Toàn cầu hóa là gì 105

Tác động của toàn cầu hóa với tôn giáo Một số kiến nghị với công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo hiện nay

 

Trong những năm qua, nhân loại chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực xã hội gắn liền với sự phát triển của khoa học – công nghệ. Trong đó, TCH được xem là một quá trình xác lập, phổ biến, quốc tế hóa các giá trị, các chuẩn mực trên phạm vi toàn cầu. Đó vừa là điều kiện, vừa là kết quả cần thiết cho mọi quá trình phát triển xã hội; các quan hệ xã hội được mở rộng trên toàn thế giới, các đường biên giới quốc gia dần bị xóa mờ; những thành tựu khoa học, sự giao thoa về văn hóa đã trở thành “tài sản” chung của toàn nhân loại; tác động đến các quốc gia trên thế giới trên mọi lĩnh vực xã hội trong đó có tôn giáo. TCH đáp ứng nhu cầu giao lưu, trao đổi của các tôn giáo, giúp các tôn giáo khác nhau xích lại gần nhau trong một thế giới văn minh khoa học và đa dạng văn hóa.

TCH tôn giáo trước hết được hiểu là quá trình chuyển từ tính quốc tế, vốn được hiểu theo nghĩa liên nhà nước, sang tính xuyên quốc gia: Các chiến lược bành trướng tôn giáo không còn hoặc ít liên quan đến các quyền bá chủ về chính trị và thường phụ thuộc vào phạm vi của các logic mới. Ngoài ra, các luồng tôn giáo này không còn giới hạn ở sự lưu truyền Bắc-Nam mà đã trở nên đa chiều…(1). TCH đã mở rộng không gian tiếp nhận, ảnh hưởng và tiếp biến các yếu tố thuộc tôn giáo (hệ thống giáo lý, giáo luật, phương pháp tu hành…) của các tôn giáo ra phạm vi toàn thế giới nhằm xác lập, phổ biến giá trị và chuẩn mực chung, đồng thời khẳng định giá trị của các tôn giáo trong sự đa dạng của văn hóa nhân loại.  Học giả D. Lehmann (Mỹ) đã đưa ra định nghĩa về TCH tôn giáo: “Trong khi khuynh hướng chung của TCH kinh tế (đồng đều hóa và lôi cuốn các khu vực xa xôi vào thị trường thế giới đang cạnh tranh), ngược lại, TCH tôn giáo lại là sự phá vỡ các biên giới, đồng thời tạo nên các biên giới mới”.“TCH không chỉ nói đến mặt giống nhau hay mặt đồng đều và sự phá hủy các ranh giới văn hóa. Trái lại, nó còn sinh ra những ranh giới mới, cắt ngang nhau trong phạm vi văn hóa, tộc người, ngôn ngữ và tôn giáo. Tôn giáo có vai trò quan trọng trong quá trình ấy”(2). Biểu hiện đầu tiên của quá trình TCH đối với tôn giáo là quá trình phá vỡ các đường biên giới quốc gia, khu vực về địa tôn giáo; sự đa dạng hóa hệ thống tôn giáo đi liền quá trình cải đạo, đổi đạo…Vượt qua chế độ nhà nước tập trung, xuất hiện ngày càng nhiều thể chế mang tính toàn cầu và trật tự quốc tế mới về tôn giáo. D.Lehmann cũng khẳng định, sự biến đổi tôn giáo theo hai xu hướng: Những hình thức “toàn thế giới” của TCH tôn giáo như Kitô giáo xưa kia và xu thế “hội nhập văn hóa, biểu tượng tôn giáo bản địa” vào các tôn giáo thế giới. Nếu vận dụng những định nghĩa trên vào đời sống tôn giáo thế giới, chúng ta thấy ngay rằng nhiều tôn giáo thế giới đã và đang diễn ra những biểu hiện, những quá trình ấy thực(3). TCH đem lại cho loài người nhiều lợi thế nhưng tự nó cũng chứa đựng nhiều nghịch lý, và điều này cũng ảnh hưởng đến quá trình phát triển của các tôn giáo.

Có thể nói, toàn cầu hoá đã tác động sâu sắc đến sự vận động, biến đổi và phát triển của tôn giáo của nhân loại. TCH là quá trình mở rộng dần không gian lãnh thổ, nên con người không chỉ tiếp cận với một hoặc các tôn giáo của đất nước mình, mà còn biết tới tôn giáo khác, thậm chí không phải tiếp thu một cách thụ động, mà còn chủ động tiếp thu với tính chất phê phán. Từ đó dẫn đến sự phân hóa tín đồ các tôn giáo theo các mức độ tin theo tôn giáo của mình và nảy sinh hiện tượng một cá nhân cùng một lúc theo nhiều tôn giáo khác nhau. Chính điều đó đã làm chính mỗi tôn giáo cũng có sự phân rẽ thành các giáo phái, thậm chí có giáo lý xa lạ với giáo lý ban đầu. TCH cũng làm nảy sinh hành vi nhập thế của các tôn giáo bằng cách tham gia vào những hoạt động phi tôn giáo như xã hội, đạo đức, giáo dục, y tế…nhằm góp phần “cứu nhân độ thế”. TCH đã làm nảy sinh cuộc đấu tranh xóa bỏ những điểm lỗi thời trong giáo lý trong từng tôn giáo. Các tín đồ vẫn tiến hành những nghi lễ nhưng lại không theo giáo lý hay giáo luật đã được định sẵn của tôn giáo mình. TCH tác động đến tôn giáo thể hiện ở quá trình hiện đại hoá các tôn giáo, các tôn giáo đều tìm cách tận dụng thế mạnh của TCH để hiện đại hoá nội dung giáo lý, quy định của giáo luật, việc thực hành nghi lễ..v..v..Hay là áp dụng các thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại, kể cả lý thuyết khoa học và phương tiện khoa học hiện đại phục vụ cho hoạt động tôn giáo. Các chức sắc tôn giáo đã lợi dụng các lý thuyết khoa học mới để chứng minh cho lý luận tôn giáo của mình, hoặc lý giải mới các quan điểm tôn giáo cho phù hợp với khoa học hiện đại. Với những thay đổi mạnh mẽ về địa chính trị với những thành tựu vô cùng vĩ đại của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ trong những năm qua đã làm suy giảm niềm tin, khô đạo, nhạt đạo ở con người và con người lại đi tìm tôn giáo cho riêng mình; đây cũng là cơ sở ra đời các hiện tượng tôn giáo mới(4). Ở Việt Nam, trong thời kỳ hội nhập quốc tế, dù các tôn giáo cũng mang đầy đủ các đặc trưng như trên, song một số tôn giáo, nhất là tôn giáo nội sinh vẫn giữ những đặc trưng riêng có của tôn giáo mình, đó là truyền thống nhân văn, nhân ái, tinh thần đoàn kết, đùm bọc nhau, yêu quê hương, dân tộc….Trong xu thế hội nhập quốc tế, đoàn kết giữa tôn giáo và dân tộc vẫn là xu thế nổi trội; là dòng chủ lưu xuất phát từ những yếu tố lịch sử, văn hoá của dân tộc ta.

Hiện nay, sự nghiệp đổi mới đất nước ta đang đứng trước thời cơ và thách thức to lớn. Nhằm tận dụng những ưu việt do TCH mang lại trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta đã đặt ra yêu cầu: Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều thuận lợi để phát triển đất nước; đây là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020. Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu. Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích của đất nước…Công tác đối ngoại được đẩy mạnh sẽ tạo môi trường quốc tế thuận lợi, hòa bình, thiết thực góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa(5). Tôn giáo là bộ phận của văn hóa đã và đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, điều đó vừa tạo ra thời cơ, nhưng cũng gây không ít khó khăn, trở ngại cho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Trong khi đó, tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo các cấp còn có nhiều điểm chưa phù hợp với nhiệm vụ; việc phối hợp các cấp, các ngành trong xử lý các vấn đề nảy sinh trong tôn giáo đôi khi còn thụ động, thiếu đồng bộ; công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật còn bị động, chưa khôn khéo, kịp thời. Ở một số nơi, một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo còn có năng lực chuyên môn hạn chế; cơ chế khuyến khích, phát huy vai trò và nguồn lực do các tổ chức tôn giáo đem lại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc còn rất khiêm tốn, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ trong công tác này đặt ra trong tình hình mới.

Nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế nói trên, góp phần tận dụng thế mạnh của TCH tôn giáo trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, tác giả xin đưa ra một số kiến nghị, đề xuất như sau:

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và các cán bộ, đảng viên làm công tác tôn giáo về đặc trưng, bản chất, tính tất yếu của hội nhập và toàn cầu hóa trong mọi lĩnh vực xã hội; từ đó góp phần phát huy yếu tố tích cực của hội nhập quốc tế với các tôn giáo, khơi dậy và phát huy thế mạnh và mọi nguồn lực của các tôn giáo trong xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương; quan tâm thực hiện các chương trình, dự án nhằm phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa kết hợp với các chính sách hỗ đặc biệt cho đồng bào tín đồ các tôn giáo có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong cuộc sống.

Hai là, khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016, đồng thời tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo được hội nhập sâu rộng trong đời sống quốc tế, tạo điều kiện để các tôn giáo thực hiện các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng trên cơ sở pháp luật; quan tâm, tạo điều kiện giải quyết nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trên cơ sở pháp luật. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng.

Ba là, tiếp tục bồi dưỡng nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn, lý luận Mác – Lênin, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo cho cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Quan tâm xây dựng tổ chức, bộ máy cán bộ làm công tác tôn giáo đủ mạnh góp phần tham mưu ngày càng tốt hơn cho cấp uỷ, chính quyền giải quyết hiệu quả các vấn đề về tôn giáo theo đúng chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xử lý kịp thời từ cơ sở các mâu thuẫn, khiếu kiện về tôn giáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp. Có chế độ đãi ngộ đặc thù đối với cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo, đặc biệt là đối với đội ngũ công chức làm công tác tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa. Thường xuyên kiểm tra, giám sát kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên có biểu hiện tiêu cực, sách nhiễu nhân dân và các tín đồ chức sắc trong việc đảm bảo quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân.

Bốn là, cần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá nước ta. Tăng cường công tác nắm tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống phá nước ta. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân và các tín đồ chức sắc hiểu rõ âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, từ đó nêu cao cảnh giác để họ tự giác đấu tranh chống lại chúng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng chính đáng của mình, bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Trong những năm tới, nhằm góp phần đẩy mạnh công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, cần tiếp tục phát huy những mặt tích cực do TCH mang lại trong việc thúc đẩy phát triển văn hóa nói chung, đời sống tôn giáo ở nước ta nói riêng; tạo điều kiện cho các tôn giáo tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế.

Nguyễn Đức Quỳnh

Chú thích:

1, 3. GS.TS.Đỗ Quang Hưng, Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa;  Tạp chí Giác Ngộ Online số tháng 9/2006;

2. D.Lehman, Religion and Globalization trong Religion in the modern World, NewYork, 2002, p.301;

4. Vũ Văn Hậu, Nhìn nhận về sự tác động của toàn cầu hóa tới đời sống tôn giáo ở nước ta hiện nay; Tạp chí Thông tin khoa học Xã hội, số 8/2006;

5. Đại tá, PGS.TS.Lưu Ngọc Khải, Thiếu tá, Ths. Đặng Công Thành; Đường lối đối ngoại của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII – Một tầm cao mới, Tạp chí Tuyên giáo online số ra ngày 18/10/2016;

Toàn cầu hóa là gì? Nguyên dân, Nội dung và Hệ quả của toàn cầu hóa

 

Toàn cầu hóa là gì? Nguyên dân, Nội dung và Hệ quả của toàn cầu hóa

 

 

 

 


 

error: Content is protected !!

 

 

Toàn cầu hoá và kinh doanh quốc tế. Chủ nghĩa khu vực.

 

 

EENI Trường Kinh doanh & HA Đại học

 

Giáo dục đại học Việt

Đơn vị học tập: Toàn cầu hoá và kinh doanh quốc tế.
Chủ nghĩa khu vực. Bản tóm lược:

 

    1. Toàn cầu hóa và kinh doanh quốc tế.

 

    1. Hiệu ứng tích cực và tiêu cực.

 

    1. Bối cảnh lịch sử.

 

    1. Toàn cầu hóa: Thương mại quốc tế và thị trường tài chính.

 

    1. Văn hóa, chính trị, môi trường và kích thước của toàn cầu hóa.

 

    1. Toàn cầu hóa và các tổ chức quốc tế:

      – Liên hợp quốc,

      – Tổ chức Thương mại thế
      giới,

      – Ngân hàng thế giới,

      – Quỹ Tiền tệ Quốc tế,

      – Liên minh châu Âu.

 

    1. Tự do hóa. Vai trò của Tổ chức Thương mại Thế giới.

 

    1. Chủ nghĩa khu vực.

 

    1. Kinh tế thế giới thỏa thuận.

 

    1. Thị trường mới nổi. BRICM nước. Ấn Độ và
      Trung Quốc.

 

    1. Thế giới khủng hoảng tài chính và kinh tế.

 

    1. Phân tích khu vực: Châu Phi, Châu Á, Châu Âu, các nước Ả Rập.

 

    1. Cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu.

 

  1. Antiglobalization.

 

Ví dụ của khóa học Toàn cầu hoá và kinh doanh quốc tế:

Toàn cầu hoá

 

Môn học này (e-learning) là một phần của các Chương trình Giáo dục Đại học sau: Bằng Cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ; được giảng dạy bởi EENI (Trường Kinh doanh) và
Cổng thông tin châu Phi – Trường Kinh doanh EENI & Đại học HA:

 

    1. Thạc sĩ: Kinh doanh quốc tế (MIB), Thạc sĩ trong thương mại nước ngoài, Vận tải quốc tế

 

    1. Văn bằng Thương mại quốc tế

 

 

Học sinh, EENI (Trường Kinh doanh) và HA Đại học

 

Khóa học tài liệu học tập (Ngôn ngữ):
Giáo dục đại học bằng tiếng Anh
Globalisation
Giáo dục đại học ở Pháp
Mondialisation Giáo dục đại học bằng tiếng Anh
Globalización

 

    1. BRICS Countries

 

    1. Global Ethics and Globalisation

 

    1. Africa: The Next
      Emerging Continent

 

    1. Frontier Markets in Africa

 

    1. History of the World Economy

 

 

Tóm tắt khóa học (Toàn cầu hoá và kinh doanh quốc tế)

 

Trong những năm qua kinh tế thế giới đã trải qua một số thay đổi lớn, kết quả
đã được thành lập một thị trường thế giới.

 

Với việc thành lập Tổ chức Thương mại
Thế giới, hầu như tất cả các nền kinh tế của thế giới có khả năng thiết
lập ngày càng nhiều mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với nhau.

 

Trong những năm
1980, nền kinh tế thế giới đã được đặc trưng bởi thương mại giữa các khối kinh
tế lớn, kể từ khi thương mại quốc tế giữa 90 đã có xu hướng phát triển theo
hướng toàn cầu hóa đến giai đoạn một nơi mà nó là khả thi để thụ thai thương mại
mà không có biên giới trong tương lai không xa.

 

Vào đầu thế kỷ 21 chúng ta chứng
kiến sự nổi lên của một nền kinh tế mới: Các thế giới như một thị trường toàn
cầu!

 

Thương mại nội địa đã trở thành thương mại toàn cầu, nơi mà toàn bộ thế giới là
một thị trường toàn cầu.

 

Bây giờ bạn có thể làm việc trên một máy tính được sản
xuất tại Trung Quốc sử dụng chip của Nhật Bản và điều hành một hệ thống Mỹ. Bạn
có thể mặc quần sản xuất tại Đài Loan, kính mát Ý và đồng hồ Thụy Sĩ.

 

Có lẽ tối
nay bạn sẽ có một ly rượu vang Tây Ban Nha hay Chile hoặc một tách cà phê Kenya
với bữa ăn tối của bạn. Bạn có thể lái xe Hàn Quốc, Đức, sử dụng điện thoại Phần
Lan hay hút xì gà Cuba. Đây là ngày hôm nay của chúng tôi thực tế, mà đã trở
thành có thể do toàn cầu hóa.

 

Tổ chức Thương mại Thế giới

 

Toàn cầu hoá có nghĩa là dòng chảy của hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ và con
người đang lan rộng trên toàn thế giới, như các quốc gia ở khắp mọi nơi mở rộng
liên hệ với nhau. Toàn cầu hóa có thể tạo ra của cải nhiều hơn cho tất cả mọi
người, nhưng nó cũng có thể gây rối và cần phải được khai thác theo các quy tắc
quốc tế (International tổ chức). Khi doanh nghiệp đi toàn cầu, các quy tắc cho
công bằng cũng phải được thiết lập trên toàn cầu. Một yếu tố cốt lõi của toàn
cầu hóa là sự mở rộng của thương mại thế giới thông qua việc loại bỏ hoặc giảm
các rào cản thương mại, chẳng hạn như thuế nhập khẩu.

Kinh tế “toàn cầu hóa” là một quá trình lịch sử, kết quả của sự sáng tạo của con
người và tiến bộ công nghệ. Nó dùng để chỉ hội nhập ngày càng tăng của nền kinh
tế trên thế giới, đặc biệt là thông qua sự chuyển động của hàng hoá, dịch vụ, và
vốn qua biên giới. Thuật ngữ này đôi khi cũng đề cập đến sự chuyển động của con
người (lao động) và kiến thức (công nghệ) qua biên giới quốc tế. Ngoài ra còn có
rộng hơn văn hoá, chính trị, và kích thước môi trường của toàn cầu hóa.

 

Chủ nghĩa khu vực được mô tả trong từ điển các thuật ngữ chính sách thương mại,
là “hành động của các chính phủ tự do hóa hoặc tạo thuận lợi cho thương mại trên
cơ sở khu vực, đôi khi thông qua thương mại tự do khu vực hoặc liên minh thuế
quan”.

Nếu chúng tôi đưa vào tài khoản(hiệp định thương mại khu vực được hiệu lực
nhưng chưa được thông báo, những người đã ký nhưng chưa có hiệu lực, những người
hiện đang được đàm phán, và những người ở giai đoạn đề xuất, chúng tôi đến một
con số gần 400 hiệp định thương mại khu vực được dự kiến sẽ được thực hiện vào năm 2010. Của các hiệp định thương mại khu vực,
hiệp định thương mại tự do và các hiệp định phạm vi một phần chiếm trên
90%, trong khi hải quan đoàn thể chiếm ít hơn 10%.

Mục tiêu:

– Tìm hiểu về tự do hóa thương mại và sự hình thành của Tổ chức Thương mại Thế
giới Tổ chức Thương mại thế giới.

– Xác định tích cực và tiêu cực ảnh hưởng của toàn cầu hóa.

– Hiểu rõ các thỏa thuận khu vực kinh tế và sự liên quan của họ cho cả thương
mại khu vực và thế giới.

– Khám phá lịch sử phát triển của thương mại thế giới trong ba thập kỷ qua.

 

Thông tin thêm:

– Liên Hiệp Quốc (cơ
quan chuyên môn)

– Ngân hàng Thế giới

– Tổ chức Thương mại Thế giới

 

(c) EENI Trường Kinh doanh & HA Đại học / EENI Business School & HA University

 

10 đặc điểm toàn cầu hóa quan trọng nhất / Văn hóa chung | Thpanorama

 

Trong số chính đặc điểm của toàn cầu hóa họ đang thúc đẩy việc tạo ra các thị trường mới, tạo ra kịch bản lý tưởng cho việc trao đổi ở các khu vực khác nhau và, trong một số trường hợp, gây ra rủi ro cho chủ quyền của các quốc gia.

Toàn cầu hóa là phong trào tự do trên toàn thế giới về vốn, con người, thông tin, công nghệ, dịch vụ, sản phẩm và hàng hóa. Nó cũng ngụ ý rằng cùng một hệ thống chính trị, xã hội và kinh tế mở rộng ra quốc tế, mặc dù không phải tất cả các quốc gia đều tuân thủ nó ở cùng một mức độ.

Ví dụ, mặc dù Trung Quốc được coi là một quốc gia cộng sản truyền thống, nhưng nó thực sự đáp ứng nhiều đặc điểm của chủ nghĩa tư bản.

Từ thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, bạn có thể tìm thấy các mạng lưới thương mại phát triển toàn cầu hóa tồn tại ngày nay..

Từ thời điểm đó cho đến ngày nay, toàn cầu hóa đã bao trùm hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống: thế giới sống trong sự trao đổi liên tục về công nghệ, văn hóa, môi trường, giáo dục, thông tin và thương mại, giữa các lĩnh vực khác..

Tình trạng này đã thay đổi hoàn toàn cách liên quan của cư dân trên hành tinh.

10 đặc điểm chính của toàn cầu hóa

Tạo lập thị trường mới

Toàn cầu hóa ngụ ý giảm mạnh các rào cản vật lý giữa các quốc gia. Điều này đã cho phép thị trường đa dạng hóa và mở rộng, tăng sản xuất hàng hóa và dịch vụ.

Do sự đa dạng hóa, các thị trường mới đã xuất hiện. Một số chỉ trích về toàn cầu hóa chỉ ra rằng điều này đã tạo ra một nền tảng lý tưởng cho các quốc gia có sự giàu có hơn để tận dụng lợi thế của việc làm việc với các nước nghèo hơn, vì lao động ở các nước này rẻ hơn.

Quy định địa phương có thể di chuyển đến nền

Một thế giới toàn cầu hóa ưu tiên cho các quy định toàn cầu so với các quy định của mỗi quốc gia hoặc khu vực. Điều này dẫn đến sự tồn tại của các tổ chức quốc tế xây dựng các quy định quốc tế về các vấn đề đa dạng như tội phạm, kinh doanh, sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn lao động, tiếp cận y tế, chính sách cạnh tranh, trong số các khía cạnh khác..

Quy định quốc tế, trong nhiều trường hợp, có giá trị hơn quy định của địa phương. Theo một số người gièm pha toàn cầu hóa, tình trạng này có thể gây hại cho một số quốc gia vì nó có thể trừ đi quyền tự chủ.

Thúc đẩy giao lưu văn hóa

Toàn cầu hóa cho phép sự tương tác của mọi người từ các quốc gia khác nhau, với các đặc điểm văn hóa khác nhau.

Hiện tại có thể đến thăm các vùng khác nhau, biết văn hóa của họ, biểu hiện của họ, ẩm thực của họ, phương thức hành xử của họ, trong số các yếu tố khác, ngụ ý rằng mọi người có tùy chọn gần hơn.

Trao đổi này được tạo ra thông qua du lịch quốc tế và cũng thông qua các hiện tượng phức tạp hơn, chẳng hạn như di cư. Mối quan hệ văn hóa thúc đẩy sự phong phú của kinh nghiệm và cho phép thế giới kết nối nhiều hơn.

Chịu đựng tốt hơn

Toàn cầu hóa đã tạo ra những người từ các khu vực khác nhau sống trong một không gian chung, điều này khuyến khích họ quan sát và tương tác.

Toàn cầu hóa cũng cho phép chúng ta biết các thực tại khác nhau thông qua phim ảnh, truyền hình, văn học và nghệ thuật, trong số các biểu hiện khác, và cho không gian để hiểu chúng từ bối cảnh của chính chúng.

Một số nhà phê bình chỉ ra rằng điều này đã mang lại hậu quả tiêu cực, bởi vì có những nhóm mà truyền thống và đặc điểm văn hóa của họ đã được bảo vệ bởi giới luật của các nền văn hóa thống trị khác..

Mặt khác, các học giả khác cho rằng, do sự tương tác này, một số xã hội có tâm lý khép kín hơn đã phát triển thái độ bài ngoại.

Luồng thông tin lớn hơn

Trong thời đại ngày nay, thông tin truyền đi nhanh chóng đến các khu vực khác nhau trên thế giới. Toàn cầu hóa đã cho phép các quốc gia có rất ít sự trùng hợp có thể chia sẻ các kênh thông tin.

Sự tương tác này là một thách thức, bởi vì giao tiếp giữa những người thuộc các nền văn hóa khác nhau được đóng khung trong thực tế của từng khu vực, điều này có thể mang lại sự hiểu lầm hoặc thiếu trôi chảy trong trao đổi.

Tuy nhiên, nhờ toàn cầu hóa, các kênh và cách trao đổi giao tiếp khác nhau đã được phát triển để tạo thuận lợi cho sự tương tác và các chuyên gia từ các ngành khác nhau tập trung vào phát triển các nghiên cứu và chiến lược cải thiện luồng thông tin giữa các quốc gia..

Sự bồn chồn khi học các ngôn ngữ khác nhau

Trong thời đại toàn cầu hóa, thông thường mọi người muốn học ít nhất một ngôn ngữ nữa, ngoài tiếng mẹ đẻ.

Có một mong muốn cho phép một luồng thông tin trôi chảy, có thể hiểu được các biểu hiện văn hóa đến với dân chúng mà không có ngôn ngữ là một trở ngại, ngay cả khi thực hiện kinh doanh ở các vĩ độ khác. Tất cả điều này là kết quả của việc học ngôn ngữ mới là quan trọng đối với nhiều người.

Giao dịch tự do

Toàn cầu hóa được đặc trưng bởi thúc đẩy thương mại tự do. Điều này cho phép các công việc mới xuất hiện, cho các công ty trở nên cạnh tranh hơn và cho người tiêu dùng để có được giá thấp hơn..

Những người ủng hộ thương mại tự do đi ngược lại các chính sách có lợi cho một số quốc gia nhất định đối với một số ngành nhất định: họ cho rằng các công ty có khả năng đáp ứng thị trường tự do nhất là những công ty nên có nhiều cơ hội hơn, bất kể nước xuất xứ của họ là gì.

Tuy nhiên, một số học giả đồng ý rằng các quốc gia nhỏ hơn bị ảnh hưởng, vì các quốc gia hùng mạnh nhất là những quốc gia xác định các nguyên tắc thương mại và, theo các học giả này, chính sách của họ dựa trên lợi ích riêng của họ.

Đổi mới công nghệ

Lĩnh vực công nghệ là một trong những yếu tố chính của toàn cầu hóa, bởi vì nó đã tạo ra nền tảng để có hiệu quả, có thể có sự tương tác giữa các khu vực tách biệt với nhau.

Ví dụ, sự phát triển công nghệ của giao thông vận tải cho phép trao đổi văn hóa và thương mại diễn ra trên quy mô lớn. Và những tiến bộ trong công nghệ truyền thông đã cho phép thông tin lưu chuyển nhanh hơn và hiệu quả hơn.

Toàn cầu hóa, ngày càng phát triển, khuyến khích các nước đầu tư vào ngành công nghệ, để họ có thể dẫn đầu tiên phong về công nghệ.

Đe dọa chủ quyền

Trong khuôn khổ toàn cầu hóa, các cơ quan quốc tế thúc đẩy các quy định, trong nhiều trường hợp, vượt ra ngoài các quy định địa phương của các quốc gia.

Các học giả chỉ ra rằng điều này có thể dẫn đến luật pháp trong nước của mỗi quốc gia bị suy yếu, mang lại kết quả tiêu cực trong các lĩnh vực khác nhau, như thương mại, kinh tế, xã hội và văn hóa..

Các phong trào xã hội ở cấp quốc tế

Toàn cầu hóa cho phép mọi người từ các quốc gia khác nhau tương tác và thành lập các nhóm theo mối quan tâm hoặc lợi ích tương tự.

Nhờ vậy, có thể thấy các phong trào xã hội rất nhạy cảm với việc bảo tồn môi trường, bảo vệ người tị nạn, chăm sóc người thiệt thòi, trong số các lĩnh vực khác.

Điều này cho phép thống nhất hàng triệu người ủng hộ một nguyên nhân và do đó, khả năng phổ biến và tạo ra những thay đổi cụ thể cao hơn.

Tài liệu tham khảo

  1. “Toàn cầu hóa” trong: Địa lý quốc gia. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2017 từ National Geographic: nationalgeographic.org
  2. Kuepper, J. “Toàn cầu hóa và tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế” (ngày 19 tháng 6 năm 2017) Sự cân bằng. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2017 từ Số dư: thebalance.com
  3. “Toàn cầu hóa” trong Diễn đàn chính sách toàn cầu. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2017 từ Diễn đàn chính sách toàn cầu: globalpolicy.org
  4. Collins, M. “Những ưu và nhược điểm của toàn cầu hóa” (ngày 6 tháng 5 năm 2015) Forbes. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2017 từ Forbes: forbes.com
  5. Drezner, D. “Ai cai trị? Quy định của toàn cầu hóa “(tháng 8 năm 2002) Daniel W. Drezner. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2017 từ Daniel W. Drezler: danieldrezner.com
  6. “Tác động của toàn cầu hóa đối với luật pháp quốc tế, quyền con người và quản trị toàn cầu” tại Viện đại học châu Âu. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2017 từ Viện Đại học Châu Âu: eui.eu
  7. Archer, J. “Toàn cầu hóa và sự sụp đổ được cho là của quốc gia có chủ quyền” (tháng 8 năm 2003) Đại học Nam Thái Bình Dương. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2017 từ Đại học Nam Thái Bình Dương: usp.ac.fj
  8. “Toàn cầu hóa” trên BBC. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2017 từ BBC: bbc.com
  9. “Toàn cầu hóa” trong giảng dạy và học tập vì một tương lai bền vững. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2017 từ Dạy và Học vì Tương lai Bền vững: unesco.org
  10. Gillikin, J. “Thương mại tự do Vs. Fair Trade” trong Chron. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2017 từ Chron: smallbusiness. Sync.com
  11. Matthews, L. và Thakkar, B. “Tác động của toàn cầu hóa đối với truyền thông đa văn hóa” ở Intech. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2017 từ Intech: intechopen.com.

Báo chí trong ngôi làng toàn cầu hôm nay

 

 src=

Trong quá trình toàn cầu hóa, truyền thông đóng vai trò trung tâm. Ảnh minh họa

 

Anh ta cũng có thể xem tin tức về chuyện bầu cử Tổng thống ở Mỹ, có thể xem trận đấu giữa 2 đội bóng Arsenal và Barcelona qua màn ảnh truyền hình, đồng thời, nhâm nhi cốc cà phê Starbucks vừa mua từ siêu thị gần chỗ anh trọ…

Từ toàn cầu hóa đến bùng nổ truyền thông

Toàn cầu hóa là một hiện tượng có bề dày lịch sử và liên quan đến nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, truyền thông, khoa học – công nghệ… Chính vì vậy, khái niệm toàn cầu hóa có nhiều cách hiểu khác nhau, vừa đa dạng vừa phức tạp.

Từ góc độ kinh tế học, người ta bàn về sự lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, tư bản, kỹ thuật, lao động từ nước này sang nước khác, qua đó, hình thành các công ty đa quốc gia, các thị trường xuyên quốc gia và sự phân công lao động ở phạm vi quốc tế.

Từ góc độ chính trị, người ta thấy, như là hệ quả của các thay đổi về phương diện kinh tế, các quốc gia càng ngày càng có tính liên kết và liên lập.

Từ góc độ văn hóa, nhiều nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh vào kinh nghiệm về không gian và thời gian, từ đó, quan hệ giữa người với người, giữa tính toàn cầu và tính địa phương, giữa hội nhập và ý niệm về bản sắc v.v..

 

Trong quá trình toàn cầu hóa, truyền thông đóng vai trò trung tâm. Đó là quá trình phát triển mạnh mẽ có tính chất bùng nổ và mở rộng quy mô ảnh hưởng toàn thế giới của các phương tiện truyền thông đại chúng, dẫn tới việc thu hẹp không gian và thời gian thông tin trên phạm vi toàn cầu, hình thành “làng thông tin toàn cầu”. Thông tin ở khắp mọi nơi trên thế giới được truyền tải tức thời, liên tục, nhiều chiều và dễ dàng đến với công chúng.

Ngày nay, ở bất kỳ nơi đâu, mọi người đều có thể nắm bắt được toàn bộ thông tin của thế giới mới vừa diễn ra. Thông tin tại mọi ngóc ngách của hành tinh này được các hãng truyền thông, được chính từng thành viên trong cộng đồng cùng cung cấp một cách nhanh chóng và chính xác tới cho mỗi công dân.

 

Cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật khoa học – công nghệ trong thế kỷ XX, đặc biệt là sự xuất hiện của Internet và các dịch vụ truyền thông trên nền tảng Internet đã tạo ra điều kỳ diệu ấy. Sự phát triển công nghệ đã giúp các phương tiện truyền thông đại chúng, hoặc có tính chất truyền thông đại chúng thực sự hút thời gian vận chuyển tin tức về không (0), kéo khoảng cách truyền tin trong khuôn khổ từng quốc gia và cả thế giới vào tầm mắt nhìn, tầm tai nghe bình thường.

Hai mặt của một hiện tượng

Quá trình toàn cầu hóa truyền thông một mặt góp phần dân chủ hóa về tri thức và kinh nghiệm, chia sẻ thông tin, kích thích sự tìm tòi, học hỏi, trao đổi kỹ năng và kinh nghiệm trong sản xuất và quản lý xã hội, mở rộng tầm nhìn toàn cầu, tăng cường nguồn lực tri thức và văn hóa cho cá nhân và cộng đồng ở tất cả các dân tộc, các quốc gia, nhưng đồng thời, nó cũng bị chi phối bởi các cường quốc truyền thông, tạo nên hậu quả về một sự phát triển tập trung và mất cân bằng của những trao đổi về sản phẩm và dịch vụ truyền thông.

 src=

Quá trình toàn cầu hóa diễn ra sâu rộng ở tất cả lĩnh vực không chỉ riêng báo chí

Các tập đoàn truyền thông đa quốc gia là những doanh nghiệp liên tục mở rộng hoạt động ở tầm toàn cầu nhiều năm qua nhờ sự phát triển về công nghệ. Các hãng thông tấn, các tập đoàn báo chí lớn giờ đây không chỉ cung cấp thông tin, các chương trình truyền thông, giải trí, các dịch vụ tin tức cho toàn thế giới mà còn góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho truyền thông nhằm phục vụ các mục tiêu ngoại giao, thương mại.

 

Trong bối cảnh ấy, thách thức và cơ hội đặt ra cho truyền thông của các nước đang phát triển như Việt Nam ngày càng lớn hơn.

Không một nhà nước nào lại bỏ quên vai trò quyết định trong việc bảo đảm cho người dân tiếp cận thông tin qua các phương tiện truyền thông chính thống và mỗi quốc gia có những cách riêng để quản lý, kiểm soát truyền thông khác nhau. Nhưng, toàn cầu hóa vẫn là xu thế không thể đảo ngược. Sự xuất hiện của các dạng thức truyền thông xã hội như blog, mạng xã hội những năm gần đây cho thấy tính phức tạp trong dòng chảy thông tin toàn cầu ngày càng lớn hơn.

Làm thế nào để chống lại sự bành trướng thông tin, sự phụ thuộc thông tin dẫn tới lệ thuộc nguồn tin, thậm chí, bị định hướng, hướng dẫn nhận thức theo ý đồ của các tập đoàn báo chí, của các nước lớn hay của các nhóm lợi ích? Làm thế nào để giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, để không bị chi phối về mặt nhận thức, tư tưởng, lối sống… từ ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa truyền thông? Đây là những câu hỏi không mới, thậm chí là rất cũ, nhưng câu trả lời vẫn còn đang tiếp tục hoàn thiện.

Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng sâu sắc, quá trình đó gắn chặt với công cụ kết nối thông tin toàn cầu và vai trò của các cá nhân, trong đó có các nhà báo. Khi khoảng cách công nghệ còn xa, cuộc chiến chống bất bình đẳng trong quá trình toàn cầu hóa truyền thông ở các nước đang phát triển như Việt Nam càng cho thấy vai trò mang tính quyết định của nhân lực, nhất là đội ngũ làm công tác truyền thông, công tác tư tưởng./.

Phan Văn Tú

Tương lai nào cho toàn cầu hóa trước những cơn gió thổi ngược?

 

Cuộc đối thoại “Tương lai của Toàn cầu hóa” diễn ra vào chiều ngày 8/11, ngay sau phiên khai mạc CEO Summit – một diễn đàn quan trọng trong Tuần lễ Cấp cao APEC 2017. Không lấy làm lạ khi toàn cầu hóa vẫn luôn là chủ đề quan tâm hàng đầu tại các cuộc họp của Cộng đồng kinh doanh APEC, nơi tập trung các nền kinh tế đang chiếm tới gần 60% GDP, 50% đầu tư và thương mại toàn cầu.

APEC 2017 được tổ chức trong bối cảnh kinh tế đã có nhiều thay đổi khi chủ nghĩa bảo hộ trở lại, Mỹ tìm kiếm cách tiếp cận mới với các vấn đề toàn cầu và định hình lại vị thế dẫn dắt của mình, trong khi vai trò của Trung Quốc đang nổi lên.

“Những cơn gió thổi ngược liệu có thể làm chệch hướng thương mại hay chúng ta đang nghĩ quá nhiều”, nhà báo CNN Andrew Stephens đặt ra câu hỏi.

Ông Robert E. Moritz – Chủ tịch Công ty tư vấn và kiểm toán PricewaterhouseCoopers (PwC) cho rằng toàn cầu hóa tồn tại đến nay có lý do của nó từ việc mở ra thị trường, tận dụng lợi thế mỗi quốc gia để xây dựng chuỗi sản xuất hay mở ra các cơ hội đầu tư.

“Quay lại khái niệm toàn cầu hóa, tại sao các doanh nghiệp tồn tại, tại sao các doanh nghiệp phải tận dụng toàn cầu hóa? Bởi vì với các doanh nghiệp, toàn cầu hóa mở ra thị trường tiêu dùng, nó giúp tận dụng chuỗi giá trị sản xuất. Đối với các nhà đầu tư, dù có những quốc gia mọi người nói với nhau không nên đầu tư nhưng cũng có rất nhiều cơ hội có thể đưa vào danh mục từ trên khắp thế giới mà theo như khảo sát các Tổng giám đốc thì Việt Nam, Malaysia nằm Top 10 trong danh sách đó”.

Phiên đối thoại đầu tiên của CEO Summit – “Tương lai của Toàn cầu hóa”

Thách thức với toàn cầu hóa không chỉ hiện tại mà còn ở tương lai. Nói về 3 năm tới, ông Ian Bremmer – Chủ tịch Eurasia Group cho rằng sự bất ổn về địa chính trị sẽ gia tăng bởi sự thay đổi từ các đồng minh của Mỹ khi vai trò quốc gia này đang giảm xuống hay các nước nhận thấy lợi ích nhiều hơn từ Trung Quốc. Cùng đó, sự bất bình đẳng sẽ tiếp tục tăng lên. Chính phủ nhiều nước ở cấp quốc gia đang phải giải quyết sự bất mãn với thương mại tự do.

“Toàn cầu hóa vẫn tiếp tục nhưng nó sẽ bị tách rời khỏi mong muốn của người dân. Điều này giống như một người dân châu Âu thông thường cảm thấy không còn muốn ở EU nữa”, ông nói. “Chúng ta có sức mạnh để đảm bảo toàn cầu hóa còn tiếp tục, nhưng nếu nếu tách rời đại đa số người dân thì họ sẽ không muốn sống trong toàn cầu hóa nữa”.

Dù thẳng thắn chỉ ra những khó khăn thách thức của toàn cầu hóa nhưng ông cũng nhận định “Mỹ hóa” đã chấm dứt nhưng toàn cầu hóa sẽ vẫn tiếp tục.

Với những thách thức trên, người đứng đầu PwC cho biết thực tế các CEO không rút lui trước những khó khăn của toàn cầu hóa. “Trong cuộc điều tra các Tổng giám đốc, lòng tin về việc họ xử lý được các vấn đề tiếp tục tăng lên do vẫn có nền tảng về người tiêu dùng, nhất là khi tầng lớp trung lưu có sức mua lớn hơn”, ông nói.

Hay như mô hình kinh tế tự do hóa phần nào bị ảnh hưởng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, gây ảnh hưởng đến nhiều người. Nhưng theo ông Philipp Roesler, cựu Phó Thủ tướng Đức hiện đang là Thành viên Ban điều hành Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), không vì thế mà ý tưởng về thị trường bị dập tắt. Thị trường với rất nhiều chủ thể có những người tình nguyện rời đi, phần còn lại ở lại chơi tiếp và cũng sẽ có những người quan tâm lấp chỗ trống đó.

Ông Roesler cho rằng nếu không quan tâm đến thị trường toàn cầu, người khác sẽ nhảy vào và rất có thể bạn sẽ gặp rủi ro. “Ý tưởng về thị trường vẫn thành công dù đã có nhiều hơn sự can thiệp của Nhà nước sau khủng hoảng tài chính toàn cầu”.

Và một điều không thể phủ nhận toàn cầu hóa đã mang lại sự thịnh vượng cho toàn cầu. Phó Chủ tịch Ngân hàng thế giới (WB) bà Victoria Kwakwa cho biết hàng trăm tỷ người thoát ra khỏi đói nghèo với tiến bộ công nghệ giống như bà đỡ của toàn cầu hóa. Thương mại toàn cầu tăng gấp đôi. Khoảng cách giữa người giàu nhất ở Mỹ với người nghèo nhất tại quốc gia kém phát triển. Nhưng cũng không thể phủ nhận toàn cầu hóa mang lại lợi ích nhiều hơn cho các quốc gia có thu nhập cao.

“Toàn cầu hóa không hoàn hảo. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa thấy biện pháp nào thay thế được toàn cầu hóa”. Bà cũng nhắc lại lời Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại diễn đàn Davos rằng toàn cầu hóa là đại dương mà các quốc gia cùng bơi, nỗ lực biến đại đương thành sông đều là không phù hợp.

Rút khỏi toàn cầu hóa không phải là lựa chọn, Phó Chủ tịch WB khẳng định quan điểm của mình.

Hai biện pháp cải thiện toàn cầu hóa được bà đưa ra là cần đảm bảo quy tắc trò chơi rõ ràng, được áp dụng công bằng, tức củng cố thương mại toàn cầu bằng luật lệ. Trong cuộc chơi toàn cầu hóa, mọi người không được hưởng lợi như nhau, sẽ có những ngành bị thiệt hại. Thay đổi về công nghệ có thể khiến các ngành sản xuất chuyển sang dùng robot, ngành dịch vụ sử dụng AI. Chưa ai biết các ngành nghề tương lai sẽ đi đến đâu. Toàn cầu hóa sẽ cần bao trùm hơn, cần đào tạo lại để nhân sự các ngành này có được việc làm mới.

Cũng giống như bà Victoria Kwakwa, Tổng giám đốc PwC cho rằng các doanh nghiệp cần quan tâm hơn đến lực lượng lao động. Và thực tế đã có sự chuyển biến trong 15 tháng gần đây, sau Brexit. Trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa, doanh nghiệp vẫn đang cố gắng thích nghi tốt nhất có thể và suy nghĩ nhiều hơn tới lợi ích các tầng lớp lao động trong doanh nghiệp.

Thanh Thủy

Toàn cầu hóa, vấn đề giới và việc làm trong nền kinh tế chuyển đổi: Trường hợp Việt Nam

 

21 thg 8, 2013


Tài liệu này đề cập tới những tác động của quá trình toàn cầu hoá về khía cạnh giới và nghèo đói ở Việt Nam. Ngày càng có nhiều tài liệu nói về những mối liên quan này ở những nước đang hoặc đã chuyển đổi nền từ nền kinh tế thị trường được điều tiết ở mức độ cao sang nền kinh tế thị trường được điều tiết ở mức độ thấp hơn. Ở Việt Nam có một điểm khác biệt là quá trình Việt Nam hội nhập sâu hơn với nền kinh tế toàn cầu đang diễn ra trong khuôn khổ thay đổi chế độ chính sách mang tính căn bản hơn: đó là sự chuyển đổi từ nền kinh tế chỉ huy tập trung với vai trò chủ đạo thuộc về Nhà nước trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội sang nền kinh tế mà ở đó các lực lượng của thị trường trong và ngoài nước được chú trọng hơn.

Cũng như những nước khác trên thế giới, ngành dệt may theo hướng xuất khẩu ở Việt Nam là nguồn cung cấp việc làm quan trọng cho phụ nữ. Phụ nữ còn tích cực tham gia vào thị trường trong nước, khu vực nhà nước và khu vực tư nhân cũng như vào khu vực kinh tế không chính thức. Tài liệu này sử dụng dữ liệu điều tra thu được để so sánh các đặc điểm, điều kiện và sự lựa chọn của phụ nữ làm việc cho thị trường toàn cầu và thị trường trong nước nhằm xác định họ là ai, họ khác nhau như thế nào và công việc mà họ đang làm có ý nghĩa gì đối với bản thân họ.

Tài liệu kết luận chừng nào tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn chưa thuyên giảm và chưa có những việc làm thay thế thì lao động nữ sẽ tiếp tục đổ dồn vào ngành dệt may bất kể điều kiện làm việc và mức lương ở đó như thế nào.


  • lưu trữ trong:
  • Report
  • Featured
  • Viet Nam
  • Poverty reduction and inequality
  • Millennium Development Goals
  • Publication

Thích ứng với toàn cầu hóa 4.0 – Báo Nhân Dân điện tử

 

Với chủ đề “Toàn cầu hóa 4.0: Định hình cấu trúc toàn cầu trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, Hội nghị WEF thường kỳ tại Davos (Thụy Sĩ) năm nay diễn ra trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến hàng loạt thách thức toàn cầu cả về kinh tế lẫn chính trị đang “treo lơ lửng”. Từ triển vọng kinh tế thế giới mờ mịt, cuộc chiến thương mại cận kề, đến xung đột, bạo lực còn tiếp diễn ở nhiều nơi, chủ nghĩa dân tộc, xu hướng dân túy trỗi dậy làm suy yếu hợp tác đa phương và các mối quan hệ quốc tế. Đặc biệt, tiến trình toàn cầu hóa bước sang giai đoạn mới với những thay đổi sâu sắc và toàn diện hơn, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 đem đến những công nghệ với tốc độ và quy mô chưa từng có.

Những tiếng nói hoài nghi dấy lên về hiệu quả cuộc tụ họp hằng năm của giới lãnh đạo quốc gia và doanh nghiệp toàn cầu, khi Diễn đàn Davos năm nay vắng bóng những “người chơi chính”. Tổng thống Mỹ Donald Trump không tham dự vì phải giải quyết tình trạng “chính phủ đóng cửa”; Thủ tướng Anh Theresa May hủy chuyến đến Davos sau khi thỏa thuận Brexit bị bác bỏ; Tổng thống Pháp Emmanuel Macron còn đau đầu vì các cuộc biểu tình của phong trào “Áo vàng”. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cũng bận rộn với nhiều kế hoạch trong nước…

Tuy nhiên, trong ba ngày với hàng trăm phiên họp, hơn 50 nhà lãnh đạo các nước và tổ chức quốc tế, cùng hàng nghìn đại biểu đã thảo luận, chia sẻ quan điểm và đề xuất các sáng kiến về một loạt vấn đề địa – chính trị, kinh tế và công nghệ, xã hội và môi trường. Các phiên thảo luận đánh giá triển vọng hợp tác, đối thoại để xử lý các thách thức, thúc đẩy cải cách khuôn khổ thể chế toàn cầu nhằm thích ứng bối cảnh mới; thảo luận về tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0, các vấn đề tăng trưởng bền vững, chính sách công nghệ, an ninh mạng…

Nổi bật trong các cuộc thảo luận tại Davos lần này là triển vọng không thật sự sáng của kinh tế thế giới, khi Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo mức tăng trưởng năm 2019 chỉ đạt 3,7%, thậm chí Ngân hàng Thế giới (WB) còn đánh giá ở mức 2,9% kèm theo các điều kiện tài chính thắt chặt. Quan ngại còn gia tăng khi tình hình địa – chính trị không thuận có nguy cơ tác động tiêu cực tăng trưởng kinh tế toàn cầu, nhất là khi chủ nghĩa dân túy, bảo hộ trỗi dậy, quay lưng với các tiến trình đa phương, trong khi căng thẳng và xung đột gia tăng có nguy cơ dẫn đến chiến tranh thương mại, tình trạng biến đổi khí hậu dẫn đầu danh sách các rủi ro luôn rình rập với nền kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh đó, với vai trò Chủ tịch Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20) năm 2019, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cùng nhiều nhà lãnh đạo nhấn mạnh nhiệm vụ khôi phục niềm tin đối với hệ thống thương mại quốc tế minh bạch và hiệu quả, thúc đẩy trật tự quốc tế dựa trên luật pháp, cởi mở và tự do.

Khi tiến trình đa phương có dấu hiệu suy yếu, mục tiêu định hình tiến trình toàn cầu hóa trong giai đoạn mới nổi lên là một yêu cầu cấp thiết. Theo nhà sáng lập và là Chủ tịch WEF Klaus Schwab, thế giới chưa được chuẩn bị để ứng phó những thay đổi lớn của toàn cầu hóa trong “kỷ nguyên 4.0”, vì thế cần xác lập các khuôn khổ và cơ chế mới để có thể tận dụng tốt hơn những cơ hội phía trước. Tiến trình toàn cầu hóa mang lại tăng trưởng kinh tế và phát triển, song cũng khiến tình trạng bất bình đẳng ngày càng giãn rộng.

Hội nghị WEF năm 2019 vì thế hướng đến mục tiêu hoàn thiện các cấu trúc chính sách, hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy phát triển bền vững, toàn diện hơn, đặc biệt là hướng đến con người, không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình toàn cầu hóa 4.0.

Leave your Comment