Từ hi thái hậu là gì 442

Mục lục

Từ Hi thái hậu đã quỳ lạy Hư Vân lão hòa thượng

 

Trong trận đại tuyết, Từ Hi Thái Hậu đã đích thân đến thăm Hư Vân lão hòa thượng

Năm Quang Tự thứ 26 (1900), giặc ngoài đánh vào Bắc Kinh, kinh thành đại loạn khiến Hoàng hậu, Thái hậu, đại thần, thái giám, cung nữ đều phải chạy lánh nạn ở Trường An (nay là Tây An). Khánh thân vương nghe tin lão hòa thượng Hư Vân là cao tăng đắc đạo liền mời Hư Vân lão hòa thượng làm bầu bạn trên đường đi về phía Tây để giữ bình an.

Khi đó là tháng 8 nóng bức, những thi thể bị rữa ra làm mùi hôi thối bao phủ khắp nơi, bệnh dịch bao vây Trường An. Khắp nơi toàn là người chết đói, người sống phải ăn thịt người chết, những thi thể thối rữa la liệt khắp mặt đất.

Hư Vân lão hòa thượng lập tức tấu lên Hoàng thượng ban lệnh cấm người sống ăn thịt người chết và huy động tất cả những người giàu có mở kho lương thực dự trữ để cứu tế dân bị nạn.

Hư Vân lão hòa thượng thương xót chúng sinh, muốn tổ chức một hội lễ cầu đại tuyết trong 7 ngày ở thiền tự Ngọa Long, hy vọng trời đất bảo vệ cho tuyết rơi xuống để trừ bệnh dịch.

 src=

Trong trận đại tuyết, Từ Hi Thái Hậu đã đích thân đến thăm Hư Vân lão hòa thượng (Ảnh minh hoạ – Ảnh: internet)

Trước sự việc có người hảo tâm thầm khuyên can: “Đại họa đại nạn khác với bình thường, chúng sinh không thể làm trái, lỡ cầu tuyết không khéo, rồng phẫn nộ phạt Ngài tội khi quân kéo ra chém đầu có đáng không?”

Hư Vân lão hòa thượng không màng chuyện sinh tử. Ở thiền tự Ngọa Long nhờ sự trợ giúp của Phương trượng hòa thượng Đông Hà cùng toàn thể tăng nhân trong chùa, họ dựng đàn và chuẩn bị những đồ cử hành nghi lễ… Uy đức của Hư Vân đã thu hút cả ngàn tăng nhân đến chùa ở Tây An, các hòa thượng quanh năm ẩn cư ở núi Chung Nam Sơn cũng ra khỏi núi trợ giúp, các tín đồ Phật giáo nghe tin cũng từ bốn phương tám hướng kéo tới…

Pháp đài cao rộng ba trượng ba, ở trên có Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. Hai bên pháp đài có hai cột cờ cao treo cờ Phật chữ vàng dài hơn ba trượng, một mặt viết “Nam mô Sa Kiệt La Long Vương Bồ Tát Ma Kha Tát”, một mặt viết “Nam mô tùy phương phổ ưng hành tuyết Long Vương thánh chúng Bồ Tát”. Trên Phật đài phủ miếng vải vàng cùng có đủ hoa tươi, trái cây, nhang đèn. Hư Vân cùng 9 pháp sư thân khoác cà sa màu vàng ngồi tọa thiền trên đài kết ấn làm pháp bảy ngày đêm. Dưới đài hai bên là 108 vị tăng nhân liên tục tụng thần chú cầu tuyết, 360 vị tăng nhân dẫn dắt tín chúng hành lễ Đại Bi Sám, những tăng ni khác dẫn dắt tín chúng niệm Phật hiệu A Di Đà không ngừng.

Đến sáng ngày thứ 7 quả nhiên mây đen kéo đến. Buổi chiều đại tuyết tung bay.

Sau trận đại tuyết các tăng ni ai về chùa nấy. Hư Vân vẫn ngồi trên pháp đài trơ trọi niệm chú thi pháp, ông không thể đứng lên, vì chuyện hạn hán hết năm này qua năm khác không thể giải quyết trong vài giờ đại tuyết. Còn dịch bệnh ở thành Trường An cũng cần thêm vài ngày đại tuyết mới có thể giải quyết dứt điểm. Nếu ông đứng lên thì tuyết sẽ ngừng rơi, hiệu quả cầu tuyết giải nạn sẽ dang dở giữa chừng, tuyết càng rơi càng lớn; nhiệt độ càng lúc càng xuống thấp. Qua 7 ngày, ngàn dặm trong ngoài thành Trường An đều kín băng, tuyết bay khắp nơi.

Trận đại tuyết trong trong liên tiếp vài ngày đã loại bỏ dịch bệnh và khô hạn. Thái hậu Từ Hi ngồi kiệu cùng đi với đội vệ binh đến thiền tự Phục Long, bà muốn đích thân đến thăm lão hòa thượng đã giúp đỡ triều đình trừ nạn cho bách tính, có khả năng hô mưa gọi gió. Dù đã thấy tuyết tung bay khắp nơi nhưng Hư Vân lão hòa thượng vẫn tiếp tục ngồi thiền trên đài trơ trọi, không ngừng niệm chú làm pháp. Cảnh tượng khiến “lão Phật gia” xưa nay chỉ có muôn dân khom lưng chào này đã cảm động rơi nước mắt. Bà quỳ xuống nền tuyết cúi gập đầu hướng về phía vị cao tăng.

Túc thân vương, Khánh thân vương mời cao tăng sau này trở về Bắc Kinh cùng họ để chỉ bảo họ Phật pháp.

Một buổi sáng đầu tháng 10, lão hòa thượng Hư Vân vốn xem danh lợi như mây khói đã lặng lẽ rời khỏi Trường An, sau đó ẩn cư ở Chung Nam Sơn. Ông tiếp tục nhập định 23 ngày làm kinh động thiên hạ.

Năm Quang Tự thứ 27 khí trời lạnh giá, tuyết phủ khắp nơi, cái rét như cắt da cắt thịt, lão hòa thượng sống một mình trong bụi cỏ tranh, thân tâm thanh sạch, vào một ngày ngồi xếp bằng bên nồi khoai sọ chờ khoai chín, ông bất giác nhập định đến tháng Giêng năm sau. Một hàng xóm trong núi là sư Phục Thành chờ lâu không thấy mặt lão hòa thượng bèn đến bụi cỏ tranh chúc Tết, thấy bên ngoài đầy dấu chân hổ, khi vào bụi cỏ tranh thì thấy lão hòa thượng nhập định. Ông cầm cái khánh đánh động hỏi: “Lão hòa thượng đã ăn gì chưa?” Trả lời: “Chưa, đang luộc khoai môn, đã chín rồi”. Khi mở nắp nồi ra thì thấy trong nồi đã mốc meo hết cả, sư Phục Thành kinh ngạc thốt lên: “Ông chắc là đã hơn nửa tháng rồi”.

7 món ăn kinh dị của Từ Hy Thái Hậu

 

Trên thế giới có hàng ngàn bữa tiệc sang trọng, lạ lùng, tốn kém

Nhưng khi nói đến chuyện ăn uống, tiệc tùng, phải kể người Trung Hoa dẫn đầu, cầu kỳ nhất. Thế gian có câu “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, đi xe Huê Kỳ, cưới vợ Nhật Bổn” or “Cơm Tầu vợ Nhật nhà Anh lương Mỹ”

Và trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại cho đến ngày nay, chưa có yến tiệc nào linh đình, trọng thể, vĩ đại… bằng tiệc Xuân năm Canh Tý (1874) do Từ Hi Thái Hậu (Tây Thái Hậu), đời nhà Thanh Trung Hoa, tổ chức để khoản đãi phái đoàn Sứ Thần, tướng lãnh các quốc gia Tây phương. Tiệc được chuẩn bị 11 tháng 6 ngày trước, sử dụng 1750 người phục vụ, tốn kém 98 triệu hoa viên thời đó tương đương 374 ngàn lượng vàng ròng, gồm 400 thực khách và đại tiệc kéo dài suốt 7 ngày đêm bắt đầu từ giao thừa (12 giờ đêm) Tết nguyên đán Canh Tý.

Thực Ðơn

Gồm tất cả 140 món. Theo chiếu chỉ của Tây Thái Hậu, mỗi tỉnh tuyển lựa mười đầu bếp tài giỏi. Các đầu bếp này họp nhau ở thủ đô từ ngày rằm tháng hai năm Kỷ Hợi (1873) nghĩa là 11 tháng 6 ngày trước đại tiệc để cùng nhau soạn thảo các món ăn ngon, lạ.

Sau gần hai tháng thảo luận, một thực đơn gồm 140 món được hình thành, trong số này có 7 món thật bổ dưỡng, thật đặc biệt, thật lạ lùng, mỗi ngày chỉ thiết đãi một món, thực khách ăn vào chẳng những không thấy đầy bụng mà sự mệt mỏi, bực bội như tan biến đi, tinh thần sảng khoái gấp bội.

Bảy món ấy là:

1) Sâm Thử

Sâm thử là chuột sâm, chuột nuôi bằng sâm.

Trong quyển Món Lạ Miền Nam, tác giả Vũ Bằng tường thuật món sâm thử như sau:

“Chuột mới đẻ đem nuôi trong lồng kính cho ăn toàn sâm thượng hảo hạng và uống nước suối, đến khi đẻ ra con thì lấy những con đó nuôi riêng cũng theo cách thức đó để cho sinh ra một lớp chuột mới, nhưng lớp chuột mới nầy vẫn chưa dùng được. Cứ nuôi như thế đến đời thứ ba, chuột mới thực là “Thập Toàn Ðại Bổ”, người ta mới lấy những con chuột bao tử của thế hệ mới nầy ra ăn và ăn như thế tức là ăn tất cả cái tinh hoa, bén nhậy, khôn ngoan của giống chuột cộng với tất cả tính chất cải lão hoàn đồng, cải tử hoàn sinh, tráng dương bổ thận của cây sâm vốn được y lý Ðông phương đặt lên hàng dầu thần dược từ cổ chí kim trong trời đất.

Nguyên Ðại sứ Tây Ban Nha thuật lại rằng đến món ăn đặc biệt ấy thì có một ông quan đứng lên giới thiệu trước rồi quân hầu bưng lên bàn tiệc cho mỗi quan khách một cái đĩa con bằng ngọc trong đó có một con chuột bao tử chưa mở mắt, đỏ hon hỏn hãy còn cựa quậy – nghĩa là một con chuột bao tử sống. Bao nhiêu quan khách thấy thế chết lặng đi bởi vì nếu phải theo giao tế mà an cái món này thì… nhất định phải… trả lại hết những món gì đã ăn trước đó.

Mọi người nhìn nhau. Tây Thái Hậu cầm nĩa xúc con chuột bao tử ăn để cho mọi người bắt chước ăn theo. Con chuột kêu chi chí, người tinh mắt thấy một tia máu vọt ra… Hoàng đế Trung Hoa thong thả vừa nhai vừa suy nghĩ như thể muốn kéo dài cái thú ăn tuyệt diệu ra để cho cái thú ấy thấm nhuần trí óc và cơ thể. Và Ngài nói:

– Mời chư vị.

Nhưng không một vị nào đụng đũa, cứ nguồi trơ ra mà nhìn. Tây Thái Hậu bèn cười mà nói đùa:
– Tôi tiếc không thấm nhuần được cái văn minh Âu Mỹ của các ngài, nhưng riêng về cái ăn thì tôi thấy quả các ngài chậm tiến, không biết cái gì là ngon, là bổ. Về món đó, các ngài có lẽ còn phải học nhiều của người Á Ðông.
Không một ông nào trả lời vì có lẽ các ông đại diện ấy đến lúc ấy đều bán tín bán nghi không biết ăn chuột bao tử như thế là văn minh hay man dã. Tuy nhiên người ta có thể chắc chắn là chưa có một nước nào trên thế giới lại có một món ăn tinh vi, quí báu, cầu kỳ đến thế bao giờ.
Chính cái ông Ðại sứ Tây Ban Nha nhắm mắt lại thử ăn nhưng ông thú thực rằng vừa cho vào miệng cắn một cái thấy chuột con kêu chi chí, ông ta vội vàng chạy ra ngoài, lè ra, và một tháng sau còn sợ.
Sau này, đem câu chuyện đó nói với mấy vị đông y sĩ, ông ta biết rằng người Âu Mỹ không biết ăn cái món ấy quả là “Chậm tiến” và mấy ông già con cho biết thêm rằng chuột thường nuôi bằng sâm đã bổ hết sức rồi, nhưng nếu tìm được giống chuột chù mà nuôi bằng sâm theo cách thức nói trên thì còn bổ gấp trăm lần nữa…” (Vũ Bằng)

2) Não Hầu
Não hầu là óc khỉ.

Vùng Thiên Hoa Sơn thuộc tỉnh Sơn Ðông có một rừng cây lê gọi là ngọc căn lê, trái lê trị được các bệnh nhiệt uất, can thận và ho khinh niên. Rừng lê có rất nhiều khỉ, chúng ăn hết cả trái. Nhờ ăn ngọc căn lê nên thịt khỉ nơi đây rất thơm ngon, lại chữa được bệnh loạn óc, tê liệt và bán thân bất toại. Về dược tính, óc khỉ quí hơn thịt gấp bội. Dân chúng trong vùng tìm đủ cách bảo vệ rừng lê nhưng không có kết quả, bởi giống khỉ nơi đây đầu có ba xoáy, tinh khôn, né tránh thợ săn và bẫy rập một cách tài tình.

Tây Thái Hậu xuống chiếu phải bắt cho được 200 con khỉ trẻ, chưa thay lông lần nào, mỗi con được trọng thưởng 110 lượng vàng ròng. Con số này quá nhiều, thợ săn không đáp ứng đủ nên về sau Từ Hi phải giảm xuống còn 80.

Năm thực khách dùng một con. Khỉ mang về được nuôi bằng thức ăn tinh khiết, bổ dưỡng, ngoài ra còn được tắm gội sạch sẽ. Lại cho đóng 80 cái hộp tròn giống như cái trống nhỏ mở ra khép vào được, một mặt trống có khoét lỗ tròn vừa đủ diện tích cho cái đầu con khỉ ló lên kèm theo một cái gông làm con khỉ không thể cục cựa được. Trước khi bắt dầu món ăn này, bầy khỉ được tám rửa lần lượt, xịt nước hoa thơm ngát và cho uống một loại thuốc để tất cả năng lực, tinh túy của con vật tập trung lên não bộ, óc khỉ vì lẽ ấy sẽ gia tăng chất bổ dưỡng bội phần.
Muốn cho các quan khách Tây phương bớt thấy sự dã man, ăn uống được mạnh miệng đồng thời làm cho món ăn mang ít nhiều ý nghĩa lịch sử, Thanh triều cho các chú khỉ vận triều phục, đội mão, vẽ mặt, mang râu, giống như một đại quan của triều đình, trên cổ đeo một tấm bản nhỏ ghi rõ tên họ, tuổi tác cùng quan chức thuở sinh tiền. Những con khỉ đó tượng trưng cho những nịnh thần, gian tặc… khả ố nhất, gian ác nhất, bị dân chúng oán ghét tận xương tủy như Tần Cối, Bí Trọng, Vưu Hồn, Bàng Hồng, Trương Bang Xương, Mao Diên Thọ… phải chịu chết để đền tội với đất nước, với nhân dân.
Khi tiếng khánh ngọc từ tay Tây Thái Hậu trổi lên để báo hiệu đến món não hầu thì nội thị dọn ra mỗi bàn một cái lồng chứa khỉ cho năm thực khách. Kế tiếp tên nội thị một tay gỡ mão một tay dùng búa bằng ngà nhỏ giáng cuống đầu khỉ. Ðộng tác này đã được tập luyện thuần thục từ trước để chỉ cần một búa duy nhất là đủ đưa con khỉ sang bên kia thế giới. Cùng lúc ấy nhạc đệm trổi lên và tên nội thị sẽ ngâm nga một câu theo tiếng nhạc, đại ý như: “Mao Diên Thọ đã thụ hình” hay “Tần Cối đã đền xong tội phản thần…”
Ðoạn tên nội thị lập tức dùng một tấm lụa bạch đậy kín toàn bộ cái đầu con khỉ, chỉ chừa một lỗ thật nhỏ vừa đủ đưa cái muỗng bạc vào múc khối óc khỉ. Não hầu được xối lên bằng nước sâm nóng hổi cho tái đi, bớt đỏ. Lúc thực khách vừa múc óc khỉ ra ngoài, nội thị dùng nĩa bạc gạt bỏ phần da đầu và những mảnh sọ bể để khách dễ dàng hành động.

3) Tượng Tinh
Tượng tinh là tinh khí của voi.

Trước hết chọn những tổ yến thật to và tốt lấy được từ các hải đảo ngoài khơi biển Nam hải, tẩy rửa cẩn thận rồi nấu trong nước thang nhân sâm và đường Chủng Càu Chỉ của Ðại Hàn. Lại hòa chung với nước lê Vân Nam – Tuyết Hồng Lê – và bột Kiết Châu Phấn, nấu khô lại rồi nặn thành hình những con voi, đoạn bỏ vào lò nung cho thật chín và chắc.
Tượng tinh thì các người nài voi đã lấy sẵn. Khi con voi làm bằng tổ yến được mang từ lò ra, đầu bếp sẽ khoét lưng voi một lỗ trống vừa đủ nhét vô một cái bóng cá voi đã ngâm thuốc bắc phơi khô. Tượng tinh được cho vào cái bóng cá và con voi được đem đi chung cách thủy. Lúc thưởng thức món này, thực khách dùng một chiếc kim vàng thọc vô bụng voi để chất nước nhờn chẩy vào chén bạc rồi uống.
Sâm thử và tượng tinh bồi bổ cho lục phủ ngũ tạng, tỳ vị thêm mạnh mẽ lại trị dứt các chứng nhức mỏi và làm mắt sáng thêm ra.

4) Trư Vương
Trư vương là một giống heo quí báu.

Giống heo này thịt thơm ngon và rất bổ dưỡng, ở vùng Phúc Châu nhờ ăn một thứ củ giống như củ Hoàng Tinh mọc quanh khu vực đồi núi Châu Tịch Xương tiếp cận. Củ này tên gọi Tích Vân Lang, chỉ sống tại địa phương, nếu đem trồng nơi khác, cẩn thận chăm sóc cách nào chúng cũng chết.
Thanh triều mang về 60 con heo, 20 con đực và 40 con cái, cho ăn toàn thức ăn đại bổ, uống toàn nước sâm. Heo mặc tình giao hợp rồi sinh đẻ, lớp heo mới ngày càng tinh khiết, tinh túy của sâm nhung. Heo đem đãi tiệc tuổi chưa đầy hai tháng, gọi là heo sữa.
Năm ngày trước đại tiệc, đầu bếp chọn 100 chú heo sữa thật béo tốt, không chọc tiết cũng không nhúng nước sôi để cạo lông mà đập chết rồi thui cho cháy lông. Bỏ hết ruột gan tỳ phế thận, thịt heo được cắt thành từng lát mỏng ướp với các dược phẩm trân quí trong 3 ngày liền trước khi chưng cách thủy. Lúc đem ra thết đãi thịt heo thơm ngon vô cùng. Xương lại mềm rục. Nhiều thực khách ưa thích món heo này vô cùng, họ nhắc nhở mãi về sau này trong các hồi ký, ký sự.

5) Phương Chi Thảo
Phương Chi thảo là cỏ Phương Chi.

Tương truyền Hoàng Ðế Khang Hy nhà Thanh khi còn sinh tiền rất háo sắc nhưng có tài y thuật cao cường. Vì vậy nên dù có hàng trăm phi tần vua vẫn khỏe mạnh do tự bồi dưỡng cường lực bằng dược chất. Nhưng lúc tuổi già vua mắc phải chứng bệnh khan háo trong ngũ tạng mà tự mình không chữa được, bao nhiêu nhự y đại tài của triều đình cũng bó tay, vua phải bố cáo tìm danh y, thần dược trong dân gian.
Ngày nọ, có một dị nhân xin yết kiến rồi móc trong người ra một bó cỏ rất lạ, rễ xanh, lá dài như lá hẹ nhưng màu đỏ tía, ngọn lại trắng. Vua biết là cỏ quí nên hỏi, dị nhân trả lời đó là cỏ Phương Chi mọc trên đỉnh Thái Hàng Sơn hướng về mặt trời, đặc biệt là cỏ này chỉ mọc trên một tản đá duy nhất, cao và chiênh vênh. Chỉ vào năm nhuần cỏ mới mọc và mọc một lần duy nhất nhân dịp Trung Thu, sống trong khoảng 30 đến 45 ngày, lúc gặp ngọn gió bấc đầu mùa thì lập tức bị khô héo.
Việc hái cỏ cũng rất công phu. Dắt theo một con ngựa toàn bạch lên đỉnh núi cao trước một ngày, đếi khi mặt trời mới mọc đem ngựa tới phiến đá cho ăn cỏ. Ngựa vừa ăn cỏ xong phải tức thì chém rụng đầu ngựa rồi mổ bụng lấy bao tử mang về chế thuốc phơi khô.
Cỏ Phương Chi khi ăn vào làm cơ thể mát mẻ đồng thời trị tuyệt các bệnh trầm kha hoặc hiểm nghèo. Trong đại tiệc do Từ Hi Thái Hậu khoản đãi, Phương Chi Thảo nấu chung với Long Tu (râu rồng). Thực khách ăn xong cảm thấy tinh thần vô cùng sảng khoái, cả tháng sau không khát nước cũng không mệt.

6) Sơn Dương Trùng
Sơn dương là dê núi, trùng là con dòi.

Tây Thái Hậu xuống chiếu đòi các thợ săn chuyên nghiệp tỉnh Hồ Bắc vào rừng mang về cho dược một cặp sơn dương thật lớn.
Sau gần một tháng băng núi trèo đèo ở Thiểm Tây, đoàn thợ săn bắt được ba cặp dê rừng, trong số ấy ba con cái đều đang mang thai, được Tây Thái Hậu thưởng cho 50 lạng vàng mỗi con.
Dê rừng sau đó được thả trong một khu vườn rộng đầy cỏ non xanh tốt. Cỏ lạ nuôi dê có dược chất bổ dưỡng gan thận được vận tải đến mỗi ngày từ Vân Nam và Quảng Tây. Cỏ nầy tên la “đông trùng hạ thảo”, bởi mùa hạ cỏ mịn như nhung còn sang mùa đông thì trong cỏ sinh ra một loại sâu ăn rất bổ. Bầy dê núi ăn cỏ quí có dược tính cùng với cỏ non, lá cây thuốc… nên sinh con khỏe mạnh và to lớn khác thường.
Ðầu bếp làm thịt 14 con dê núi tuổi chưa quá hai tháng, cạo lông, loại tim gan phèo phổi rồi cho mỗi con vào một thùng gỗ ngâm với rượu quí và nước gừng trong một ngày. Ngày thứ hai mang những chú bé sơn dương ra rồi ngâm chúng trong sữa tươi và nước sâm nhung. Ngày thứ ba dùng dùi vàng xuyên thủng qua gương sen và cuống hoa quỳ trắng (Phan bạch quỳ – hoa sen trắng của Ðại Hàn thường nở vào mùa đông) để cắm hoa vào mình sơn dương. Tiếp tục ngâm nhu vậy đến ngày thứ 10 thì tự nhiên trong các đóa hoa tự nhiên xuất hiện lúc nhúc những con dòi trắng nõn.
Ðầu bếp lấy dòi ấy chế biến thành món sơn dương trùng, trị các bệnh bán thân bất toại, tê liệt và lao phổi đại tài.

7) Trứng Công
Thế gian có câu “nem công, chả phụng” để chỉ hai món ăn thuộc hàng trân vị. Nem công dù hiếm quí những vẫn còn tương đối dễ kiếm, dễ làm so với trứng công, bởi thứ nhất loài công làm tổ ở những nơi xa xôi hẻo lánh, trên cành cao hay vách đá cheo leo, khó tìm ra được. Thứ hai là dù có tìm ra được chỗ công đang ấp trứng thì cũng không dễ gì đến gần ổ vì công rất hung dữ, chống cự kịch liệt và cuối cùng nếu thấy không bảo vệ được ổ trứng thì chúng đập bể nát hết chứ không để lọt vào tay ai.

Tây Thái Hậu sai người đi lấy trứng công nhưng chẳng ai làm được, bà rất phiền muộn. May thay có một vị tướng quân trẻ tuổi xin vào ra mắt và tâu rằng ông có người anh bà con ở Tứ Xuyên nuôi được bầy khỉ 100 con, thông minh lanh lợi, huấn luyện thuần thục, nghe được tiếng người, chuyên đi hái trà cùng với các dược thảo hiếm hoi, quí giá ở những vùng rừng núi xa xôi và hiểm trở. Ông tin rằng nếu tập luyện cho lũ khỉ chúng có thể lấy được trứng công.
Tây Thái Hậu nghe xong trong lòng hoan hỉ, truyền đem 1000 lạng vàng ròng cùng với 100 tấm gấm vóc Bạch cầu thượng hạng ban tặng cho viên tướng nọ làm lộ phí đi Tứ Xuyên lo việc kiếm trứng công, nếu xong việc sẽ thưởng thêm mỗi trứng 10 lạng vàng nữa.
Viên tướng nọ lãnh mệnh ra đi, cùng người anh bà con huấn luyện đoàn khỉ. Họ thành công, lấy được 500 trứng công, nhưng thiệt hại khá lớn, bầy khỉ bị công mổ chết hết một phần ba.

Chấn động tiết lộ bí mật chuyện phòng the của Từ Hy thái hậu

 

Từ Hy thái hậu có biệt danh là một trong tam đại nữ của Trung Quốc, kinh nghiệm tình trường và những giai thoại về cuộc đời bà luôn đầy màu sắc. Đặc biệt là những câu chuyện về đời sống phòng the đầy chấn động của bà.

Từ Hy Thái Hậu (1835 – 1908) xuất thân từ Mãn quân Tương Lam kỳ. Năm Hàm Phong (1851) nhập cung với thân phận phi tần, 6 năm sau sinh ra Tái Thuần (Hoàng đế Đồng Trị) và được phong là Quý Phi, đây cũng là địa vị cao nhất đến khi Hàm Phong Đế qua đời. Đồng Trị đế đăng cơ, bà được tấn phong Thánh mẫu Hoàng Thái Hậu, nhập vào Mãn quân Tương Hoàng kỳ (một trong 8 kỳ của nhà Thanh).

Ở tuổi 26, Từ Hy đã trở thành một góa phụ gối chăn đơn chiếc, thế nên dã sử Trung Quốc đã đồn đại rất nhiều chuyện về chốn khuê phòng của người phụ nữ này, mặc dù đây là việc “tế nhị” mà chính sử không hề ghi lại.

Có thể bạn quan tâm

Chan dong tiet lo bi mat chuyen phong the cua Tu Hi thai hau

Theo những gì mà người ta đồn đại về Từ Hy thì vị Thái hậu này nổi tiếng khắp hậu cung về lối sống bê tha, dâm loạn. Trong đó có rất nhiều người nổi tiếng thời điểm đó cũng đã phải qua tay người phụ nữ nổi tiếng xinh đẹp này.

Do Từ An hoàng hậu không có con trai nên con trai của Từ Hy đã được kế vị. Đây chính là điều kiện quan trọng để bà có thể buông rèm nhiếp chính. Được hưởng phú quý từ con, Từ Hy thái hậu đã hô mưa gọi gió làm điên đảo cả Tử Cấm Thành.

Ngoài cuộc tình với hoàng đế Hàm Phong ra, trước khi vào cung, Từ Hy từng còn có mối tình sâu đậm với em trai hoàng đế là Cung thân vương, thậm chí có mối nghi ngờ rằng hoàng đế Đồng Trị không phải là con ruột của hoàng đế Hàm Phong. Ngoài ra, còn có mối tình vụng trộm của Từ Hy với đại thần trong triều như Vinh Lộc và thậm chí ngay đến đại thái giám Lý Liên Anh cũng chính là một trong những người tình của bà ta.

Cuối đời, khi đã đến cái tuổi “thấp thập cổ lai hi”, Từ Hy thái hậu đã có mối tình say đắm với trai trẻ người Anh Edmund Backhouse kém mình hơn 50 tuổi. Trong hồi ký của Edmund Backhouse ghi rằng: “Năm 1899, ông ta đến Trung Quốc khi đó mới 26 tuổi. Ông là người phong độ, đẹp trai, có học thức và đặc biệt thông thạo rất nhiều ngôn ngữ trong đó có tiếng Mãn Châu, tiếng Mông Cổ và tiếng Hán. Năm 1902, ông ta vào cung nhà Thanh và sau đó có mối quan hệ tình cảm với Từ Hy thái hậu”.

Tuy nhiên dường như chỉ một người tình không đủ đáp ứng “nhu cầu tình dục” quá cao nên người phụ nữ quyền lực này còn sở hữu cả những tình nhân “nửa đực nửa cái”. Khang Hữu trong một cuốn sách đã nói rằng: “Từ Hy thái hậu là một ác nữ hung bạo, là một bà lão khiến cho mọi người đều thảo ác, sống một cuộc sống phong lưu, phóng đãng. Là một thái hậu, một cung phi sa đọa, sức khỏe của bà rất tốt, ham muốn tình ái cũng rất mạnh mẽ. Đứng đầu trong những hoạn quan của bà cũng không phải chỉ đơn thuần là một vị thái giám, mà còn là một trong những tình nhân trong suốt quãng đời của bà”.

Người mà Khang Hữu nhắc tới đây chính là thái giám An Đức Hải và Lý Liên Anh. Vì thái giám không có khả năng sinh sản nên việc quan hệ của Từ Hy với những thái giám này phần nhiều là một dạng kích thích và an ủi tâm lý. Không những thế, nổi tiếng là một thái giám gian ngoan, Lý Liên Anh còn rất biết cách đáp ứng nhu cầu tình dục của Từ Hy Thái Hậu, vì thế nhận được sự sủng ái đặc biệt từ bà, mặc dù sự yêu chiều này kèm theo một khuynh hướng tâm lý biến thái.

Phó viện trưởng thư viện Cố Cung Bắc Kinh đã từng kể rằng: “Từ Hy có thói quen nghe kể truyện s.ex hoặc nghe truyện cười trước khi đi ngủ. Sau này tuổi càng cao, cuối đời bà ta đặc biệt thích nghe những câu chuyện s.ex dân gian, sau này còn phải xem kịch s.ex mới có thể ngủ được”. Ảnh chân dung Từ Hy thái hậu.

Bí mật để giữ gìn nhan sắc và duy trì sự dẻo dai, thỏa mãn các cuộc mây mưa của bà cũng được Edmund ghi lại. Theo đó, Từ Hy

đặc biệt coi trọng việc thưởng ngoạn các món ăn được coi là tinh hoa của trời đất để cải lão hoàn đồng, bộ thận tráng dương, tăng cường sức khoẻ cho mỗi cuộc mây mưa. Một trong những món ăn được Từ Hy thái hậu đặc biệt ưa chuộng là Sâm Thử, chuột bao tử sống.

Từ Hi Thái hậu – Wikipedia tiếng Việt

 

Hiếu Khâm Hiển Hoàng hậu (chữ Hán: 孝欽顯皇后; tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᡤᡳᠩᡤᡠᠵᡳ
ᡳᠯᡝᡨᡠ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
,tiếng Mãn Châu:hiyoošungga gingguji iletu hūwangheo,thái thanh:hiyouxungga gingguji iletu hvwangheu; 29 tháng 11 năm 1835 – 15 tháng 11 năm 1908), thường được gọi là Từ Hi Thái hậu (慈禧太后) hoặc Tây Thái hậu (西太后), là phi tần của Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế, mẹ đẻ của Thanh Mục Tông (Đồng Trị). Bà trở thành Hoàng thái hậu nhiếp chính của triều đình nhà Thanh cùng với Từ An Thái hậu khi Đồng Trị Đế lên ngôi. Sau khi Đồng Trị mất, Thanh Đức Tông (Quang Tự) lên ngôi, bà lại tiếp tục nhiếp chính.

Năm 1861, Hàm Phong mất, di chiếu cho Cố mệnh Bát đại thần cùng nhiếp chính cho vua mới là Đồng Trị còn nhỏ tuổi. Từ Hi Thái hậu đã cùng Từ An Thái hậu – dưới sự giúp đỡ của Cung Thân vương Dịch Hân – đã tạo nên chính biến phế trừ cả Tám đại thần nhằm đạt được quyền lợi chính trị trước mâu thuẫn gay gắt với Túc Thuận, người đứng đầu Tám vị đại thần. Sau sự kiện này, Từ Hi Thái hậu và Từ An Thái hậu đồng nhiếp chính cho Tân Hoàng đế, trở thành 2 vị Hoàng thái hậu duy nhất của triều đại Thanh thực hiện [Thùy liêm thính chánh; 垂簾聽政].

Theo cách hiểu thông thường, Từ Hi Thái hậu đã nắm đại quyền triều đại nhà Thanh trong vòng 47 năm, từ năm 1861 tới tận khi qua đời. Nhưng thực tế, bà chỉ có nắm toàn quyền ở hai giai đoạn: từ năm 1881 sau cái chết của Từ An Thái hậu, cho đến năm 1889 khi Quang Tự Đế thân chính; và từ năm 1898 đến khi qua đời năm 1908, sau sự kiện Bách nhật Duy tân. Tuy vào năm 1889, Quang Tự Đế tuyên bố thân chính, nhưng Từ Hi Thái hậu vẫn nắm thế lực đằng sau, gọi là [Huấn chính; 訓政]. Như vậy, bà nắm quyền thực tế tầm 27 năm.

Sự kiện Bách nhật Duy tân của Quang Tự, là một sự kiện phát sinh do mâu thuẫn giữa Hoàng đế và Từ Hi Thái hậu trong vấn đề chính trị, và một trong những dự định của Quang Tự Đế là mật mưu cùng với Khang Hữu Vi để giam lỏng cùng ám sát Thái hậu, từ đó nắm được đại quyền trong tay. Sau khi Biến pháp thất bại, Quang Tự Đế bị giam lỏng, Từ Hi Thái hậu tiếp tục là nhà lãnh đạo tối cao, tiếp tục thực hiện [Huấn chính], và đây là khoảng thời gian đỉnh cao quyền lực nhất mà người đời sau biết về bà. Khi khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn bùng nổ, liên quân 8 nước phương Tây tấn công Trung Quốc, Từ Hi Thái hậu và hoàng tộc phải chạy tới Tây An. Năm 1901, sau khi Hòa ước Tân Sửu được ký kết, bà mới quay trở lại Bắc Kinh. Những năm về sau, Từ Hi Thái hậu tích cực thực hiện nhiều cải cách nhất định ảnh hưởng đến nền chính trị Trung Quốc khi ấy, một trong những điều nổi tiếng nhất là việc giải phóng phụ nữ Trung Hoa khỏi tục bó chân[1]. Nhiều nhà sử học hiện đại ở Trung Quốc và hải ngoại thường miêu tả Từ Hi Thái hậu như một bạo chúa, người phải chịu trách nhiệm cho sự sụp đổ của triều đại nhà Thanh, trong khi một số khác cho rằng các đối thủ của Thái hậu đã quá thành công trong việc quy tội bà về những vấn đề nằm ngoài tầm kiểm soát của bà lúc đó. Đánh giá thực tế khách quan, bà không hề tàn nhẫn hơn hay kém những nhà lãnh đạo khác trên toàn thế giới, nếu không muốn nói đã ít nhiều là một nhà cải cách có hiệu quả trong những năm cuối đời, cho dù hành động này có phần miễn cưỡng bởi tình thế khó khăn của triều Thanh vào lúc ấy[2].

Trong văn hóa đại chúng thường thức ở Trung Hoa đại lục, Từ Hi Thái hậu cùng với Võ Tắc Thiên thời Đường và Lã hậu thời Hán được xem là những người phụ nữ nắm quyền lực cao nhất của đế quốc Trung Hoa trong một thời gian dài.

Dòng dõi[sửa | sửa mã nguồn]

 src=

Hiếu Khâm Hoàng hậu Diệp Hách Na Lạp thị

Từ Hi Thái hậu sinh ngày 10 tháng 10 (âm lịch) năm Đạo Quang thứ 15, xuất thân từ Diệp Hách Na Lạp thị thuộc Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, nguyên là Mãn Châu Tương Lam kỳ, con cháu nhà quan gia thế tập. Sau thời Trung Hoa Dân quốc, có nhiều học giả nhận định bà ắt hẳn là con cháu Diệp Hách bối lặc Kim Đài Cát, thuộc dòng dõi của Nạp Lan Minh Châu, thế nhưng sự thực hoàn toàn không phải như vậy.

Cứ theo hồ sơ có tên Đức Hạ Nột Thế quản tá lĩnh tiếp tập gia phổ (德贺讷世管佐领接袭家谱) tại Trung Quốc đệ nhất lịch sử đương án quán (中国第一历史档案馆), thì tổ tiên của bà được gọi là Khách Sơn (喀山), thế cư Tô Hoàn, mang họ Na Lạp thị, cho nên nguyên bản phải được gọi là [Tô Hoàn Na Lạp thị; 甦完那拉氏]. Mà Tô Hoàn vốn ở trong lãnh thổ Diệp Hách, nên vài đời sau cứ lấy thế cư Diệp Hách, tạo thành ra sự ngộ nhận thân thế “Diệp Hách Na lạp thị” của bà. Sách Thanh sử cảo viết về bà cũng công nhận bà là hậu nhân của Diệp Hách bộ, dù sắc phong tần phi của bà ghi lại thì bà chỉ được gọi đơn giản là [Na Lạp thị] mà thôi.

Khách Sơn sau khi nhập kỳ, nhận chức Kỵ Đô úy, sau do tòng chinh Liêu Đông lập rất nhiều quân công, sau do có công “Dưỡng dục công chúa” mà thụ tước [Nhị đẳng tử; 二等子], thụy là [Mẫn Tráng; 敏壮]. Hậu duệ đại tông một chi thừa kế tước hiệu [Nhất đẳng Nam; 一等男] cùng hai chức Quản tá lĩnh (管佐領). Cao tổ phụ Khách Anh A (喀英阿) là huyền tôn của Khách Sơn, thế tập tước Nam tước cùng chức Tá lĩnh. Khách Anh A sinh ra con trưởng Trát Lang A (扎郎阿) thế tước, còn con thứ Cát Lang A (吉朗阿) – chính là cụ nội của Từ Hi Thái hậu.

Cát Lang A, tự Ải Đường (霭堂), do là con thứ nên đành phải xuất sĩ để tiến thân, làm đến Viên ngoại lang bộ Hộ. Ông cưới Tôn Thất nữ quyến, vào năm Càn Long thứ 45 sinh ra Cảnh Thụy (景瑞), làm đến Lang trung bộ Hình. Sau Cảnh Thụy cưới Qua Nhĩ Giai thị, sinh ra hai con: con trưởng Huệ Trưng (惠徵), con thứ Huệ Xuân (惠春). Bên cạnh đó, có nguồn tư liệu từ Đài Loan ghi lại, trên Huệ Trưng còn có 1 anh cả tên Huệ Trừng (惠澂), nguyên sính con gái của Hắc Long Giang tướng quân Quả Tề Tư Hoan (果齐斯欢), nhưng chưa kịp thành hôn đã chết yểu. Tư liệu này không khớp với Ngọc điệp của nhà Từ Hi Thái hậu, tuy nhiên Huệ Trưng quả thực được gọi là [Huệ nhị thái gia; 惠二太爷], cho nên vẫn còn tồn nghi.

Gia cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ thân bà là Huệ Trưng, sơ kì là “Bút thiếp chức” ở bộ Lại. Năm Hàm Phong thứ 2, Huệ Trưng được phong hàm Tứ phẩm, làm đến An Huy Ninh Trì thái quảng đạo Đạo viên (安徽寧池廣太道道員). Sau, Huệ Trưng cưới Phú Sát thị thuộc Mãn châu Tương hoàng kỳ, con gái Phó đô thống Huệ Hiện (惠顯), sinh 3 nam 4 nữ, trong đó Từ Hi Thái hậu là con gái thứ 2, do Phú Sát thị vợ cả sinh ra. Vào năm Từ Hi Thái hậu ra đời, Huệ Trưng đang làm việc tại Bắc Kinh, dẫn đến một số suy đoán rằng bà cũng được sinh ra tại đó.

Ba con trai của Huệ Trưng, theo thứ tự là Chiếu Tường (照祥), Quế Tường (桂祥) cùng Phật Hữu (佛佑). Chiếu Tường sinh năm không rõ, mất vào năm Đạo Quang thứ 7; Quế Tường sinh vào năm Đạo Quang thứ 24, sinh ra Long Dụ Hoàng thái hậu. Con trai út Phật Hữu, sinh vào Hàm Phong nguyên niên, mất vào năm Quang Tự thứ 25. So về độ tuổi, có thể thấy cả ba người con trai đều là em của Từ Hi Thái hậu. Bốn cô con gái của Huệ Trưng, xét theo Trung cung đương soa vụ tạp lục (宫中档差务杂录), có đề cập việc tế tự trong nhà Từ Hi Thái hậu, và bà tự gọi là [Hiếu thứ nữ; 孝次女] – chứng tỏ bà là con gái thứ hai trong nhà. Nhưng tư liệu chị em gái của bà chỉ ghi lại 2 người em gái, một vị trường tỷ rất có thể là chết non. Hai em gái còn lại của bà, một vị sinh vào năm Đạo Quang thứ 21, được chỉ hôn cho Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn – ấy chính là Uyển Trinh. Một vị còn lại sinh năm không rõ, gả cho em trai ruột của Khánh Mật Thân vương Dịch Khuông là Dịch Huân.

Khoảng những năm 30 niên hiệu Đạo Quang, có vụ án phát sinh ở bộ Hộ, Đạo Quang Đế tiến hành điều tra. Lúc đó Cát Lang A đã từng làm quan Ngân khố Tư viên, nên trách nhiệm đều giáng lên người Cảnh Thụy, không lâu sau Cảnh Thụy bị tống giam. Con trai Cảnh Thụy là Huệ Trưng phải vơ vét tài sản mới cứu được Cảnh Thụy ra ngoài. Đây cũng là kiếp đại nạn đầu tiên trong gia đình bà. Chi Trát Lang A là chi trưởng của Khách Sơn, nhiều đời thế tập tước Nam tước, tuy nhiên vẫn khá có giao du với nhánh của gia đình bà, nên quan hệ toàn gia tương đối không tệ. Điều này minh chứng việc một người cháu dâu của Từ Hi Thái hậu, được gọi là [Nguyên đại nãi nãi; 元大奶奶], theo ghi chép cuối thời Thanh thường xuyên vào cung thăm Từ Hi Thái hậu. Nguyên đại nãi nãi là vợ của Đức Viên (德垣), trực hệ của Trát Lang A, nên còn được gọi là [Viên đại nãi nãi; 垣大奶奶].

Đánh giá tổng quan, dòng dõi Na Lạp thị của Từ Hi Thái hậu là quân công thế gia, nhưng gia đình của bà lại là dòng thứ, địa vị không mấy cao, dù không phải là thấp kém. Dẫu vậy, đời của bà tách ra khỏi nhánh đại tông không xa, cho nên tương đối có quyền thế, ông và cha bà vẫn giữ được các chức quan tương đối, bên cạnh đó hôn nhân của gia đình vẫn thuộc diện có thể liên hôn với các nhà tầm trung hoặc cao hơn, quả thực không tầm thường. Tuy không thể so với đệ nhất thế gia nhưng cũng hơn những nhà bình thường.

Trải qua tuyển tú[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hàm Phong thứ 2 (1852), ngày 11 tháng 2 (âm lịch), sau khi vượt qua 60 cô gái cùng tham gia thi tuyển tú nữ, Na Lạp thị được vào vòng cuối cùng dự tuyển tần phi. Cùng năm, bà được chỉ định làm Quý nhân. Ngày 9 tháng 5 (âm lịch) năm ấy, Na Lạp thị nhập cung, được gọi là Lan Quý nhân (蘭貴人).

Trong số những người được chọn còn có Lệ Quý nhân Tha Tha Lạp thị, Anh Quý nhân Y Nhĩ Căn Giác La thị và Trinh tần Nữu Hỗ Lộc thị, người sau này là Hiếu Trinh Hiển Hoàng hậu. Bởi vì tư liệu tuyển tú thời Hàm Phong chỉ vỏn vẹn, nên trước mắt không rõ thời điểm Na Lạp thị tuyển tú có xảy ra chuyện gì kì lạ hay không. Ngoại trừ Trinh tần Nữu Hỗ Lộc thị là dự bị cho ngôi vị Hoàng hậu, đối đãi có khác biệt, thì Na Lạp thị cùng Tha Tha Lạp thị và Y Nhĩ Căn Giác La thị đều là Quý nhân, có thể thấy rõ tương đối bình đẳng.

Năm Hàm Phong thứ 4 (1854), ngày 26 tháng 2 (âm lịch), Na Lạp thị được tấn phong lên 1 cấp là Tần. Ngày 25 tháng 11 (âm lịch) cùng năm, lấy Hiệp bạn Đại học sĩ Giả Trinh (贾桢) làm Chính sứ, Lễ bộ Tả Thị lang Túc Thuận (肃顺) làm Phó sứ, hành lễ sách phong Tần, phong hiệu Ý tần (懿嫔). Căn cứ Hồng xưng thông dụng (鴻稱通用) của Nội vụ phủ, phong hiệu Ý có Mãn văn là 「Fujurungga」, ý là “Đoan trang”, “Văn nhã”, “Có phong thái”.

Sinh hạ hoàng tử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hàm Phong thứ 6 (1856), ngày 23 tháng 3 (tức ngày 27 tháng 4 dương lịch), sinh hạ Hoàng trưởng tử Tải Thuần (載淳), con trai duy nhất của Hàm Phong Đế, tức Thanh Mục Tông Đồng Trị Hoàng đế sau này. Ngày 24 tháng 3 hôm sau, bà được sắc phong thành Ý phi (懿妃).[3] Ngày 1 tháng 12 (âm lịch) cùng năm, lấy Đại học sĩ Bành Uẩn Chương (彭蕴章) làm Chính sứ, Lễ bộ Thượng thư Thụy Lân (瑞麟) làm Phó sứ, hành lễ sách phong Phi.

Một năm sau (1857), ngày 2 tháng 1, khi Tiểu hoàng tử gần tròn 1 tuổi, Ý phi Na Lạp thị lại được tấn phong làm Quý phi. Ngày 13 tháng 12 cùng năm, lấy Nội các đại học sĩ Dụ Thành (裕诚) làm Chính sứ, Đại học sĩ Hoàng Tông Hán (黄宗汉) làm Phó sứ, đem kim sách kim bảo chính thức cử hành lễ sắc phong.

Sách phong viết:

 src=

Ý Quý phi Na Lạp thị

朕惟椒涂佐治。含章应厚载之贞。瓜瓞延祺。笃祜启灵长之祚。焕芝泥而光贲。膺鞠采而荣增。咨尔懿妃那拉氏、赋质金相。秉心玉粹。柔嘉维则。表令范于珩璜。淑慎其仪。懔芳规于图史。祥开麟定。恩奉龙章。瑞毓螽诜。吉符燕喜。既蕃禧之茂介。宜显秩之攸加。是用晋封尔为懿贵妃。锡之册宝。尔其坤仪懋赞。敬承昌燕之休。巽命丕扬。益荷庞鸿之泽。钦哉。

Trẫm duy tiêu đồ tá trị. Hàm chương ứng hậu tái chi trinh. Qua điệt duyên kỳ. Đốc hỗ khải linh trường chi tộ. Hoán chi nê nhi quang bí. Ưng cúc thải nhi vinh tăng.

Tư nhĩ Ý phi Na Lạp thị, phú chất kim tương. Bỉnh tâm ngọc túy. Nhu gia duy tắc. Biểu lệnh phạm vu hành hoàng. Thục thận kỳ nghi. Lẫm phương quy vu đồ sử. Tường khai lân định. Ân phụng long chương. Thụy dục chung sân. Cát phù yến hỉ. Kí phồn hi chi mậu giới. Nghi hiển trật chi du gia.

Thị dụng tấn phong nhĩ vi Ý Quý phi, tích chi sách bảo.

Nhĩ kỳ khôn nghi mậu tán. Kính thừa xương yến chi hưu. Tốn mệnh phi dương. Ích hà bàng hồng chi trạch. Khâm tai.

— Sách tấn phong Ý Quý phi[4]

Sinh hoạt cung đình[sửa | sửa mã nguồn]

 src=

Hàm Phong triều tổng cộng 11 năm, mà hậu cung Hàm Phong chỉ đến năm thứ 2 mới định, cho nên thực tế cuộc sống hậu cung của Na Lạp thị chỉ vỏn vẹn 10 năm. Mà trong 10 năm ấy, lại chia ra làm 3 giai đoạn, và giai đoạn đầu tiên là từ Hàm Phong năm thứ 2 đến năm thứ 5. Lúc này hậu cung chỉ vừa mới định, tựa hồ có không ít vấn đề. Giai đoạn thứ 2 là từ năm Hàm Phong thứ 5 đến năm thứ 8, trong khoảng thời gian này hậu cung dần ổn định, cũng là thời gian mà Na Lạp thị đã có địa vị chắc chắn. Cuối cùng là 2 năm cuối, khi ấy chính sự bất ổn, Hàm Phong Đế đã sa vào hưởng lạc.

Ở giai đoạn thứ nhất, Na Lạp thị bình bình yên dị vô sủng, điều này hình như có liên quan đến thời tang kỳ của cha bà là Huệ Trưng, khiến Na Lạp thị vào cung cũng chưa thực sự được đoái hoài đến. Lúc này, Trinh tần đăng vị Hoàng hậu, Anh Quý nhân độc sủng phong Tần. Nhưng Anh tần sau đó liên tiếp thất sủng giáng vị, Na Lạp thị cùng Lệ Quý nhân vào năm Hàm Phong thứ 4 mới bắt đầu được sủng ái, đồng loạt thăng Tần. Sau đó vào năm Hàm Phong thứ 5 và thứ 6, Lệ tần cùng Na Lạp thị do sinh dục Hoàng trưởng nữ cùng Hoàng trưởng tử, mà đều thăng Phi. Và cũng vì do sinh hạ Hoàng trưởng tử, Na Lạp thị một bước tấn Quý phi chỉ sau vỏn vẹn vài tháng dụ tấn Phi, điều này hiển nhiên là công lao “Sinh dục Hoàng tử” mới khiến bà có được địa vị này. Trong triều Hàm Phong đương thời, có thể thấy Na Lạp thị là Quý phi duy nhất, lại là sinh mẫu của Hoàng trưởng tử, cho nên địa vị trong hậu cung của bà vào lúc ấy chỉ sau mỗi Hoàng hậu. Vào giai đoạn cuối, hậu cung thu nạp đủ loại tần phi với thân phận hỗn loạn, hẳn đây cũng là thời gian Na Lạp thị để bảo toàn cho con trai mà thu mình vào nhất, một phần vì thời gian này tổ phụ của bà Cảnh Thụy qua đời khiến bà phải “thủ hiếu”.

Theo một số truyền thuyết kể lại, Ý Quý phi Na Lạp thị không như những người phụ nữ khác an phận, mà nổi tiếng với trí thông minh và khả năng đọc viết thông thạo tiếng Hán, nhờ vậy bà có nhiều cơ hội tham gia chính sự khi sức khỏe của Hàm Phong Đế không được tốt. Trong nhiều trường hợp, Hoàng đế để Ý Quý phi đọc tấu chương và ghi lời phê cho mình, điều này khiến các đại thần đối với Ý Quý phi đã sớm bất mãn[5]. Tuy nhiên, những truyền thuyết trên đã có phần cường điệu, đặc biệt là dưới nhãn quan của người phương Tây, có phần lệch lạc không ít. Bên cạnh cái nhìn của người phương Tây cho thấy một phụ nữ can chính, người Trung Quốc nhìn về bà khi còn là Ý Quý phi Na Lạp thị lại theo hướng hậu cung tranh sủng. Qua các thuyết này, Na Lạp thị hãm hại vô số cung nhân, nổi tiếng nhất là việc đem Lệ phi Tha Tha Lạp thị biến thành [Nhân trư; 人彘]. Cơ bản tất cả đều là bịa đặt vô căn cứ.

Mặt khác, có người tên là Vương Văn Phổ (王文普), vốn là hậu duệ chi rất xa của Cát phi Vương thị, vào thời buổi đầu tân Trung Quốc đã viết cuốn sách Từ Hi tảo niên dật sự (慈禧早年轶事) miêu tả một đoạn tranh sủng của Ý Quý phi. Theo tự nhận của Vương Văn Phổ nghe theo người trong hệ tộc thuật lại, Cát phi cùng Ý Quý phi Na Lạp thị khi ấy mang thai, nhưng Na Lạp thị tính kế khiến Cát phi sẩy thai, còn mình an toàn sinh ra hoàng tử. Tuần tra qua các tài liệu, Cát phi Vương thị nhỏ hơn Na Lạp thị 5 tuổi, nguyên là cung nữ của Hoàng hậu, vào năm Hàm Phong thứ 8 mới được thụ phong làm Quý nhân, là vị hậu cung cuối cùng tấn phong triều Hàm Phong. Trong khi đó, Na Lạp thị sinh Hoàng tử vào năm Hàm Phong thứ 6, thời gian chênh lệch quá lớn, thập phần không đáng tin.

Hàm Phong Đế băng hà[sửa | sửa mã nguồn]

 src=

Hai con dấu “Ngự Thưởng” và “Đồng Đạo đường”

Năm Hàm Phong thứ 10 (1860), liên quân Anh – Pháp tấn công Bắc Kinh. Hàm Phong cùng hoàng tộc, trong đó có Ý Quý phi, phải rời Tử Cấm Thành đến Thừa Đức để lánh nạn. Khi nghe tin vườn Viên Minh xa hoa tráng lệ bị liên quân đốt phá, Hoàng đế đau buồn khôn xiết. Ngài bắt đầu lạm dụng rượu và thuốc phiện khiến sức khỏe ngày càng suy sụp.

Năm Hàm Phong thứ 11 (1861), ngày 17 tháng 7 (tức ngày 22 tháng 8 dương lịch), Hàm Phong Đế băng hà ở Tị Thử Sơn Trang.[6] Người kế vị ông, Hoàng tử Tái Thuần, lúc này chỉ mới 5 tuổi. Trước lúc lâm chung, Hàm Phong Đế ban cho Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị con dấu [Ngự Thưởng; 御赏], và con dấu [Đồng Đạo Đường; 同道堂] cho Hoàng tử Tái Thuần. Do Hoàng tử còn nhỏ nên, con dấu được mẹ Hoàng tử là Ý Quý phi Na Lạp thị tạm thời bảo quản, với hy vọng cả hai sẽ hợp sức cùng nhau nuôi dạy Hoàng đế tương lai khôn lớn.

Hàm Phong Đế cũng di chiếu lại cho tám vị đại thần bao gồm Di Thân vương Tải Viên, Trịnh Thân vương Đoan Hoa, Hộ bộ Thượng thư Túc Thuận, Ngạch phụ Cảnh Thọ, Binh bộ Thượng thư Mục Ấm, Lại bộ Tả Thị lang Khuông Nguyên, Lễ bộ Hữu thị lang Đỗ Hàn, Thái bộc Thiếu Khanh tự Tiêu Hữu Doanh làm phụ chính hỗ trợ cho Tiểu Hoàng đế, đương thời gọi Cố mệnh Bát đại thần. Điều này có nghĩa thực quyền sẽ nằm trong tay nhóm tám vị này, do Túc Thuận đứng đầu.[7] Ban đầu, niên hiệu của Tân Hoàng đế dự định sẽ là [Kỳ Tường; 祺祥].

Sau khi Hàm Phong Đế băng, Tái Thuần kế vị. Theo thông lệ nhà Thanh, phàm [Mẫu hậu Hoàng hậu] – Đích mẫu của Hoàng đế cùng [Thánh mẫu] – sinh mẫu của Hoàng đế đều còn sống và tại vị, thì nên đồng tôn Hoàng thái hậu. Theo đó, Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị được tấn tôn làm [Mẫu hậu Hoàng thái hậu; 母后皇太后], tức Từ An Hoàng thái hậu. Sinh mẫu của Hoàng đế là Ý Quý phi Na Lạp thị trở thành [Thánh mẫu Hoàng thái hậu; 聖母皇太后][8].

Theo Edward Behr, chính Thánh mẫu Hoàng thái hậu Na Lạp thị cho rằng hai người đều là phụ nữ, Hoàng đế thì còn nhỏ tuổi, nếu để tám vị đại thần phụ chính ắt không tránh khỏi việc bị chèn ép. Vì vậy, bà gợi ý với Mẫu hậu Hoàng thái hậu nên cùng nhau chấp chính, đoạt lấy quyền lực[9]. Với việc này, trong tương lai cả hai vị Thái hậu đều có thể tham gia chính sự, chứ không phải chịu sự chèn ép của phe Cố mệnh Bát đại thần.

Diễn ra chính biến[sửa | sửa mã nguồn]

 src=
 src=

Trong lúc chờ ngày lành tháng tốt để đưa di hài của Hàm Phong hoàng đế về Bắc Kinh, quan hệ giữa Lưỡng cung Thái hậu và nhóm của Tái Viên cùng Túc Thuận ngày một xấu đi. Dưới tình thế đó, Thánh mẫu Hoàng thái hậu Na Lạp thị liên kết cùng Mẫu hậu Hoàng thái hậu, triệt bỏ Túc Thuận. Trong số đồng minh quan trọng nhất khi ấy, có Cung Thân vương Dịch Hân và Thuần Quận vương Dịch Hoàn. Cung Thân vương vốn là một người đầy tham vọng nhưng lại bị gạt khỏi vị trí đầu triều sau di chiếu của Hàm Phong Đế nên rất tích cực ủng hộ cuộc đảo chính. Ngoài ra còn có Quân cơ đại thần Văn Tường (文祥) – một người luôn ủng hộ Dịch Hân trong vấn đề chính trị, do bất mãn cũng quyết định thỉnh an Lưỡng cung Thái hậu, âm mưu dự việc chính biến.

Ngày 1 tháng 8 (ngày 5 tháng 9 dương), Cung Thân vương giả trang thành Tát mãn, mật họp với Lưỡng cung Thái hậu, sau đó về kinh sư bố trí sẵng[10]. Ngày 11 tháng 8 (ngày 14 tháng 9 dương), Sơn Đông Ngự sử Đổng Nguyên Thuần (董元醇) tấu thỉnh Lưỡng cung Thái hậu quản lý triều chính. Gặp phải sự phản đối của Tái Viên cùng Túc Thuận, lấy lý do nhà Thanh chưa có tiền lệ Thái hậu buông rèm nhiếp chính[11]. Hai bên tranh cãi kịch liệt. Trong khi đó, Cung Thân vương ở Bắc Kinh bố trí thế lực, có Đại học sĩ Quế Lương (桂良), Giả Trinh (贾楨) cùng Hộ bộ Thượng thư Thẩm Triệu Lâm (沈兆霖) liên lạc các thế lực ngoại quốc. Ông còn huy động một số vây cánh đã thiết lập ngầm từ lâu, trong đó có Tả Dực Hậu Khoa Nhĩ Thấm Thân vương Tăng Cách Lâm Thấm[12].

Ngày 23 tháng 9 (ngày 26 tháng 10 dương), kim quan của Hàm Phong Đế rục rịch được đưa về Bắc Kinh. Lưỡng cung Thái hậu theo đúng kế hoạch, trước an dụ Tân Hoàng đế bồi giá 1 ngày, sau lấy lý do Hoàng đế tuổi nhỏ vất vả, bèn phủ dụ đám người Túc Thuận ở lại đi theo hộ tống, còn cả hai vị Thái hậu sẽ cùng Tân Hoàng đế trở về Bắc Kinh trước để lo liệu. Ngày 29 tháng ấy (âm lịch), Tân Hoàng đế bồi Lưỡng cung Thái hậu về Bắc Kinh bằng đường tắt, về trước so với linh giá 4 ngày. Ngay lập tức, Lưỡng cung Thái hậu gọi gấp Cung Thân vương, phát hiệu lệnh bố trí sẵng sàng thực hiện kế hoạch[13]. Ngày 30 tháng 9 (tức ngày 2 tháng 11 dương lịch), khi Tám phụ chính đại thần về đến Bắc Kinh, Lưỡng cung Thái hậu chính thức phát động chính biến, ra chỉ phái Thuần Quận vương Dịch Hoàn đọc tuyên tội trạng của Cố mệnh Bát đại thần, rồi để Thuần Quận vương hiệp lĩnh Quản thiện bộ doanh sự lập tức bắt giam Tái Viên, Đoan Hoa cùng Túc Thuận. Khi Túc Thuận bị bắt, còn mắng to nói:”Hối hận không sớm trị mấy ả tiện tỳ này!”[9][14].

Ngày 5 tháng 10 (tức ngày 7 tháng 11 dương lịch), đổi niên hiệu từ [Kỳ Tường] thành [Đồng Trị; 同治].

Ngày 6 tháng 10 (tức ngày 8 tháng 11 dương lịch) năm ấy, cả tám người bị khép tội phản nghịch cùng một loạt tội danh lớn nhỏ khác. Để thể hiện sự khoan dung, Lưỡng cung Thái hậu chỉ xử tử 3 trong số họ là Túc Thuận, Tái Viên cùng Đoan Hoa. Cung Thân vương cho rằng Túc Thuận và hai người có vị trí cao nhất phải chịu lăng trì, nhưng Lưỡng cung Thái hậu quyết định Túc Thuận chỉ bị chém đầu, còn hai người kia được tự sát[15]. Trong lịch sử Trung Quốc, đây gọi là [Tân Dậu chánh biến; 辛酉政变] hay Chính biến Tân Dậu.

Đề nghị Thùy liêm[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại nhà Thanh, dù Hoàng đế có nhỏ tuổi thì cũng dựa vào các đại thần, hoặc tông thân phụ tá, đơn cử như Duệ Trung Thân vương Đa Nhĩ Cổn thời Thuận Trị; bốn vị Phụ chính đại thần Sách Ni, Ngao Bái, Át Tất Long cùng Tô Khắc Tát Cáp thời Khang Hi. Hoặc gần nhất chính là [Cố mệnh Bát đại thần] do chính Hàm Phong Đế chỉ định – những người đã bị Lưỡng cung Thái hậu dùng chính biến hạ bệ. Các vị Thái hậu thời kì ấy, Hiếu Trang Văn Hoàng hậu hay Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu hoàn toàn không có tiền lệ nhiếp chính như các Thái hậu thời nhà Hán. Cũng bởi vì lý do này, Cung Thân vương Dịch Hân sau sự kiện này trở thành người đứng đầu hàng tông thất, được Lưỡng cung Thái hậu phong tước hiệu Nghị Chính vương (議政王) – có trách nhiệm đứng đầu Quân cơ xứ, được gọi là các [Quân cơ đại thần; 军机大臣]. Không những được phong làm Nghị Chính vương đứng đầu Quân cơ xứ, con gái của ông cũng được phong là Vinh Thọ Cố Luân Công chúa, đây là một đặc ân rất đáng kể bởi vì tước vị [Cố Luân Công chúa] vốn là tước vị chỉ dành cho con gái của Hoàng hậu, đồng thời lương bổng của ông cũng tăng gấp đôi. Bên cạnh đó, Lưỡng cung Thái hậu cũng không vì thế mà muốn mất đi thực quyền, nên đề ra chính sách cả hai cùng lâm triều nghe chính sự, được gọi là [Lưỡng cung thính chính; 兩宮聽政].

Năm Hàm Phong thứ 11 (1861), ngày 26 tháng 10 (âm lịch), Lễ Thân vương Thế Đạc (世铎) dâng [Thùy liêm chương trình; 垂帘章程] để giải thích việc Thùy liêm của Lưỡng cung Thái hậu. Theo chương trình này, khi Lưỡng cung Thái hậu thượng triều nghe chính thì đặt bày ở Đông Noãn các của Dưỡng Tâm điện, đều ngồi sau một tấm rèm the màu vàng được gọi là [Hoàng Mạn; 黄幔] đặt ở sau ngự tọa của Hoàng đế; các Quân cơ đại thần được dẫn đầu bởi Nghị Chính vương theo thứ tự tiến vào dâng tấu biểu. Từ đây, Lưỡng cung Thái hậu theo quy định về thiết triều của nhà Thanh sẽ đều triệu các Quân cơ đại thần vào điện nghe chính sự. Quy trình này khá phức tạp, khi Quân cơ Đại thần dâng tấu chương, Lưỡng cung Thái hậu cùng xem xét, từ Cung thân vương đề nghị thỉnh chỉ, hôm sau Cung Thân vương trình tấu sự vụ lên, Lưỡng cung Thái hậu cùng xem xét và duyệt định, lấy con dấu [Đồng Đạo đường] do chính Mẫu hậu Hoàng thái hậu ấn lên, rồi lấy danh nghĩa Đồng Trị Đế mà ban phát chỉ dụ[16]. Ngày 1 tháng 11 (âm lịch) năm ấy, Đồng Trị Đế chính thức phụng Lưỡng cung Thái hậu thùy liêm tại Dưỡng Tâm điện.

Mẫu hậu Hoàng thái hậu ở phía Đông của Noãn các tại Dưỡng Tâm điện, vì theo nguyên tắc hướng Đông là chính, nên bà còn được gọi là [Đông Thái hậu; 東太后]. Còn Thánh mẫu Hoàng thái hậu ở phía Tây của Noãn các, còn được gọi là [Tây Thái hậu; 西太后]. Lưỡng cung Thái hậu chính thức Thùy liêm thính chính, trở thành 2 vị Hậu cung đầu tiên và duy nhất tiến hành nhiếp chính của nhà Thanh.

Thượng tôn huy hiệu[sửa

Cái chết tức tưởi của vị sủng phi dưới giếng sâu và kho báu không ai dám lấy

 

Tử Cấm Thành rộng 720.000 mét vuông, diện tích được dựng thành nhà ở là 150.000 mét vuông, có 70 khu vực cung điện lớn nhỏ, 9000 căn phòng và 70 chiếc giếng cổ. Mặc dù có số lượng giếng như vậy, nhưng đáng ngạc nhiên là cuối triều Thanh người trong cung lại không dùng nước ở giếng để uống, nước vẫn được chuyển từ ngoài cung vào. Thậm chí, ngay cả nước để tưới cây, chữa cháy cũng được lấy từ bên ngoài. Lý do là bởi nước giếng bị nhiễm bẩn, nhiễm độc. Chính những người trong cung còn đồn rằng nước trong cung có chất lượng không đảm bảo bởi có nhiều người đã tự vẫn dưới giếng…

Hoàng cung bấy giờ không còn sử dụng Giếng để chứa nước nữa, do đó mà có thuyết đã thuật lại một số trường hợp như: Hoạn quan và cung nữ khi ăn trộm đồ vật trong cung nếu không tuồn được ra ngoài bán lấy tiền được thì sẽ phi tang bằng cách ném xuống giếng trong cung.

Giếng Trân Phi - nơi được coi là chứa nhiều vật báu, cũng là nơi Trân Phi bị đẩy xuống.

Giếng Trân Phi – nơi được coi là chứa nhiều vật báu, cũng là nơi Trân Phi bị đẩy xuống.

Nơi giấu châu báu nhưng không ai màng tới

Giếng Trân Phi trước đây cũng là một nơi dùng để tiêu huỷ những món đồ được cho là “vô dụng” đối với nhà vua và các hoàng thân quốc thích. Nếu như ngọc ngà châu báu là những vật quý báu đối với người bình thường thì trong mắt vua và các hoàng thân thích đôi khi chúng chỉ là những món đồ chơi hay vật trang trí. Có những thứ họ thích, có thứ họ chẳng thèm đoái hoài nên chính họ sẽ ra lệnh ném xuống giếng như một cách tiêu hủy vật vô dụng. Ngày nay thì Tử Cấm Thành không còn là nơi cấm cung nữa. Chưa kể nó còn trả qua bao nhiêu biến cố bị cướp bóc. Về lý mà nói, các nhà khảo cổ, các đội quân chống lại triều đình hoặc thường dân có thể vào trong cung khai phá những chiếc giếng cổ vì mục đích khác nhau. Nhưng tại sao đa phần mọi người vẫn thờ ơ với việc này?

Theo sử sách, giếng Trân phi chính là nơi mà sủng phi của Vua Quang Tự bị Từ Hi Thái hậu hại chết. Cái chết của bà không chỉ gây tranh cãi rất lớn trong giới sử gia mà còn làm chấn động cả triều đình nhà Thanh khi đó. Chính vì vậy mà khi xác Trân phi được vớt lên sau 1 năm bị sát hại, người ta đã lấy tên bà để đặt cho cái giếng này nhưng một bằng chứng về sự độc ác của Từ Hi Thái hậu cùng sự nhục nhã của nhà Thanh khi bị người nước ngoài tấn công đến tận kinh thành và phải tháo chạy.

Trân phi vốn xuất thân từ gia tộc Tha Tha Lạp Thị rất có thế lực. Ông nội bà từng làm Tổng đốc Thiểm Tây và Cam Túc. Cha bà là Trường Tự – Hữu thị lang của bộ Hộ (quản lý tài chính tiền bạc). Bà là con vợ lẽ nhưng vì từ nhỏ sinh sống ở Quảng Châu, tiếp xúc với người nước ngoài nhiều nên tính cách rất hoạt bát và lanh lợi, thích tìm hiểu những cái mới liên quan đến phương Tây. Bà cũng rất thích chụp ảnh và giả trai. Cũng nhờ tính cách đặc biệt này mà sau khi vào cung, Trân phi rất được Vua Quang Tự yêu thương.

Ban đầu bà được phong làm Trân tần sau đó thăng lên làm Trân phi. Tuy nhiên vì tính cách phóng khoáng, ghét lễ nghi ràng buộc lại hay được Vua Quang Tự đưa đến thư phòng bàn chuyện triều chính nên bà không được lòng Từ Hi và từng bị giáng xuống làm quý nhân.

Chẳng những thế Từ Hi còn cho người lột quần áo Trân phi ra để đánh đòn. Vì chuyện này mà Vua Quang Tự đã phải quỳ gối trong cung của Từ Hi Thái hậu đến hơn 2 tiếng để năn nỉ nhưng không thành.

Vì sợ hãi linh hồn của Trân phi?

Dù không được lòng Từ Hi Thái hậu nhưng Trân phi lại nhận được tình yêu rất chân thành của Hoàng đế Quang Tự. Thuở ấy Vua Quang Tự luôn mong muốn cải cách học hỏi các nước phương Tây và phá bỏ những quy định cũ kỹ của triều đại phong kiến. Trong chốn hậu cung chỉ có Trân phi là người ủng hộ các quyết định của hoàng đế, dựa vào những hiểu biết về phương Tây bà đã giúp đỡ Vua Quang Tự rất nhiều trong việc cải cách.

Giếng Trân Phi – nơi chứa kho báu mà không một ai dám lấy

Vua Quang Tự và vị sủng phi giúp ông nhiều trong việc cải cách đất nước.

Một cung nữ từng ở trong Tử Cấm Thành thời Vua Quang Tự hé lộ, ông là người rất đa nghi và hay thay đổi thất thường. Đêm khuya đọc tấu sớ Vua Quang Tự thường nổi giận đập bàn ném đồ đạc và chửi bới ầm ỹ. Chính vì vậy mà người hầu không ai dám thân cận ông. Chỉ có mỗi Trân phi là không bao giờ bị ông mắng mỏ hay sợ hãi tính cách của Vua Quang Tự. Thư phòng của Hoàng đế bị coi là cấm địa, phi tần không được bước chân vào. Tuy nhiên Quang Tự lại rất thích gọi Trân phi đến đây để cùng ông bàn bạc chuyện triều chính. Mỗi lần như thế, Trân phi thường giả dạng bằng cách mặc đồ hàng ngày của Vua hay mặc đồ thái giám.

Trân phi được sủng ái đồng nghĩa với việc Hiếu Định Cảnh Hoàng hậu – cháu gái của Từ Hi Thái hậu bị Hoàng đế hắt hủi, lạnh lùng. Hoàng hậu thường xuyên nói xấu Trân phi với Từ Hi khiến Thái hậu ngày càng ghét Trân phi hơn. Năm Quang Tự thứ 24 (1898), vì muốn cản trở phái duy tân và các cải cách của Vua Quang Tự, Từ Hi Thái hậu đã bắt nhốt Trân phi vào lãnh cung suốt 2 năm trời. Năm Quang Tự thứ 26, liên minh 8 nước tấn công vào Bắc Kinh, Từ Hi và mọi người vội vàng tháo chạy, còn Trân phi thì bị ném xuống giếng.

 Trân phi chết tức tưởi dưới giếng sâu khiến nơi đây trở nên đáng sợ.

Trân phi chết tức tưởi dưới giếng sâu khiến nơi đây trở nên đáng sợ.

Trong tác phẩm Trân Phi Và Dấu Ấn Trân Phi ghi rõ, trước khi đi Từ Hi thái hậu vẫn không quên tranh thủ cơ hội để giết Trân phi. Giữa lúc rối loạn bà lại ra lệnh cho Thôi Ngọc Quý hành quyết xử tử Trân phi khiến thái giám, cung nữ sợ hết hồn, không ai dám lên tiếng. Thôi Ngọc Quý vào tận nơi ở của Trân phi, lôi bà đến miệng giếng. Khi Trân phi quỳ xuống đất xin được gặp Từ Hi Thái hậu,Hắn không đáp ứng mà đạp bà xuống. Sợ chưa đủ, hắn còn cho người ném xuống giếng mấy khối đá lớn. Phải đến 1 năm sau Từ Hi thái hậu mới cho người nhà của Trân Phi được đem thi hài đi an táng.

Vào tháng 8 năm 1900, liên quân 8 nước tấn công Bắc Kinh, Từ Hi Thái Hậu cùng triều đình phải chạy lánh nạn về Tây An. Lúc này, do số lượng của cải, châu báu rất nhiều, không thể mang đi hết một cách nhanh chóng nên thuộc hạ của bà đã đem ném số còn lại xuống giếng Trân Phi. Cùng với chết tức tưởi của vị ái phi Thanh triều, người ta đồn đoán rằng đêm đêm vẫn còn nghe thấy tiếng khóc than của bà, tiếng khóc của sự oan ức và uất hận. Vì thế mà nơi đây trở thành địa điểm đáng sợ không ai dám lui tới. Mục đích của những kẻ ném châu báu, ngọc ngà xuống dưới Giếng Trân Phi là để không ai có thể tìm ra số báu vật đó, sau này tiện bề lấy lại.

Hay sự thật là không còn báu vật nào?

Đầu tiên, đúng là châu báu được giấu xuống giếng Trân Phi khi có biến loạn, Tử Cấm Thành bị chiếm đóng nhưng sau khi triều đình nhà Thanh đứng đầu là Từ Hi Thái Hậu trở về từ Tây An thì những kẻ hầu người hạ trong cung cũng đã tìm cách lấy lại những thứ họ đem giấu, chứ không phải vứt bỏ là xong

Thứ hai, khi nhà Thanh sụp đổ, (với việc vua Phổ Nghi nhà Thanh ban bố “Tuyên Thống Thoái Vị Thư” (chiếu thoái vị của Tuyên Thống) thì triều đại này chính thức sụp đổ vào năm 1912) vị hoàng đế cuối cùng là Phổ Nghi vẫn được chính quyền mới của Trung Quốc cho phép ở trong Tử Cấm Thành sinh hoạt như bình thường, chỉ là bị giám sát chặt chẽ mà thôi. Tuy nhiên, Phổ Nghi không còn là vua nữa nên đương nhiên sẽ không có chuyện ông ta thu được thuế hay cống phẩm để sống vương giả nữa. Trong tự truyện “Nửa cuộc đời đầu tiên của tôi” do Phổ Nghi viết thừa nhận rằng để có tiền trang trải chi phí sinh hoạt và trả lương cho người hầu thì ông đã phải bán rất nhiều vàng bạc, trang sức, cổ vật, trong đó có cả việc phải tìm những thứ trước đó bị đem giấu ở các nơi trong cung bao gồm cả những thứ bị đem xuống giếng.

Thứ ba, ngay cả khi châu báu còn nhiều dưới giếng thì việc phá bỏ hay chui xuống giếng cũng không hề đơn giản. Vì miệng giếng trong Tử Cấm Thành rất hẹp. Chưa kể người ta còn cho rằng giếng trong cung được liên kết với nhau tạo thành một bể ngầm dưới lòng đất chứ không đơn thuần là có đáy như bình thường nên việc mạo hiểm chui xuống hay phá giếng. Trước kia, khi giấu châu báu xuống giếng có thể người ta không đơn thuần là ném bừa xuống mà có cách nào đó để chỉ có chính người đã giấu mới có thể lấy lại được.

 Bia tưởng niệm Trân phi tại nơi bà chết.

Bia tưởng niệm Trân phi tại nơi bà chết.

Cuối cùng, trong lịch sử Trung Quốc thời kỳ chiến tranh loạn lạc sau khi nhà Thanh sụp đổ. Các nhà khảo cổ học, nhà sử học có thể đã rất muốn bảo vệ văn vật, cổ vật nên dù rất khó khăn cũng đã tìm nhiều cách khác nhau để lấy được nhiều nhất cổ vật trong giếng Trân Phi nếu có thể rồi đem chuyển đi hoặc thậm chí là di dời miệng giếng. Mục đích là để bảo tồn giá trị lịch sử khỏi sự tàn phá của chiến tranh.

Như vậy, có nhiều giai thoại về châu báu, cổ vật bị đem giấu dưới giếng Trân Phi  trong Tử Cấm Thành nhưng cũng có cơ sở lịch sử để cho thấy rằng số của cải đó đã bị “khai thác” hết. Chưa kể việc phá bỏ hay khai quật giếng Trân Phi là điều không thể.

Vậy nên, giếng Trân Phi trong Tử Cấm Thành giờ đây đã được bảo tồn như là một minh chứng lịch sử, nơi chứa đầy những bí ẩn đáng sợ.

Bích Ngọc (dịch)

Dung mạo thời trẻ của Từ Hi Thái Hậu được khôi phục, không hổ danh là người phụ nữ quyền lực nhất nhà Thanh

 

Từ Hi Thái hậu là một trong số ít những người phụ nữ nắm quyền lực Trung Quốc thời phong kiến. Bà là người giàu các kỹ năng về chính trị và đặc biệt giỏi trong việc cân bằng quyền lực giữa các triều thần và Hoàng thân Quốc thích để duy trì quyền lực tuyệt đối của mình.

Nhà Thanh đã được kéo dài trong nhiều thập kỷ vì khả năng thao lược của Từ Hy Thái Hậu. Làm thế nào mà người phụ nữ này có thể nắm được quyền lực lâu dài đến như vậy? Nhiều người cho rằng đó là bởi sự thông minh cũng như dung mạo xinh đẹp của bà.

Dân gian vẫn thường đồn rằng Thái Hậu có thể vào cung là dựa vào một cuộc thi sắc đẹp có tên là “cuộc so tài”. Chính vì chiến thắng trong cuộc thi nên mới khiến cho bà có thể thực hiện một bước lên mây, từng bước, từng bước tiến lên đỉnh cao quyền lực và cai trị nhà Thanh trong nhiều thập kỷ.

Từ Hi là một phụ nữ tài năng có tiếng. Nghe nói bà tinh thông cầm, kỳ, thư, họa và còn giỏi “cưỡi ngựa bắn cung”. Bức họa dưới đây là một bức chân dung của Từ Hy khi Bà còn trẻ. Khuôn mặt trái xoan, làn da trắng cùng nụ cười chúm chím, hơn nữa còn toát lên nét sắc sảo trí tuệ, không khó để hiểu rằng bà có thể dễ dàng chinh phục được Hoàng đế Hàm Phong của nhà Thanh.

Bức chân dung về Từ Hi Thái Hậu được một họa sĩ người Mỹ có tên là Carl vẽ lại…

Ngày nay, khoa học và công nghệ rất phát triển, và một số người đã sử dụng công nghệ để khôi phục lại diện mạo của Từ Hi Thái hậu khi còn trẻ như hình dưới đây.

Họa sĩ Carl ở bên Từ Hy chín tháng, tại thời điểm đó tuổi của Từ Hy cũng không còn trẻ nữa. Trong cuốn sách được viết với tên “Những ký ức về Từ Hy” được Carl viết nhiều năm sau đó, đã tả về hình dáng của Bà.

“Vị Thái Hậu trước mắt là một phu nhân vô cùng xinh đẹp và hiền hòa. Đoán độ tuổi thì cùng lắm là 40 tuổi (nhưng lúc đó bà đã gần 70 tuổi rồi, 68 tuổi rồi). Mà tính tình và tướng mạo của bà khiến cho người ta vừa gặp đã thấy vui thích”.

Từ Hy Thái Hậu có một thân hình cân đối, khuôn mặt xinh đẹp cùng bàn tay mềm mại và mái tóc đen, tất cả đều hài hòa. Nụ cười tự nhiên của bà khiến người ta vô cùng vui thích.

Tuệ Minh (biên dịch)

Video hay: Cuộc tuyển chọn thái tử ly kỳ: Hoàng đế dùng 20 trinh nữ tuyệt sắc giai nhân để thử thách ứng viên

videoinfo__video3.dkn.tv||5e0ad0c1e__

Cuộc tuyển chọn thái tử ly kỳ: Hoàng đế dùng 20 trinh nữ tuyệt sắc giai nhân để thử thách ứng viên

Chuyện ăn của Từ Hy Thái hậu: Mỗi ngày 300 món, hơn trăm người phục vụ

 

Nếu nói tới những bậc nữ quân vương nổi tiếng trong triều đại Trung Hoa phong kiến thì tất nhiên không thể không kể tới Võ Tắc Thiên. Tuy vậy, ngoài nữ chủ Võ hậu, thì còn một người phụ nữ khác cũng nổi tiếng không kém trong dòng lịch sử phong kiến của đất nước này, đó chính là Từ Hy Thái hậu (29/11/1835 – 15/11/1908) đời nhà Thanh – vị Thái hậu có quyền lực bậc nhất, xa xỉ nhất và cũng lắm những điều bí ẩn huyền sử trong lối sống mà cho đến tận ngày nay, vẫn không ít người tỏ ra bất ngờ khi được biết đến.

Trong tất cả những bí ẩn đó, thì chuyện ăn uống thường ngày của bà cũng được nghiên cứu với những tình tiết khá ly kỳ hấp dẫn…

Tranh Từ Hy Thái hậu do một họa sĩ nước ngoài vẽ sau năm 1900.
Tranh Từ Hy Thái hậu do một họa sĩ nước ngoài vẽ sau năm 1900. (Ảnh tư liệu lịch sử Trung Hoa dân quốc).

Khâu ăn uống vô cùng kỹ lưỡng, xa hoa của Từ Hy Thái hậu

Dưới Triều nhà Thanh, mọi bữa ăn trong Hoàng tộc đều được do phủ nội vụ đảm trách bao gồm các phòng như: phòng bếp, phòng trà, phòng bánh, phòng rượu, kho thực phẩm và rất nhiều các gian phòng khác. Trong đó, bếp với hơn 370 người hầu cùng hàng chục thái giám là quan trọng nhất. Những người này đều phải được tuyển chọn vô cùng kỹ lưỡng với những lương dân từ khắp nơi trên đất nước Trung Hoa.

Riêng ở thời Từ Hy Thái hậu, gian bếp riêng chuẩn bị món ăn cho bà tập trung những đầu bếp giỏi nhất Trung Hoa, nguyên liệu được đưa từ khắp các nơi tuyển chọn về để làm ra những món ăn ngon nhất với vô vàn cách thức chế biến cầu kỳ. Mỗi ngày bà ăn 2 bữa ăn chính. Theo quy định, mỗi bữa ăn phải bao gồm 100 món khác nhau. Ngoài ra, mỗi ngày còn 2 bữa ăn nhẹ với 40 đến 50 món, ít nhất phải bao gồm 20 đĩa thức ăn.

Tranh Từ Hy Thái hậu do một họa sỹ cung đình vẽ không rõ năm.
Tranh Từ Hy Thái hậu do một họa sỹ cung đình vẽ không rõ năm. (Ảnh tư liệu lịch sử Trung Hoa dân quốc).

Theo sử liệu ghi chép, thì những bữa ăn xa xỉ và thú vị nhất của Từ Hy Thái hậu phải kể đến là những lần bà sử dụng tàu hỏa để đi thưởng ngoạn xa. Sẽ có 4 toa được dành cho phòng bếp, 1 toa chứa 50 cái bếp lò, mỗi bếp phụ trách nấu 2 món ăn, đầu bếp đi theo lên đến 100 người, không kể phục vụ. Mỗi bữa ăn có 100 món chính, 100 loại hoa quả và bánh ngọt các loại để đảm bảo cho bà vẫn luôn ngon miệng trong suốt chuyến đi và không gặp chuyện gì bất trắc liên quan đến ẩm thực.

Những con số đáng kinh ngạc trong khẩu phần một ngày của vị Thái hậu quyền lực

Thời gian biểu của các bữa ăn ở nhà Thanh cũng được quy định rõ ràng, bữa sáng bắt đầu từ 6 giờ và kéo dài đến 7 giờ, bữa trưa bắt đầu từ 12 giờ trưa đến 2 giờ chiều, 6 giờ tối là bữa tối. Vào những khoảng thời gian khác có thể tùy vào yêu cầu để phục vụ. Đối với Từ Hy thái hậu, thì bữa sáng là quan trọng nhất vì vậy, bữa ăn này của bà phải luôn luôn được đảm bảo từ khâu nguyên liệu cho tới khâu chế biến.

Từ Hy Thái hậu bên các Cách Cách của Thành thân vương.
Từ Hy Thái hậu bên các Cách Cách của Thành thân vương. (Ảnh tư liệu lịch sử Trung Hoa dân quốc).

Được biết, mỗi bữa ăn của Thái Hậu trong 1 ngày bao gồm dê 2 con, gà 5 con, vịt 3 con, thịt thái lát 11kg, mỡ lợn 2kg, rau xanh các loại 8,5kg, củ cải 3kg, su hào, rau muối 5 loại, hành 3kg. Một số loại nguyên liệu khác thì gồm có rượu Ngọc Tuyền, Tương Thanh Tương Cách 1,5kg, dấm 1kg, 240 loại bánh sử dụng 16kg bột mỳ, tinh dầu thơm thực phẩm 4kg, đường trắng làm từ quả óc chó và hắc táo cách 4kg, mè…

Tuy nhiên, những con số và các loại thực phẩm trên sẽ khác tùy thuộc vào địa vị và chức vụ của những người khác nhau trong hoàng tộc, nhưng Thái hậu Từ Hy có thể nói là người được đặc quyền có những bữa ăn hoành tráng nhất trong ngày. Bữa ăn của Hoàng tộc được phòng bếp lên thực đơn trước, giao cho Phủ Nội vụ phê duyệt, sau đó phòng bếp mới được bắt tay vào chuẩn bị.

Chân dung Từ Hy Thái hậu lúc về già.
Chân dung Từ Hy Thái hậu lúc về già. (Ảnh tư liệu lịch sử Trung Hoa dân quốc).

Cầu kỳ quyền quý từ món ăn cho tới cách ăn

Từ Hy Thái hậu sẽ dùng bữa một mình, thức ăn được bày trên bàn hoặc đặt trong các hộp ngọc sau đó được thị vệ chuyển đến nơi bà dùng bữa, trong khi các cung nữ thân cận hầu hạ cho bà thì chỉ được phép đứng ăn hoặc ăn sau khi bà đã ăn xong. Sau khi thức ăn được bày ra, các thái giám sẽ dùng trâm bạc kiểm tra xem thức ăn có chứa độc không và trực tiếp nếm thử, sau đó bà mới tiến hành dùng bữa. Trong khi dùng bữa, Từ Hy Thái hậu ngồi ở phía Bắc và quay mặt về phía Nam. Trước mặt bày một chiếc bàn vuông, trên dưới hai tầng bày đầy cao lương mỹ vị, thái giám giới thiệu tên từng món ăn và chỉ gắp vào bát những món vừa ý của Thái hậu.

Tuy nhiều thức ăn như vậy nhưng Thái hậu chỉ ăn những món ăn ở gần mình, những thứ khác ăn rất ít, thậm chí không động đũa. Với những món ăn Thái Hậu ưa thích nhưng ở quá xa sẽ có thái giám đến để dâng lại gần, mỗi bữa Thái hậu chỉ ăn từ 3 đến 4 món, những thứ còn lại sẽ được dọn đi sau khi dùng bữa. Còn những đồ ăn dư thừa hoặc đổ đi hoặc đem thưởng cho cung nữ, thái giám, phần lớn đồ ăn đó vẫn còn nguyên vẹn như lúc dâng lên.

Từ Hy Thái hậu bên cạnh phu nhân của các phái viên Hoa Kỳ.
Từ Hy Thái hậu bên cạnh phu nhân của các phái viên Hoa Kỳ. Người nắm tay Thái hậu là Sarah Conger, phu nhân đại sứ Hoa Kỳ tại Trung Quốc. (Ảnh tư liệu lịch sử Trung Hoa dân quốc).

Vào những ngày lễ như tết Trùng Dương (một ngày lễ của người cao tuổi ở Trung Quốc), phòng bếp chuẩn bị thêm hoa cúc, táo, cháo bát bửu cùng rất nhiều các loại điểm tâm khác dâng lên Thái hậu. Tương truyền vào ngày này, Thái hậu thường đến Di Hòa viên ngắm mây và đến Bài Vân Điện thưởng thức món bánh nướng thịt mà bà yêu thích. Với món ăn này, đầu bếp phải dùng gỗ của cây tùng để nướng.

Những món ăn vặt được Thái hậu yêu thích có “tiểu oa đầu” (một món ăn của Trung Quốc làm từ bột ngô), đậu phụ thối. Trong đó, đậu phụ thối phải là đậu phụ thối Ngọc Trí Hòa được mang về từ “Ngọc Trí Hòa Nam Tương Viên” (một địa danh của Trung Quốc) ngay trong ngày.

Hình chụp Từ Hy Thái hậu tại tấm lều tạm bày trí tương tự Nhân Thọ điện
Hình chụp Từ Hy Thái hậu tại tấm lều tạm bày trí tương tự Nhân Thọ điện – phòng nghỉ chính của Từ Hy Thái hậu ở Di Hòa Viên. Dòng chữ sau ghi đầy đủ tôn hiệu của bà. (Ảnh tư liệu lịch sử Trung Hoa dân quốc).

Về đồ uống, Từ Hy Thái hậu thích các loại trà hoa và đặc biệt kỹ tính trong việc thưởng trà. Nước dùng đề pha trà phải được lấy về trong ngày từ núi Ngọc Tuyền, các loại hoa dùng để ướp trà như hoa hồng, hoa nhài phải là hoa tươi vừa được hái sau đó được trộn với trà khô, khi pha vừa có hương thơm của hoa quyện trong hương trà. Thái hậu dùng ly bạch ngọc uống trà, trên khay vàng đặt 3 chiếc ly bạch ngọc, ở giữa là trà, hai bên đặt hoa, 2 thái giám dâng khay trà lên bẩm rằng: “Lão phật gia, trà đã được rồi!”. Sau khi thái giám bẩm vậy, Từ Hy mới bắt đầu thưởng trà.

Vị Thái hậu có lối “ẩm” và “thực” xa xỉ bậc nhất nhưng cũng am hiểu bậc nhất

Và tuy là một bà Hoàng với việc ăn uống cầu kỳ xa xỉ như vậy, nhưng thật tình mà nói, lượng kiến thức của Từ Hy Thái hậu có được về ẩm thực cũng không phải “dạng vừa”, sự am hiểu của bà có thể khiến cho nhiều đầu bếp nổi tiếng phải kinh ngạc.

Từ Hy Thái hậu đi dạo ngắm tuyết.
Từ Hy Thái hậu đi dạo ngắm tuyết. (Ảnh tư liệu lịch sử Trung Hoa dân quốc).

Trong “Thanh Cung Thập Tam Hoàng Triều” có viết lại về chuyện này như sau: “Từ Hy am hiểu ẩm thực, sự hiểu biết của bà về ẩm thực đều khiến cho những bậc chuyên gia phải kinh ngạc. Thái Hậu thích ăn vịt hầm, tức là vịt sau khi được rửa sạch, tẩm ướp gia vị, cho vào lọ kín, thêm nước và hầm trong 3 ngày cho đến khi cả thịt và xương mềm, sau đó Thái Hậu chỉ ăn phần da vịt. Thái Hậu cũng thích món vịt quay, lợn sữa quay, gà đen, chân cừu non. Thái Hậu từng nói, khi còn trẻ bà thích ăn nhất bì lợn quay giòn. Khi tuổi đã cao, các món ăn chế biến từ anh đào trở thành niềm yêu thích”.

Từ Hy Thái hậu cùng phi tần thái giám.
Từ Hy Thái hậu cùng phi tần thái giám. (Ảnh tư liệu lịch sử Trung Hoa dân quốc).

Minh chứng cho những sử liệu được chép lại phía trên về sự am hiểu về ẩm thực của Từ Hy Thái hậu thì rõ ràng, những món ăn do chính bà nghĩ ra để dùng thiết đãi cho các sứ thần phương Tây trong bữa tiệc hoành tráng bậc nhất trong lịch sử Trung Hoa vào ngày 23 tháng Chạp năm 1873 phải nói là vô cùng đặc sắc, tuy nhiên cũng không kém phần kinh dị như món chuột bao tử sống đại bổ, món óc khỉ tươi, hay món sơn dương trùng là lũ hồi sinh ra từ xác loài dê Thiên Tân sau khi được ăn Đông Trùng Hạ Thảo, cỏ phương chi – loại cỏ chỉ mọc lên vào những năm nhuần ở vùng núi Thái Hoàng, tinh tượng là những tai yến to, tốt được nấu với nước nhân sâm và đường Cao Ly, trứng chim công quý hiếm, hay món heo sữa Phúc Châu trước khi đem nấu chỉ cho ăn loại củ quý hiếm mọc ở đồi Châu Tịch Xương.

Từ Hy Thái hậu và chuyện phòng the phóng đãng khiến hậu thế trầm trồ

 

Từ Hy Thái hậu (1835 – 1908) xuất thân từ Mãn quân Tương Lam kỳ. Năm Hàm Phong (1851) nhập cung với thân phận phi tần, 6 năm sau sinh ra Tái Thuần (Hoàng đế Đồng Trị) và được phong là Quý Phi, đây cũng là địa vị cao nhất đến khi Hàm Phong Đế qua đời.

Đồng Trị đế đăng cơ, bà được tấn phong Thánh mẫu Hoàng Thái hậu, nhập vào Mãn quân Tương Hoàng kỳ (một trong 8 kỳ của nhà Thanh). Vào năm 1861, Thái hậu mưu cùng Cung Thân vương Dịch Hân phế trừ quyền lực của Cố mệnh bát đại thần.

Sau sự kiện này, bà được gọi là Tây Thái hậu, chính thức buông rèm nhiếp chính.

Từ Hy Thái Hậu - "Bà hoàng phóng đãng" với cuộc sống phòng the khiến hậu thế luôn phải "ngả mũ chào thua"

Chân dung vị Từ Hy Thái hậu “một tay che trời” nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa

Trong lịch sử gần 300 năm của vương triều đại Thanh thì có đến 1/6 thời gian quyền lực chính trị bị Từ Hy thâu tóm. Ngoài nổi tiếng trên chính trường ra, tình trường của Từ Hy cũng khiến hậu thế luôn cảm thấy tò mò và bất ngờ.

Từ Hy là một Thái hậu 26 tuổi đã góa bụa, chưa đến 30 tuổi đã nắm quyền lực cao nhất cho đến lúc chết. Trong suốt gần hơn một thế kỷ này, chính sử Trung Quốc chỉ ghi chép được một mặt của Từ Hy Thái Hậu, cuộc sống riêng tư, hoạt động tình cảm lại không có một chút ghi chép nào, thế hệ sau chỉ có thể biết về cuộc sống riêng tư của Từ Hy Thái hậu thông qua dã sử.

Tuy nhiên vẫn có câu “không có lửa làm sao có khói”, miệng lưỡi của dân gian tương truyền thường thường có hình bóng của sự thật.

Từ Hy Thái Hậu - "Bà hoàng phóng đãng" với cuộc sống phòng the khiến hậu thế luôn phải "ngả mũ chào thua"

Về cuộc sống tình dục ở hậu cung của Từ Hy Thái hậu, dã sử lưu truyền nhiều chuyện khác nhau, nhưng tựu chung lại vẫn là Từ Hy Thái hậu bê tha, phóng đãng khắp hậu cung.

Từ Hy mồ côi cha từ rất nhỏ, sống cảnh góa bụa từ khi mới 26 tuổi, về già đau đớn vì mất con. Nhưng không vì thế mà bà ta chịu sống cô đơn an phận mà ngược lại đời sống tình cảm rất phong phú và muôn màu. Có nhiều truyền thuyết cho rằng, người tình của bà ta nhiều vô kể, đủ các tầng lớp từ hoàng đế đến đại thần trong triều, thậm chí là thái giám bà ta cũng không tha.

Trước khi vào cung Từ Hy Thái hậu đã có mối quan hệ qua lại với Thân Vương Cung Dịch, khi cô vừa vào cung làm phi tần đã ăn nằm với Thân Vương, thường lợi dụng lúc mọi người không chú ý lẻn trốn chạy đến bên Thân Vương để thỏa mãn hoan lạc, thậm chí có người hoài nghi Hoàng Đế Đồng Trị vốn không phải là con đẻ của Hàm Phong, mà là con riêng của Từ Hy Thái hậu với Thân Vương.

Từ Hy Thái Hậu - "Bà hoàng phóng đãng" với cuộc sống phòng the khiến hậu thế luôn phải "ngả mũ chào thua"

Sau khi Từ Hy Thái hậu củng cố quyền lực lớn nhất, bà ta lại chuyên tâm yêu chiều Vinh Lộc. Dã sử lưu truyền rằng Vinh Lộc là người tình đầu tiên của Từ Hy Thái hậu. Khi Từ Hy còn trẻ, Vinh Lộc đã từng cứu bà thoát khỏi nạn bị cưỡng hiếp, sau đó bèn giữ mối quan hệ yêu đương, thường xuyên qua lại với nhau.

Chưa dừng lại ở đó, Từ Hy Thái hậu còn tư thông với thái giám An Đức Hải, Lý Liên Anh. Thái giám Lý Liên Anh rất biết cách đáp ứng Từ Hy Thái hậu về mặt này, vì vậy nhận được nhiều sự yêu chiều của bà, mặc dù sự yêu chiều này kèm theo một khuynh hướng tâm lý biến thái.

Từ Hy Thái Hậu - "Bà hoàng phóng đãng" với cuộc sống phòng the khiến hậu thế luôn phải "ngả mũ chào thua"

Năm Từ Hy 55 tuổi, bà ta có một mối tình đắm đuối với Bá Ngạn Nạp Nhĩ Tô, một tông thất nhà Thanh. Bà ta đã sử dụng “Phòng trung thuật” khiến chàng trai trẻ mê đắm. Mối tình này bị cha của Bá Ngạn Nạp Nhĩ Tô phát hiện và ban cho anh ta một chén rượu độc. Anh ta đã vì tình với Từ Hy mà bình thản uống chén rượu độc.

Cuối đời, khi đã hơn 70 tuổi, Từ Hy Thái hậu vẫn điên cuồng trong men tình với trai trẻ người Anh Edmund Backhouse kém mình đến gần 50 tuổi. Trong hồi ký của Edmund Backhouse ghi rằng:

Năm 1899, ông ta đến Trung Quốc khi đó mới 26 tuổi. Ông là người phong độ, đẹp trai, có học thức và đặc biệt thông thạo rất nhiều ngôn ngữ trong đó có tiếng Mãn Châu, tiếng Mông Cổ và tiếng Hán. Năm 1902, ông ta vào cung nhà Thanh và sau đó có mối quan hệ tình cảm với Từ Hy Thái hậu.

Nhưng thực ra, người Edmund Backhouse yêu nhất trong đại nội không phải là Từ Hy mà chính mà là Đại thái giám Lý Liên Anh. Ông ta cũng không hề có ý định giấu giếm Từ Hy mối quan hệ đồng tính này.

Theo “Trung Quốc thời báo”, Edmund Backhouse đã từng có quan hệ đồng tính hàng nghìn lần với thái giám trong cung nhà Thanh, và chỉ có hơn hai trăm lần là có quan hệ với Từ Hy Thái hậu. Khi Từ Hy biết ông ta quan hệ đồng tính với đám thái giám thì dục vọng cũng trỗi dậy, bà ta đã chỉ thị Lý Liên Anh sắp xếp “cuộc chơi tình dục tập thể” cho bà ta cùng tham gia.

Từ Hy Thái Hậu - "Bà hoàng phóng đãng" với cuộc sống phòng the khiến hậu thế luôn phải "ngả mũ chào thua"

Người tình ngoại quốc trẻ tuổi Edmund Backhouse của Từ Hy Thái hậu

Từ Hy cũng yêu cầu vô độ, bà ta còn đòi dùng cả đồ chơi tình dục và thuốc kích thích để tăng cảm giác mãnh liệt khi làm tình. Cũng có người cho rằng, Từ Hy thực ra cũng không yêu Backhouse mà chỉ dùng anh ta để phục vụ cho những trò vui tình dục, thỏa mãn ham muốn của bản thân mà thôi.

Phó viện trưởng thư viện Cố Cung Bắc Kinh đã từng kể rằng:

Từ Hy có thói quen nghe kể “chuyện người lớn” trước khi đi ngủ. Sau này tuổi càng cao, bà ta đặc biệt thích nghe những câu chuyện phóng đãng dân gian, thậm chí còn phải xem kịch diễn cảnh làm tình mới có thể ngủ được.

Từ Hy Thái Hậu - "Bà hoàng phóng đãng" với cuộc sống phòng the khiến hậu thế luôn phải "ngả mũ chào thua"

Từ Hy Thái hậu quả là không hề thua kém Võ Tắc Thiên cả về sự “dũng mãnh” trên chính trường lẫn trên giường. Vị Thái hậu uy quyền nhất trong lịch sử Thanh triều này đúng là biết cách “vừa làm vừa chơi”. Thời gian đã rất lâu rồi, nhưng những câu chuyện về độ phóng đãng của Từ Hy Thái hậu vẫn luôn được hậu thế lưu truyền vì quá kinh ngạc.

Leave your Comment