Tất đạt đa cồ đàm là gì 279

Mục lục

Nhận biết Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà

 

Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra đạo Phật. Theo các tài liệu lưu giữ đến nay thì Ngài được xác nhận là có thật trong lịch sử.

Là hoàng tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm của vương quốc Thích Ca – thuộc đất nước Ấn Độ ngày nay, Ngài sinh vào khoảng năm 624 TCN. Thái tử Tất Đạt Đa đã phát tâm rời khỏi hoàng cung, tu học Phật quả sau khi chứng kiến những cảnh khổ đau của những người già rồi bệnh tật, qua đời và lại thấy vẻ ung dung thanh thản của một vị tu sĩ lúc bấy giờ. Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ cõi Ta bà (đau khổ), là thế giới mà chúng ta đang sống.

Phật A Di Đà là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Phật giáo Đại thừa. Tên của Ngài nghĩa là Vô Lượng Thọ, có nghĩa là thọ mệnh vô lượng và Vô Lượng Quang, có nghĩa là ánh sáng vô lượng. Phật A Di Đà cai quản cõi Cực lạc (an vui) ở phương Tây. Ngài có nhân duyên hóa độ chúng sinh ở thế giới Ta bà này.

Để nhận biết Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà qua hình dáng tôn tượng, tranh thờ, trong bài viết này chúng tôi xin đưa ra một vài đặc điểm chính như sau:

Phật Thích Ca Mâu Ni:

Về hình dáng đặc trưng: Tóc có thể búi tó hoặc có các cụm xoắn ốc. Mặt Phật tròn, cằm vuông vức, nơi ấn đường (chỗ đầu hai lông mày giao nhau) có nốt ruồi đỏ. Tai dày, tròn, đầy đặn, thành quách phân minh, sắc trắng hơn mặt. Phật mặc áo cà sa hoặc áo choàng qua cổ màu vàng hoặc nâu, nếu có hở ngực thì trước ngực không có chữ Vạn. Phật có thể ngồi trên tòa sen, nhục kế trên đỉnh đầu, đôi mắt mở ba phần tư.

Về tư thế tay: Tay Phật có thể xếp ngay ngắn trên đùi, hai bàn tay bắt ấn thiền, ấn chuyển pháp luân (tay trái hướng vào thân, tay mặt hướng ra, trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau thành vòng tròn, hai vòng tròn đó chạm nhau) hoặc ấn kim cương hiệp chưởng (với đầu ngón tay của hai bàn tay chắp vào nhau, biểu hiện cho tín tâm bất động, vững chắc như kim cương)… Hoặc tay Ngài ở ấn xúc địa (tay trái hướng lên, đặt ngang bụng, tay mặt chỉ xuống, lưng tay mặt xoay tới trước, trên tay trái là một chiếc bát); Phật thủ ấn vo úy (tay mặt đặt ngang tầm vai, các ngón tay hướng về phía trước). Có thể Phật đang cầm một chiếc bát màu đen hoặc xanh đen, chứng tỏ là dấu hiệu của giáo chủ.

Về các nhân vật đi kèm: Phật Thích Ca Mầu Ni có thể được minh họa cùng hai vị tôn giả , đó là: Ca Diếp (vẻ mặ già, bên trái) và A Nan Đà (vẻ mặt trẻ, bên phải). Hai vị là hai đệ tử của Ngài khi còn ở trên thế gian.

Ngoài ra, có tôn tượng và tranh vẽ Phật Thích Ca sơ sinh với một tay chỉ thiên, một tay chỉ địa và Phật Thích Ca nhập diệt (nhập niết bàn) với tư thế nằm nghiêng mình sang phải.

Phật A Di Đà:

Về hình dáng đặc trưng: trên đầu Phật có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông, cứu độ, khoác trên người áo cà sa màu đỏ (tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây), áo có thể khoát vuông ở cổ, trước ngực có nhữ Vạn.

Về tư thế tay: Phật có thể trong tư thế đứng (gọi là Di Đà phóng quang), tay làm ấn giáo hóa (tay mặt đưa ngang vai, chỉ lên, tay trái đưa ngang bụng, chỉ xuống, hai lòng bàn tay hướng về phía trước, trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau làm thành vòng tròn). Phật cũng có thể ngồi kiết già trên tòa sen, tay bắt ấn thiền (tay để ngang bụng, lưng bàn tay phải nằm chồng lên lòng bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau). Có thể trên tay Phật giữ một cái bát, là dấu hiệu cho giáo chủ.

Ở tượng Phật A Di Đà có một dạng khác của ấn thiền là các ngón tay giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út của hai bàn tay nằm lên nhau, ngón cái và ngón trỏ mỗi tay tạo thành hai vòng tròn chạm nhau. Cho nên ấn này còn được gọi là Ấn thiền A Di Đà.

Về nhân vật đi kèm: Phật thường được minh họa cùng hai vị là: Bồ Tát Quán Thế Âm (bên trái, cầm cành dương liếu và bình cam lộ) và Bồ Tát Đại Thế Chí (bên phải, cầm bông sen xanh).

Tóm lại, sự khác biệt giữa hai tôn tượng, tranh thờ Phật Thích Ca và Phật A Di Đà qua một vài đặc điểm của biểu tướng sau:

Phật Thích Ca thường trong các chùa Phật giáo Bắc tông (Đại Thừa) đều thờ Ngài ở chính giữa chính điện. Nên gọi Ngài là đấng Trung Tôn, vì Ngài là vị Giáo chủ cõi Ta bà này.

Hình tượng Ngài không nhất thiết phải giống người Ấn Độ, vì theo quan niệm Phật giáo Bắc tông, nhất là Thiền tông cho rằng, mỗi người đều có ông Phật (Phật tính) nên người nước nào tạc tượng giống người nước đó. Từ nét mặt cho đến hình tướng. Nên hình tượng thờ trong các chùa không nhất thiết phải giống nhau. Đó là xét về đại thể, còn về chi tiết thì tương đối giống nhau.

Phật A Di Đà: thông thường có 2 tượng mà chúng ta thường thấy là tượng Ngài ngồi kiết già trên tòa sen và tượng Di Đà phóng quang. Tượng A Di Đà đứng có 2 vị theo bên cạnh là đại Bồ tát Quán Âm và Thế Chí (Tượng Tam Thánh).

Về tượng ngồi có sự khác biệt giữa hai tôn tượng như sau:

– Tượng Phật Thích Ca không bao giờ duỗi cánh tay.

– Tượng Phật Thích Ca thường đắp y choàng qua cổ không có đắp y khoát vuông để trống trước ngực có chữ Vạn. Ngược lại, tượng Phật A Di Đà có đôi khi được tạc Ngài ngồi tư thế kiết già và duỗi xòe bàn tay mặt. Y khoát cổ vuông và trước ngực có chữ Vạn. Đây là hai nét chính khác với tượng Phật Thích Ca.

"/

"/

"/

"/

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà lưu giữ tại BTLSQG.

Thanh Hiền (Phòng QLHV)

Vì sao Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lấy vợ, sinh con?

 

 

Một trong những điều “đặc biệt” xung quanh cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là trước khi chứng đắc thành chánh đẳng giác, khi đó Ngài là Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm đã cưới một người vợ xinh đẹp và có một con trai với bà, công chúa Da Du Đà La. Việc này hiểu như thế nào?

 

Kinh sách Phật giáo giải thích

Theo kinh sách Phật giáo, Da Du Đà La là người vợ trong nhiều kiếp của Thái tử Tất Đạt Đa. Vào thời Nhiên Đăng Cổ Phật, Đức Phật Thích Ca là một nhà tu khổ hạnh có tên là  Thiện Tuệ (Sumedha). Sau quãng thời gian dài nỗ lực tu hành, Bồ tát Thiện Tuệ được Phật Nhiên Đăng thọ ký cho thành Phật. Lúc ấy, công chúa Da Du Đà La là một thiếu nữ dòng quyền quý, tên là Sumita. Khi được biết rằng Phật Nhiên Đăng đã thọ ký cho Bồ tát Thiện Tuệ thành Phật, tên là Cồ Đàm, bộ tộc Thích Ca vào những kiếp sau, nàng Sumita bèn cắt tóc, phát nguyện sẽ làm thê tử của Cồ Đàm, để hết lòng giúp chồng chứng đắc Phật quả.

duc phat lay vo cong chua da du da la

Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (trước khi thành Phật) cưới Công chúa Da Du Đà La làm vợ

Chuyện kể rằng:

Cách đây 25 thế kỷ, lúc mới đản sinh, Thái tử Tất Đạt Đa đã hiển lộ những điều kỳ diệu hơn người. Có lời tiên tri rằng Thái tử có thể là một bậc Chuyển luân Thánh vương, nhưng nếu Ngài xuất gia sẽ thành đạo giải thoát và làm Thầy của tất cả chúng sinh.

Đức vua Tịnh Phạn (cha của Thái tử Tất Đạt Đa) lo sợ việc Ngài xuất gia sẽ khiến cho ngai vàng sau này không có người kế vị, nên vua cho xây lâu đài, cung điện, tuyển chọn mỹ nữ, và cưới công chúa Da Du Đà La cho Thái tử, để mong ràng buộc chàng bằng hạnh phúc ngũ dục của thế gian.

Nguyên Công chúa Da Du Đà La là con gái vua Thiện Giác nước Ba-la-nại. Công chúa Da Du Đà La là người xinh đẹp, dịu dàng, thông minh và đức hạnh. Nàng có mái tóc đen bóng mượt buông dài xuống tới chân. Vua Tịnh Phạn tin tưởng rằng vị công chúa đẹp tuyệt trần này sẽ khiến cho Thái tử lưu luyến và không thể nào rời bỏ hoàng cung.

Rồi sau đó không lâu, công chúa Da Du Đà La sinh hoàng nam La Hầu La, cuộc sống trong hoàng cung lúc nào cũng rộn rã tiếng cười. Riêng Thái tử Tất Đạt Đa thì niềm vui không trọn vẹn, bởi cái già, bệnh, chết, việc giết chóc lẫn nhau để giành lấy sự tồn sinh giả tạm của muôn loài mà Ngài chứng kiến tận mắt tại bốn cổng kinh thành đã khiến cho Ngài ưu tư suy nghĩ nhiều đêm.

Rồi với một quyết định đầy trí tuệ, Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm đã ra đi mắt không nhìn lại, bỏ hết sau lưng mọi lạc thú của trần gian, cùng người hầu Xa-nặc và chú ngựa Kiền Trắc. Thái tử dừng lại bên dòng sông A-nô-ma rồi tự cắt tóc xuất gia.

Nói về Da Du Đà La, từ khi Thái tử Tất Đạt Đa quyết chí ra đi cầu đạo, bà vẫn giữ được sự bình tĩnh trong nỗi đau trống vắng. Bà dành trọn tình thương yêu để chăm lo cho La Hầu La nhưng vẫn luôn nhớ đến Thái tử với một niềm hãnh diện. Bà thầm hiểu được chí nguyện cao cả của Thái tử, nên tự hứa với lòng là sẽ nuôi nấng con thật tốt, sống một đời mẫu mực để xứng đáng với chồng. Mặc dù vậy, với chút tâm niệm nhi nữ thường tình, đôi khi bà cũng không khỏi chạnh lòng khi nghĩ tới đời sổng khổ hạnh của Thái tử nơi núi rừng hoang vắng, nóng lạnh đói khát không người chăm sóc.

Ngày tháng trôi qua, từ khi Thái tử xuất gia tầm đạo đã hơn sáu năm, nơi hoàng cung công chúa Da Du Đà La cũng tự nguyện sống đời giản dị, không xa hoa lộng lẫy, không cài trâm chuỗi ngọc, không lụa là trang sức điểm tô, theo nếp sống trai giới, giữ gìn Phạm hạnh.

Khi vua Tịnh Phạn biết con mình đã thành Phật thì phái hết người này đến người khác thỉnh Đức Thế Tôn trở về thành Ca-tỳ-la-vệ. Đức Phật chấp thuận và khi Ngài về tới nơi, tất cả mọi người ùa ra đường, hân hoan cung nghênh Ngài. Chỉ có công chúa Da Du Đà La ở lại trong phòng của mình. Nàng thầm nghĩ rằng: “Nếu ta còn chút đức hạnh nào thì chính Đức Phật sẽ tới nơi đây”.

Khi Đức Phật thọ thực xong, Ngài đi vào phòng của công chúa với hai đại đệ tử theo hầu. Ngài ngồi trên chiếc ghế kê sẵn và nói: “Hãy để công chúa đỉnh lễ ta theo như ý nàng muốn”. Công chúa Da Du Đà La tiến lên đến gần đức Phật, chụm hai chân, quỳ xuống đặt đầu lên chân Ngài mà khóc. Rồi vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ba Xà Ba Đề kể hết đức hạnh của con dâu cho Đức Phật nghe: “Khi nàng hay tin Thế Tôn đã đắp y vàng, nàng cũng đắp y vàng, Thế Tôn bỏ hết các vòng hoa và đồ trang sức, nàng cũng bỏ hết mọi thứ và chỉ nằm ngồi dưới đất. Khi Thế Tôn đã xuất gia, nàng liền trở thành cô phụ và từ chối mọi tặng vật mà các vương tử khác gửi đến nàng. Lòng nàng bao giờ cũng trung thành với Thế Tôn”.

Sau khi công chúa đỉnh lễ Ngài, Ngài đã thuyết giảng chuyện bản sinh Candakinnara để nói về mối liên hệ giữa Ngài và công chúa trong tiền kiếp. Ngài đã khen ngợi công chúa:

“Này Da Du Đà La! Không phải chỉ trong kiếp sống cuối cùng của Như Lai mà trong tiền kiếp, nàng đã bảo vệ, ngưỡng mộ và trung thành với Như Lai. Như Lai biết nàng đã rất vất vả. Sự hy sinh cao quý của nàng, Như Lai thấu hiểu, vậy nàng cũng nên hoan hỷ vì tất cả chúng sinh”.

Rồi Đức Phật thuyết pháp cho tất cả mọi người cùng nghe. Da Du Đà La nghe pháp và cũng khao khát được xuất gia như Phật.

Khi duyên lành đến, bà tìm đến tịnh xá thỉnh cầu Đức Thế Tôn cho được xuất gia. Và cuối cùng bà cũng được toại nguyện khi Đức Thế Tôn chấp thuận cho người nữ xuất gia theo sự khẩn cầu tha thiết của di mẫu Kiều Đàm Di. Trong hàng tín nữ, bà Da Du Đà La đứng đầu những vị đã chứng đắc đại thần thông (Maha Abhinna). Bà trụ thế 78 năm và đắc quả A-la-hán ngay trong một đời.

Trong Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa kinh phẩm Trì, Đức Phật huyền ký rằng ở đời sau trong pháp hội của trăm nghìn muôn ức đức Phật, Da Du Đà La sẽ thành Phật.

Kinh sách cũng nói rõ, trải qua vô lượng kiếp trước, dưới nhiều hình thức tái sinh, công chúa đã từng là thê tử của Đức Phật: từ đôi chim bồ câu, thiên nga hay quạ, cho đến đôi vợ chồng vương giả trong cung điện hay trên cõi Thiên…., bao giờ nàng cũng ở bên cạnh Đức Phật trong suốt cuộc sống ấy với đức tính thủy chung cao đẹp. Nàng đã thực hiện lời nguyện cao cả là hỗ trợ chồng trong mọi cảnh đời trên con đường tìm cầu chân lý qua mọi nẻo luân hồi. Tấm gương về đức hy sinh cao cả, lòng chung thủy và cảm thông sâu sắc của công chúa Da Du Đà La đáng để cho chúng ta noi theo. Vì hạnh phúc của nhân loại, bà đã không bám víu, theo đuổi hạnh phúc của riêng mình. Hơn thế nữa, khi được gặp Phật pháp, bà đã nhanh chóng tiếp nhận, nương theo sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn mà bỏ phàm làm thánh. Bà xứng đáng là bậc long tượng trong hàng ni giới!

Theo tư liệu của Bảo tháp Mandala Tây Thiên

Lý Hồng Chí và Pháp Luân Công xuyên tạc Đức Phật, Phật Giáo như thế nào? » CHÙA HÒA PHÚC

 

Sách “Pháp Luân Công” và “Chuyển Pháp Luân” của Lý Hồng Chí đã đề cập đến đức Phật Thích Ca Mâu Ni 75 lần, tác phẩm “Pháp Luân Đại Pháp Nghĩa Giải” của Lý Hồng Chí nói đến Phật Thích Ca Mâu Ni 32 lần, tác Phẩm Chuyển Pháp Luân Pháp Giải của Lý Hồng Chí nói đến Phật Thích Ca Mâu Ni 31 lần.

Rất nhiều kinh sách bài giảng khác của Pháp Luân Công và Lý Hồng Chí đều nói về Phật Thích Ca Mâu Ni… Chưa kể đến các trang của tổ chức Pháp Luân Công đã đề cập đến đức Phật Thích Ca Mâu Ni hàng trăm nghìn lần, riêng tìm kiếm tại trang minhui.org cho kết quả là 11700 kết quả các trang web lớn như Đại Kỷ Nguyên và khoảng 50 trang web tiếng Việt khác nữa thì đề cập đến Phật Thích Ca Mâu Ni cả trăm nghìn lần như vậy Pháp Luân Công và Lý Hồng Chí nói về Đức Phật và Phật giáo rất nhiều, họ nói những gì? Chúng ta cùng tìm hiểu sơ bộ qua bài này!

Tổ chức Pháp Luân Công cũng tuyên bố Pháp Luân Công không liên quan đến Phật Giáo. Tại sao kinh sách, pháp thoại của PLC luôn sử dụng các hình ảnh thuật ngữ, câu chuyện của Phật Giáo một cách tùy tiện? Tại sao hình ảnh Lý Hồng Chí được ghép vào hình tượng của đức Phật Thích Ca Mâu Ni? Trong khi ông Lý Hồng Chí có vợ con và hiện đang sống bên Mỹ?

Tổ chức Pháp Luân Công cũng tuyên bố Pháp Luân Công không liên quan đến Phật Giáo. Tại sao kinh sách, pháp thoại của PLC luôn sử dụng các hình ảnh thuật ngữ, câu chuyện của Phật Giáo một cách tùy tiện? Tại sao hình ảnh Lý Hồng Chí được ghép vào hình tượng của đức Phật Thích Ca Mâu Ni? Trong khi ông Lý Hồng Chí có vợ con và hiện đang sống bên Mỹ?

Mượn hình ảnh, giáo lý Phật giáo để hạ thấp Phật giáo

Hiện nay có khoảng hơn 50 trang web và vài trăm fanpage truyền bá Pháp Luân Công tại Việt Nam [1] và các trang này luôn đưa ra các câu truyện kinh sách của Phật Giáo, hình ảnh các vị Phật, cũng như các thuật ngữ của Phật Giáo như Pháp Luân, Pháp Thân, Chuyển Pháp Luân, Phật Pháp…..[2].  Nhiều người đã liên hệ đến Phatgiao.org.vn hỏi Pháp Luân Công có phải Phật Giáo không? Pháp Luân Công có phải là một trong tám vạn bốn nghìn pháp môn của Phật Giáo không? Qua điều tra chúng tôi cũng thấy rằng đã có rất nhiều Phật Tử đã bỏ Phật Giáo tham gia Pháp Luân Công vì họ cho rằng Pháp Luân Công là một Pháp môn của Phật Pháp.

Chúng tôi xin khẳng định rằng Pháp Luân Công không liên quan đến Phật Giáo. Tổ chức Pháp Luân Công cũng tuyên bố Pháp Luân Công không liên quan đến Phật Giáo. Vậy tại sao kinh sách, pháp thoại của PLC luôn sử dụng các hình ảnh thuật ngữ, câu chuyện của Phật Giáo một cách tùy tiện? Đặc biệt hình ảnh, giáo lý Phật giáo tràn ngập, phổ biến trong giáo lý, kinh sách, bài giảng của Lý Hồng Chí người sáng lập Pháp Luân Công, đây là những dấu hiệu bất thường cần làm rõ.

Trong giáo lý Phật giáo có bài kinh Chuyển Pháp Luân là bài giảng pháp đầu tiên mà Sa môn Tất-đạt-đa Cồ-đàm thuyết giảng cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển sau khi Ngài đắc đạo.

Trong giáo lý Phật giáo có bài kinh Chuyển Pháp Luân là bài giảng pháp đầu tiên mà Sa môn Tất-đạt-đa Cồ-đàm thuyết giảng cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển sau khi Ngài đắc đạo.

Chúng ta đều biết rằng đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập Phật Giáo, là biểu tượng của Phật Giáo. Trong giáo lý Phật giáo có bài kinh Chuyển Pháp Luân là bài giảng pháp đầu tiên mà Sa môn Tất-đạt-đa Cồ-đàm thuyết giảng cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển sau khi Ngài đắc đạo. Nội dung của Kinh Chuyển Pháp Luân có các điểm chính của Phật giáo, của Ðạo giải thoát, đó là Tứ diệu đế và Bát chánh đạo. Thế nhưng, Lý Hồng Chí đã “đạo” của kinh Phật, để tung ra cuốn Chuyển Pháp Luân của mình, nhập nhèm giữa hai cái tên để lôi kéo đánh lừa mọi người, xảy ra tình trạng cải đạo tinh vi.

Lý Hồng Chí đã

Lý Hồng Chí đã “đạo” của kinh Phật, để tung ra cuốn Chuyển Pháp Luân của mình, nhập nhèm giữa hai cái tên để lôi kéo đánh lừa mọi người, xảy ra tình trạng cải đạo tinh vi. (Nguồn: http://vi.falundafa.org/howtolearn.html)

Do vậy để tái khẳng định rằng Pháp Luân Công và Lý Hồng Chí đã đề cập đến Phật Giáo như thế nào? Chúng tôi khảo sát nhanh thấy tác phẩm “Pháp Luân Công” và “Chuyển Pháp Luân” của Lý Hồng Chí đã đề cập đến đức Phật Thích Ca Mâu Ni 75 lần (chú ý là Kinh Phật có kinh Chuyển Pháp Luân thì Lý Hồng Chí cũng viết sách Chuyển Pháp Luân tín đồ của giáo phái này cũng gọi là Kinh Chuyển Pháp Luân, Phật Pháp Vô Biên thì Lý Hồng Chí cũng gọi là Đại Pháp (Pháp Luân Công) Vô Biên…), tác phẩm “Pháp Luân Đại Pháp Nghĩa Giải” của Lý Hồng Chí nói đến Phật Thích Ca Mâu Ni 32 lần, tác Phẩm Chuyển Pháp Luân Pháp Giải của Lý Hồng Chí nói đến Phật Thích Ca Mâu Ni 31 lần…

Và còn nhiều kinh sách bài giảng khác của Pháp Luân Công và Lý Hồng Chí đều nói về Phật Thích Ca Mâu Ni….. Chưa kể đến các trang của tổ chức Pháp Luân Công đã đề cập đến đức Phật Thích Ca Mâu Ni hàng trăm nghìn lần, riêng tìm kiếm tại trang minhui.org cho kết quả là 11700 kết quả các trang web lớn như Đại Kỷ Nguyên và khoảng 50 trang web tiếng Việt khác nữa thì đề cập đến Phật Thích Ca Mâu Ni cả trăm nghìn lần.

Tiếp theo chúng ta tìm hiểu xem Lý Hồng Chí đề cập đến Phật Thích Ca Mâu Ni như nào?

Lý Hồng Chí khẳng định: “Trong quá khứ Như Lai là Phật tầng thấp nhất” (Lý Hồng Chí, Chuyển Pháp Luân Quyển II, Học vấn và tu luyện là khác nhau)

Chỗ khác Lý Hồng Chí khẳng định:

“Tầng thích Ca Mâu Ni là tầng Như Lai” (Lý Hồng Chí, Chuyển Pháp Luân, quyển I )

“Jesus cũng là [ở] tầng thứ Như Lai ấy; Lão Tử cũng vậy”  (Lý Hồng Chí Chuyển Pháp Luân quyển II  )

Ông Lý Hồng Chí viết “Nhưng mà đó chính là đạt tới mức độ như vậy, Phật, Như Lai vẫn còn chưa thấy bản nguyên, Như Lai cũng chưa thấy được vũ trụ cuối cùng to lớn nhường nào.” (Lý Hồng Chí, Chuyển Pháp Luân quyển II, Giảng Pháp ở Đại Dữ Sơn)

“Phật Như Lai giảng thoại ấy, là thể hiện của Phật tính, cũng xứng là biểu hiện của pháp, nhưng vẫn không phải pháp thực chất của vũ trụ, vì quá khứ quyết không cho phép con người biết được thể hiện chân thực của Phật pháp. Phật pháp là gì thì phải tu luyện lên cao tầng thì mới có thể ngộ ra được, thế nên lại càng không để con người biết được thực chất của tu luyện chân chính”. (Lý Hồng Chí, Pháp Luân Đại Pháp-Tinh tấn yếu chỉ, 8/10/1995)

Thái tử Tất-Đạt-Đa Cồ Đàm đạt tới giác ngộ( thành Phật Thích Cả Mâu Ni)

 

Đạt tới giác ngộ

Sau 6 năm tu khổ hạnh không đạt kết quả, Tất-đạt-đa quyết định ăn uống bình thường trở lại, đến Giác Thành. Ngài thường đến bờ sông Nairanjana (Ni-liên-thiền, hiện nay là sông Phalgu) ngồi thiền định trên bãi cát. Một hôm, có hai cô bé chăn bò tên Nanda và Bala đang dắt bò xuống sông tắm thì thấy Tất-đạt-đa đang ngồi thiền định, họ sanh lòng kính mến liền tự tay vắt lấy sữa bò, nấu chín rồi dâng lên. Tất-đạt-đa ăn xong cảm thấy thân thể khoẻ mạnh.

Ðến ngày thứ 49, Tất-đạt-đa ngồi thiền định dưới gốc cây cổ-thụ Ajapala (cách cây Bồ-đề độ 100m về hướng đông), sắp đi khất thực, thì có hai chị em nàng Sujata (Tu-Xà-Đề), con ông trưởng làng Senani, mang bát cháo sữa (kheer) đến cúng vị Thần gốc cây để tạ ơn. Khi thấy Tất-đạt-đa đang tĩnh tọa, hai nàng đặt bát cháo sữa bằng vàng trước mặt, cung kính đảnh lễ rồi ra về. Sau khi ăn xong bát cháo sữa, Tất-đạt-đa thấy cơ thể khoẻ mạnh lạ thường nên không đi khất thực mà xuống sông Nairanjana tắm, tâm trạng ngài vô cùng phấn chấn, cảm thấy sắp đạt thành tựu viên mãn.

Sau đó, ngài đi trở lên bờ, đến cội Bồ-đề ở Bồ Ðề Ðạo Tràng và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Trước khi ngồi, ngài thầm nghĩ làm thế nào có một tòa ngồi cho yên tĩnh, trang nghiêm. Bỗng thấy một em bé tên là Sotthiya Svastika (Cát-Tường) gánh cỏ đi ngang qua đó, ngài gọi lại hỏi xin một mớ cỏ để làm tòa ngồi. Em bé cung kính dâng ngài sáu bó cỏ sắc (kusha) mềm mại và có hương thơm. Ngài xấp cỏ thành tọa cụ và bồ-đoàn, ngồi kiết già, lưng thẳng đứng hướng về phía gốc cây, mặt hơi cúi xuống nhìn về hướng đông, phía bờ sông Nairanjana.

 height=
Tranh vẽ cảnh Ma vương Ba Tuần tìm cách ngăn chặn thái tử Tất-đạt-đa đạt tới giác ngộ

Đêm hôm đó, Ngài bắt đầu thực hành các pháp thiền định. Cuối cùng, ngài đạt tới Diệt-Thọ-Tưởng định (Nirodha-samapatti), tỏa ra uy năng chiếu khắp Tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới). Ma vương Ba Tuần (vua cõi trời Tha Hóa Tự Tại) không muốn ngài đắc đạo, đã quấy nhiễu bằng nhiều phương thức, nhưng cuối cùng đều thất bại. Ba cô con gái của Ma Vương tên là Tanhā (Ái Dục), Aratī (Bất Mãn) và Ragā (Tham Vọng) hóa ra ba nàng tiên tuyệt đẹp để quyến rũ, nhưng cũng chịu thất bại.

Sau khi hàng phục Ma Vương xong, Tất Đạt Đa tiếp-tục nhập Diệt-Thọ-Tưởng định và bắt đầu chứng đắc các đạo quả:

  • Tận diệt các vi-tế phiền-não (Kammavasa) còn ẩn náu trong tâm làm nghiệp nhân cho sanh tử luân hồi (Samsara). Ðến canh một đêm đó, ngài chứng Túc-Mạng-Minh (Pubbe-nivasanussati-nana), biết rõ tất cả các tiền kiếp của ngài (ở thời đại nào, tên gì, sanh trưởng thế nào, sinh sống ra sao, vui thích và đau khổ thế nào, tạo nghiệp gì, chết thế nào, rồi tái sinh thế nào…)
  • Tận diệt các vi-tế vô-minh (Avidyasava). Ðến canh ba, ngài chứng Thiên-Nhãn-Minh (Cutupapata-nana), biết rõ tất cả sự biến chuyển của vạn vật qua các giai-đoạn thành, trụ, hoại, không; và biết rõ tất cả chúng sanh (ở thời đại nào, tên gì, sanh trưởng thế nào, sinh sống ra sao, vui thích và đau khổ thế nào, tạo nghiệp gì, chết cách nào, rồi tái sinh thế nào…) Ngài biết rõ tất cả nhân duyên nghiệp báo của chúng sinh, từ đó suy ra luật Nhân-Quả và Luân-Hồi.
  • Tìm ra phương cách giúp chúng sinh chấm dứt phiền-não và vô-minh, đạt đến giác ngộ hoàn toàn, thoát ra khỏi vòng sanh-tử luân-hồi. Ðến canh năm, ngài chứng Lậu-Tận-Minh (Asavakkhaya-nana): Do đã biết rõ tất cả các tiền kiếp của chính bản thân mình và của mỗi chúng sinh, nên ngài nhận thấy rõ-ràng đâu là khổ, đâu là nguyên nhân của khổ, đâu là hạnh phúc chân-thật vĩnh-cửu và làm thế nào để đạt được nó. Ngài đã tìm ra Tứ-Diệu-Ðế (Khổ, Tập, Diệt, Ðạo).

 height=
Tranh vẽ cảnh thái tử Tất-đạt-đa đạt tới giác ngộ

Theo sử Phật giáo, đó là ngày mồng 8 tháng chạp âm lịch năm Nhâm Thân (đầu năm 589 trước công nguyên). Ở tuổi 35, Tất Đạt Đa đã đạt tới giác ngộ, trở thành Phật toàn giác, là bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (anuttara samma sambodhi), là đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni với Thập hiệu:

  1. Như Lai (tathāgata), là “Người đã đến như thế” hoặc “Người đã đến từ cõi Chân như”; tuệ giác của Đức Phật như Mặt Trời soi sáng khắp thế gian, xóa tan đêm tối vô minh.
  2. Ứng Cúng (arahant), dịch nghĩa là A La Hán, là “Người đáng được cúng dường”, đáng được tôn kính.
  3. Chính Biến Tri­ (samyaksaṃbuddha), dịch theo âm là Tam-miệu-tam-phật-đà, là “Người hiểu biết đúng tất cả các pháp”.
  4. Minh Hạnh Túc (vidyācaraṇasaṃpanna), nghĩa là “Người có đủ trí huệ và đức hạnh”, tức là có đầy đủ tam minh (Túc Mạng Minh, Thiên Nhãn Minh, Lậu Tận Minh) và ngũ hạnh (Thánh Hạnh, Phạm Hạnh, Thiên Hạnh, Anh Nhi Hạnh, Bệnh Hạnh).
  5. Thiện Thệ (sugata), là “Người đã đi một cách tốt đẹp”
  6. Thế Gian Giải (lokavid), là “Người đã thấu hiểu thế giới”
  7. Vô Thượng sĩ (anuttarapuruṣa), là “bậc tu hành tối cao, không ai vượt qua”
  8. Điều Ngự Trượng Phu (puruṣadamyasārathi), nghĩa là “Người đã chế ngự được bản ngã và nhân loại”, có khả năng điều phục những người hiền và ngự phục những kẻ ác theo về chính đạo.
  9. Thiên Nhân Sư (devamanuṣyānāṃ śāstṛ), là “Bậc thầy của cõi người và cõi trời”
  10. Phật Thế Tôn (buddhalokanātha, buddhalokajyeṣṭha, bhagavān), là “Bậc giác ngộ được thế gian tôn kính”

Từ thời điểm đó, Tất-đạt-đa biết mình là Phật, là một bậc Giác ngộ, và biết rằng mình sẽ không còn tái sinh một lần nào nữa. Kinh nghiệm giác ngộ của Phật được ghi lại như sau trong kinh sách theo chính lời của Tất-đạt-đa như sau.
Sưu tầm: Nguyễn The Minh

Những câu hỏi thú vị về Đức Phật – Ripa Việt Nam

 

Từ khi đức Phật đản sinh đến thành đạo

Thân thế của Đức Phật như thế nào?

Đức Phật Thích Ca Mâu xuất thân là một Thái tử, tên Tất-Đạt-Đa, dòng họ Cồ Đàm, Vương tộc Thích Ca, thuộc đẳng cấp Sát-đế-lợi, con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma-Da

Đức Phật đản sinh vào ngày?

Ngài sinh vào ngày rằm tháng tư năm 624 trước tây lịch (theo Nam tông); mùng tám tháng tư (theo Bắc tông) tại vườn Lâm-tỳ-ni, nước Ca-tỳ-la-vệ.

Hoàn cảnh của đức Phật trước khi xuất gia?

Bảy ngày sau khi Thái tử đản sanh, hoàng hậu Ma-Da từ trần. Khi lớn lên, Ngài đã có tư tưởng muốn thoát ly, tầm đạo nhưng theo lệnh vua cha, Ngài cưới công chúa Da-Du-Đà-La là con vua Thiện Giác ở nước Kosala. Thái tử và công chúa Da-Du-Đà-La có một người con trai là La-Hầu-La.

Nguyên nhân khiến đức Phật xuất gia tầm đạo?

Thái tử thấy bốn cảnh: Già, bệnh, chết và vị Tu Sĩ ở bốn cửa thành sau những lần đi dạo:

– Cửa thành phía Đông: Gặp một người già

– Cửa thành phía Nam: Gặp một người bệnh

– Cửa thành phía Tây: Gặp một người chết

– Cửa thành phía Bắc: Gặp một vị Tu sĩ, Ngài quyết định rời bỏ ngôi báu, cung điện, vợ con…, để lên đường tầm đạo.

Đức Phật yêu cầu Vua cha Tịnh Phạn bốn điều gì ?

– Làm sao cho con trẻ mãi không già.

– Làm sao cho con mạnh mãi không đau

– Làm sao cho con sống hoài không chết

– Làm sao cho mọi người hết khổ

Sự xuất gia của đức Phật diễn ra như thế nào?

– Vào lúc nửa đêm, Thái tử vào phòng từ giã vợ đẹp con ngoan.

– Ngài cùng Xa Nặc hướng về phía Đông vượt thành xuất gia.

– Vượt dòng sông A-Nô-Ma, Ngài tự cạo bỏ râu tóc và khoác áo Sa môn.

– Ngài xuất gia vào ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch.

Từ khi đức Phật thành đạo đến Niết Bàn

Quá trình năm năm tầm đạo của đức Phật?

– Tại Tỳ Xá Ly, Thái tử tham học với Đạo sư A-La-La. Ngài đã chứng thiền Vô Sở Hữu Xứ.

– Tại Vương Xá Thành, Thái tử tham học với Đạo sư Uất-Đầu-Lam-Phất. Ngài đã chứng quả vị Phi Tưởng phi Phi Tưởng Xứ.

Còn sáu năm tu khổ hạnh?

Có hai phương pháp khổ hạnh:

– Phương pháp hướng nội: Nghiến răng, chặn lưỡi trên nóc họng, kiềm hãm ý niệm bất thiện bằng ý niệm thiện.

– Phương pháp hướng ngoại: Chỉ đứng và ngồi chứ không nằm. Khi cần nằm thì nằm trên gai nhọn.

Mùa đông: Mặc toàn giẻ rách, vải lượm tử thi, rơm cỏ, da súc vật khô,…

Mùa hè: Ban ngày sống dưới ánh nắng mặt trời, ban đêm sống trong rừng rậm…

Phương pháp sống lúc này của đức Phật?

Nhận thấy hành khổ hạnh không kết quả, Ngài đã thọ dụng bát cháo sữa của cô bé Sujata, trở lại con đường trung đạo để tu hành.

Đức Phật có phương pháp Thiền định như nào?

Thái tử đã ngồi nhập định suốt 49 ngày đêm dưới cội Bồ-đề. Phương pháp hành thiền đưa đến giác ngộ gồm bốn giai đoạn nhập định là: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. Trong đêm thứ 49 Ngài chứng được Tam minh (tức là Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh). Lúc đó nhằm ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch, khi ấy Ngài 30 tuổi.

Người đệ tử đầu tiên của Đức Phật là ai?

Sau khi thành đạo người đầu tiên Đức Phật nghĩ đến để dạy đạo là hai vị thầy trước đây: A – La – La và Uất – Đầu – Lam – Phất. Nhưng họ đã chết.

Tiếp theo Ngài nghĩ đến năm người bạn đồng tu tại vườn Nai (Lộc Uyển). Mấy người bạn ấy là các ông: Kiều Trần Như, Ác Bệ Thập Lực, Ma Ha Nam và Bạc Đề. Năm vị này là đệ tử đầu tiên của Đức Phật.

Người đệ tử cuối cùng của đức Phật là ai?

Ông Phạm chí tên Tu Bạt Đà La đã 120 tuổi là người đệ tử cuối cùng của Đức Phật.

Có mấy hạng đệ tử của đức Phật?

Có bốn hạng đệ tử. Đó là:

– Tỳ Kheo

– Tỳ Kheo Ni

– Ưu Bà Tắc

– Ưu Bà Di

Người cúng dường sau cùng cho đức Phật là ai?

Ông Thuần Đà là người sau cùng dâng cúng dường Đức Phật một bát cháo nấm.

Bài Pháp đầu tiên mà đức Phật thuyết giảng là bài nào?

Bài Pháp đầu tiên của Đức Phật là Tứ Diệu Đế, thuyết cho năm người bạn đồng tu tại vườn Nai (Lộc Uyển). Tứ Diệu Đế: nhận định đời là khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường diệt khổ.

Bài pháp cuối cùng?

Bài thuyết Pháp cuối cùng của Đức Phật là bài Kinh Di Giáo.

Năm thời Kinh đức Phật thuyết giảng là gì?

– Kinh Hoa Nghiêm

– Kinh A Hàm

– Kinh Phương Đẳng

– Kinh Bát Nhã

– Kinh Pháp Hoa

Sự hóa độ của đức Phật bao gồm những gì?

– Hóa độ theo thứ lớp căn cơ

– Hóa độ tùy phương tiện

– Hóa độ theo tinh thần bình đẳng

Hình thành Tam Bảo được hình thành khi nào?

Tam Bảo được hình thành từ khi Đức Phật thuyết pháp và thâu nhận năm vị đệ tử đầu tiên tại Vườn Nai. Lúc bấy giờ có Phật, Pháp và Tăng.

Đức Phật nhập Niết Bàn khi nào?

Khi phước duyên hoàn mãn, Đức Phật đã 80 tuổi. Ngài quyết định nhập Niết Bàn tại rừng Sa-la ở xứ Câu –ly, cách thành Ba-la-nại chừng 120 dặm. Lúc ấy ngày rằm tháng hai âm lịch năm 544.

Nguồn: kimcuongthua.org

Chuyện tình duyên của Đức Phật

 

Kinh sách Phật giáo giải thích

Theo kinh sách Phật giáo, Da Du Đà La là người vợ trong nhiều kiếp của Thái tử Tất Đạt Đa. Vào thời Nhiên Đăng Cổ Phật, Đức Phật Thích Ca là một nhà tu khổ hạnh có tên là  Thiện Tuệ (Sumedha). Sau quãng thời gian dài nỗ lực tu hành, Bồ tát Thiện Tuệ được Phật Nhiên Đăng thọ ký cho thành Phật. Lúc ấy, công chúa Da Du Đà La là một thiếu nữ dòng quyền quý, tên là Sumita. Khi được biết rằng Phật Nhiên Đăng đã thọ ký cho Bồ tát Thiện Tuệ thành Phật, tên là Cồ Đàm, bộ tộc Thích Ca vào những kiếp sau, nàng Sumita bèn cắt tóc, phát nguyện sẽ làm thê tử của Cồ Đàm, để hết lòng giúp chồng chứng đắc Phật quả.

Chuyện kể rằng:

Cách đây 25 thế kỷ, lúc mới đản sinh, Thái tử Tất Đạt Đa đã hiển lộ những điều kỳ diệu hơn người. Có lời tiên tri rằng Thái tử có thể là một bậc Chuyển luân Thánh vương, nhưng nếu Ngài xuất gia sẽ thành đạo giải thoát và làm Thầy của tất cả chúng sinh.

Đức vua Tịnh Phạn (cha của Thái tử Tất Đạt Đa) lo sợ việc Ngài xuất gia sẽ khiến cho ngai vàng sau này không có người kế vị, nên vua cho xây lâu đài, cung điện, tuyển chọn mỹ nữ, và cưới công chúa Da Du Đà La cho Thái tử, để mong ràng buộc chàng bằng hạnh phúc ngũ dục của thế gian.

 class=

Nguyên Công chúa Da Du Đà La là con gái vua Thiện Giác nước Ba-la-nại. Công chúa Da Du Đà La là người xinh đẹp, dịu dàng, thông minh và đức hạnh. Nàng có mái tóc đen bóng mượt buông dài xuống tới chân. Vua Tịnh Phạn tin tưởng rằng vị công chúa đẹp tuyệt trần này sẽ khiến cho Thái tử lưu luyến và không thể nào rời bỏ hoàng cung.

Rồi sau đó không lâu, công chúa Da Du Đà La sinh hoàng nam La Hầu La, cuộc sống trong hoàng cung lúc nào cũng rộn rã tiếng cười. Riêng Thái tử Tất Đạt Đa thì niềm vui không trọn vẹn, bởi cái già, bệnh, chết, việc giết chóc lẫn nhau để giành lấy sự tồn sinh giả tạm của muôn loài mà Ngài chứng kiến tận mắt tại bốn cổng kinh thành đã khiến cho Ngài ưu tư suy nghĩ nhiều đêm.

Rồi với một quyết định đầy trí tuệ, Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm đã ra đi mắt không nhìn lại, bỏ hết sau lưng mọi lạc thú của trần gian, cùng người hầu Xa-nặc và chú ngựa Kiền Trắc. Thái tử dừng lại bên dòng sông A-nô-ma rồi tự cắt tóc xuất gia.

Nói về Da Du Đà La, từ khi Thái tử Tất Đạt Đa quyết chí ra đi cầu đạo, bà vẫn giữ được sự bình tĩnh trong nỗi đau trống vắng. Bà dành trọn tình thương yêu để chăm lo cho La Hầu La nhưng vẫn luôn nhớ đến Thái tử với một niềm hãnh diện. Bà thầm hiểu được chí nguyện cao cả của Thái tử, nên tự hứa với lòng là sẽ nuôi nấng con thật tốt, sống một đời mẫu mực để xứng đáng với chồng. Mặc dù vậy, với chút tâm niệm nhi nữ thường tình, đôi khi bà cũng không khỏi chạnh lòng khi nghĩ tới đời sổng khổ hạnh của Thái tử nơi núi rừng hoang vắng, nóng lạnh đói khát không người chăm sóc.

Ngày tháng trôi qua, từ khi Thái tử xuất gia tầm đạo đã hơn sáu năm, nơi hoàng cung công chúa Da Du Đà La cũng tự nguyện sống đời giản dị, không xa hoa lộng lẫy, không cài trâm chuỗi ngọc, không lụa là trang sức điểm tô, theo nếp sống trai giới, giữ gìn Phạm hạnh.

Khi vua Tịnh Phạn biết con mình đã thành Phật thì phái hết người này đến người khác thỉnh Đức Thế Tôn trở về thành Ca-tỳ-la-vệ. Đức Phật chấp thuận và khi Ngài về tới nơi, tất cả mọi người ùa ra đường, hân hoan cung nghênh Ngài. Chỉ có công chúa Da Du Đà La ở lại trong phòng của mình. Nàng thầm nghĩ rằng: “Nếu ta còn chút đức hạnh nào thì chính Đức Phật sẽ tới nơi đây”.

Khi Đức Phật thọ thực xong, Ngài đi vào phòng của công chúa với hai đại đệ tử theo hầu. Ngài ngồi trên chiếc ghế kê sẵn và nói: “Hãy để công chúa đỉnh lễ ta theo như ý nàng muốn”. Công chúa Da Du Đà La tiến lên đến gần đức Phật, chụm hai chân, quỳ xuống đặt đầu lên chân Ngài mà khóc. Rồi vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ba Xà Ba Đề kể hết đức hạnh của con dâu cho Đức Phật nghe: “Khi nàng hay tin Thế Tôn đã đắp y vàng, nàng cũng đắp y vàng, Thế Tôn bỏ hết các vòng hoa và đồ trang sức, nàng cũng bỏ hết mọi thứ và chỉ nằm ngồi dưới đất. Khi Thế Tôn đã xuất gia, nàng liền trở thành cô phụ và từ chối mọi tặng vật mà các vương tử khác gửi đến nàng. Lòng nàng bao giờ cũng trung thành với Thế Tôn”.

Sau khi công chúa đỉnh lễ Ngài, Ngài đã thuyết giảng chuyện bản sinh Candakinnara để nói về mối liên hệ giữa Ngài và công chúa trong tiền kiếp. Ngài đã khen ngợi công chúa:

“Này Da Du Đà La! Không phải chỉ trong kiếp sống cuối cùng của Như Lai mà trong tiền kiếp, nàng đã bảo vệ, ngưỡng mộ và trung thành với Như Lai. Như Lai biết nàng đã rất vất vả. Sự hy sinh cao quý của nàng, Như Lai thấu hiểu, vậy nàng cũng nên hoan hỷ vì tất cả chúng sinh”.

Rồi Đức Phật thuyết pháp cho tất cả mọi người cùng nghe. Da Du Đà La nghe pháp và cũng khao khát được xuất gia như Phật.

Khi duyên lành đến, bà tìm đến tịnh xá thỉnh cầu Đức Thế Tôn cho được xuất gia. Và cuối cùng bà cũng được toại nguyện khi Đức Thế Tôn chấp thuận cho người nữ xuất gia theo sự khẩn cầu tha thiết của di mẫu Kiều Đàm Di. Trong hàng tín nữ, bà Da Du Đà La đứng đầu những vị đã chứng đắc đại thần thông (Maha Abhinna). Bà trụ thế 78 năm và đắc quả A-la-hán ngay trong một đời.

Trong Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa kinh phẩm Trì, Đức Phật huyền ký rằng ở đời sau trong pháp hội của trăm nghìn muôn ức đức Phật, Da Du Đà La sẽ thành Phật.

Kinh sách cũng nói rõ, trải qua vô lượng kiếp trước, dưới nhiều hình thức tái sinh, công chúa đã từng là thê tử của Đức Phật: từ đôi chim bồ câu, thiên nga hay quạ, cho đến đôi vợ chồng vương giả trong cung điện hay trên cõi Thiên…., bao giờ nàng cũng ở bên cạnh Đức Phật trong suốt cuộc sống ấy với đức tính thủy chung cao đẹp. Nàng đã thực hiện lời nguyện cao cả là hỗ trợ chồng trong mọi cảnh đời trên con đường tìm cầu chân lý qua mọi nẻo luân hồi. Tấm gương về đức hy sinh cao cả, lòng chung thủy và cảm thông sâu sắc của công chúa Da Du Đà La đáng để cho chúng ta noi theo. Vì hạnh phúc của nhân loại, bà đã không bám víu, theo đuổi hạnh phúc của riêng mình. Hơn thế nữa, khi được gặp Phật pháp, bà đã nhanh chóng tiếp nhận, nương theo sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn mà bỏ phàm làm thánh. Bà xứng đáng là bậc long tượng trong hàng ni giới!

Vương Tuệ Đức

Tôi sanh ra và lớn lên trong gia đình theo nghiệp Y, thuở thiếu sinh đã mê đọc Ngũ kinh, thích lân la các hội quán để hàn huyên học hỏi. Năm giải phóng, tôi rời xa quê hương mang theo biết bao ký ức và tri thức xưa. Mong còn chút kiến thức đọng lại, hi vọng hữu ích với bạn đọc.

Cây của Phật Tổ vẫn sống sau 2.500 năm

 

Người sáng lập Phật giáo đã giác ngộ dưới một cây bồ đề tại Ấn Độ cách đây 25 thế kỷ và ngày nay cây bồ đề vẫn sống.

Cây bồ đề 2.500 tuổi, nơi Tất đạt đa Cồ đàm ngồi thiền 49 ngày trước khi giác ngộ, tại làng Bodh Gaya, bang Bihar, Ấn Độ.

Cây bồ đề 2.500 tuổi, nơi Tất đạt đa Cồ Đàm ngồi thiền 49 ngày

trước khi giác ngộ, tại làng Bodh Gaya, bang Bihar, Ấn Độ.

Phật Tổ Như Lai, hay Tất đạt đa Cồ Đàm theo tiếng Phạn, là người sáng lập Phật giáo. Ngài vốn là con trong một gia đình hoàng tộc thuộc dòng Thích ca thuộc Nepal ngày nay. Tuy mang thân phận thái tử, song Ngài không màng cuộc sống xa hoa mà quyết tâm rời cung điện để sống khổ hạnh cùng nhiều nhóm tăng sĩ. Truyền thuyết kể rằng Tất đạt đa Cồ Đàm giác ngộ hoàn toàn sau 49 ngày thiền định dưới một cây bồ đề trong làng Bodh Gaya, bang Bihar, Ấn Độ.

Các nhà khoa hoc của Viện Nghiên cứu rừng tại thành phố Dehradun, bang Uttarakhand, Ấn Độ thông báo rằng cây bồ đề gắn liền với Phật Tổ Như Lai vẫn sống, Xinhua đưa tin.

“Cây bồ đề ấy vẫn tràn đầy sinh lực”, Subhash Nautiyal, một nhà khoa học của Viện Nghiên cứu rừng, phát biểu.

Nautiyal cùng các đồng nghiệp đã bỏ những tấm xi măng bao quanh gốc cây bồ đề sau khi kiểm tra nó. Họ cho rằng việc bỏ những tấm xi măng sẽ giúp rễ cây nhận nước và dưỡng chất dễ dàng hơn.

Một ngôi đền có niên đại khoảng 1.500 năm được xây gần cây bồ đề. Nó là điểm đến hấp dẫn của vô số du khách trên thế giới, đặc biệt là những người tới từ Nhật Bản.

Học trò hỏi Tất Đạt Đa Cồ Đàm

 

Sau Tết báo chí nói về hàng chục vạn người chen lấn đến nơi chùa chiền sau Tết! Tôi viết bài này chia sẻ thư thả với các bạn ( tự trò chuyện với Tất Đạt Đa Cồ Đảm – tức Đức Phật Tổ sau này…

 data-src=

. Con đi với Thày thì có được chỉ bảo mọi điều không?

Không! Con chỉ đi cùng, nhìn ta mà tự biết nên làm gì, vì ta sẵn sàng làm một chứng nghiệm, con chứng thực, sau sẽ chứng ngộ. Đi qua hổ đói bất ngờ trước mặt, mũi tên độc địa đang bay sau tới, vô cớ bị kẻ ác bố ráp, không kịp đợi ta chỉ bảo đâu mà hãy nhìn ta hành xử. Đi khắp nơi cùng ta : theo thời gian con sẽ ngộ được có hai điều chỉ bảo đó là ‘trả giá nhân quả’ , nữa là Tâm Tín Thiện Năng – khi trong tâm con khi đạt được niềm tin tuyệt đối vào tính thiện thì con có năng lực đi qua và hoá giải mọi hiểm tai.

. Con đi theo Thày thì ‘ đầu vào / đầu ra’ của sự học là gì ạ?

Ta không có kinh bổn hay giáo trình – nếu có chúng chỉ là những con chữ, ta chỉ thuận thành mỗi ngày mỗi việc hữu ích. Ta định nghĩa ‘ hữu ích ‘ là gì và định pháp cho cách làm nào, để hình thành nên Đức. ‘đầu vào’ của con chỉ cần là ‘muốn học’ ‘đầu ra’ của con sẽ là ‘ phẩm chất’ , bao nhiêu phụ thuộc con đi được bao xa và bao lâu. Ta không test đầu vào hay đầu ra của con bằng những mẫu giả định rồi cho điểm, chỉ để cho cuộc đời rất thực làm điều đó. Sống có lãi là được : mỗi hôm thêm chút điều hay…

. Hàng ngày ai cũng phải trầy trật mưu sinh. Đi theo Thày sẽ sống thế nào?

Chính ta đang thử nghiệm mình sống tốt hàng ngày mà không phải trầy trật thế như con đã thấy. Ta tiếp tục thế được mỗi ngày mà không lo âu về câu hỏi ‘sẽ như thế nào’ để hằng thanh thoát! Ta không trả lời thay con ‘như thế nào’ ! Ngày mai nó thế nào sẽ dạy con nên thế nào, và dù có thế nào con cần biết tự tại tiếp hành , điều đó giúp con khám phá năng lực của mình: không phụ thuộc vào điều bám giữ mà tìm tạo cách buông bỏ. ‘Trời sinh voi trời sinh cỏ’. Ta không sợ chết vì thiếu cái ăn mà học sống : ta sinh được cách gì!

. Đi theo Thày chẳng được mấy người, sau này con sẽ là ai?

Con chọn đám đông thì hãy ra chợ để là một phần của nơi đó? Con nên biết mỗi ngày con sẽ là ai và ai cần con là ai! Đi theo ta con khá cô đơn, gặp nhiều bất cập nhưng con sẽ trải nghiệm để hình thành nên những giá trị gì sau những biến cố và thách thức của những điều vốn không như ý. Ở đời ai dễ là ai ! Nhưng khi con có ảnh hưởng tốt với số đông, khiến họ tự nguyện mang một phiên bản giá trị của con, thì con đã là Người : lớn lao nhưng lại tự thấy mình gần gũi với chúng sinh, thuộc về họ. Lúc đó con sẽ làm thay đổi cuộc sống của nhiều người, rồi con không thấy việc con là ai trở nên quan trọng nữa.

 data-src=

.
. Các nhà khoa học cần mẫn trong phòng thí nghiệm để làm nên các vật dụng, xác định những con số, đằng này Thày toàn nói vô vi?

Việc các nhà khoa học làm bởi đam mê phát kiến như sứ mệnh của họ! Nếu có thể con hãy như thế ! Nhờ họ Nhân loại có thêm bao nhiêu hiểu biết và công cụ tốt. Còn ta có thiên mệnh: giúp chúng sinh phương tiện trong chính tâm năng của mình khi khoa học chưa tạo ra vật dụng trợ giúp bên ngoài. Trong ta đã biết tạo dẫn nguyên lý Mặt Trời, sau này các nhà khoa học tìm ra cách gây phản ứng nhiệt hạch nhưng chưa điều khiển được nó, họ tìm ra con số nguyên tử và Vũ trụ, còn ta đi liên thông giữa chúng! Năng lực con người bị bó gọn trong các thứ vật lý đó chăng? Còn đạo của ta khai phát họ vượt ra ngoài những con số và vật dụng ấy.

. Thưa Thày trước một sự việc xảy ra có nhiều sự thật về nó, vậy đánh giá nó thế nào?

Mỗi cách nhìn thực thấy về sự vật là mỗi sự thật về nó. Chúng ta cần biết sự thật khởi nguồn ( nhân ) và sự thật cuối cùng ( quả ) của nó , còn ở đoạn giữa có thể xem xét diễn tiến của sự vật có chính đáng không, thế thôi! Trong nhiều và chuỗi các sự thật của sự vật thì nên xét nó theo : định kỳ / bất kỳ / ngẫu nhiên , chúng ta đọc được sự thật bản chất của nó từ đó khái quát và quy nạp được cách mà sự vật ứng xử trong các trạng huống khác. Ngay lúc này con hỏi ta hơi nhiều thì ta cũng đang xác định được sự thật về con rồi.

. Nhiều người đi Chùa , như chưa ngấm được ‘ ngũ giới’ hay ‘bát chánh’ của Thày…thế là sao?

Đạo có ở mọi nơi, ngấm được đạo không nhờ đến Chùa cúng lễ. Thi thoảng đến trường mà học giỏi được sao? Nhờ thế ắt nên người chăng ? Bên Công giáo có bao nhiêu người đến nhà thờ dưới Thánh giá hàng tuần vẫn đứng trong hàng ngũ Đức Quốc xã đấy thôi! Thành nhân còn xa lắm mới thành Thánh ! Hãy tuỳ tâm nguyện của họ thôi! Ta chỉ có lời khuyên chứ không cấm ai , không thay ai sống . Và con cũng không cần nhìn ngó ai đang thế nào, mà thực tu tâm tu tính thế đã là rất quý. Thêm trong mình một ý nguyện tốt đã là tốt. Còn ai đi chùa mà tâm tính ngồn ngộn điều xấu thì họ đánh mất tính nguyên khối trong tâm tính, khi đó sinh ra thứ axit tư tưởng ăn mòn cuộc đời họ.

. Niết bàn có ở đâu thưa Thày, hay ở miền ‘ cực lạc’ hay phải chờ đầu thai kiếp sau sướng hơn?

Người phương Tây không thừa nhận sự đầu thai, và không ai chỉ ra được kiếp trước hay kiếp sau của mình cả! Đã là kiếp người đều rơi vào bề khổ, chúng sinh phải học cách bơi trong đó mỗi giây phút chứ không đợi có ‘miền cực lạc’ nào ! Ai cũng coi kiếp này của ta là sướng tột đỉnh vì sinh ra là Hoàng tử kế ngôi, nhưng ta từ bỏ đi vào đời sống như muôn người đấy thôi – nơi ai ai cũng kêu khổ – mà ta không thấy khổ, vì ta biết bơi thánh thoát trong đó! Nên ‘Niết bàn’ chính là thân tâm ta vậy! Vì thế ta có câu : ‘tu tại tâm , chùa tại mọi nơi, thiện tại ý, pháp tại công, kinh tại ngôn, Phật tại ta, Niết bàn tại thân’.

. Tại sao Thày phải mang bát tộ và áo cà sa quý đến thế, Thày ngự trên đài Sen thanh tao, trong khi Thày nói cần buông bỏ?

Vì dù thế nào ta luôn là Con Người, nên ta mang điều tối thiểu đó để khẳng định, để ta và chúng sinh đến gần nhau được theo cách giao tiếp tối thiểu mà Con Người cần có. Hơn nữa ‘những vật’ con vừa nói đều có ý nghĩa biểu tượng với Con Người: bát là chứa đựng sự trọng thị , cà sa giữ phong cách siêu quần, đài Sen nơi tôn thờ sự thanh thoát… mà tựu lại tại ta! Buông bỏ những thứ làm phiền nặng mình để nhận được sự tôn quý mới thành Quý Nhân, mới mong cải hoá được muôn chúng sinh từ bần hàn đến vương tôn! Khi cần ta chìa bát tộ ra chia sẻ với người đói, mở cà sa nhường quấn cho người bị lạnh, thả đài Sen vào các ao hồ để phát hương tâm.

 data-src=
Bức tranh minh họa Đức Phật đang ngồi thiền

.
. Nhưng con vốn theo Công giáo nên xin Thày cho về hỏi Cha và vợ… chắc phải mất thời gian ạ?

Con hãy tuỳ ý tuỳ cơ, đó cũng là việc nên làm! Ta không đợi khi con quay lại mới lên đường đâu, con có đi tiếp, gặp lại ta không còn là tuỳ duyên. Khi còn chữ ‘nhưng’ là trong ‘ý’ con đang lưỡng lự, do đó ‘ cơ’ sẽ đi qua mà ‘ duyên’ lại chưa chín! Con đường ta đi không thể bị những chữ ‘nhưng’ của người khác làm đứt đoạn, còn mỗi người có thể đến có thể đi mọi lúc. Với ta ai cũng tự do, điều duy nhất cần trong đó là tâm thế sẵn sàng cho một việc gì chưa. Nghe con nói ta thấy con nên ở nhà cũng được… Giáo chủ Công giáo cũng là bạn ta! Thật nản: vì ta nói với con mỏi cả mồm suốt, giờ lại về nhà xin phép , nhỡ họ cản con thì lời ta không bằng họ ru?

Leave your Comment