Toàn cầu hóa là gì 104

Những góc nhìn về xu hướng toàn cầu hóa

 

TTH.VN – Trong vài năm qua, đối với nhiều người dân và một số các nhà lãnh đạo, toàn cầu hóa đã trở thành một xu hướng đối lập với chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa đơn phương. Điều này được thể hiện khá rõ trong thời gian gần đây, khi toàn cầu hóa được đánh giá có nhiều tác động tích cực.

 src=

Toàn cầu hoá là xu hướng được đánh giá có nhiều tác động tích cực trong những năm gần đây. Ảnh: The Nation

Xét đến các yếu tố chính của toàn cầu hóa phải để đến tính dịch chuyển xuyên biên giới với khối lượng lớn hơn của hàng hóa, nhân công và nguồn vốn, trong đó mỗi thành phần đều hứa hẹn khả năng mang lại lợi ích tổng thể đáng kể cho nền kinh tế. Thương mại tự do cho phép các quốc gia tận dụng lợi thế so sánh của mình, thúc đẩy hiệu suất kinh tế và triển vọng của các bên tham gia. Ví dụ, người di cư có thể mang đến sự đa dạng và năng động cho một xã hội già hóa, đồng thời giúp giảm nghèo ở quê hương họ, có thể thông qua kiều hối. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng có thể tạo việc làm, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển, tạo ra doanh thu thuế và tăng cường cạnh tranh.

Tuy nhiên, toàn cầu hoá cũng kéo theo nhiều tác động khác. Chẳng hạn như, người di cư có thể gây ra áp lực tiền lương đối với những công nhân có tay nghề thấp ở các nước mà họ đến. Bằng cách cho phép các công ty chuyển hoạt động sang các thị trường có mức lương thấp hơn, việc loại bỏ các rào cản thương mại có thể có tác dụng tương tự. Ngay cả đầu tư xuyên biên giới cũng có những nhược điểm của nó, vì các nhà đầu tư trong nước có thể phải vật lộn để cạnh tranh với người nước ngoài.

Những yếu tố này đã góp phần làm tăng sự bất bình đẳng ở nhiều nước. Ví dụ, ở Mỹ, các công nhân có kỹ năng thấp ở Vành đai Rust – khu vực sản xuất trải dài từ bang Michigan đến phía đông Pennsylvania – đã phải đối mặt với hàng thập kỷ trì trệ, trong khi người lao động có tay nghề cao trong lĩnh vực tài chính và công nghệ cao – ở Phố Wall và Thung lũng Silicon – lại được hưởng lợi rất nhiều. Trong khi sự cởi mở kinh tế thúc đẩy nền kinh tế nói chung, thì rõ ràng các lợi ích cần đảm bảo phải được phân phối công bằng hơn, hoặc ít nhất, một số nhóm cũng không bị tổn thương một cách bất thường.

Nhiều nhà kinh tế cho rằng, chìa khóa để thành công trên mặt trận này là áp dụng các chính sách phân phối lại, thường là thông qua hệ thống thuế. Nhưng về mặt chính trị, chính sách như vậy được cho là rất khó, nếu không muốn nói là không thể.

Dưới quan điểm của những người theo chủ nghĩa dân túy như Tổng thống Donald Trump, toà cầu hoá được đánh giá có hiệu quả về mặt chính trị, nhưng lại gây tổn hại về mặt kinh tế và xã hội. Tổng thống Trump đổ lỗi cho tình trạng khó khăn của công nhân ở Vành đai Rust là do sự cạnh tranh quốc tế.

Tương tự như vậy, ở nhiều nước châu Âu, việc chống lại toàn cầu hóa đã chuyển thành những phản ứng tiêu cực gây hại cho người di cư, đồng thời cũng làm tăng sự kháng cự đối với quá trình hội nhập châu Âu. Nhiều cử tri ở Áo, Hungary và Italy đã bỏ phiếu ủng hộ các chính trị gia  vận động chống lại việc nhập cư. Tại Vương quốc Anh, cuộc trưng cầu dân ý Brexit năm 2016 phần nào phản ánh sự từ chối phong trào tự do của người dân trong Liên minh châu Âu.

Theo tờ ASEAN Post, bằng cách khuyến khích chủ nghĩa đơn phương, các phản ứng chống lại toàn cầu hóa không chỉ đe dọa nhiều nước thu được lợi ích kinh tế từ sự cởi mở mà còn phá hoại các cấu trúc hợp tác quốc tế vốn đã đóng góp cho tình trạng tương đối hòa bình gần 3/4 thế kỷ qua, kể từ sau Thế chiến II.

Giới chuyên gia nhận định rằng, thế giới toàn cầu hóa ngày nay vẫn chưa được hoàn hảo. Nhưng các chính sách bảo hộ và cô lập sẽ chỉ làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn, đặc biệt nếu chúng được sử dụng như một cái cớ để phủ nhận nhân quyền cơ bản cho người nhập cư, bên cạnh những vấn đề khác. Các chính sách cân bằng nhằm gặt hái những lợi ích từ sự cởi mở, và đảm bảo rằng những lợi ích đó được chia sẻ rộng rãi, có thể không phải là lựa chọn chính trị thiết thực nhất hiện nay, nhưng nó sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế và xã hội trong tương lai, ASEAN Post nhận định.

TỐ QUYÊN (Lược dịch từ ASEAN Post)

Trình bày các biểu hiện chủ yếu của toàn cầu hóa kinh tế. Xu hướng toàn cầu hóa kinh tế dẫn đến những hệ quả gì ? – Địa lí 11 trang 10

 

Toàn cầu hóa là quá trình liên kết toàn cầu về nhiều mặt từ nền kinh tế đến văn hóa, khoa học…

– Toàn cầu hóa được biểu hiện rõ ở :

  • Thương mại thế giới phát triển nhanh: Thương mại thế giới phát triển nhanh: tốc độ tăng trưởng thương mại của thế giới luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế thế giới. Làm cho nền kinh tế thế giới phát triển năng động hơn.
  • Đầu tư nước ngoài tăng nhanh: Từ năm 1990 đến năm 2004 đầu tư nước ngoài đã tăng lên 7111 tỉ USD. Trong đó, lĩnh vực dịch vụ chiếm tỉ trọng ngày càng lớn.
  • Thị trường tài chính quốc tế mở rộng: Hàng vạn ngân hàng được kết nối với nhau qua mạng viễn thông điện tử tạo nên một mạng lưới liên kết toàn cầu . Vai trò của IMF và WB ngày càng lớn trong sự phát triển nền kinh tế toàn cầu.
  • Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn: Ngày càng có nhiều công ty xuyên quốc gia và nắm trong tay mình một khối lượng lớn tài sản.

Những biểu hiện của toàn cầu hóa kinh tế đã mang lại những hệ quả. Cụ thể đó là:

– Về tích cực:

  • Thúc đẩy sản xuất phát triển và tăng trưởng kinh tế toàn cầu.
  • Đẩy nhanh đầu tư và khai thác triệt để khoa học công nghệ.
  • Tăng cường sự hợp tác quốc tế.

– Về tiêu cực:

  • Gia tăng nhanh chóng khoảng cách giàu nghèo
  • Làm nảy sinh tình trạng phá sản, thất nghiệp trầm trọng.

Văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa

 

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, văn hóa Việt Nam sẽ như thế nào? Đó là những vấn đề lý luận và thực tiễn chúng ta cần nghiên cứu. Tính ứng dụng của các vấn đề này không nhỏ, nó liên quan trực tiếp đến chiến lược quản lý và phát triển văn hóa của các cấp, các ngành liên quan đến lĩnh vực văn hóa và kinh tế.

Văn hoá trong bối cảnh toàn cầu hóa : các xu thế khác nhau

Hiện trạng và tương lai của văn hoá, các đặc trưng văn hóa trong toàn cầu hóa là gì, câu trả lời cho câu hỏi này vẫn phân tán theo ba hướng khác nhau.

1. Toàn cầu hóa và xu thế nhất thể hóa văn hóa :

Lập luận của các học giả nghiêng về xu hướng nhất thể hóa, xu thế một nền văn hóa chung toàn cầu nhấn mạnh tính toàn nhân loại của văn hóa.

Quan điểm này xuất phát từ nhận định toàn cầu hóa do phương Tây khởi xướng; phương Tây là khu vực phát triển nhất của loài người nên thế giới càng tiến lại gần phương Tây hơn, trở nên giống phương Tây hơn.

Theo Habermas, các quốc gia châu Âu[1]phồn vinh ngày nay đóng vai trò lớn trong tư cách là kiểu mẫu và mô hình của tổ chức xã hội trên thế giới, mà có giá trị nhất là kinh nghiệm “thuần hóa chủ nghĩa tư bản”. Cái gì trong văn hóa châu Âu đã phổ biến rộng khắp ra các châu lục khác ngoài châu Âu ? Cơ đốc giáo và chủ nghĩa tư bản, khoa học tự nhiên và kỹ thuật, luật La Mã và sắc lệnh Napoleon, hình thức cuộc sống công dân đô thị, nền dân chủ và quyền con người, thế tục hóa nhà nước và xã hội, những yếu tố này ngày nay không còn là sở hữu riêng của châu Âu nữa mà đã lan ra toàn thế giới. “Phương pháp tư duy phương Tây bắt nguồn từ truyền thống Juda –Cơ đốc có những nét đặc trưng nhất định. Diện mạo tinh thần với chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy lý và tính tích cực này được các dân tộc châu Âu chia sẻ với Mỹ, Canada, Úc. Nói tóm lại, Phương Tây là một khu vực rộng lớn hơn châu Âu”[1].

Như vậy là toàn cầu hóa đang tiếp tục công việc châu Âu khai hóa văn minh cho thế giới từ hai ba thế kỷ trước. Ngay cả các giá trị Mỹ cũng có nhiều điểm chung với giá trị châu Âu.

Lý thuyết hội tụ văn hóa, nhất thể hóa văn hóa được thể hiện qua biểu tượng Mc Donald hóa (McDonaldization). Thông qua tác động của các tập đoàn toàn cầu, các xã hội trên thế giới đang tiến đến nhất thể hóa.

Mc Donal hóa là khái niệm do nhà xã hội học George Ritzer đề xuất trong cuốn sách xuất bản năm 1993  The McDonaldization of Society (Mc Donal hóa xã hội). Theo ông, “đây là quá trình mà các nguyên lý của các khách sạn ăn nhanh ngày càng thống trị nhiều hơn các khu vực kinh tế Mỹ cũng như phần còn lại của thế giới”[2]. Mc Donald hóa là tái quan niệm hóa chủ nghĩa duy lý, đi từ tư tưởng truyền thống đến hiện đại và quản trị khoa học. Mô hình Mc Donald thành công vì nó có tính hiệu quả (phục vụ nhanh), có thể đo đếm được (số lượng bán ra quan trọng hơn là khẩu vị, số lượng bán được chỉ báo chất lượng), có thể dự báo được (chuẩn hóa dịch vụ và hàng hóa ở bất cứ nơi đâu) và tính kiểm soát (chuẩn hóa, nhất thể hóa nhân viên và xu thế thay thế nhân lực bằng kỹ thuật). Ông nhìn thấy ở mô hình ăn nhanh Mc Donald một hệ thống tiêu biểu cho văn hóa thời hiện đại, nhấn mạnh vào tính hiệu quả cho mục tiêu đặt ra. Nhà nghiên cứu nhìn thấy ở mô hình Mc Donald xu thế hợp lý hóa, duy lý hóa, chuẩn mực hóa của xã hội và văn hóa hiện đại trên toàn cầu. Trong một cuốn sách do ông chủ biên, có hẳn một phần quan trọng và thú vị trình bày ảnh hưởng của mô hình hợp lý hóa, duy lý hóa của phương pháp ăn nhanh Mc Donald đến hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Phần này có tiêu đề Mc Donald hóa các cấu trúc và thiết chế xã hội , trong đó có các chương như Mc Donald hóa cảnh sát, tòa án và cải tạo ở Mỹ, Mc Donald hóa công nghiệp sex, Mc Donald hóa gia đình, Mc Donald hóa internet, Mc Donald hóa các đại học, Mc Donald hóa nghề nghiệp, Mc Donald hóa công dân v.v…[3]  Đây chính là một biến thể của tư tưởng về tiến trình nhất thể hóa văn hóa toàn cầu.

Cơ sở của lý thuyết nhất thể hóa là chủ nghĩa phổ quát (universalism) và thuyết khuếch tán (diffusionism) theo đó sự truyền bá văn hóa thường bắt đầu từ một trung tâm. Từ những năm 1950, sự khuếch tán này bắt đầu mang dấu ấn Mỹ hóa. Đến những năm 1960, các tập đoàn đa quốc gia tiêu biểu cho hiện đại hóa Mỹ. Những năm 1970, hiệu ứng này được gọi là thực dân hóa Coca Cola. Người ta cũng nói đến các biến thể của chủ nghĩa đế quốc văn hóa dưới hình thức chủ nghĩa tiêu thụ mang tinh thần phổ biến và ảnh hưởng của truyền thông toàn cầu. Luận đề về nhất thể hóa hình dung toàn cầu hóa là sự đồng bộ hóa cho yêu cầu về một nền văn hóa tiêu thụ được tiêu chuẩn hóa, làm cho mọi nơi trên thế giới trở nên giống nhau. Điều này có thể thấy rõ hơn trong giao thông hàng không. Tất cả các sân bay đều được thiết kế với các chuẩn mực quốc tế, ở đây, các đặc điểm văn hóa khu vực hay địa phương phải hạn chế đến mức tối thiểu. Các chuyến đi quốc tế của nhà doanh nghiệp thường cố gắng được tổ chức sao cho giảm thiểu khác biệt văn hoá.

Truyền thông Mỹ đã tạo nên sự đồng bộ hóa văn hóa toàn cầu. Điều này không phải là không có cơ sở thực tế: thanh niên khắp thế giới đang mặc quần dzin, đi giày Adidas, ăn hamburger, nghe nhạc rock, xem phim Hollywood, ta sống trong những đại đô thị được kiến trúc theo những nguyên lý thống nhất…“Hiện đại hóa và Mỹ hóa là nhưng biến thể gần đây nhất của Tây phương hóa. Nếu chủ nghĩa thực dân đem đến Âu châu hóa thì chủ nghĩa thực dân mới dưới bá quyền của Mỹ đem đến Mỹ hóa”[4]. Cả hai phương hướng nói trên đều tìm thấy ở tư tưởng của Marx và Weber. Marx có luận đề về sự bành trướng toàn thế giới của chủ nghĩa tư bản mà lý thuyết về hệ thống thế giới (world system) hiện nay chỉ là một biến thể của luận đề này. Còn Weber nhấn mạnh sự duy lý hóa dưới hình thức quan liêu hóa và các kỹ thuật duy lý khác.

Một quan điểm khác gần với chủ trương nhất thế hóa văn hóa là tư tưởng về thế giới phẳng của Freidman. Trong cuốn sách xuất bản năm 2005 Thế giới phẳng (The World is Flat), ông điểm 10 sự kiện cho thấy thế giới đang vận động theo hướng nhất thể hóa. Bức tường Berlin sụp đổ kết thúc chiến tranh lạnh, nền tảng cơ bản cho cuộc cách mạng toàn cầu hóa được thiết lập với máy tính cá nhân, hệ điều hành Windows, những phương tiện tiêu chuẩn hóa giúp cho liên lạc toàn cầu tăng tốc chóng mặt như modem, hệ thống điện thoại toàn cầu, điện thoại di động,  v.v…Qua màn hình máy tính, toàn thế giới có thể tiếp nhận phim, tin tức, tài liệu, thông tin, những blog, từ điển bách khoa mở wikipedia, phần mềm mã nguồn mở…đã mở rộng các phương thức cộng tác của con người từ tất cả các vùng trên trái đất qua WWW-mạng toàn cầu. Google với hàng tỷ người tra cứu hàng ngày có thể là một biểu tượng toàn cầu hóa hoàn hảo.

Theo Freidman, nhờ chia sẻ những giá trị toàn cầu chung mà nhân loại sẽ gắn bó, hợp tác. Trong sách Xe Lexus và cành Oliu, ông viết đại ý hai dân tộc cùng sử dụng đồ ăn nhanh Mc Donald sẽ không gây chiến với nhau cũng như hai quốc gia đứng ở hai đầu của một chuỗi cung ứng tiếp cận sẽ không thể có chiến tranh.

Nhưng ngay cả cuốn sách rất thành công này cũng vẫn bị phê phán. Nhà kinh tế đoạt giải Nobel Joseph Stiglitzcho rằng Freidman đúng khi nói về những mối liên hệ đã nối liền các phần của thế giới hơn tất cả mọi thời đại nhưng về một số phương diện khác, thế giới không hề phẳng, thậm chí còn trở nên ít phẳng hơn. Một số nhà nghiên cứu khác cho là tuy thế giới được kết nối chặt chẽ nhưng tính phân mảnh vẫn là chủ đạo. Năm 2007 trên tờ Foreign Policy Pankaj Ghemawatviết đại ý là 90% các cuộc gọi điện thoại, các cuộc lướt web, các đầu tư tài chính trên thế giới hàng ngày vẫn thuộc về các khu vực. Tính phân tán của toàn cầu hóa vẫn là một thực tế đang  tồn tại. Từ quan điểm địa lý học, giới nghiên cứu cũng chú ý đến vai trò của nhân tố địa phương đối với cuộc sống con người.

Các dòng người di cư, làn sóng lao động nhập cư trên qui mô toàn cầu cũng là một chỉ báo cho xu thế tiếp biến văn hóa và giải khu vực hóa (delocalization) của toàn cầu hóa đương đại.

Về phương diện ngôn ngữ, hàng ngàn thứ thổ ngữ đã và đang tiêu vong song song với quá trình quốc tế hóa vai trò của tiếng Anh cũng cho thấy có một xu hướng nào đó đang đi đến toàn cầu hóa ngôn ngữ. Giới nghiên cứu đã có người dùng khái niệm “chủ nghĩa đế quốc về ngôn ngữ” để phác họa địa vị thống trị của tiếng Anh trên trường quốc tế ngày nay. Một trong những nhân tố góp phần vào sự phát triển của Singapore chính là tiếng Anh[5].  Các ngôn ngữ nhỏ đang dần biến mất do áp lực của các ngôn ngữ lớn-những cư dân của ngôn ngữ nhỏ đang phải sử dụng các ngôn ngữ phổ thông. Bình quân cứ hai tuần thì lại có một ngôn ngữ tiêu vong. Khoảng 80% dân cư trái đất sử dụng 80 thứ tiếng phổ thông nhất. Chính sách ngôn ngữ của Liên hợp quốc qui định 5 thứ tiếng chính thức được dùng trong các diễn đàn Liên hợp quốc cũng phản ánh ảnh hưởng ngôn ngữ của toàn cầu hóa. Có nhà ngôn ngữ học tiên đoán vào cuối thế kỷ XXI sẽ có 90% ngôn ngữ sẽ bị tiêu vong. Trong khi đó, 80 % thông tin tải lên mạng Internet là tiếng Anh.

Nói chung, các lý thuyết chủ trương toàn cầu hóa dẫn đến nhất thể hóa văn hóa vẫn bị tranh luận và phê phán. Những ý kiến phê phán chúng tôi sẽ trình bày ở dưới đây.

2. Toàn cầu hóa và đa dạng văn hóa :

Theo hướng lý thuyết này, xét về tổng thể nhiều mặt, toàn cầu hóa không thể dẫn đến nhất thể hóa. Thế giới vẫn đang phát triển theo hướng đa dạng hóa, đa nguyên hóa. Dường như toàn cầu hóa càng phát triển thì ý thức về bản sắc văn hóa riêng lại càng nổi lên mạnh mẽ. “Tư tưởng cho  rằng tất cả mọi nhóm người đều có quyền được phát biểu về mình, bằng giọng nói của riêng họ, và giọng nói đó được công nhận là độc đáo và có tính hợp pháp là quan điểm nòng cốt cho lập  trường đa dạng hậu hiện đại”[6].

Luận đề Mc Donald hóa bị nhiều người phê phán. Phân tích hoạt động của Mc Donald ở Maxcơva cho thấy các luận điểm của Ritzer đều không ổn. Không thấy nhanh và hiệu quả mà chỉ thấy khách phải xếp hàng hàng giờ, thấy khách ăn nấn ná lưu lại lâu; không thấy rẻ mà chỉ thấy một bữa ăn Mc Donald trị giá một phần ba ngày lương của người Nga; sự khác biệt và độc đáo chứ không phải sự có thể đoán trước đã lôi cuốn khách ăn Nga (nhiều menu chuẩn không được phục vụ ở đây). Mc Donald ở Maxcơva không phải là dấu hiệu nhất thể hóa mà là địa phương hóa cái toàn cầu (global localization). Bài học ở đây là các tập đoàn đa quốc gia muốn thành công cần phải thích ứng với các đặc điểm văn hóa của địa phương nơi họ đầu tư, hoạt động. Các tập đoàn có thể là đa quốc gia nhưng các hình thức kinh doanh phải mang tính địa phương. Hãng Sony của Nhật bản có phương châm trở thành người địa phương (insiderization).

Các mô hình khách sạn ăn nhanh của phương Tây như Burger King, KFC, Pizza Hut, Wendy …khi đầu tư vào một xã hội riêng biệt phải tính đến những chức năng kinh tế, văn hóa, xã hội có thể khác với xuất xứ về thực đơn và cách phục vụ. Bản thân các nhà hàng ăn nhanh của Mỹ cũng tổng hợp văn hóa ẩm thực của thế giới theo phong cách quản trị Mỹ. Họ bán hamburger Đức, các món rán của Pháp và pizza Italia. McDonald hóa chẳng qua là sự nhất thể hóa quốc tế một phần là từ nguồn gốc các món ăn, và một phần do các hình thức địa phương hóa đa dạng trên toàn cầu hiện nay. Và như nhiều quan sát cho hay, bản thân McDonald đang suy tàn dần trên chính quê hương của nó vì nhiều nguyên nhân.

Sự chuẩn hóa quốc tế lối vào và lối ra ở các sân bay trên toàn thế giới cũng không loại bỏ một thực tế là vẫn tồn tại sự khác biệt văn hóa ở phòng chờ, phòng an ninh sân bay, khu vực dành cho ăn uống. Khi các chuyến bay quốc tế bay qua không phận Arập Saudi, tiếp viên phải thông báo cho hành khách rằng việc uống rượu bị cấm trên không phận nước này. Vì Hồi giáo cấm sử dụng rượu, và lệnh cấm có hiệu lực ngay cả trên không phận của nước theo đạo Hồi này.

Về mặt kinh tế, chính trị, quân sự, Viện Xã hội học của Pháp Harris Interactive tiến hành thăm dò ý kiến của người Mỹ và năm nước châu Âu, cho thấy đa số người được phỏng vấn tin là vào năm 2020, hoặc là Mỹ hoặc là Trung Quốc sẽ lãnh đạo thế giới. Tất nhiên con số cụ thể là khác nhau ở mỗi nước được phỏng vấn. Ở Mỹ, 40 % người được hỏi nghiêng về Mỹ, 24 % nghiêng về Trung Quốc, 4% ủng hộ EU, 2% nghiêng về Ấn Độ và Nhật Bản và chỉ 1% tin là năm 2020 Nga sẽ đứng đầu thế giới. Đa số dân các nước Pháp (47%), Italia (38%) , Tây Ban Nha (45%) tin là đến năm 2020 Trung Quốc sẽ đứng đầu thế giới. Chỉ có 3 % dân chúng các nước này cho là đến 2020, Nga lãnh đạo thế giới[7].  Giữa các nước tranh chấp vai trò lãnh đạo thế giới này tiềm tàng nguy cơ xung đột mặc dù tất cả đều có chuỗi cửa hàng Mc Donald.

Bức tranh tương lai của thế giới còn phức tạp hơn, đa dạng hơn với các cường quốc như Nhật Bản, Ấn Độ, Brasil, Nam Phi. Nhìn từ góc độ này, thế giới sẽ không thể có một quốc gia lãnh đạo duy nhất nào. Nói gì đến khả năng nhất thể hóa văn hóa.

Ngay trong không gian văn hóa châu Âu theo quan niệm Habermas, thì cũng không có sự đồng thuận về văn hóa Mỹ. Habermas chỉ thiên về tính cộng đồng của các nền văn hóa châu Âu mà không chủ ý khác biệt. Khái niệm phương Tây cũng là một khái niệm khá mơ hồ, lỏng lẻo, không thấy hết sự phân mảnh văn hóa giữa các nước. Điều đó tương tự với khái niệm châu Á trong “giá trị châu Á”, một thực thể rất đa dạng chứ không thuần nhất.

Huntingtonphân chia thế giới thành 9 nhóm văn hóa khác nhau trên thế giới. Theo ông, sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, thế giới sẽ chứng kiến sự đối đầu giữa văn minh phương Tây và các nền văn minh phi phương Tây. Xung đột quân sự của thế kỷ cũ giữa đạo Hồi và phương Tây không dịu đi mà lại tăng lên. Trong hình thế xung đột giữa văn minh phương Tây và văn minh phi phương Tây, ông còn dự báo sự có mặt của một số nhà nước Khổng giáo. Để chế ngự xung đột này, theo Huntington, cần có sự đoàn kết hợp tác lớn hơn của phương Tây, giữa EU và Mỹ để bảo vệ lợi ích của mình; đưa Đông Âu và Mỹ Latin vào cộng đồng phương Tây; khai thác các mâu thuẫn giữa các nhà nước Hồi giáo và Khổng giáo; quan hệ hợp tác với Nga và Nhật Bản. Việc phân chia thế giới thành các khu vực văn minh khác nhau đã là một hướng tiếp cận có lịch sử khá bề thế ở phương Tây. Lý do để ông dự báo về xung đột giữa phương Tây và phần còn lại của thế giới là văn minh phương Tây có tính phổ quát, nó xung đột trực tiếp với chủ nghĩa biệt lập của hầu hết các nền văn hóa châu Á vốn nhấn mạnh sự khác biệt giữa các dân tộc. Trong khi đó, sự đa dạng của các mô hình hiện đại hóa khác nhau đang diễn ra thách thức nghiêm trọng bá quyền văn minh phương Tây.  Văn hóa nhìn từ góc độ này bị chính trị hóa.

Tuy quan điểm của ông bị phê phán sâu sắc nhưng dẫu sao cũng phản ánh một thực tế đa dạng của văn hóa thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Tôn giáo cũng là một nhân tố gây chi rẽ các nền văn hóa sâu sắc, thậm chí đối kháng. Xung đột giữa đạo Hồi với đạo Cơ Đốc, đạo Do Thái chưa rõ đến khi nào kết thúc. Ngay tại châu Âu, các nhà thờ đạo Hồi mọc lên khắp nơi. Riêng tại Pháp có 5 triệu người Hồi giáo, trong tổng số 12 đến 15 triệu ở cả EU. Riêng ở Đức đã có 15 ngàn nhà thờ Hồi giáo. Và năm 2000, lần đầu tiên số người theo đạo Hồi trên thế giới vượt số dân theo đạo Cơ đốc. Chủ nghĩa đa văn hóa đã dẫn đến xung đột tôn giáo, bạo lực. Nhiều người ngày nay đã đặt lại vấn đề về chủ nghĩa đa văn hóa (multiculturalism) trong một quốc gia. Việc xây dựng một bản sắc chung cho một quốc gia dân tộc đang là vấn đề nóng trong nghị trình văn hóa- chính trị của các nước.

Nhìn từ góc độ quản trị kinh doanh, từ văn hóa tổ chức, cũng thấy sự tồn tại của tính đa dạng văn hóa là tất yếu phải được giới đầu tư, kinh doanh tính đến.

Theo Fons Trompenaart, có lý luận cho rằng quốc tế hóa sẽ tạo ra, ít nhất cũng dẫn đến, một nền văn hóa chung toàn cầu. Điều đó sẽ giúp cho cuộc sống của các nhà quản trị đơn giản hơn. Người ta dẫn chứng Mc Donald và Coca Cola đã tạo ra thị hiếu, thị trường và văn hóa giống nhau ở khắp nơi. Hẳn là có nhiều sản phẩm và dịch vụ đã trở nên chung cho thị trường thế giới. “Nhưng điều quan trọng không phải là chúng là gì và được thấy hiện diện ở đâu mà là chúng có ý nghĩa gì đối với nhân dân ở mỗi nền văn hóa”. “Cái tinh túy văn hóa không nổi lên trên bề mặt hay nhìn thấy được mà đó là cách mà một nhóm người cùng chia xẻ trong hiểu biết và lý giải thế giới”. “Vì vậy việc ta nghe nhạc từ máy nghe Walkman hay ăn hamburger cho thấy có những sản phẩm  được bán rộng rãi nhưng không cho ta biết việc ăn hamburger hay nghe nhạc qua walkman có ý nghĩa gì trong mỗi nền văn hóa”[8].  Ăn tối ở Mc Donald ở Moscow có ý nghĩa chỉ ra địa vị xã hội trong khi đó ở New York Mỹ chỉ là món ăn nhanh. Nếu những nhà kinh doanh muốn giành được sự hiểu biết và lòng trung thành với các mục tiêu, chính sách của công ty, sản phẩm và dịch vụ ở bất cứ nơi đâu họ đang kinh doanh thì họ phải hiểu được các khía cạnh này khác của sự quản trị có những ý nghĩa gì trong các nền văn hóa khác nhau.

Xuất phát từ lĩnh vực quản trị, giới nghiên cứu nhận thấy sự tồn tại khác biệt về văn hóa hiện còn rất rõ. Nhiều qui trình quản trị rất có hiệu quả ở nền văn hóa này nhưng lại không hiệu quả khi đi sang một nền văn hóa khác. Nhiều công ty đa quốc gia áp dụng cho khu vực hải ngoại các công thức đã thành công trong nền văn hóa của họ mà coi thường sự khác biệt văn hoá nên thất bại. Ví dụ, một công ty máy tính Italia nhận được tư vấn của công ty tư vấn quốc tế về áp dụng mô hình quản trị ma trận (matrix organisation- kiểu quản trị có các cấp lãnh đạo nhiều tầng bậc). Cách quản lý này thách thức với mô hình một thủ trưởng – nên thất bại vì ở Italia, boss là cha, không thể có hai người cha. Vì thế, các nhà quản trị luôn đứng trước một song đề (dilemma) cần cân bằng một bên là sự cần thiết tiêu chuẩn hóa, quốc tế hóa trong các biện pháp, hệ thống, qui trình tổ chức với một bên là làm cho tổ chức của mình thích ứng với những đặc điểm địa phương của thị trường đầu tư, của hình thức lập pháp, hệ thống chính trị xã hội và chế độ tiền tệ, hệ thống văn hóa.

Xu thế tái khẳng định bản sắc riêng của các chủng tộc, các dân tộc có thể quan sát  thấy trong sự tái phát hiện, tái thiết lập các nền văn hóa đã bị mất. Riêng về ngôn ngữ học, các quốc gia đã nhận thấy sự cần thiết cứu vãn các ngôn ngữ nhỏ đang có nguy cơ bị tiêu vong. Giá trị của các ngôn ngữ địa phương không có ngôn ngữ nào thay thế được vì chúng phản ánh các điều kiện tự nhiên và thực tiễn xã hội của các dân tộc sử dụng thứ tiếng đó.

Nhưng chủ trương đa dạng văn hóa có một cực đoan khác cần chú ý là chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa chủng tộc, chủ nghĩa biệt lập văn hoá.

3. Quan điểm văn hoá lai ghép  trong kỷ nguyên toàn cầu:

Xu thế thứ ba là chủ trương về lai ghép, hỗn dung văn hóa (hybridization).  Sự lai ghép là các cách theo đó các hình thức tách rời khỏi thực tế đang tồn tại để tái kết hợp với các hình thức mới trong những thực tế mới. Diễn đạt gọn hơn xu hướng này, giới nghiên cứu dùng đồng thời hai khái niệm “khu vực hóa toàn cầu” (global localization) và “toàn cầu hóa khu vực” (local globalization) với một khái niệm mới được tạo ra từ hai khái niệm toàn cầu và khu vực “glocolization”.

Malfred Steger đã phân tích hiện tượng Bin Laden như một biểu hiện rõ rệt của sự lai ghép văn hóa hiện đại[9].

Có thể dẫn thêm một trong những cách miêu tả sinh động về lai ghép văn hóa ngày nay: “Một chàng trai Mỹ mới phất uống rượu vang Pháp, nghe nhạc Beethoven qua hệ thống âm thanh Nhật Bản sản xuất, dùng Internet để đặt mua đồ dệt kim Ba Tư qua một đại lý ở Luân Đôn, xem phim Holywood được tư bản nước ngoài đầu tư và do một đạo diễn châu Âu thực hiện, những kỳ nghỉ tại Bali; một người Nhật trung lưu cũng có thể làm được tương tự”[10]. Sự hòa quyện các sắc màu văn hóa ở đây khó mà tách bạch các yếu tố quốc tế hay dân tộc.

Trong lĩnh vực marketing và du lịch, glocolization thể hiện rất  rõ. Trong du lịch và marketing, khái niệm “toàn cầu tại khu vực” có liên quan đến  chiến lược theo đó, sự độc đáo có tính địa phương của một sản phẩm hay tính khu vực được xem là có tính hấp dẫn toàn cầu và vì thế, là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh.

Xét từ góc độ chủ thể văn hóa là con người, quan điểm lai ghép văn hóa có cơ sở khoa học và thực tế. Dòng người di cư và lao động nhập cư không đơn giản nói lên xu thế nhất thể hóa mà chủ yếu nói đến tính hỗn dung văn hóa. Những người lao động trong một tập đoàn có thể đến từ những nền văn hóa khác nhau, họ là dân nhập cư thế hệ đầu hay thứ hai, thứ ba. Bản thân họ là hiện thân của sự kết hợp các yếu tố văn hóa lao động toàn cầu và văn hóa lao động truyền thống. Bản sắc toàn cầu và bản sắc địa phương luôn luôn ở trong thế  kết hợp.

Hiện đang tồn tại hai thế giới song song: thế giới của các quốc gia dân tộc (nation states) với ngôn ngữ và văn hóa riêng và thế giới toàn cầu với ngôn ngữ và văn hóa của các tập đoàn toàn cầu và các tổ chức quốc tế.

Văn hóa về bản chất là khác biệt. Nhưng con người giữa các vùng miền có giao lưu, quan hệ, tương tác nên quá trình tiếp biến văn hóa không tránh khỏi. Văn hóa có tính mở. Văn hóa là bức khảm nhân loại. Văn hóa là dòng văn hóa du lịch.

Nhìn chung, quan điểm về lai ghép văn hóa khắc phục được hai cách nhìn vốn tách rời hai quá trình văn hóa  như thuyết về nhất thể hóa văn hóa hay thuyết đa dạng văn hóa nói trên. Hai xu thế này không song song tồn tại mà chúng thẩm thấu vào nhau, tạo nên một quá trình riêng. Nói cách khác, cần nhìn toàn cầu hóa từ góc độ cấu trúc trong đó hai thế giới tương tác, một thế giới lấy quốc gia dân tộc làm trung tâm với nhân vật hoạt động chính ở tầm quốc gia và một thế giới nhiều trung tâm với các nhân vật chính đa dạng như các tập đoàn, các tổ chức quốc tế, các nhóm chủng tộc, các nhà thờ…Toàn cầu hóa đa dạng hóa các phương thức tổ chức có thể có như liên quốc gia, siêu quốc gia, siêu vùng, quốc gia, tiểu vùng, địa phương.

Toàn cầu hóa xét từ góc độ không gian : có thể kể đến nhiều kiểu không gian tạo nên lai ghép văn hóa. Quá trình đô thị hóa cho phép đồng tồn tại cả phương thức sản xuất tư bản và tiền tư bản, cho phép tồn tại kiểu thành phố của nông dân. Ở các thành phố Việt Nam có thể thấy rõ hơn sự hiện diện của những người nông dân trong nhiều hoạt động kinh tế xã hội. Các vùng biên giới quốc gia hiện đại được biến thành địa điểm cho nhiều hình thức tổ chức khác nhau, nơi gặp gỡ giữa chủ quyền quốc gia với các tập đoàn xuyên quốc gia. Các đại đô thị nơi cộng cư của nhiều sắc dân v.v…Không gian mạng là nơi diễn ra giao dịch tài chính tạo nên siêu không gian cho tư bản vận hành. Không gian võ đài Amsterdam có thể chứng kiến môn võ muay Thái được một cô gái đến từ Maroc thi đấu. Không gian truyền thông đa phương tiện là nơi giới thiệu, quảng bá phim truyền hình của nhiều nước cùng một lúc, từ phim Mỹ, Đức đến phim Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan, Philippine…thậm chí chúng lấn át cả phim Việt Nam.

Toàn cầu hóa xét từ góc độ thời gian: việc trải nghiệm cùng lúc các thời gian khác nhau là rất tiêu biểu cho toàn cầu hóa hiện đại. Ở Việt Nam người ta có thể cảm thấy sự đồng tồn tại của văn hóa thời tiền hiện đại, văn hóa thời hiện đại và  cả văn hóa hậu hiện đại. Có thể bắt gặp cảnh con trâu đi trước cái cày theo sau, những phiên chợ quê định kỳ mấy ngày một phiên, chợ xép và những khu đô thị hiện đại với các siêu thị cùng những kỹ thuật- công nghệ mới nhất của thế giới. Các trung tâm công nghệ cao thể hiện kết quả của tư duy duy lý và tinh thần thế tục và các lễ hội đậm màu sắc tôn giáo với niềm tin vào các thế lực tâm linh đang xen kẽ cùng tồn tại và vận hành trên đất nước ta. Trong văn học Việt Nam hiện vẫn tồn tại những thể loại văn học rất truyền thống như thơ lục bát bên cạnh các thể loại du nhập từ văn học phương Tây như truyện ngắn, tiểu thuyết. Những nhà nghiên cứu văn hóa Mỹ đương đại làm việc bên cạnh các nhà Hán Nôm học tại một trường đại học. Một đặc điểm quan trọng  của văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa chính là sự chồng xếp nhiều lớp văn hóa của các thời đại khác nhau cùng một lúc ở một quốc gia, dân tộc. Nhìn chung đây là cái nhìn động, đa tuyến, đa tầng về văn hóa.

Không gian và thời gian của văn hóa lai ghép gây khó khăn đáng kể cho việc định nghĩa bản sắc dân tộc, nhất là những định nghĩa thiên về sự tĩnh tại hóa, tuyệt đối hóa bản sắc đó.

Toàn cầu hóa văn hóa dẫn đến lai tạo văn hóa cũng cần được nhìn từ góc độ như là sản phẩm lịch sử. Văn hóa vùng Bắc Mỹ và Carribe là kết quả lai ghép của văn hóa Phi châu và Âu châu, cư dân châu Âu tiếp nhận văn hóa Phi châu và cư dân Phi châu tiếp nhận văn hóa Âu châu. Tương tự như vậy, văn hóa phương Tây có thể xem như là sự pha trộn, lai tạo như văn hóa Mỹ, Carribe. Từ góc nhìn lịch sử, có thể hình dung quá trình toàn cầu hóa văn hóa đương đại cũng đang diễn ra một sự lai ghép tương tự. Dòng người di cư trên phạm vi toàn cầu ngày nay đang tạo nên hiện tượng lai ghép văn hóa như vậy. Tiếng Anh hiện đang là một trong những ngôn ngữ phổ biến nhất toàn cầu nhưng cùng nên biết là khoảng một nửa số từ của tiếng Anh đã được vay mượn từ các nền văn hóa khác. Nhưng có ngôn ngữ nào không phải là sản phẩm lai ghép ? Trong một lần đi khảo sát sử thi Mơ Nông ở Đắc Lắc, tôi được nghệ nhân Điểu Kâu người Mơ Nông cho biết hơn 60 % từ vựng của tiếng Mơ Nông vay mượn từ tiếng Ê Đê-một dân tộc có số dân nhiều nhất ở Tây Nguyên. Quan niệm  có một thứ tiếng Việt thuần khiết chỉ là một ảo tưởng.

Khái niệm văn hóa lai ghép, cũng như khái niệm nguyên hợp- những  khái niệm then chốt của chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa hậu cấu trúc- đối lập lại quan điểm văn hóa thuần chất, thuần chủng (essentialism) về bản sắc và chủng tộc. “Góc nhìn về sự lai ghép chỉ có ý nghĩa khi là sự phê phán lý luận về thuần chủng văn hóa. Lý luận thuần chủng văn hóa là công cụ chiến lược chừng nào mà sự đoàn kết dân tộc, quốc gia, khu vực, nền văn minh hãy còn là vấn đề chiến lược; chừng đó thuyết lai ghép còn là cách tiếp cận thích đáng”[11].

Từ góc nhìn của thuyết văn hóa lai ghép, toàn cầu hóa văn hóa dẫn đến chủ nghĩa liên văn hóa chứ không phải lý thuyết đa văn hóa. Đa văn hóa (multiculturalism) chủ trương sự đồng tồn tại của các nền văn hóa khác nhau trên cùng một không gian mà không có tương tác, lai ghép. Liên văn hóa (interculturalism) chủ trương các nền văn hóa tương tác, tổng hợp. Ví dụ cho văn hóa lai ghép là hiện tượng tam giáo đồng nguyên thời Lý-Trần. Các yếu tố văn hóa từ các địa điểm khác nhau, không gian khác nhau kết hợp, hòa trộn, tạo thành một văn hóa lai ghép. Không thể hình dung có một nền văn hóa nào đó mà lại đứng ngoài quá trình lai ghép, lại không được hình thành bởi các nguồn khác nhau về thời gian và không gian.

Theo Jan Nederveen Pieters, lý luận về lai ghép văn hóa giúp ta hiểu đúng các nhân tố nội sinh và ngoại sinh của văn hóa. Văn hóa lai ghép là phương thức vận động tất yếu của sự đa dạng văn hóa. Các hình thức đa dạng văn hóa không tồn tại riêng rẽ mà kết hợp, tương tác, hòa trộn theo một nguyên lý nào đó. Xét trên phương diện diễn ngôn, thuyết lai ghép văn hóa vượt qua tư duy nhị phân (binary thinking), vượt qua các loại ranh giới, hàng rào vẫn đối lập cực đoan hai sự vật, hai hiện tượng.

Lý thuyết văn hóa lai ghép  có tính ứng dụng cao trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của nhân loại ngày nay. Bản thân toàn cầu hóa đã có nghĩa là lai ghép văn hóa.

Lai ghép văn hóa là một quá trình lịch sử lâu dài và ngày nay trong kỷ nguyên toàn cầu hóa đang được tăng tốc, đang ở một chu kỳ mới. Bản thân sự phát triển kinh tế và thị trường của các con rồng châu Á với tốc độ tăng trưởng gấp đôi các nước phương Tây là bằng chứng hùng hồn về kết quả hòa trộn các kỹ thuật công nghệ mới và các thực tiễn xã hội, các giá trị văn hóa đang tồn tại ở phương Đông.

“Bản sắc là một niềm tin bản thể luận (của cá nhân, nhóm và hệ thống xã hội) biểu hiện trong quá trình tương tác với một cái Khác nào đó”[12]. Bản sắc dựa trên các chuẩn mực bền vững lâu đời của mối quan hệ với các nhóm văn hóa xã hội và dân tộc chủng tộc khác, với thế giới xung quanh nói chung.

Nhật Bản là một nước thành công trong công cuộc hòa trộn, lai ghép văn hóa phương Đông –phương Tây. Khẩu hiệu Hòa hồn Dương tài (Tinh thần Nhật Bản , kỹ thuật Tây phương) vẫn đúng, càng đúng ở thời hiện đại. Ở đây, truyền thống và cách tân hòa quyện vào nhau như âm và dương. Theo một nhà nghiên cứu người Nga thì “Ở Nhật Bản đã hình thành một bản sắc hai thành phần thống nhất: bản sắc phương Tây bề ngoài (thuộc về thiết chế) và bản sắc Viễn Đông bên trong”[13].

Về bản sắc chính trị, phải nói là trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, bản sắc chính trị của quốc gia dân tộc đã chuyển dịch điểm nhấn sang bản sắc liên quốc gia, bên ngoài lãnh thổ. Nhìn từ góc độ này thì các thiết chế chính trị xã hội của Nhật Bản không khác nhiều với các nước phương Tây, thậm chí tương đồng với phương Tây. Nhìn từ góc độ văn hóa, văn minh thì Nhật Bản lại là một thành viên của văn minh Viễn Đông. Akakha, một nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng Nhật Bản có ba bản sắc dựa trên chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa khu vực và chủ nghĩa toàn cầu[14].  Văn hóa Nhật Bản là sự tổng hợp bản sắc chính trị phương Tây và Nho giáo, Phật giáo châu Á một cách nhuần nhuyễn chứ không lắp ghép như hình tượng nhân mã.

Kết luận:

-Toàn cầu hóa đang đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức phong phú cho người nghiên cứu văn hóa dân tộc. Trên đây chỉ là những phác thảo sơ lược về các quan điểm phát triển văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa của giới nghiên cứu quốc tế.

-Nhìn văn hóa dân tộc từ góc độ toàn cầu hóa văn hóa là một điểm nhìn cần thiết để xác định đường hướng vận động cho văn hóa Việt Nam. Sự vận động này chịu sự qui định của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để tránh duy ý chí, áp đặt.

-Vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc cần được xác định trên một nền tảng lý thuyết và thực tiễn văn hóa rộng không chỉ của Việt Nam mà của cả thế giới.



[1]Khái niệm châu Âu ở đây  không giới hạn trong không gian địa lý chủng tộc mà chỉ một nền văn hóa, văn minh. Nó bao gồm cả văn hóa Mỹ nhưng lại không bao gồm văn hóa Digan hay người Eskimo.



[1]Habermas, bản dịch Nga văn Хабермас, Ю. Расколотый Запад. М.: Весь мир, 2008, c.43.

[2]George Ritzer (1996)The McDonaldization of Society, Pine Forge Press, p. 1.

 

[3]Xem George Ritzer (Editor) (2002), Mc Donaldization ,The Reader, Pine Forge Press.

[4]Jan Nederveen Pieterse (2009), Globalization and culture : global mélange, Published in the United States of America by Rowman & Littlefield Publishers, Inc. p. 51.

[5]Lý Quang Diệu: “Chúng ta còn liên kết với phần còn lại của thế giới thông qua ngôn ngữ. Chúng ta may mắn được người Anh cai trị và họ để lại di sản là tiếng Anh. Nếu như chúng ta bị người Pháp cai trị, như người Việt, chúng ta phải quên đi tiếng Pháp trước khi học tiếng Anh để kết nối với thế giới. Đó chắc hẳn là một sự thay đổi đầy đau đớn và khó khăn. Khi Singapore giành được độc lập vào năm 1965, một nhóm trong Phòng Thương Mại người Hoa gặp tôi để vận động hành lang cho việc chọn tiếng Hoa làm quốc ngữ. Tôi nói với họ rằng: “Các ông phải bước qua tôi trước đã.” Gần 5 thập niên đã trôi qua và lịch sử đã cho thấy rằng khả năng nói tiếng Anh để giao tiếp với thế giới là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong câu chuyện tăng trưởng của Singapore. Tiếng Anh là ngôn ngữ của cộng đồng quốc tế. Đế quốc Anh đã truyền

Thư ký thời toàn cầu hóa: đa dạng hướng đi

 

Mở đầu với hai ngành chủ lực là Thư ký Văn phòng và tiếp sau đó là Thư ký Y khoa bậc Kỹ thuật viên cao cấp, ĐH Hoa Sen không ngừng nhận được nhiều đánh giá khích lệ từ phía các doanh nghiệp khi đem đến nguồn nhân lực chất lượng, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về kỹ năng nghiệp vụ cũng như sự thích nghi với môi trường làm việc thực tiễn, đặc biệt trong giai đoạn toàn cầu hóa như hiện nay

Thư ký Văn phòng: Chiến lược nhân sự chủ đạo của doanh nghiệp

Thư ký văn phòng chính là nghề của sự kết nối giữa ban quản trị với các đối tác cũng như tất cả những thành viên trong doanh nghiệp. Có thể nói, trong thời kỳ bùng nổ những làn sóng kinh tế mới với sự du nhập của những tập đoàn đa quốc gia, liên doanh giữa Việt Nam và đối tác quốc tế… thì vai trò của người thư ký không chỉ gói hẹp trong những công việc liên quan đến hành chính văn phòng, mà còn là sự mở rộng dần sang hướng Trợ lý, tư vấn trực tiếp cho Ban giám đốc công ty. Vì vậy, nghề nghiệp này dần trở thành một trong những chọn lựa tìm kiếm hàng đầu của các nhà tuyển dụng với mức thu nhập khởi điểm khá hấp dẫn.

 Sinh viên Hoa Sen luôn tự tin với sự lựa chọn của mình
Sinh viên Hoa Sen luôn tự tin với sự lựa chọn của mình

Nghề Thư ký văn phòng hoàn toàn phù hợp với những bạn trẻ cẩn thận, yêu thích công việc văn phòng, cũng như sở hữu nhiều kỹ năng liên quan đến soạn thảo văn bản, quản lý thời gian, viết báo cáo, tổ chức sự kiện… Tại ĐH Hoa Sen, đơn vị tiên phong đầu tiên tại Việt Nam đào tạo chính quy ngành Thư ký văn phòng, sinh viên còn có cơ hội tiếp cận với môi trường làm việc thông qua hai đợt thực tập nhận thức và thực tập tốt nghiệp tại các doanh nghiệp để nâng cao kỹ năng cũng như tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm thực tế.

Ngoài ra, với những môn học đặc trưng thuộc khối Quản trị, Marketing căn bản, Nguyên lý kế toán, Kỹ năng làm việc nhóm, đặc biệt là Kỹ thuật bàn phím, sinh viên Hoa Sen sau hai năm được đào tạo chuyên sâu hoàn toàn tự tin đảm nhiệm các vị trí Thư ký và Trợ lý tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thư ký Y khoa: Nhân lực cần thiết trong lĩnh vực y tế

Ngày nay, với tốc độ phát triển chóng mặt của hệ thống các bệnh viện thì nhu cầu nhân lực Thư ký Y khoa trở nên cấp thiết và quan trọng hơn bao giờ hết. Bởi lẽ đây là nguồn lực giữ vai trò cầu nối quan trọng giữa bệnh nhân và bác sĩ, giảm thiểu tình trạng “quá tải” tại các đơn vị khám chữa bệnh. Đúng với tên gọi Thư ký Y khoa, ngành học này sẽ đào tạo cho người học những kỹ năng xử lý công việc liên quan đến thủ tục hành chính trong môi trường y tế, là cầu nối vững chắc giữa các y bác sĩ với bệnh nhân và thân nhân người bệnh.

Điểm qua những môn học được đào tạo ngay từ ghế giảng đường tại ĐH Hoa Sen như thuật ngữ y khoa, thuật ngữ dược khoa, công tác thăm dò chẩn đoán, công tác trị liệu, chăm sóc khách hàng… người học hoàn toàn có thể tự tin đảm nhiệm vai trò thư ký, trợ lý, nhân viên hành chính tại các bệnh viện, các trung tâm y tế và phòng khám.

 Đội ngũ Thư ký y khoa tốt nghiệp từ Hoa Sen đang làm việc tại phòng khám Đa khoa Quốc tế T – Clinic
Đội ngũ Thư ký y khoa tốt nghiệp từ Hoa Sen đang làm việc tại phòng khám
Đa khoa Quốc tế T – Clinic

Theo khảo sát nhiều năm liền của Phòng Hỗ trợ sinh viên thuộc trường ĐH Hoa Sen, chương trình đào tạo Kỹ thuật viên ngành Thư ký Y Khoa trong nhiều năm liền đều đạt tỉ lệ 100% sinh viên có việc làm ngay khi tốt nghiệp. Đặc biệt năm 2011, nhiều Tân khoa ngành Thư ký Y khoa đã được bệnh viên Hạnh phúc (liên doanh giữa Việt Nam và Singapore) tuyển dụng với mức lương khởi điểm là 6 triệu đồng/tháng. Cánh cửa nghề nghiệp hấp dẫn trong lĩnh vực y tế đã và đang mở rộng dành cho những ai yêu thích ngành y cũng như những nhân viên hành chính tại các đơn vị khám chữa bệnh mong muốn nâng cao kỹ năng liên quan đến nghề thư ký cũng như các giá trị về đào tạo theo phương pháp đào tạo xen kẽ được Học viện đào tạo xen kẽ IFA Pierre SALVI trực thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Versailles (CCIV, Cộng hòa Pháp) công nhận.

Để trở thành một trong những tân sinh viên khóa 2012 của chương trình đào tạo Kỹ thuật viên cao cấp ngành Thư ký Văn phòng và Thư ký Y khoa, các bạn trẻ đang sở hữu bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông cùng niềm đam mê dành cho công việc hành chính sự nghiệp tại khắp các đơn vị kinh tế xã hội, giáo dục, y tế có thể tìm hiểu thêm thông tin tại đây.

P.T

Toàn cầu hóa (Globalization)

 

Print Friendly, PDF & Email

globalization-edudemic

Tác giả: Lê Hồng Hiệp

Xuất hiện từ những năm 1960, “toàn cầu hóa” đã trở thành một trong những khái niệm được sử dụng rộng rãi nhất trong ngành khoa học xã hội đương đại và đồng thời là một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất. Toàn cầu hóa có thể hiểu là một hiện tượng gắn liền với sự gia tăng về số lượng cũng như cường độ của các cơ chế, tiến trình và hoạt động nhằm thúc đẩy gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên thế giới cũng như sự hội nhập kinh tế và chính trị ở cấp độ toàn cầu. Theo đó, toàn cầu hóa làm lu mờ các đường biên giới quốc gia, thu hẹp các khoảng không gian trên các khía cạnh đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của thế giới.

Quá trình toàn cầu hóa mang nhiều đặc điểm nổi bật chưa từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại và gắn liền với các thành tựu về khoa học kỹ thuật. Có thể kể tới năm đặc điểm nổi bật sau đây của quá trình toàn cầu hóa.

Thứ nhất, quá trình toàn cầu hóa liên quan tới sự xuất hiện và nhân rộng của một loạt các mạng lưới liên kết ở cấp độ toàn cầu, thách thức các đường biên giới địa lý, văn hóa, kinh tế, chính trị truyền thống. Ví dụ, sự xuất hiện của các kênh truyền hình tin tức vệ tinh dựa trên sự kết hợp của công nghệ báo chí và các tiến bộ khoa học kỹ thuật đã khiến cho thông tin được truyền tải trên phạm vi toàn cầu, vượt qua mọi khoảng cách địa lý với tốc độ gần như tức thì. Qua đó một sự kiện ở một quốc gia cụ thể có thể gây nên những tác động mạnh mẽ tới tình hình kinh tế – chính trị – xã hội của hàng trăm quốc gia trên khắp hành tinh. Việc di chuyển giữa các địa điểm trên toàn cầu cũng trở nên nhanh chóng và dễ dàng hơn. Ví dụ trong năm 2000 mỗi ngày trung bình có khoảng 3 triệu người di du lịch quốc tế và năm 2003 WTO ước tính rằng nền du lịch toàn cầu tạo nên doanh thu khoảng 693 tỉ USD. Chính vì vậy người ta ngày càng nói nhiều tới khái niệm “ngôi làng toàn cầu”, hay “nền kinh tế toàn cầu”, nơi mà các đường biên giới quốc gia đã dần bị lu mờ.

Thứ hai, các tiến bộ về thông tin liên lạc, giao thông vận tải và công nghệ sản xuất đã khiến cho dòng vốn đầu tư, hàng hóa, công nghệ và lực lượng lao động di chuyển dễ dàng hơn trên khắp thế giới. Các thị trường tài chính hiện đại cùng các giao dịch điện tử diễn ra suốt ngày đêm. Các trung tâm thương mại mọc lên khắp thế giới, cung cấp hàng hóa đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Đi cùng với đó là vai trò ngày càng gia tăng của các công ty đa quốc gia và các tổ chức quốc tế cũng như các tổ chức phi chính phủ. Tuy nhiên mặt trái của các tiến bộ khoa học công nghệ là việc chính các tiến bộ này cũng đã góp phần hình thành và tạo điều kiện hoạt động cho các tổ chức tội phạm và khủng bố, như các nhóm tin tặc quốc tế hay tổ chức khủng bố khét tiếng al-Qaeda.

Thứ ba, thông qua quá trình toàn cầu hóa, mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia cũng như người dân trên thế giới ngày càng gia tăng. Sự phụ thuộc lẫn nhau không chỉ diễn ra trên phương diện kinh tế – thương mại, mà còn xuất hiện ở những vấn đề khác như tình trạng ấm lên toàn cầu của trái đất, hay các làn sóng tội phạm và chủ nghĩa khủng bố xuyên quốc gia… Những vấn đề này đòi hỏi các quốc gia cần phải thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn bởi lẽ trong bối cảnh toàn cầu hóa, không một quốc gia nào có thể tránh được những tác động này, và càng không thể một mình giải quyết được những vấn đề đó.

Thứ tư, dường như toàn cầu hóa đang làm giảm dần các khác biệt về mặt văn hóa. Những bộ phim Hollywood giúp phổ biến các giá trị văn hóa đại chúng của Mỹ ra khắp thế giới. Thói quen tiêu dùng và sinh hoạt của người dân ở các quốc gia cũng dần bị biến đổi theo hướng đồng nhất. Tương tự, thông qua âm nhạc và điện ảnh, người dân thế giới ngày càng biết tới nhiều hơn các giá trị văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quá… của các quốc gia như Hàn Quốc hay Trung Quốc. Một mặt quá trình toàn cầu hóa về văn hóa này tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau lớn hơn giữa người dân thuộc nhiều quốc gia, nhiều nền văn hóa khác nhau. Mặt khác, trong một số trường hợp nó cũng tạo nên những phản ứng tiêu cực, như sự va chạm giữa các giá trị văn hóa đối lập, hay sự phản kháng đối với những giá trị văn hóa phương Tây, đặc biệt là ở các quốc gia Hồi giáo. Tương tự, toàn cầu hóa cũng đe dọa làm lu mờ bản sắc văn hóa của các quốc gia, vốn là những giá trị cần được duy trì nhằm bảo vệ sự đa dạng của nền văn hóa thế giới.

Cuối cùng, quá trình toàn cầu hóa khiến cho vai trò của các quốc gia với tư cách là các chủ thể chính của quan hệ quốc tế cũng trở nên bị suy giảm. Thực tế, toàn cầu hóa đã làm xói mòn chủ quyền của các quốc gia, vốn là nền tảng cho sự tồn tại của chúng. Điều này thể hiện rõ nhất trên lĩnh vực kinh tế. Ngày nay các quyết định kinh tế của các quốc gia không thể được đóng khung trong phạm vi biên giới lãnh thổ của quốc gia đó hay chỉ dựa vào nước điều kiện của quốc gia sở tại. Ngược lại, mọi quyết định kinh tế của mỗi chính phủ đều chịu sự điều chỉnh của những lực lượng trên thị trường toàn cầu, vốn nằm ngoài khả năng kiểm soát của các nhà nước. Mọi nỗ lực đi ngược lại sự điều chỉnh của những lực lượng này đều có thể dẫn tới nhiều hậu quả khác nhau, như sự dịch chuyển của vốn đầu tư ra nước ngoài, các rủi ro về thương mại hay tỉ giá hối đoái.

Từ những đặc điểm trên, có thể thấy rằng toàn cầu hóa là một hiện tượng có ý nghĩa cách mạng trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Quá trình này dẫn tới những biến đổi mạnh mẽ trong cấu trúc kinh tế – chính trị của quan hệ quốc tế, song song với những thay đổi về đời sống văn hóa-xã hội của người dân trên khắp toàn cầu. Tuy nhiên, đây không phải là một hiện tượng đơn nhất, bất biến mà là một quá trình phức tạp, đa phương diện, đa chiều hướng và luôn vận động, biến đổi.

Mặc dù vậy, toàn cầu hóa không phải là hiện tượng hoàn toàn mới mẻ. Nhiều người cho rằng toàn cầu hóa đã manh nha xuất hiện từ thưở bình minh của nền văn minh phương Tây. Có người gắn liền sự ra đời của toàn cầu hóa với làn sóng thực dân hóa đầu tiên của các cường quốc Châu Âu thế kỷ 15-16, hay sự xuất hiện của các công ty như Đông Ấn Hà Lan với những tuyến đường giao thương nối liền từ Âu sang Á. Cũng có người cho rằng toàn cầu hóa xuất hiện khi bức điện tín đầu tiên được truyền xuyên Đại Tây Dương lần đầu tiên vào giữa thế kỷ 19.

Mặc dù toàn cầu hóa có thể đã xuất hiện từ lâu, nhưng chỉ trong những thập kỷ qua toàn cầu hóa mới thực sự tạo nên sự khác biệt lớn trong nền kinh tế – chính trị toàn cầu khi diễn ra ở một tốc độ và cường độ chưa từng có tiền lệ. Sự tăng tốc và mở rộng mạnh mẽ của toàn cầu hóa trong những thập kỷ qua gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là trong lĩnh vực thông tin liên lạc, thể hiện tiêu biểu nhất ở vai trò của internet. Ngoài ra, chủ nghĩa tư bản tự do ngày càng mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình cũng đóng vai trò quan trọng khi các quốc gia chấp nhận hội nhập sâu hơn vào hệ thống kinh tế toàn cầu thông qua các hiệp định thương mại tự do. Đặc biệt, kể từ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, quá trình toàn cầu hóa càng có thêm điều kiện để tăng tốc khi thế giới không còn bị chia cắt thành những khối kinh tế – chính trị đối lập.

Mặc dù toàn cầu hóa mang lại những biến đổi mạnh mẽ trong hệ thống kinh tế chính trị toàn cầu, nhưng nhiều người cho rằng các tác động mà toàn cầu hóa mang lại không đồng nhất. Nhiều nhà chỉ trích cho rằng toàn cầu hóa làm sâu sắc thêm sự bất bình đằng toàn cầu, khiến các quốc gia phát triển ngày càng giàu thêm và các nước nghèo ngày càng nghèo đi. Trong nhiều trường hợp toàn cầu hóa được coi là một mỹ từ thay thế cho khái niệm bá quyền Mỹ hay sự lũng đoạn của các công ty đa quốc gia đối với nền kinh tế thế giới. Chính vì vậy trên thế giới đã xuất hiện nhiều phong trào chống toàn cầu hóa hay vai trò của các công ty đa quốc gia, với biểu hiện thường thấy nhất là các cuộc biểu tình bên lề các cuộc họp hay các cuộc đàm phán trong khuôn khổ WTO.

Tuy nhiên đối với nhiều người khác, toàn cầu hóa mang lại cơ may cho sự thịnh vượng và bình đẳng phát triển trên phạm vi toàn cầu thông qua sự mở rộng hệ thống chủ nghĩa tư bản tự do. Nhiều nhà hoạt động theo chủ nghĩa tự do cũng cho rằng toàn cầu hóa giúp thúc đẩy nhân quyền và hòa bình thế giới khi sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng và các lợi ích kinh tế thương mại mà toàn cầu hóa mang lại trở nên quá lớn so với những lợi ích mà chiến tranh có thể mang lại. Cũng chính vì vậy, đa số các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia trong Thế giới thứ ba, đang cố gắng tận dụng các lợi thế mà toàn cầu hóa mang lại và tránh bị gạt ra ngoài lề của tiến trình được coi là không thể đảo ngược này của lịch sử nhân loại.

Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).

[efb_likebox fanpage_url=”DAnghiencuuquocte” box_width=”420″ box_height=”” locale=”en_US” responsive=”0″ show_faces=”1″ show_stream=”0″ hide_cover=”0″ small_header=”0″ hide_cta=”0″ ]

Bản chất của toàn cầu hóa là

 

 

 

ID [692154]

Bản chất của toàn cầu hóa là

 

A. sự ảnh hưởng của các nước lớn đối với các nước khác.
B. sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng giữa các quốc gia dân tộc.
C. sự hình thành các tổ chức khu vực trên thế giới và sự gia tăng ảnh hưởng của các tổ chức này.
D. quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những ảnh hưởng tác động, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, dân tộc trên thế giới.

 

 

 

Ngô Đức Thịnh. Toàn cầu hoá văn hoá đa tuyến

 

1. Toàn cầu hóa và toàn cầu hóa văn hóa

Vấn đề toàn cầu hoá mà mội dung cơ bản của nó là toàn cầu hoá kinh tế là một điều hiển nhiên không phải bàn cãi và nhiều học giả đã đưa ra các quan niệm khác nhau. Chẳng hạn, theo Wikipedia: “Toàn cầu hoá là khái niệm về quá trình đa dạng, phức tạp của những thay đổi về kinh tế, xã hội, công nghệ và văn hoá, được xem như sự phụ thuộc lẫn nhau, sự hội nhập và tương tác ngày càng tăng giữa người dân và các doanh nghiệp ở những vị trí khá xa nhau trên thế giới”1. Hay một định nghĩa khác của Uỷ ban Châu Âu mang sắc thái kinh tế hơn: “Toàn cầu hoá là một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau do tính năng động của việc buôn bán hàng hoá và dịch vụ cũng như do tính năng động của sự lưu thông vốn tư bản và công nghệ”.

Theo quan niệm trình bày của Wikipedia, thì trong toàn cầu hoá, ngoài yếu tố kinh tế, xã hội, công nghệ thì có cả văn hoá nữa. Nói như thế cũng có nghĩa, văn hoá là một nhân tố hữu cơ cấu thành toàn cầu hoá. Tuy nhiên ngày nay, ngoài khái niệm về toàn cầu hoá nói chung, mà thực chất đó là toàn cầu hoá về kinh tế thì có toàn cầu hoá văn hoá. Nếu như toàn cầu hoá về kinh tế là điều hiển nhiên, được nhiều người thừa nhận thì khái niệm toàn cầu hoá văn hoá đang còn có nhiều ý kiến khác nhau. Nếu một phía thừa nhận có toàn cầu hoá văn hoá, thì không ít người phủ nhận sự tồn tại của toàn cầu hoá văn hoá. Đấy là chưa kể người ta bàn bạc nhiều đến tác hại của toàn cầu hoá văn hoá, phải chăng nó sẽ làm mất đi tính đa dạng, làm thui chột bản sắc, tính đặc thù văn hoá của các quốc gia, các dân tộc.

Như vậy là trên phương diện lý luận, có cái gọi là toàn cầu hoá nói chung, trong đó có văn hoá, như là Wikipedia quan niệm hay là có một thứ toàn cầu hoá văn hoá bên cạnh toàn cầu hoá kinh tế? Theo chúng tôi, không thể phủ nhận yếu tố văn hoá trong khái niệm toàn cầu hoá kinh tế, tất nhiên trong đó yếu tố động lực và chủ đạo là kinh tế và công nghệ. Tuy nhiên, do tính đặc thù và tính độc lập tương đối của văn hoá, nên cùng với quá trình hình thành và phát triển của toàn cầu hoá kinh tế thì vẫn có quá trình toàn cầu hoá văn hoá. Toàn cầu hoá văn hoá diễn ra gần song song với toàn cầu hoá nói chung, trên cơ sở sự tăng cường toàn cầu hoá về kinh tế, trên cơ sở tăng cường mạnh mẽ của các thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là giao thông và viễn thông, sự tăng cường giao lưu ảnh hưởng và xích lại gần nhau giữa các dân tộc, các quốc gia, khiến văn hoá các dân tộc có nhiều cơ hội giao lưu ảnh hưởng, cọ sát, học hỏi, chia sẻ lẫn nhau. Trong quá trình như vậy, một mặt văn hoá các dân tộc vừa phong phú, đa dạng hơn, mặt khác cũng không loại trừ sự mất mát, thui chột của các nền văn hoá, các yếu tố văn hoá đã lỗi thời, không còn sức sống cạnh tranh.

Như vậy, cũng như toàn cầu hoá nói chung, mà cốt lõi của nó là toàn cầu hoá kinh tế, thì toàn cầu hoá văn hoá cũng là điều hiện hữu. Vấn đề chỉ còn là toàn cầu hoá văn hoá như thế nào, theo kiểu nào, mức độ nào mà thôi?

2. Từ “khu vực hoá” đến “quốc tế hoá” và toàn cầu hoá

Hiện tại cũng đang có những quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa “khu vực hoá”, “quốc tế hoá” với toàn cầu hoá. Một số nhà nghiên cứu, điển hình là Thomas L. Friedman, cho rằng toàn cầu hoá chia thành ba thời kỳ: toàn cầu hoá 1.0 từ 1492, khi Côlômbô tìm ra Châu Mỹ, toàn cầu hoá 2.0 gắn với cách mạng công nghiệp và toàn cầu hoá 3.0, từ 2000 đến nay3. Có người còn đẩy lùi toàn cầu hoá sớm hơn 100 bằng việc hình thành con đường tơ lụa giữa phương Đông và phương Tây trên bộ và trên biển4.

Theo chúng tôi, giữa “khu vực hoá”, “quốc tế hoá” và toàn cầu hoá tuy có mối quan hệ gắn kết, nhưng giữa chúng cũng có sự khác nhau. Nhìn toàn cầu hoá với tư cách là một quá trình lâu dài như vậy, cũng có nghĩa trong nó đã bao gồm cả quá trình khu vực hoá và quốc tế hoá, coi khu vực hoá và quốc tế hoá là giai đoạn mở đầu, giai đoạn phát triển thấp của quá trình toàn cầu hoá. Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng, giữa chúng cũng có sự khác biệt về chất, nhất là giữa khu vực hoá và quốc tế hoá với toàn cầu hoá. Trong đó toàn cầu hoá không chỉ là quá trình lôi cuốn cả nhân loại, hành tinh vào quá trình liên hệ và giao lưu mạnh mẽ, mà còn là quá trình phát triển về chất, đặc biệt là sự hình thành của các tập đoàn kinh tế khổng lồ xuyên quốc gia, xuyên đại lục và ngày càng có vai trò chi phối kinh tế quốc tế. Nó chính là sản phẩm của nhân loại bước vào giai đoạn hiện đại hoá và hậu hiện đại.

Như vậy, dù quan niệm toàn cầu hoá theo ý nghĩa như thế nào thì bản chất của toàn cầu hoá là một quá trình phát triển mang trong nó bản chất của việc xây dựng xã hội hiện đại hoá hay hậu hiện đại. Do vậy, khi xem xét toàn cầu hoá như là một xu hướng phát triển thì không thể không quan tâm tới thực chất của xã hội hiện đại và hậu hiện đại.

3. Hiện đại hoá là gì ? Từ hiện đại hoá đơn tuyến đến hiện đại hoá đa tuyến

Đúng như nhận xét của M. Knauft trong công trình Critically Modern5 đã quan niệm hiện đại hoá và tính hiện đại là “Những ý tưởng, các thiết chế gắn liền với sự tiến bộ và phát triển theo lối phương Tây”. Người ta cho rằng, lúc đầu khái niệm “hiện đại” như một thứ “mốt”, để chỉ khát vọng để trở nên “thời thượng”, “cập nhật”, khiến cho một số cộng đồng sẵn sàng từ bỏ các giá trị truyền thống của họ, mà trong quan niệm, những cái đó đối lập với cái gọi là “truyền thống”, để được xếp, hay tự mình xếp vào hạng dân “hiện đại”. Cũng có bộ phận cư dân bị lôi kéo vào quá trình “hiện đại hoá” một cách không tự nguyện, thông qua các dự án phát triển do các tổ chức quốc tế hay các công ty xuyên quốc gia tài trợ, do sức hấp dẫn của chủ nghĩa tiêu thụ. Về sau, quá trình hiện đại hoá gắn liền với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, với chủ nghĩa cá nhân, sự thành đạt và lối suy nghĩ theo kiểu duy lý Phương tây tư bản chủ nghĩa. Và cũng giống như quan niệm phát triển, “hiện đại hoá”, “tính hiện đại” (Modernity, dùng theo số ít) hàm chứa nội dung “vật chất”, “kỹ thuật” và “kinh tế”, gắn với thiết chế xã hội mang nặng tính quan liêu. Kết quả của quá trình này là các nước càng hiện đại hoá, xã hội càng mang tính hiện đại bao nhiêu thì lại càng phụ thuộc vào các nước công nghiệp hiện đại Âu – Mỹ bấy nhiêu.

Trong xu hướng hiện đại hoá theo mô hình “kinh tế”, “kỹ thuật” phương Tây như vậy, thì về phương diện quan niệm, người ta thường đối lập giữa “cái truyền thống” với “cái hiện đại”, khiến cho quá trình phát triển của một xã hội là sự lựa chọn giữa truyền thống hay hiện đại. Cũng không ít trường hợp như ở nước ta, trong quan niệm xã hội có sự đồng nhất “hiện đại hoá” với “phương Tây hoá”.

Từ thập kỷ 80 – 90 thế kỷ XX trở đi, người ta đã nhìn nhận lại quan niệm “hiện đại hoá”, “tính hiện đại” ít nhất trên hai phương diện. Thứ nhất, quá trình hiện đại hoá hay “tính hiện đại” của một xã hội không chỉ hạn hẹp trên bình diện kinh tế, kỹ thuật hay nặng về kinh tế, kỹ thuật, mà nó còn bao gồm cả khía cạnh con người, xã hội và văn hoá, tức là khía cạnh chủ thể của quá trình hiện đại hoá. Đó là ai thực hiện quá trình hiện đại hoá và hiện đại hoá cho ai? Từ đó cũng dẫn đến phương diện thứ hai, đó là có nhiều quá trình hiện đại hoá, có nhiều tính hiện đại (modernities, dùng theo số nhiều) chứ không phải chỉ có một mô hình hiện đại hoá, chỉ có một tính hiện đại theo mô thức phương Tây. Cùng với nó, trên bình diện quan niệm, truyền thống và hiện đại hay “tính truyền thống” và “tính hiện đại” không phải là các thực thể tách rời, mà nó quyện lẫn vào nhau và thể hiện trong mỗi hiện tượng xã hội, văn hoá đương đại.

Trong sự thay đổi mang tính bước ngoặt ấy của quan niệm “hiện đại hoá” và “tính hiện đại”, chúng ta thấy dần hiện lên cái nền tảng văn hoá của hiện đại hoá, của tính hiện đại. Từ chỗ coi quá trình “hiện đại hoá” mang nặng tính khách thể, tức coi trọng khía cạnh phương tiện vật chất, kỹ thuật và kinh tế, mà thường là xuất phát từ mô thức phương Tây tư bản chủ nghĩa, nhiều khi mang tính áp đặt, “đồng hoá cưỡng bức”, người ta càng ngày càng nhận rõ vai trò của chủ thể của hiện đại hoá, đó là vai trò của con người, của xã hội, mà con người và xã hội ở đây không phải là con người và xã hội chung chung, mà là con người và xã hội thuộc về các dân tộc, các quốc gia, các địa phương với các truyền thống, các điểm mạnh và yếu khác nhau. Chính xuất phát từ góc độ chủ thể hay nói cách khác, từ góc độ con người và văn hoá của hiện đại hoá mà mô hình và quá trình hiện đại hoá cũng mang tính đa dạng, cũng như tính hiện đại của một xã hội cũng mang tính đa dạng. Người ta đã dần chuyển khái niệm “hiện đại hoá”, “tính hiện đại” từ dạng số ít (Modernity) sang số nhiều (Modernities).

Từ việc phân tích các quá trình hiện đại hoá và tính hiện đại theo hướng đa dạng hoá, các nhà nghiên cứu cũng càng ngày càng nhận ra vai trò của những đặc thù dân tộc, quốc gia, đặc thù địa phương đối với sự phát triển nói chung và quá trình hiện đại hoá nói riêng. Thế giới trong thế kỷ XX đã chứng kiến hai xu hướng phát triển mang bản chất khác nhau, tuy nhiên có điểm chung là mang tính nhất loạt và áp đặt. Đó là xu hướng Phương tây hoá Tư bản chủ nghĩa đối với thế giới, thể hiện qua chủ nghĩa trung tâm châu Âu (Europcentrism) và chủ nghĩa tự do Mỹ. Một xu hướng khác của phong trào Cộng sản thế giới mang nặng tính nhất loạt, áp đặt, duy ý chí. Hai xu hướng này đều coi nhẹ tính đặc thù xã hội và văn hoá trong phát triển và hiện đại hoá, do vậy hiệu quả của quá trình này đều bị hạn chế, thậm chí thất bại.

Thực ra, trong phát triển nói chung và hiện đại hoá nói riêng, việc tìm ra xu hướng, quy luật là rất cần thiết, nó đảm bảo cho sự phát triển ấy hợp quy luật, không ra ngoài quỹ đạo sự phát triển nhân loại. Tuy nhiên, phát triển như thế nào, bằng cách nào thì lại phụ thuộc nhiều vào tính đặc thù của từng quốc gia, địa phương và dân tộc. Từ đó tất yếu dẫn đến nhiều mô hình phát triển, nhiều mô hình hiện đại hoá, phù hợp với đặc thù của từng nước, từng dân tộc, địa phương, khắc phục tình trạng đơn tuyến, nhất loạt và áp đặt như vừa qua6.

4. Từ hiện đại hoá đa tuyến đến toàn cầu hoá đa tuyến

Một thuộc tính cơ bản của văn hoá là nó có khả năng tự chia sẻ, học hỏi, giao lưu, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cộng đồng. Mỗi phát minh, sáng tạo vốn xuất phát từ một nơi, nhưng chúng nhanh chóng truyền bá, lan toả đến các vùng khác. Chính vì lẽ đó, giao lưu ảnh hưởng văn hoá từ xa xưa đã đóng vai trò là động lực thúc đẩy sự phát triển không chỉ của bản thân văn hoá mà còn cả xã hội nữa. Dân tộc, quốc gia nào đóng kín, biệt lập, chối từ giao lưu ảnh hưởng thì trước sau đều dẫn đến suy thoái, lạc hậu. Quá trình giao lưu ảnh hưởng đó phát triển dần dần trong phạm vi khu vực, rồi mở rộng ra giữa các khu vực và ngày nay, trong môi trường công nghiệp hoá, hiện đại hoá mạnh mẽ đã tạo cơ hội cho quá trình giao lưu ảnh hưởng văn hoá trên phạm vi toàn cầu. Đó là quy luật tất yếu không thể đảo ngược.

Cũng giống như làn sóng hiện đại hoá trước những năm 80 thế kỷ XX, đây là quá trình toàn cầu hoá đơn tuyến, mà không ít người đã bóc trần bộ mặt thật của xu hướng này là Mỹ hoá hay Âu – Mỹ hoá, một thứ “chủ nghĩa thực dân mới” của các nước giàu có muốn bóc lột, đồng hoá các nước kém phát triển hay đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ Latin nhằm biến các nước, các dân tộc này trở thành “cái sân sau”, thành khu vực chịu sự phụ thuộc vào các các quốc gia lớn Âu – Mỹ. Chính vì thấy được bộ mặt thật đó, nhiều phong trào đấu tranh phản đối toàn cầu hoá đã và đang nổ ra ở ngay trung tâm của các nước phát triển nhất, nơi đang đóng vai trò khống chế và lợi dụng quá trình toàn cầu hoá này.6

Ở đây nảy sinh một nghịch lý là, một bên, quá trình toàn cầu hoá là xu hướng tất yếu của con đường phát triển nhân loại, sẽ tạo cơ hội phát triển cho các quốc gia, dân tộc, còn bên kia là các nước tư bản, các tập đoàn xuyên quốc gia đang lợi dụng xu hướng toàn cầu hoá để làm giàu trên sự bóc lột các nước thế giới thứ ba kém phát triển. Trước nghịch lý đó, vấn đề không phải là chống lại toàn cầu hoá, mà là chống lại toàn cầu hoá đơn tuyến, tức quá trình Âu – Mỹ hoá thế giới. Muốn thế phải thực hiện toàn cầu hoá đa tuyến.

Vậy toàn cầu hoá đa tuyến là gì ? Đó là quá trình của những thay đổi kinh tế, xã hội, công nghệ và văn hoá diễn ra trong mối quan hệ đa chiều, hội nhập và tương tác lẫn nhau giữa các quốc gia, các dân tộc ở các vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giói, tạo nên động lực và thời cơ thúc đẩy sự phát triển của tất cả các nước và các dân tộc. Toàn cầu hoá đa tuyến còn là một cuộc đấu tranh giữa một bên là những kẻ, những thế lực lợi dụng toàn cầu hoá để mưu lợi riêng và bóc lột các dân tộc, còn bên là sự hội nhập, tương tác thực sự vì lợi ích của mỗi dân tộc và sự bình đẳng chung. Trên thực tế, sự hợp tác và đấu tranh đã và đang diễn ra trên mọi diễn đàn mang tính quốc tế, từ tổ chức cao nhất là Liên Hợp Quốc, UNESCO đến các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế, như WTO, WB, IMF, các khối nước EU, ASIAN…

Tất nhiên cuộc đấu tranh này không cân sức giữa các nước giàu Âu – Mỹ và các nước nghèo, tuy nhiên, nếu các tổ chức quốc tế xây dựng được các thể chế hợp lý thì sự bất bình đẳng cũng sẽ được khắc phục và cơ hội phát triển cũng sẽ đến với các nước đang và kém phát triển.

Tất nhiên, toàn cầu hoá văn hoá đa tuyến phụ thuộc nhiều vào toàn cầu hoá kinh tế, tuy nhiên, văn hoá vẫn có nét đặc thù và có con đường đi riêng của mình. Đó là quá trình giao lưu ảnh hưởng văn hoá mạnh mẽ giữa các dân tộc, các quốc gia trên cơ sở bảo tồn những bản sắc văn hoá riêng của mình. Toàn cầu hoá văn hoá đa tuyến thực chất là quá trình quốc tế hoá đời sống văn hoá các dân tộc và dân tộc hoá đời sống văn hoá quốc tế. Toàn cầu hoá văn hoá đa tuyến chống lại quá trình lợi dụng toàn cầu hoá để đồng hoá văn hoá thế giới của văn hoá Âu – Mỹ, nhất là văn hoá Mỹ, mà phải là quá trình giao lưu ảnh hưởng văn hoá đa phương, đa chiều, trong đó, một mặt, mỗi dân tộc tiếp thu đời sống văn hoá các nước, các dân tộc khác để làm giàu cho văn hoá của mình; và mặt khác, đóng góp những nét độc đáo văn hoá của mình vào kho tàng tài sản chung của nhân loại. Hai quá trình đó diễn ra song song và tương tác lẫn nhau, cái nọ làm tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của cái kia.

Lịch sử phát triển văn hoá nhân loại cho thấy, một khi xu hướng quốc tế hoá mạnh mẽ đe doạ sự mất còn của văn hoá dân tộc, thì đối trọng lại là quá trình gìn giữ bản sắc dân tộc một cách mạnh mẽ hơn. Với lại, văn hoá là quá trình phát triển không ngừng nghỉ, toàn cầu hoá có thể san bằng, làm mất đi nhiều nét đặc thù dân tộc, địa phương, nhưng trên cái nền chung mới sẽ nấy sinh tính đa dạng mới. Với văn hoá không bao giờ chỉ là cái đơn nhất, cái đồng nhất, mà mỗi quốc gia, dân tộc, địa phương sẽ biết làm giàu, làm đa dạng văn hoá của mình trên cái nền chung của nhân loại. Bởi vì suy cho cùng cái đa dạng mới là cái bản chất của văn hóa, còn văn hoá thì còn đa dạng, thế giới văn hoá không bao giờ là “thế giới phẳng”.

Văn hoá của mỗi dân tộc, quốc gia vừa rất đa dạng về màu sắc vừa nhiều tầng bậc. Thực tế cho thấy, hiện tượng toàn cầu hoá văn hoá hiện nay diễn ra trên một số lĩnh vực của đời sống, như hệ tư tưởng, đời sống tôn giáo, nhiều tôn giáo thế giới, như Kitô giáo (Tin lành, Công giáo), Phật giáo, đạo Hồi đều có xu hướng vươn lên thành tôn giáo mang tính toàn cầu. Đặc biệt, toàn cầu diễn ra sôi động trên các lĩnh vực truyền thông (báo chí, internet, truyền hình, phát thanh…), vui chơi giải trí (âm nhạc, thể thao, trò chơi…), du lịch, lối sống, phương tiện sống (ăn, mặc, ở, đi lại…).

Các tầng lớp văn hoá chịu ảnh hưởng toàn cầu hoá sớm nhất và mạnh mẽ nhất là văn hoá đại chúng, liên quan tới truyền thông, lối sống, vui chơi giải trí, du lịch, trò chơi, ẩm thực, ăn mặc…Như vậy là quá trình toàn cầu hoá văn hoá không phải là đều khắp, nhất loạt. Đấy là chưa kể, xu hướng toàn cầu hoá văn hoá lại được các khu vực, các quốc gia, dân tộc tuỳ theo truyền thống văn hoá của mình mà tiếp nhận toàn cầu hoá một cách khác nhau, thậm chí không loại trừ sự tẩy chay, chống lại toàn cầu hoá đã và đang diễn ra ở một số nơi, trong một số tầng lớp xã hội.

Con người là bình đẳng, các nền văn hoá là bình đẳng, không có văn hoá cao thấp, siêu đẳng hay thấp hèn, tuy nhiên, như đã từng diễn ra hàng mấy nghìn năm nay, các nền văn hoá trên hành tinh không phải bao giờ cũng đóng vai trò như nhau. Thời văn minh cổ đại và trung cổ, rõ ràng văn minh Hy La giữ vai trò chủ lưu trong sự phát triển văn minh Châu Âu, cũng như vậy, ở phương Đông, văn minh Âi Cập, Ấn Độ, Trung Hoa…cũng đã từng đóng vai trò như vậy trong văn minh các nước phương Đông. Ngày nay, với sự hình thành các nền văn minh hiện đại và hậu hiện đại, thì các trung tâm văn minh hiện đại như Tây Âu, Bắc Mỹ, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc đã và đang là các đa cực trong thế giới hiện đại và cũng đóng vai trò chủ lưu của quá trình toàn cầu hoá nói chung và toàn cầu hoá văn hoá nói riêng. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các trung tâm này có thể áp đặt lên toàn bộ thế giới các mô hình văn hoá của mình. Chính trên các dòng chủ lưu đó cùng với các phần còn lại của nhân loại sẽ tạo nên sự thống nhất và đa dạng mới của văn hoá toàn cầu hoá.

Việt Nam mới hội nhập với quốc tế từ những năm thập niên 90 tới nay, tuy nhiên, Việt Nam đã gia nhập vào quá trình “khu vực hoá”, “quốc tế hoá” từ rất lâu đời.

– Từ sau công nguyên, giống như nhiều quốc gia cổ đại ở Đông Nam Á, các quốc gia cổ đại nước ta (Văn Lang – Âu Lạc, Chămpa, Phù Nam) tham gia vào quá trình hội nhập khu vực, một bên với văn hoá Đông Á mà văn minh Trung Hoa là trung tâm, một bên là văn hoá Ấn Độ. Quá trình hội nhập khu vực này đã là nhân tố ngoại sinh rất quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các nền văn minh ở Việt Nam và Đông Nam Á.

– Từ thế kỷ XVI với quá trình bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây, hầu hết các quốc gia ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam đều trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, như Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Từ đây, về phương diện kinh tế, xã hội và văn hoá diễn ra quá trình giao lưu văn hoá Đông – Tây, một quá trình mang tính “quốc tế hoá” sâu sắc.. Với quá trình quốc tế hoá này, Việt Nam và các nước Đông Nam Á đã đi vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cùng với nó là sự thắng lợi của phong trào dân tộc, xây dựng các nhà nước dân tộc hiện đại. Việt Nam, giai đoạn từ 1945 đến 1975, với tư cách là thành viên của các nước trong phe XHCN thì quá trình quốc tế hoá tiếp tục diễn ra với tính chất và quy mô khác với giai đoạn trước.

Thông qua hai lần hội nhập khu vực và hội nhập quốc tế như vậy, con người và văn hoá Việt Nam, tuy trong một hoàn cảnh bất lợi, bị mất độc lập, nhưng đã chủ động hội nhập và tự cường nền văn hoá của mình, tôi luyện bản sắc và bản lĩnh văn hoá, để sau mỗi lần hội nhập, nền văn hoá Việt Nam không những không bị đồng hoá mà lại càng phong phú, giầu bản sắc hơn, từ đó mà vươn lên khôi phục lại nền độc lập của dân tộc mình.

Lần này, trong làn sóng toàn cầu hoá, dù có sự khác biệt về chất so với hai lần hội nhập khu vực và hội nhập quốc tế trước, nhưng bù lại Việt Nam là một quốc gia độc lập, có vị thế trên trường quốc tế, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng đất nước ta sẽ vững vàng và chủ động hội nhập trong xu hướng toàn cầu hoá và nền văn hoá Việt Nam sẽ phát triển và đậm đà bản sắc hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Wikipedia. Toàn cầu hoá.

2. Nguyễn Văn Dân. Những vấn đề của toàn cầu hoá kinh tế. Nxb. KHXH. H., 2001

3. Thomas L. Friedman. Thế giới phẳng. Nxb. Trẻ. 2007

4. Nguyễn Quang A. Việt Nam và toàn cầu hoá. Lao động cuối tuần, 10/12/20065.

5. M. Knauft. Critically Modern. University Prees, 2002.

6. Ngô Đức Thịnh. Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam. Nxb. KHXH. Hà Nội, 2004. Sắc thái văn hoá địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất nước. Nxb. KHXH. H., 1998. Vai trò của văn hoá địa phương với sự phát triển xã hội – “Văn hoá truyền thống các tỉnh bắc Trung Bộ”, Nxb. KHXH. H., 1997…

Nguồn: Hội thảo quốc tế VN học lần 3, ngày 4-7 tháng 12 năm 2008.

Toàn cầu hóa kinh tế – cách tiếp cận, cơ hội và thách thức

 

Tại sao lại nói “Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan”? Bởi động lực của
“toàn cầu hóa” là sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà lực lượng sản xuất
thì không ngừng lớn mạnh. Ðây là quy luật chung nhất cho mọi thời đại, mọi chế
độ xã hội. Sự lớn mạnh đó không chỉ theo cấp số cộng mà theo cấp số nhân. Cái
cấp số này lớn đến mức nào không chỉ tùy thuộc vào sự phát triển của khoa học –
công nghệ mà còn tùy thuộc vào cách tổ chức quan hệ sản xuất, nhưng càng về sau
cấp số này càng lớn.

Trong xã hội phong kiến, lực lượng sản xuất còn hết sức thấp kém, của cải làm
ra chưa đủ bảo đảm những nhu cầu tối thiểu của con người, các yếu tố của quá
trình tái sản xuất đóng khung sự vận động trong phạm vi cai quản của lãnh chúa
phong kiến theo kiểu “Nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Thị trường, do đó, cũng bị
vây chặn trong địa hạt của từng lãnh chúa.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra, lực lượng sản xuất phát
triển cao hơn, quan hệ sản xuất phong kiến không thể dung nạp nổi sự phát triển
của lực lượng sản xuất, các cuộc cách mạng tư sản đã quật đổ chế độ phong kiến.
Chủ nghĩa tư bản ra đời, trước hết ở châu Âu, đã phá bỏ các rào cản do các lãnh
chúa thiết lập và áp chế. Có thể nói công lao của chủ nghĩa tư bản, như một nấc
thang trong sự phát triển của xã hội loài người, là đã hình thành được thị
trường dân tộc.

Nhưng như trên đã nói, lực lượng sản xuất không ngừng phát triển, thị trường
dân tộc cũng đã không chứa nổi nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất. Và do
đó, nhà nước của giai cấp tư sản phát động cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa.
Xét cho cùng, các cuộc chiến tranh này cũng là để tìm kiếm thị trường: thị
trường nguyên liệu, thị trường sức lao động và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Cả
hai cuộc đại chiến thế giới 1914 – 1918 và 1939 – 1945 cũng là các cuộc chiến
tranh xâm chiếm và phân chia lại thị trường.

Ðến đầu thế kỷ 20, đặc biệt là sau cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười
vĩ đại và sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu tranh giải
phóng dân tộc có được điểm tựa lớn đã bùng lên và lan rộng ở châu Á, châu Phi
cuốn phăng chủ nghĩa thực dân cũ. Chủ nghĩa tư bản không thể chiếm giữ thị
trường bằng súng đạn mà bằng một biến thái khác là chủ nghĩa thực dân mới. Về
bản chất, đó cũng là một phương cách chiếm giữ thị trường bằng các thủ đoạn
khác.

Nhưng, độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia luôn là khát vọng mãnh liệt của
con người, khát vọng đó được hun đúc từ các yếu tố lịch sử và chiều sâu văn hóa.
Chủ nghĩa thực dân mới cũng không thể lừa mị được con người. Các biến thái theo
kiểu “tân cổ điển” này của chủ nghĩa đế quốc rốt cuộc cũng bị vạch trần. Bản đồ
chính trị thế giới từ nửa sau của thế kỷ 20 đã thay đổi sâu sắc. Trong khi đó,
những thành tựu của cuộc cách mạng kỹ thuật và công nghệ thông tin trong những
năm cuối của thế kỷ 20 đã làm tăng tốc sự phát triển của lực lượng sản xuất, đưa
loài người từ xã hội công nghiệp sang xã hội hậu công nghiệp và đang bước vào
ngưỡng cửa của xã hội thông tin, nền kinh tế tri thức. Chính sự phát triển mạnh
mẽ này, về khách quan, đặt ra yêu cầu mở rộng thị trường lên một tầm mức mới,
bằng những phương cách mới. Từ đó, xuất hiện cái mà chúng ta đang đề cập là
“Toàn cầu hóa kinh tế”. Có thể nói, Mác là người đầu tiên phát hiện ra quá trình
có tính khách quan này khi ông viết “Ðại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế
giới, thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương, dân tộc vẫn tự
cung  tự cấp, ta thấy phát triển những mối quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc
phổ biến của các dân tộc”(2).

2. Khi nói động lực bên trong của quá trình toàn cầu hóa là sự phát triển của
lực lượng sản xuất là nói đến “nội năng” của quá trình này. Chính cái “nội năng”
này thúc đẩy sự vận động, còn vận động theo hướng nào lại tùy thuộc vào chủ thể.
Bởi lẽ, nếu toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, nghĩa là có tính quy
luật thì quy luật đó là quy luật xã hội. Khác với quy luật  tự nhiên, các
quy luật  xã hội bao giờ cũng hoạt động dưới tác động của con người, của
chủ thể, mang đậm dấu ấn của con người, của chủ thể. Chính sự chiếm đoạt thị
trường theo phương thức thực dân (cũ và mới) kéo dài suốt từ đầu thế kỷ 17 đến
giữa thế kỷ 20 bắt nguồn từ yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất tư bản chủ
nghĩa và do chính quyền tư sản ở các nước tư bản công nghiệp phát động. Tiến
trình toàn cầu hóa hiện nay cũng do các nước tư bản phát triển – đằng sau nó là
các tập đoàn xuyên quốc gia – phát động, trước hết là vì lợi ích của các nước,
các tập đoàn này.

Chính vì thế, quá trình toàn cầu hóa hiện nay là “không đối xứng”. Sự “không
đối xứng” không chỉ ở các lĩnh vực mà quá trình này đặt ra và giải quyết. Trong
khi chú ý đến nội dung kinh tế, nó đã không quan tâm đầy đủ đến các vấn đề xã
hội, an sinh và môi trường. Không đối xứng còn thể hiện ở sự phân phối lợi ích
trong toàn cầu hóa là không cân bằng. Các nước công nghiệp phát triển được lợi
nhiều hơn, các nước đang phát triển và chậm phát triển chịu nhiều thua
thiệt(3).

Ở nước ta cũng đã có cuộc tranh luận giữa các nhà nghiên cứu, lý luận về tính
chất của toàn cầu hóa. Rằng toàn cầu hóa có định ngữ (tính từ) không? Toàn cầu
hóa đang diễn ra là thuộc phạm trù tư bản chủ nghĩa, là toàn cầu hóa tư bản chủ
nghĩa hay toàn cầu hóa kiểu gì? Giá trị của các cuộc tranh luận này có lẽ chủ
yếu không phải ở phương diện khoa học. Bởi, về mặt khoa học và nhận thức luận,
vấn đề đã được giải quyết khi chúng ta phân biệt sự vận động của quy luật tự
nhiên và quy luật xã hội và đã được giải quyết từ thời Mác. Ngay sau việc khẳng
định đại công nghiệp tạo ra thị trường thế giới, Mác đã chỉ ra rằng giai cấp tư
sản đang mưu toan “tạo ra cho nó một thế giới theo hình dạng của
nó”(4). Giá trị chủ yếu của các cuộc tranh luận này có lẽ chủ yếu là
để nhận diện rõ hơn mặt trái của toàn cầu hóa, tránh những hiểu biết phiến diện
và ngộ nhận sai lầm khi tham gia vào quá trình này.

Một câu hỏi tự nhiên được đặt ra là: Tại sao toàn cầu hóa hiện nay do các
nước tư bản phát triển phát động, trước hết vì lợi ích của các nước này lại “lôi
cuốn được ngày càng nhiều nước tham gia”, kể cả các nước đang phát triển và chậm
phát triển?

Trong thời đại ngày nay, khi mà các yếu tố của sản xuất đã được quốc tế hóa
một cách sâu sắc, không một quốc gia nào có thể đạt được tăng trưởng kinh tế với
tốc độ cao nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển nếu không tham gia vào quá trình
này, nhất là toàn cầu hóa luôn gắn với cải cách cơ cấu kinh tế của từng nước dẫn
đến sự chuyển dịch cơ cấu giữa các nước. Ðiều đó giải thích tại sao Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) – định chế cơ bản của toàn cầu hóa – bao gồm 148 nền
kinh tế thành viên, chiếm 97% GDP và 95% giá trị thương mại toàn cầu. Các nước
chưa phải là thành viên như Nga, Việt Nam, Ukraine, A-rập Xê-út… cũng đang
khẩn trương đàm phán để được gia nhập Tổ chức này.

Hơn nữa, quá trình toàn cầu hóa hiện nay là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu
tranh nhằm thiết lập một trật tự  kinh tế thế giới mới bảo đảm phân phối
lợi ích công bằng hơn, hợp lý hơn. Kết quả thế nào còn phụ thuộc vào tương quan
lực lượng giữa các nước, các nhóm nước. Chính vì vậy mà để có thể thành lập WTO,
các nước tham gia Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) đã mất tám
năm (từ 1986 đến 1994) với rất nhiều vòng đám phán. Và, khi tổ chức này phát
động vòng đám phán mới tại Doha, thủ đô Qatar, về mở cửa thị trường sâu rộng
hơn, với tên gọi “Vòng Doha vì sự phát triển” thì mục tiêu ban đầu đặt ra là sẽ
kết thúc đàm phán trong vòng bốn năm (vào cuối năm 2004). Nhưng, đến nay, thời
gian ấn định đã qua. Ba trong bốn “vấn đề Singapore”(5) mà các nước
công nghiệp phát triển áp đặt cho vòng đàm phán này hầu như đang bị gác lại,
nhiều vấn đề khác, trong đó có vấn đề thương mại hàng nông sản còn đang tranh
luận. Mặc dù, tại cuộc họp Ðại Hội đồng WTO tháng 7-2004 ở Geneva, các nước đã
thỏa thuận được khuôn khổ đàm phán. Nhưng, từ khuôn khổ này đến khi thỏa thuận
được các hiệp định mới còn phải mất thời gian. Những người lạc quan nhất cũng
cho rằng để kết thúc được vòng Doha có lẽ phải vào năm 2006, dài hơn thời gian
dự định ban đầu 1,5 lần. Ðưa ra các dẫn chứng trên đây để khẳng định rằng hội
nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Khuynh hướng phát
triển của toàn cầu hóa phụ thuộc vào sự hợp tác và đấu tranh này. Như vậy, cùng
với việc gia nhập Liên hiệp quốc, trở thành thành viên của WTO, các nước mới có
quyền có tiếng nói chính thức, thể hiện lập trường của mình về chương trình nghị
sự kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, cần nhận rõ là việc tham gia tiến trình toàn cầu
hóa, gia nhập WTO chỉ là điều kiện cần. Ðể có vị thế vững chắc trong hợp tác và
đấu tranh trên diễn đàn của Tổ chức Thương mại thế giới còn cần nhiều yếu tố hội
thành điều kiện đủ.

3. Do toàn cầu hóa là một quá trình chưa định hình, đang tiếp tục vận động
dưới tác động của các mâu thuẫn và sự đấu tranh giữa các lực lượng đứng sau các
mâu thuẫn ấy, khó có thể có được một định nghĩa chính xác, đầy đủ về toàn cầu
hóa. Vì vậy, cách tiếp cận thực tiễn hơn cả là xem xét các định chế của toàn cầu
hóa hiện nay – tức là xem xét các nội dung của toàn cầu hóa thể hiện trong các
Hiệp định của WTO về mở cửa thị trường. Theo đó, các nước tham gia vào tổ chức
này phải mở cửa thị trường nước mình cho các nước thành viên cả về thương mại
hàng hóa, thương mại dịch vụ và đầu tư.

Ðể mở cửa thị trường về thương mại hàng hóa các nước phải loại bỏ các hàng
rào phi quan thuế cản trở thương mại, phải giảm thuế nhập khẩu (mức độ và lộ
trình cắt giảm còn phụ thuộc vào kết quả đàm phán) để hàng hóa có thể lưu thông
tự do từ nước này sang nước khác không bị hạn chế.

Về dịch vụ, theo phân loại của WTO, dịch vụ bao gồm 11 ngành với 155 phân
ngành khác nhau, hiện đang chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong GDP toàn cầu và
bao quát các lĩnh vực của đời sống xã hội, phục vụ trực tiếp cho sản xuất, tiêu
dùng.

Ðể mở cửa thị trường dịch vụ, mỗi nước phải chấp nhận để các nước thành viên
cung ứng dịch vụ cho pháp nhân và thể nhân nước mình theo các phương thức: (i)
Cung ứng qua biên giới: Theo đó, các thương nhân kinh doanh dịch vụ đăng ký kinh
doanh ở một nước thành viên có quyền cung ứng dịch vụ cho các pháp nhân và thể
nhân của các thành viên khác mà không cần lập hiện diện thương mại tại các thành
viên đó. Phương thức này ngày càng phát triển với sự phát triển của công nghệ
thông tin và internet. (ii) Tiêu dùng ngoài lãnh thổ: Theo đó, mỗi nước thành
viên phải để cho pháp nhân và thể nhân nước mình được sử dụng dịch vụ do các
thương nhân của các nước thành viên khác cung ứng ở ngoài lãnh thổ nước mình.
(iii) Hiện diện thương mại: Mỗi nước thành viên phải để cho thương nhân cung ứng
dịch vụ của các nước thành viên khác lập các công ty, chi nhánh công ty tại nước
mình để kinh doanh dịch vụ. (iv) Hiện diện thể nhân: Ðây vừa là phương thức hiện
diện thương mại, đồng thời là sự di chuyển thể nhân – về bản chất là để cho công
dân các nước thành viên vào hoạt động dịch vụ ở nước mình. Tuy nhiên, do phương
thức này tác động trực tiếp đến việc làm của từng nước, nên trong Vòng Uruguay –
Vòng đàm phán để thành lập WTO – các nước chưa đạt được thỏa thuận cụ thể. Trong
vòng đàm phán Doha hiện nay, một số nước đang yêu cầu đưa nội dung này vào cam
kết.

Mở cửa thị trường đầu tư: Yêu cầu đặt ra là các nước phải mở cửa thị trường
của nước mình cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước mình mà không hạn
chế lĩnh vực đầu tư, trừ những lĩnh vực có liên quan an ninh quốc gia, truyền
thống văn hóa của dân tộc. Tuy nhiên, nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát
triển, đều muốn xây dựng những ngành công nghiệp của chính mình. Nên trong vòng
đàm phán Uruguay, các nước mới chỉ đạt được thỏa thuận các vấn đề đầu tư có liên
quan thương mại (Hiệp định TRIMS). Mặc dù vậy, trên thực tế, các nước vẫn đang
tiếp tục cải cách thể chế kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư, tạo ra thị
trường cạnh tranh để thu hút đầu tư. Và, vấn đề mở cửa thị trường đầu tư sẽ còn
được đặt ra trong tiến trình toàn cầu hóa.

Khi mở cửa thị trường theo ba lĩnh vực nêu trên, mỗi thành viên của WTO phải
tuân thủ các nguyên tắc: (i) không phân biệt đối xử, gồm: Không phân biệt đối xử
giữa hàng hóa nước này với hàng hóa nước khác, giữa doanh nghiệp nước này với
các doanh nghiệp nước khác về các chính sách thuế, giá hàng hóa – dịch vụ và các
biện pháp tiếp cận thị trường (gọi là nguyên tắc đối xử tối huệ quốc – MFN).
Không phân biệt đối xử giữa hàng hóa nước mình với hàng hóa nước khác, giữa
doanh nghiệp nước mình với doanh nghiệp nước khác (gọi là nguyên tắc đối xử quốc
gia  – NT). (ii) Thực hiện minh bạch, công khai trong cơ chế chính sách để
mọi thương nhân, mọi người có quyền và cơ hội tiếp cận thông tin như nhau, tạo
ra điều kiện bình đẳng trong hoạt động kinh doanh. Minh bạch và công khai còn
được coi là tiền đề của chống tham nhũng. Vì, tham nhũng làm méo mó môi trường
kinh doanh, làm tăng chi phí, giảm hiệu quả và chất lượng tăng trưởng. Ðây là
vấn đề đang được các quốc gia, các định chế đa phương đưa vào chương trình nghị
sự “Thương mại và phát triển”. (iii) Thực hiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Không thể có môi trường cạnh tranh lành mạnh, khi doanh nghiệp đầu tư tiền của
cho phát minh, sáng chế, cải tiến mẫu mã, kiểu dáng, xây dựng thương hiệu sản
phẩm, v.v. lại bị doanh nghiệp khác đánh cắp và sử dụng. Nghĩa vụ bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ được quy định trong Hiệp định các vấn đề sở hữu trí tuệ liên quan
đến thương mại (TRIPS). (iv) Tuân thủ cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và sự
phán xử của cơ quan tài phán quốc tế do tổ chức này thiết lập.

Ngoài bốn nguyên tắc này, các nước thành viên còn phải tuân thủ hàng chục
Hiệp định khác của Tổ chức Thương mại thế giới.

Hội nhập kinh tế với các yêu cầu mở cửa thị trường nêu trên đặt ra một số hệ
luận trong tư duy chính sách và trong chiến lược phát triển. Trong đó có những
vấn đề phải được xem xét tường tận hơn, sâu hơn như: Thế nào là một nền kinh tế
độc lập, tự chủ; mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ về kinh tế và sự tùy thuộc lẫn
nhau ngày càng tăng lên trong thời đại toàn cầu hóa; hội nhập kinh tế và sự hợp
tác về an ninh, hợp tác về văn hóa… Ðây là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng
về phương diện chính trị thực tiễn mà trong phạm vi bài viết này chưa thể đề cập
đến.

4. Xem xét trên góc độ thương mại, thế giới đã chứng kiến hai mô hình công
nghiệp hóa: Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu và công nghiệp hóa hướng về xuất
khẩu.

Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đã rất thành công cho đến những thập kỷ
cuối của thế kỷ 20. Với hàng rào bảo hộ cao bằng thuế nhập khẩu và các biện pháp
phi quan thuế, các nước có thể bán sản phẩm trên thị trường nội địa mà không bị
áp lực cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu. Với thời gian, các doanh nghiệp có thể
cải tiến công nghệ sản xuất, hoàn thiện quá trình quản lý, tích tụ tư bản, v.v.
Từ đó, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tạo lập vị thế của doanh
nghiệp trên thị trường. Ðịnh hướng phát triển này luôn gắn với việc tạo ra một
thị trường cạnh tranh nội bộ thông qua việc phát triển khu vực kinh tế tư
nhân.

Khi thế giới bước sang thời kỳ quốc tế hóa nền sản xuất, tiến trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế giữa các quốc gia diễn ra với nhịp độ ngày càng cao đi đôi
với các cam kết mở cửa thị trường thì định hướng công nghiệp hóa thay thế nhập
khẩu không còn phát huy tác dụng như trong thời kỳ bảo hộ mậu dịch. Và vì vậy,
các nước đều chuyển sang thực thi chính sách công nghiệp hóa chủ yếu hướng về
xuất khẩu.

Trong những năm gần đây, khi toàn cầu hóa kinh tế trở thành xu thế khách
quan, nhiều khu vực mậu dịch tự do và các hiệp định mậu dịch tự do song phương
ra đời thì các khái niệm công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu, hoặc công nghiệp
hóa hướng về xuất khẩu không còn nguyên nghĩa ban đầu của nó. Bởi lẽ, với việc
giảm thuế nhập khẩu (tiến đến 0) và việc bãi bỏ các hàng rào phi thuế, hàng hóa
được lưu thông tự do, ranh giới giữa thị trường trong nưóc và thị trường ngoài
nước là không đáng kể, thậm chí không còn. Trong điều kiện đó, một ngành sản
xuất, một ngành dịch vụ chỉ có thể đứng vững và phát triển nếu có khả năng cạnh
tranh trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Chiến lược phát triển,
chủ trương đầu tư được xác định qua ba yếu tố: (i) Lợi thế so sánh. Lợi thế so
sánh là tiền đề để giảm chi phí sản xuất, lưu thông, là yếu tố tăng khả năng
cạnh tranh. Lợi thế so sánh có thể là giá trị công nghệ, là nguồn lao động dồi
dào với chất lượng cao và giá nhân công thấp, là tài nguyên thiên nhiên và vị
trí địa lý. Lợi thế so sánh là yếu tố động. Ngay cả tài nguyên thiên  nhiên
và vị trí địa lý, tưởng như là tĩnh, cũng thay đổi theo thời gian. Vì vậy, khi
tính toán lợi thế so sánh phải đặt trong việc tính toán tổng chi phí và trong
tầm nhìn dài hạn. (ii) Quy mô kinh tế: Công trình đầu tư phải đạt đến quy mô
kinh tế nào đó mới giảm thiểu được các chi phí cố định cho một đơn vị sản phẩm.
Ðiều này đặc biệt có ý nghĩa khi các thiết bị công nghệ hiện đại, trình độ tự
động hóa cao, sử dụng ít lao động nhưng giá bán lại rất đắt. Ðể đạt được quy mô
kinh tế, các công trình đầu tư sản xuất, chế biến phải đặt trong quy hoạch liên
vùng. (iii) Dung lượng thị trường. Yếu tố này cũng rất quan trọng, nhưng ít được
nói đến. Nhu cầu của con người trong tính đa dạng, phong phú có thể coi là vô
cùng, nhưng trong tính đơn nhất lại có giới hạn. Vì vậy, khi đầu tư phải xem xét
dung lượng thị trường của sản phẩm, phải dự báo được nhu cầu và sự thay đổi nhu
cầu. Nếu dung lượng thị trường bị giới hạn, dù sản phẩm có khả năng cạnh tranh
vẫn khó có khả năng mở rộng, vì sẽ có nguy cơ bị áp đặt các biện pháp chống bán
phá giá, hoặc các biện pháp tự vệ. Khi tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường còn nhỏ nhưng
dung lượng thị trường còn lớn và tốc độ chiếm lĩnh thị trường đang tăng lên, tức
là sản phẩm có khả năng cạnh tranh, có thể mở rộng sản xuất.

5. Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những cơ hội mới và những thách thức mới.
Những cơ hội là: Có một thị trường rộng lớn để có thể tiêu thụ sản phẩm được sản
xuất ra trong quá trình công nghiệp  hóa, hiện đại hóa; thu hút vốn đầu tư
từ các nhà đầu tư nước ngoài, các nguồn viện trợ phát triển của các nước và các
định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)…; có điều kiện tiếp nhận công nghệ
sản xuất và công nghệ quản lý thông qua các dự án đầu tư.

Cùng với cơ hội và đồng hành với cơ hội, nền kinh tế nước ta, các doanh
nghiệp nước ta cũng phải đối đầu với các thách thức lớn. Ðó là sự cạnh tranh
quyết liệt trên cả ba cấp độ do hàng rào bảo hộ bị dỡ bỏ, do phải thực hiện chế
độ đãi ngộ tối huệ quốc và đối xử quốc gia, nên các sản phẩm nước ta phải cạnh
tranh bình đẳng với các sản phẩm nước khác không chỉ trên thị trường thế giới mà
ngay cả trên thị trường nội địa. Ðiều đó không chỉ đòi hỏi bản thân sản phẩm
phải có chất lượng cao, giá thành hạ (điều này chủ yếu do công nghệ sản xuất,
công nghệ quản lý của doanh nghiệp quyết định), để sản phẩm đến được với người
tiêu dùng, doanh nghiệp còn phải có khả năng tổ chức thị trường, làm tốt các
dịch vụ sau bán hàng, xây dựng thương hiệu. Bằng cách đó, doanh nghiệp đưa sản
phẩm đến người tiêu dùng và mở rộng kinh doanh. Và như vậy, cạnh tranh không chỉ
ở cấp độ sản phẩm mà là ở cấp độ doanh nghiệp. Chưa hết! Là đơn vị kinh tế cơ
sở, hoạt động của doanh nghiệp tuy phản ánh tất cả, nhưng tự nó không quyết định
tất cả. Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chi phí
“đầu vào” mà doanh nghiệp khác đặt ra cho nó, phụ thuộc vào các cơ chế chính
sách vĩ mô, vào các dịch vụ công mà Nhà nước cung ứng. Tất cả những yếu tố này
tạo nên chi phí giao dịch xã hội của doanh nghiệp. Chi phí giao dịch xã hội càng
lớn thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng nhỏ. Và vì vậy, sự cạnh tranh
được đặt ra trên cấp độ lớn hơn: Cạnh tranh tổng lực của nền kinh tế, sức cạnh
tranh quốc gia. Như vậy là: Hội nhập kinh tế quốc tế vừa có cơ hội, vừa có thách
thức. Thách thức là sức ép trực tiếp, còn cơ hội tự nó không chuyển thành lực
lượng vật chất trên thị trường mà phải thông qua hoạt động của chủ thể. Cơ hội
và thách thức cũng luôn vận động, biến đổi. Tận dụng được cơ hội sẽ đẩy lùi được
thách thức và tạo ra cơ hội mới lớn hơn. Ngược lại, không tận dụng được cơ hội
thì thách thức sẽ lấn át làm triệt tiêu cơ hội. Chính vì vậy mà vai trò “chủ
thể” của doanh nghiệp, của Nhà nước là rất quyết định. Doanh nghiệp là người
“xung trận”, là lực lượng trực tiếp đương đầu trong cạnh tranh. Nhưng, Nhà nước
phải là người mở đường.

Với nền kinh tế đã được toàn cầu hóa, sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia
ngày càng sâu, sự phối hợp giữa các nhà nước có vai trò ngày càng lớn, chức năng
của nhà nước trong quan hệ kinh tế đối ngoại ngày càng được tăng cường. Và, tôi
không nghĩ rằng công thức “thị trường tối đa – nhà nước tối thiểu” lại có thể
phản ánh đầy đủ mối quan hệ về chức năng giữa nhà nước và thị trường mà thực
chất là mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp – lực lượng “đứng sau” thị
trường và làm nên thị trường.

Bộ trưởng Thương mại TRƯƠNG ĐÌNH TUYỂN

…………………………

(1) Văn kiện Ðại hội Ðảng lần thứ IX, trang 64.

(2) C.Mác và F.Ăng-ghen toàn tập, Tập 4 – trang 602.

(3) Theo Oxfarm (tên một tổ chức phi chính phủ, thực hiện các dự án xóa giảm
đói nghèo): Các nước có thu nhập thấp chiếm đến 40% dân số thế giới, nhưng chỉ
chiếm 3% thương mại toàn cầu.

(4) Xem dẫn chiếu 2.

(5) 4 vấn đề Singapore gồm: Chính sách đầu tư, chính sách cạnh tranh, mua sắm
chính phủ và thuận lợi hóa thương mại. Trong vòng đàm phán Doha, 3 vấn đề đầu
hầu như đang bị gác lại vì rất khó đạt được thỏa thuận.

Leave your Comment