dâu

 

 

Tháng 12/2013 vừa qua, chùa Dâu được công nhận là di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Ông Trần Đình Luyện, Phó Chủ tịch thường trực Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bắc Ninh, cho rằng: “Việc chùa Dâu và Di tích kiến trúc nghệ thuật Chùa Bút Tháp của Bắc Ninh được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt là hoàn toàn xứng đáng. Chúng ta cần tuyên truyền cho người dân hiểu giá trị của di tích này và cần có một kế hoạch để bảo tồn”.

 

Trải qua bao thăng trầm của thời gian, chùa Dâu vẫn là một địa danh được đông đảo du khách trong nước và nước ngoài cùng bà con kiều bào hành hương, tìm hiểu về kiến trúc nghệ thuật độc đáo cũng như tìm về nguồn cội của Phật giáo Việt Nam. Đây là niềm tự hào không nhỏ đối với mỗi người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất địa linh nhân kiệt này. Bà Bùi Thị Lợi, ở thôn Khương Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cho biết: “Là một người ở địa phương tôi rất tự hào về ngôi chùa cổ kính này. Đây là một ngôi chùa có nghĩa lịch sử khi gắn liền với Phật giáo và là ngôi chùa độc đáo vào bậc nhất khu vực Đông Nam Á”.

 

 

Chùa Dâu – Niềm tự hào của người Kinh Bắc - ảnh 3
Tháp Hòa Phong

 

 

Còn ông Nguyễn Duy Khoa, Trưởng ban Văn hóa xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, chia sẻ: “Với bản thân tôi, tôi rất tự hào bởi đây là quê hương tôi sinh ra và lớn lên và cũng là quê hương của đất Phật. Rất nhiều người con của quê hương dù đi đâu, làm gì, cũng luôn nhắc nhở nhau về quê dự Hội chùa Dâu vào Ngày 8/4 âm lịch hằng năm”.

 

Với ý nghĩa là cầu cho mưa thuận gió hòa, cầu cho 1 năm sản xuất nông nghiệp được bội thu, lễ hội chùa Dâu được tổ chức vào ngày 8 tháng 4 âm lịch hàng năm. Lễ hội có nhiều nghi thức sinh hoạt dân gian và nhiều trò diễn xướng phong phú, hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách thập phương, tín đồ, tăng, ni phật tử đến dâng hương, dự hội. Đây được coi là lễ hội Phật giáo lớn của vùng Bắc Bộ, qua đó thể hiện nét đẹp, giá trị văn hóa về đời sống tín ngưỡng của một vùng đất cổ xưa còn để lại./.

 

Phạm Tiến – Hải Yến

Hình tượng Man Nương, hệ thống Tứ Pháp và cái được biểu đạt siêu Việt (Phần I)

 

Cái được biểu đạt siêu việt với tư cách là một công cụ diễn giải

Trong ngôn ngữ học kinh điển của F. Saussure, ký hiệu ngôn ngữ không thống nhất một sự vật với một tên gọi, mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh. Hình ảnh âm thanh không phải là âm thanh vật chất, một sự vật thuần túy vật lý, mà là dấu ấn tâm lý của âm thanh đó, là hình ảnh tái hiện cung cấp cho chúng ta bằng chứng về các giác quan của chúng ta; nó mang tính cảm quan, và đối lập với phương diện khác của mối liên tưởng, là khái niệm trừu tượng hơn. Saussure cho rằng hình ảnh âm thanh đó tạo thành dấu hiệu ngôn ngữ và là một thực thể tâm lý có hai mặt gắn kết chặt chẽ với nhau, và chỉ có những liên tưởng được ngôn ngữ thừa nhận mới được coi là phù hợp với hiện thực, và cần phải gạt bỏ bất cứ liên tưởng nào khác. Từ đó có thể nói rằng dấu hiệu là sự kết hợp giữa khái niệm với hình ảnh âm thanh, trong đó từ dấu hiệu chỉ được dùng cho hình ảnh âm thanh mà thôi. Từ dấu hiệu được dùng để chỉ cái tổng thể, và thay từ hình ảnh âm thanh bằng từ “cái biểu đạt”, thay từ khái niệm bằng từ “cái được biểu đạt” để làm rõ sự đối lập giữa hai từ đó với nhau và với cái tổng thể. Dấu hiệu ngôn ngữ có hai đặc trưng cơ bản, trở thành nguyên lý của chúng: i) nguyên lý tính võ đoán, mối tương quan giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là võ đoán, mà dấu hiệu là do cái biểu đạt và cái được biểu đạt tạo thành, vì vậy dấu hiệu ngôn ngữ là võ đoán; ii) nguyên lý tính tuyến tính, cái biểu đạt là âm thanh, diễn ra trong thời gian, là đại lượng có thể đo lường theo một tuyến thời gian, nên dấu hiệu có đặc trưng tuyến tính. Dấu hiệu còn có hai đặc trưng khác, đó là: iii) tính bất biến, vì ngôn ngữ là di sản được thừa hưởng từ các thế hệ trước, là sản phẩm của lịch sử, nên nó là bất biến; iv) tính khả biến, vì ngôn ngữ diễn ra trong thời gian, mà thời gian thì làm biến đổi mọi thứ, nên dấu hiệu ngôn ngữ cũng biến đổi theo thời gian [Saussure De, Ferdinand 1967, pp.97-100].

Như vậy, theo cách hiểu của ngôn ngữ ký hiệu học truyền thống, dấu hiệu có chức năng chuyển tải nghĩa, thông qua cái biểu đạt [signifiant] có chức năng biểu đạt nghĩa bằng một hình thức cảm quan nào đó, và cái được biểu đạt [signifié] có chức năng thể hiện nghĩa của ký hiệu thông qua nội dung của một khái niệm nào đó. Đây cũng chính là một cấu trúc điển hình, được tạo bởi các mặt đối lập, làm thành một trong những cơ sở quan trọng nhất của cấu trúc luận Levi-Strauss. Và cũng chính khái niệm cái được biểu đạt đã gợi hứng cho cha đẻ của giải cấu trúc là Jacques Derrida tạo ra một khái niệm triết học kinh điển là “cái được biểu đạt siêu việt” [signifié transcendantal]. Derrida đã sử dụng khái niệm này để phê phán và diễn giải bất kỳ hệ thống cấu trúc nào. Theo ông, bất cứ cấu trúc nào cũng có một trung tâm, và bất cứ trung tâm nào cũng là trung tâm của một cấu trúc, là nguồn gốc của cấu trúc, chi phối và duy trì cấu trúc. Và khái niệm trung tâm đồng nghĩa với cái được biểu đạt siêu việt, hay còn gọi là cái được biểu đạt tiên thiên, cái được biểu đạt có trước kinh nghiệm [Derrida 1967a,b].

Hình tượng Man Nương trong hệ thống Tứ pháp

Khái niệm Tứ Pháp của Phật giáo

Pháp (tiếng Phạn धर्म dharma, Pali: धम्म dhamma) là một khái niệm quan trọng với nhiều ý nghĩa trong các tôn giáo Ấn Độ như Ấn Độ giáo, Phật giáo, đạo Sikh và đạo Jain (Kỳ Na). Trong các ngôn ngữ phương Tây, không có từ đơn nàotương đương để dịch dharma. Trong Ấn Độ giáo, pháp có nghĩa là hành vi được coi là phù hợp với ऋतं rta, trật tự tạo ra cuộc sống và vũ trụ, và bao gồm các trách nhiệm, các quyền, các đạo luật, đức hạnh và ”chính nghiệp”. Trong Phật giáo, Pháp có nghĩa là “quy luật và trật tự vũ trụ”, thể hiện trong Phật pháp – những lời dạy của Đức Phật. Trong triết học Phật giáo, các Pháp cũng đồng nghĩa với các “hiện tượng”. Từ धर्म dharma – pháp, trong tiếng Sanskrit cổ là một từ có từ căn dhṛ, có một nghĩa là nắm, giữ, duy trì, vì vậy nghĩa mở rộng của nó là luật, quy luật. Pháp là một khái niệm quan trọng trung tâm trong triết học và tôn giáo Ấn Độ, với nhiều ý nghĩa tương đồng hoặc khác biệt trong Ấn Độ giáo, Phật giáo và Kỳ Na giáo. Vì vậy rất khó đưa ra một định nghĩa ngắn gọn cho khái niệm Pháp, với tư cách là một từ có một lịch sử lâu dài và đa dạng, lại nằm giữa một tập hợp rất phức tạp của các ý nghĩa và diễn giải khác nhau. [Horsch, Paul 2004]

Nghĩa của từ dharma phụ thuộc vào bối cảnh và đã có những bước tiến hóacùng với tư tưởng triết học và tôn giáo Ấn Độ qua một giai đoạn lịch sử lâu dài. Trong các văn bản sớm nhất và những huyền thoại cổ xưa của Ấn Độ giáo,dharma có nghĩa là luật của vũ trụ, các quy tắc tạo ra vũ trụ từ sự hỗn loạn, sau đó là các nghi lễ. Về sau, trong các bộ kinh Vedas, Upanishads, Puranas và cácsử thi, nghĩa của từ dharma đã bắt đầu trở nên tinh tế, phong phú, và phức tạphơn, được áp dụng vào các bối cảnh đa dạng hơn. Trong những bối cảnh nhất định, dharma chỉ định các hành vi cần thiết con người để giữ gìn trật tự của sự vật trong vũ trụ, các nguyên tắc ngăn chặn sự hỗn loạn; các hành vi và hành động cần thiết đối với toàn bộ sự sống trong tự nhiên, xã hội, gia đình cũng như ở cấp độ cá nhân. Pháp dharma bao gồm những ý tưởng như trách nhiệm, cácquyền, các phong tục, tôn giáo, tín ngưỡng, và tất cả các hành vi được coi là phù hợp, đúng đắn, hoặc chính đáng về mặt đạo đức. [Dhand, Arti 2002] Từphản nghĩa của pháp dharma là adharma (tiếng Phạn: अधर्मा), có nghĩa là “không đúng pháp”. Cũng giống như với pháp, từ adharma bao gồm và hàm ýnhiều nghĩa, nhưng theo cách nói thông thường, thì adharma có nghĩa là phảntự nhiên, vô luân, vô đạo đức, sai hay không hợp pháp. [28] Trong Phật giáo vàKỳ Na giáo, pháp kết hợp các kinh điển và giáo lý của những người sáng lập Phật giáo và Kỳ Na giáo là Đức Phật và Mahavira [Wezler, Albrecht 2004].

Trong Phật giáo, có nhiều loại pháp được gọi là tứ pháp, chẳng hạn như: Theo bộ kinh Đại thừa Bản sinh tâm địa quán (quyển 2) và Đại thừa Pháp uyển nghĩa lâm chương  (quyển 6) thì Tứ pháp là: i) Giáo pháp, ngôn giáo của chư Phật ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai; ii) Lý pháp, nghĩa lý được diễn giải rõ ràng trong giáo pháp; iii) Hành pháp, sự tu hành giới, định, tuệ ở nhân vị, căn cứ vào lý pháp để khởi hành; iv) Quả pháp, tu hành viên mãn chứng được quả Niết Bàn vô vi. Chư Phật dùng 4 pháp này dẫn dắt chúng sinh ra khỏi bể khổ sinh tử để đến được cảnh giới Niết Bàn giải thoát. Chư Phật cũng nương vào 4 pháp này mà tu hành để đoạn trừ tất cả mọi nghiệp chướng mà thành chính quả [Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ, Quyển trung (Tuệ Viễn); Thành duy thức luận thuật ký, Quyển 1; Hoa nghiêm kinh thám huyền ký, Quyển 3]. Tứ pháp chỉ 4 pháp tu hành của Bồ tát, theo kinh Đại thừa tứ pháp do ngài Nhật Chiếu (Divakara 613 – 687) dịch, thì tứ pháp là: i) Không bỏ tâm bồ đề; ii) Không bỏ thiện tri thức; iii) Không bỏ ưa thích kham nhẫn, chịu đựng; iv) Không bỏ a lan nhã (chỗ vắng vẻ yên tĩnh). Luận Du già sư địa, quyển 47 cũng xác định tứ pháp gồm: i) Khéo tu của Bồ Tát; ii) Dùng phương tiện khéo léo giáo hóa chúng sinh; iii) Dùng Tứ nhiếp pháp làm lợi cho người khác; iv) Đem thiện căn mình tu hành được hồi hướng Phật đạo bằng tâm không điên đảo, không trở lại cầu quả báo thế gian. Tứ pháp trong Kinh Quán Phật tam muội hải là: i) Ngày đêm 6 thời thuyết tội sám hối; ii) Thường nhớ nghĩ đến Phật và không lừa dối chúng sinh; iii) Tu tập 6 hòa kinh: thân, khẩu, ý, giới, kiến, lợi và tâm không sinh tức giận, kiêu mạn; iv) Tu tập 6 niệm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên cấp thiết như cứu dầu bị cháy [Phật giáo Việt Nam 1999: Phật Quang Từ điển, Tập 6. tr. 6765-6771].

Kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo, Quyển hạ nói đến sự thành Phật qua thứ lớp của Tứ pháp Tín, Giải, Chứng, Hành. Còn kinh Tạp a hàm, quyển 15 thì nói đến tứ pháp chỉ 4 pháp trị bệnh ở thế gian là: i) Khéo biết bệnh; ii) Khéo biết nguyên nhân của bệnh; iii) Khéo biết cách trị bệnh; iv) Khéo biết cách giữ cho bệnh không tái phát. Riêng đức Phật thì khéo biết bệnh của chúng sinh là do quá khổ, nguyên nhân của bệnh khổ là do vô minh, lại khéo biết cách trị bệnh nên được gọi là Đại y vương. Ngoài ra, theo Thập trụ Tỳ bà sa luận, quyển 7 còn có Tứ pháp mà bậc Pháp sư phải có đầy đủ, đó là: i) Học rộng nghe nhiều và có khả năng ghi nhớ tất cả ngôn từ chương cú; ii) Quyết định và khéo biết tướng sinh diệt của các pháp thế gian và xuất thế gian; iii) Được trí thiền định, đối với các kinh pháp tùy thuận không tranh luận; iv) Thực hành đúng những điều mình giảng nói, không thêm bớt. Tứ pháp chỉ chung 4 loại phép tắc, như Pháp hoa Tứ pháp, Niết bàn Tứ pháp, Lăng già Tứ pháp, Bồ tát Tứ pháp, Thế y Tứ pháp, Pháp sư Tứ pháp, trong đó Pháp hoa Tứ pháp là: Chư Phật hộ niệm, trồng các gốc đức, vào chính định tụ và phát tâm cứu tất cả chúng sinh. Lăng già Tứ pháp là: Năm pháp, ba tự tính, tám thức và hai vô ngã. Niết bàn Tứ pháp là: Gần thiện tri thức, lắng nghe chính pháp, tư duy nghĩa lý, và như pháp tu hành. Ngoài ra kinh Đại bát Niết bàn quyển thượng, lấy giới, định, tuệ rồi thêm giải thoát nữa để gọi là Tứ pháp (Kinh Đại Niết bàn, quyển 18, phẩm Phổ Hiền khuyến phát kinh Pháp hoa). Còn một tứ pháp nữa là: Giáo, Hành, Tín, Chứng của Tịnh độ Chân tông do tổ Khai sáng ở Nhật Bản là ngài Thân Loan (親鸞Shinran, 1173 – 1262) thành lập trong Giáo hành tín chứng văn loại, là đại cương của tông này [Phật giáo Việt Nam 1999: Phật Quang Từ điển, Tập 6. tr. 6765-6771].

Rõ ràng hệ thống tứ pháp chùa Dâu không phải là các Tứ pháp Phật giáo kinh điển đề cập ở trên. Đó là một hệ thống riêng biệt, tuân thủ đúng trật tự vũ trụ, kể cả nhân giới và nhiên giới, nhưng không giống với bất cứ hình thức Tứ pháp đã có nào trong lịch sử Phật giáo Thế giới.

Hệ thống Tứ Pháp chùa Dâu dưới lăng kính cấu trúc luận

Cấu trúc luận là một trường phái tư tưởng có liên quan đến cấu trúc dựa trên cơ sở của các sự kiện ngôn ngữ của Ferdinand Saussure. Một cấu trúc được tạo bởi sự sắp xếp của các yếu tố với nhau, theo nguyên tắc đối lập nhị phân, sao cho toàn bộ các yếu tố và các kết nối của chúng tạo thành một hệ thống độc lập. Theo Lévi-Strauss, đặc tính độc đáo của cấu trúc luận là các yếu tố không tồn tại trước khi có hệ thống; những yếu tố này xuất hiện với các mối quan hệ của chúng. Thậm chí chúng ta có thể nhận thấy rằng đây là mối quan hệ làm bộc lộ các yếu tố [Lévi-Strauss, Claude 1958]. Một cấu trúc phải thể hiện đặc trưng hệ thống. Nó bao gồm các yếu tố sao cho bất kỳ biến đổi nào của chúng cũng tạo ra sự biến đổi của tất cả các yếu tố khác. Bất kỳ mô hình nào thuộc một nhóm các biến đổi mà mỗi biến đổi đều tương ứng với một mô hình của cùng một dòng, vì vậy toàn bộ các biến đổi này tạo thành một nhóm mô hình. Các thuộc tính được đề cập ở trên có thể tiên đoán mô hình sẽ phản ứng ra saotrong trường hợp biến đổi của một trong các yếu tố của nó. Mô hình phải đượctạo dựng sao cho sự vận hành của nó có thể giải thích cho tất cả các sự kiệnđược quan sát. Đối với Levi-Strauss, cấu trúc luận là sự liên kết giữa các yếu tố khác biệt theo nguyên tắc đối lập. Sự sống còn của cấu trúc luận là duy trì được sự khác biệt bằng phương thức liên kết nhị phân giữa các khác biệt với nhau[Lévi-Strauss 1958].

Mọi hệ thống cấu trúc đều được tạo bởi các cặp đối lập nhị phân, và phải có một trung tâm, nơi phát xuất của toàn bộ hệ thống và xác quyết ý nghĩa của hệ thống, ít nhất là tính chất hiện hữu của nó. Derrida chỉ ra rằng, khái niệm trung tâm có hai đặc điểm: i) là nơi phát xuất của hệ thống và bảo đảm cho mọi thành phần trong hệ thống đó có được tính chất tương liên; ii) chính trung tâm cũng là yếu tố vượt ra ngoài hệ thống, không được điều phối bởi các quy luật của hệ thống. Trung tâm là phần cốt lõi của mọi hệ thống, không gì trong hệ thống có thể thay thế được nó, vì vậy trung tâm bao giờ cũng mang tính tuyệt đối. Trung tâm là nơi phát xuất sự mâu thuẫn, vì nó là phần cốt yếu kiến tạo nên hệ thống mà không thuộc vào hệ thống, nó không phải là một thành phần của tính toàn thể; cấu trúc trung tâm, đóng phần quan trọng nhất của một hệ thống, trở thành mâu thuẫn trong tính chặt chẽ của nó [Derrida 1967a,b].

Dưới lăng kính cấu trúc luận, có thể thấy rất rõ các cặp đối lập nhị phân và các mối liên kết tạo thành một hệ thống cấu trúc chặt chẽ trong hình tượng Man Nương và hệ thống Tứ Pháp. Đó trước hết là các cặp đối lập được xây dựng xung quanh “cái trung tâm”, “tính trung tâm” là hình tượng Man Nương; đặc biệt là hình tượng chủ chốt này đã được đặt đối lập về mọi phương diện với Khâu Đà La:  i) Nam/ nữ; ii) Bản địa/ người ngoài; iii) Già/ trẻ; iv) Có đạo/ không có đạo; iii) Có học/ không học; iv) Đẳng cấp cao/ đẳng cấp thấp; v) Chủ động/ bị động; vi) Có phép thuật/ không phép thuật; vii) Đi/ ở, …vv. Thứ hai là các cặp đối lập trong tự thân Man Nương: i) Tự nhiên/ văn hóa; ii) Trinh tiết/ không còn trinh tiết; iii) Thể xác/ tinh thần; iv) Đời/ đạo; v) Mẹ/ con; vi) Gia đình/ không gia đình. Thứ ba là sự chuyển hóa giữa các cặp đối lập: i) sự thụ thai linh thiêng; ii) sự kết hợp siêu nhiên giữa đứa trẻ và cây dung thụ; iii) Sự vắng mặt của Khâu Đà La; iv) Man Nương tiếp nhận khả tính siêu phàm từ Khâu Đà La thông qua cây tích trượng để cứu dân qua đại nạn ba năm liền hạn hán; v) cuộc gặp lại giữa mẹ và con; vi) sự chuyển hóa của cây dung thụ thành Tứ Pháp; vii) A Man trở thành Phật Mẫu.

Với tư cách là Phật Mẫu, hình tượng Man Nương đã được xây dựng thành một cấu trúc Tứ pháp hoàn chỉnh, thuần Việt; Man Nương trở thành mẹ của các vị Phật khác, có khả năng tạo ra và chi phối các vị Phật khác là Bụt Mây – Pháp Vân, Bụt Mưa – Pháp Vũ, Bụt Sấm – Pháp Lôi, và Bụt Chớp – Pháp Điện. Bà được thờ ở chùa Tổ – Phúc Nghiêm Tự, tại làng Mãn Xá, xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Trong hệ thống các Phật con thì Pháp Vân là chị cả, được thờ ở ngôi chùa lớn Thiền Định, còn gọi là Diên Ứng tự – chùa Dâu; Pháp Vũ là chị hai, được thờ ở chùa Đậu; Pháp Lôi là chị Ba được thờ ở chùa Tướng; và em út Pháp Điện được thờ ở chùa Dàn. Theo đúng nghĩa của khái niệm pháp – dharma thì rõ ràng hệ thống Tứ pháp chùa Dâu đã xây dựng được một cấu trúc phù hợp với ऋतं rta, trật tự tạo ra cuộc sống và vũ trụ, bao gồm các trách nhiệm của con người với con người, con người với tự nhiên như trách nhiệm thầy trò giữa Man Nương và Khâu Đà La; trách nhiệm gia đình giữa Man Nương và ông bà Tu Định, giữa Man Nương Phật Mẫu và Tứ Bụt cùng Thạch Quang phật; trách nhiệm của Man Nương trong việc cứu dân làng khỏi đại họa hạn hán; trách nhiệm và nghĩa vụ của các Phật con Tứ Pháp trong việc kính thờ Phật Mẫu, v.v… tất cả đều thể hiện các đạo luật, đức hạnh và ”lối sống chínhđáng”, nhằm duy trì “quy luật và trật tự vũ trụ” phổ biến, kể cả trong nhiên giới và trong nhân giới, tuân thủ tuyệt đối những lời dạy của Đức Phật.

________________________________________________

 

Tài liệu tham khảo

Derrida, Jacques 1967a. La structure, le signe et le jeu dans le discours des sciences humaines. Derrida J. Ecriture et la Differance. Paris: “Seul”, 1967. P.: 409-429.

Derrida, Jacques 1967b. Of Grammatology. Baltimore: John Hopkins University Press.

Dhand, Arti 2002. The Dharma of Ethics, the Ethics of Dharma: Quizzing the Ideals of Hinduism. Journal of Religious Ethics 30 (3): 351.

Horsch, Paul 2004. From Creation Myth to World Law: the Early History of Dharma, Journal of Indian Philosophy, December 2004, Volume 32, Issue 5-6, pp 423-448

Kalupahana, Davis 1986. The Philosophy of the Middle Way. Suny Press, 1986, pages 15–16.

Lévi-Strauss, Claude 1958. Anthropologie structurale. Paris, Plon, Agora, 1958.

Nguyễn Quang Hồng (chủ biên) 1997. Di văn chùa Dâu. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

Phật giáo Việt Nam 1999. Phật Quang Từ điển. Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn, Đài Bắc xuất bản.

Wezler, Albrecht 2004. Dharma in the Veda and the Dharmaśāstras, Journal of Indian Philosophy, December 2004, Volume 32, Issue 5-6, pp 629-654

Leave your Comment