Tăng trưởng kinh tế là gì 221

Mục lục

Khu vực kinh tế tư nhân là động lực tăng trưởng trong nền kinh tế

 

“Khu vực kinh tế Nhà nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài không còn là động lực tăng trưởng mà thay vào đó là khu vực kinh tế tư nhân.”

 src=

Mười tháng của năm 2019, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất và đạt 45,3% trong tổng vốn đầu tư. (Ảnh minh họa: Minh Sơn/Vietnam+)

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương (CIEM), Giám đốc Chương trình Aus4Reform đề cập nội dung trên tại Hội thảo “Động lực cho kinh tế Việt Nam: Góc nhìn và triển vọng,” trong khuôn khổ Chương trình “Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam” (Aus4Reform), do CIEM tổ chức, ngày 30/10.

Kinh tế tư nhân trở nên có “sức sống”

Đánh giá của vị chuyên gia đầu ngành này được dựa trên các con số “biết nói.” Theo Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng của năm đạt mức tăng 10,3% so với cùng kỳ của năm 2018. Điểm nổi bật, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất và đạt 45,3% trong tổng vốn đầu tư đồng thời cũng có tốc độ tăng vốn cao nhất là 16,9%.

Bên cạnh đó, khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục giữ đà tăng trưởng với số vốn thực hiện cao nhất qua các năm trở lại đây, cụ thể vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tương ứng các năm 2015-2019, lần lượt là 9,8 tỷ USD; 11 tỷ USD; 12,5 tỷ USD; 13,3 tỷ USD; 14,2 tỷ USD.

Trong khi vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước lại chưa được cải thiện và có mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2015-2019, lần lượt là 8,1%; 13,1%; 6,6%; 11,4% và 4,8%.

Đồng tình với quan điểm này, ông Nguyễn Anh Dương-Trưởng Ban Nghiên cứu Tổng hợp của CIEM, cho rằng khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đang trở nên có sức sống hơn trong nền kinh tế với tỷ trọng vốn đầu tư tăng nhanh nhất đồng thời tạo động lực cho đầu tư toàn xã hội.

Tâm lý hứng khởi kinh doanh được thể hiện qua số lượng doanh nghiệp mới thành lập, cụ thể qua 10 tháng của năm, số đơn vị đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động lên tới 149.000 doanh nghiệp, tăng đến 8,6% so với cùng kỳ của năm 2018.

“Trong bối cảnh mới đầy thách thức, khu vực doanh nghiệp nội địa trở nên có sức sống hơn với sự sáng tạo, linh hoạt để thích nghi và tăng trưởng,” ông Dương nhìn nhận.

Khu vuc kinh te tu nhan la dong luc tang truong trong nen kinh te hinh anh 1

Hội thảo “Động lực cho kinh tế Việt Nam: Góc nhìn và triển vọng,” trong khuôn khổ Chương trình Aus4Reform, do CIEM tổ chức, ngày 30-10. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Vốn đầu tư gián tiếp tăng mạnh

Phân tích kỹ hơn về cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh trong khu vực FDI trong 10 tháng, ông Cung cho rằng mặc dù các dự án FDI tiếp tục tăng 25,9% về số dự án song lại giảm 14,6% số vốn đăng ký mới.

“Số lượng vốn đăng ký mới giảm đồng nghĩa với quy mô dự án giảm,” do đó ông Cung lưu ý cần nhìn nhận lại chất lượng các dự án mới so sánh với thời gian trước cũng như cách thức đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian gần đây.

Một điểm đáng lo ngại nữa cũng được ông Cung đề cập, đó là giá trị vốn đăng ký bổ sung từ những dự án FDI trước đó cũng có xu hướng chậm lại và giảm 16,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, vốn đầu tư gián tiếp lại “nóng lên” với mức tăng mạnh, tới 70,5% so với cùng kỳ.

Song vị chuyên gia này cũng cho rằng cẩn phải cẩn trọng trước việc dòng vốn gián tiếp chảy vào quá ồ ạt.

Trong xu thế hội nhập, ông Dương cho rằng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã mang đến những tác động tích cực, tạo động lực thúc đẩy, cải cách môi trường đầu tư-kinh doanh trong nước. Bên cạnh đó, cuộc chiến tranh thương mại quốc tế đang làm gia tăng sự chuyển dịch dòng vốn đầu tư trên toàn cầu và Việt Nam được đánh giá là một điểm đến tương đối hấp dẫn.

Song, theo ông Dương, nếu không kịp thời và sàng lọc tốt, các dự án FDI mới khó mang lại hiệu quả cao như kỳ vọng. Và, nếu không phân biệt đối tác, không cụ thể hóa tiêu chí sẽ gặp phải những dự án ‘núp bóng,’ gây hệ lụy cho môi trường và xã hội.

Nhìn nhận về triển vọng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới, ông Cung kỳ vọng xu hướng đầu tư FDI nêu trên sẽ được đảo ngược trong thời gian tới với Nghị quyết 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 “về một số chủ trương chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.”

Bởi Nghị quyết 52 đã đưa ra yêu cầu các ban, bộ, ngành, từ trung ương đến các địa phương chủ động phối hợp, tháo gỡ khó khăn theo hướng bảo đảm môi trường kinh doanh bình đẳng trong nước và hoàn thiện các quy định pháp luật về đầu tư mạo hiểm có vốn nước ngoài.

Về dự báo kinh tế vĩ mô, vị đại diện của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đưa ra mức tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt mức 7,02% trong năm 2019 và sau đó điều chỉnh xuống còn 6,72% vào năm 2020, theo đó lạm phát bình quân năm 2019 là 2,78% và năm 2020 là 3,17%./.

Chương trình Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam (Aus4Reform) do Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia (DFAT) tài trợ nhằm hỗ trợ Chính phủ Việt Nam thực hiện các mục tiêu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng nâng cao năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế hướng tới phát triển nhanh, bền vững. Chương trình trị giá 6,5 triệu AUD và kéo dài trong thời gian 4 năm (từ năm 2017 đến năm 2021).

Theo HẠNH NGUYỄN (Vietnam+)

Kinh tế Việt Nam tăng trưởng trên 7%

 

Tính riêng trong hai quý đầu năm, mức tăng trưởng kinh tế Việt Nam lần lượt đạt 7,45% và 6,79% so với quý I và quý II.2017. Thông thường, các quý sau GDP tăng trưởng mạnh hơn các quý trước. 2018 là năm hiếm hoi tăng trưởng quý II thấp hơn quý I.

Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 6,7% – 6,8% trong năm 2018.

Chỉ cần duy trì mức trăng như hai quý đầu năm, Việt Nam sẽ dễ dàng vượt chỉ tiêu tăng trưởng cả năm 2018.

Tăng trưởng của hai lĩnh vực đóng góp lớn nhất vào nền kinh tế, là công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, đạt mức kỷ lục trong nửa đầu năm nay.

Ngành công nghiệp đạt mức tăng trưởng cao nhất trong vòng ba năm gần đây. Đặc biệt, ngành công nghệ chế biến, chế tạo đạt mức tăng kỷ lục trên 13% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong khi khu vực dịch vụ chứng kiến mức tăng trưởng cao nhất bảy năm qua, tăng 6,90%.

Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giảm tỉ trọng trong nền kinh tế. Sau giai đoạn suy giảm cách đây hai năm, giờ đây ngành nông nghiệp đang phục hồi rõ nét với đà tăng trưởng đạt 3,28% sau sáu tháng đầu năm 2018.

Nền kinh tế tiếp tục mở rộng đà tăng trưởng, nhưng cần cải thiện về ‘chất’

 

Đây là chủ đề được trao đổi, thảo luận tại Hội thảo “Động lực cho kinh tế Việt Nam: Góc nhìn và triển vọng”, do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức ngày 30/10.

Tăng trưởng kinh tế tương đối cao

Trình bày báo cáo đánh giá tình hình KTVM từ đầu năm đến nay, ông Nguyễn Anh Dương – Trưởng Ban Nghiên cứu tổng hợp, CIEM cho biết, 10 tháng năm 2019 đã chứng kiến bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước có không ít bất định, kể cả thách thức không nhỏ đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, công tác điều hành chính sách, cải cách kinh tế của đất nước đã bộc lộ không ít điểm sáng, tạo nên những kết quả tích cực về tăng trưởng kinh tế, ổn định KTVM. Theo đó, tăng trưởng GDP 3 quý đầu năm 2019 đạt cao nhất gần thập kỷ qua. Trong đó, riêng quý III/2019, GDP tăng 7,31%, cao hơn so với cùng kỳ các năm trước (trừ quý III/2017).

“Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tương đối cao so với các nước trong khu vực. Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đà mở rộng tăng trưởng. Quý III/2019 là quý thứ 10 liên tiếp GDP vượt mức tiềm năng. Dù vậy, tăng trưởng GDP tiềm năng vẫn giữ xu hướng giảm. Điều này đặt ra những cảnh báo về vấn đề cần củng cố chất lượng tăng trưởng” – ông Dương nhấn mạnh

Cũng theo ông Dương, từ đầu năm đến nay ghi nhận nhiều điểm sáng về động lực cho tăng trưởng của nền kinh tế. Cụ thể đó là, sự tăng trưởng tương đối nhanh ở khu vực công nghiệp, nhất là khai khoáng đã tăng trưởng trở lại sau khi sụt giảm trong cùng kỳ năm 2018; tỷ trọng của công nghiệp chế biến, chế tạo và xây dựng tăng nhẹ…

Bên cạnh đó, xuất nhập khẩu vẫn giữ đà phục hồi tăng trưởng. Theo đó, thặng dư thương mại trong 9 tháng năm 2019 đạt 7,1 tỷ USD, vượt cả cùng kỳ năm 2018 (hơn 6,3 tỷ USD). Thặng dư thương mại 10 tháng ước 10 đạt 7 tỷ USD… Đặc biệt, xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có sự giảm tốc, ngược lại DN trong nước phát triển xuất khẩu tương đối nhanh, vượt mức xuất khẩu của DN FDI…

Kinh tế vĩ mô
 Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: D.T

Bên cạnh những kết quả tích cực, theo ông Dương, nền kinh tế Việt Nam hiện đang đứng trước một số khó khăn, thách thức. Thứ nhất, chất lượng tăng trưởng chưa tương xứng vẫn là một vấn đề đáng quan ngại. Biểu hiện, mặc dù vai trò của khai khoáng trong GDP đã trở lại, song đóng góp theo điểm % không lớn trong 10 tháng năm 2019. Tồn kho của công nghiệp chế biến, chế tạo tăng nhanh hơn, cùng với đó là sự suy giảm của khu vực nông – lâm – thủy sản. Đặc biệt, tích lũy tài sản tăng chậm hơn các năm trước, gây ra lo ngại về năng lực sản xuất trong tương lai. Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực và lao động vẫn còn thấp, các vấn đề môi trường đang phức tạp hơn…

Thứ hai, hiệu quả sử dụng nguồn lực ở khu vực công còn nhiều bất cập. Đó là tình trạng giải ngân vốn đầu tư công 10 tháng vẫn rất chậm, làm giảm hiệu quả đầu tư công và tăng chi phí vốn (kể cả chi phí cơ hội); tình trạng lãng phí trong sử dụng ngân sách nhà nước còn hiện hữu…

Bên cạnh đó, trong bối cảnh Việt Nam đang trở thành một điểm đến đầu tư, địa điểm dịch chuyển đầu tư tương đối hấp dẫn (nhờ tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, cải cách môi trường đầu tư kinh doanh hay tác động của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung…), nhưng nếu không sàng lọc tốt và kịp thời, các dự án FDI có thể khó mang lại hiệu quả cao như kỳ vọng, thậm chí sẽ xuất hiện những dự án “núp bóng” đầu tư, gây hệ lụy đến môi trường, xã hội…

Tăng trưởng kinh tế năm 2019 có thể đạt mức 7,02%

Theo nhóm nghiên cứu thực hiện báo cáo của CIEM, biễn biến KTVM trong những tháng cuối năm 2019 có thể chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như rủi ro suy thoái của kinh tế thế giới vẫn có thể gia tăng, cùng với căng thẳng thương mại ở khu vực chưa hạ nhiệt, còn nhiều bất định… Bên cạnh đó, dù Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã đi vào thực thi, song xuất khẩu vào các thị trường CPTPP chưa nhanh như kỳ vọng, mặt khác khả năng tận dụng ưu đãi từ các FTA hiện có nhìn chung chưa cao…

Từ những phân tích trên, theo dự báo của CIEM, tăng trưởng kinh tế năm 2019 có thể đạt mức 7,02%. Tăng trưởng xuất khẩu cả năm dự báo ở mức 8,13%. Lạm phát bình quân năm 2019 có thể ở mức 2,78%…

Đưa ra những khuyến nghị về mặt chính sách cho những tháng cuối năm 2019, ông Nguyễn Đình Cung – chuyên gia kinh tế, nguyên Viện trưởng CIEM cho rằng, trước hết cần tiếp tục duy trì và củng cố vững chắc ổn định KTVM, để trực tiếp hỗ trợ hợp lý đối với tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, các bộ, ngành cần xem xét, bãi bỏ các rào cản, thủ tục hành chính bất hợp lý, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhất là trong các lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường… nhằm tạo thuận lợi và khuyến khích mạnh mẽ đầu tư tư nhân xây dựng năng lực sản xuất kinh doanh mới cho nền kinh tế.

Đặc biệt, cần đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công và nâng cao hiệu quả đầu tư công, đồng thời cần đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu, thoái vốn của DN nhà nước…

Ngoài ra, theo khuyến nghị của ông Nguyễn Anh Dương, Việt Nam cần đẩy nhanh hơn nữa quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, bằng việc nhanh chóng thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến CPTPP, chuẩn bị sẵn sàng những nguồn lực trong nước đáp ứng cho việc phê chuẩn và thực thi FTA Việt Nam – Liên minh châu Âu, Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam – Liên minh châu Âu… trong thời gian tới./.

Bạn đang muốn biết Economic Growth

 

NEWS

1. Một số thông tin cần nắm về Economic Growth – Tăng trưởng kinh tế là gì?

1.1. Định nghĩa

Vào năm 1966, Theo Simon Kuznets – Một nhà kinh tế Mỹ gốc Nga, đã từng nói rằng, sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia chính là sự tăng lâu dài về khả năng của quốc gia đó cung cấp các mặt hàng kinh tế đa dạng cho số dân ngày càng tăng, và điều đó đều dựa trên công nghệ hiện đại tiên tiến cùng với việc đưa ra những điều chỉnh thể chế, tư tưởng mà nhu cầu của nó đòi hỏi. Suy cho cùng thì ông cũng chỉ muốn nhấn mạnh rằng, tăng trưởng kinh tế chính là sự gia tăng gia tăng bền vững của sản phẩm được tính dựa trên đầu người dân.

Nhưng, theo Paul Athony Samuelson – Một nhà kinh tế học người Hoa Kỳ thì lại cho rằng, tăng trưởng kinh tế chính biểu hiện của sự mở rộng GDP – tổng sản phẩm quốc nội hoặc sản lượng tiềm năng của một quốc gia. Hay nói theo cách khác, thì tăng trưởng sẽ được diễn ra nếu PPF – đường giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó dịch chuyển ra phía bên ngoài.

 Economic Growth - Tăng trưởng kinh tế là gì?

Economic Growth – Tăng trưởng kinh tế là gì?

Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể đúc kết lại rằng, tăng trưởng kinh tế hay còn gọi là Economic Growth là biểu hiện rõ nét của việc tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế của một quốc gia nào đó trong một khoản thời gian nhất định.

1.2. Như vậy, tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thường được xét ở các phương diện nào?

Sau khi đã biết sơ qua về lý thuyết tăng trưởng kinh tế thì các bạn cũng có thể thấy rằng để đánh giá được yếu tố này không hề đơn giản, nó cần phải thông qua khá nhiều nhân tố khác.

– Tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và theo chiều sâu: Đối với quốc gia có sự tăng trưởng theo chiều rộng thì điều đó có nghĩa sản lượng tăng nhờ vào sự tăng của tài nguyên thiên nhiên được khai thác, số lượng lao động và qui mô nguồn vốn. Trong trường hợp tăng theo chiều sâu thì có nghĩa sản lượng tăng do có sự tác động của TFP – năng suất các nhân tố tổng hợp. Thuật ngữ TFP chính là yếu tố phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực, công nghệ,… Và nó cũng chính là bộ phận quan trọng nhất đối với việc tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu.

– Tăng trưởng trong ngắn hạn và tăng trưởng trong dài hạn: Đối với phần thông tin này thì các bạn cũng có thể hình dung việc tăng trưởng kinh tế nó có mối liên hệ với nhau dựa trên yếu tố tiết kiệm cùng với đầu tư. Hay nói một cách dễ hiểu thì việc tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn có nghĩa việc hạn chế tiêu dùng trong hiện để từ đó tạo ra được mức sản lượng trong tương lai được cao hơn.

1.3. Công thức xác định Tốc độ tăng trưởng – Economic Growth

Để giải được bài tập tính tốc độ tăng trưởng kinh tế là gì thì các bạn cần phải biết được công thức xác định:

Quy mô tăng trưởng (mức tăng trưởng tuyệt đối):

ΔGDPn = GDPn – GDP0

Tốc độ tăng trưởng (mức tăng trưởng tương đối):

G = (GDPn – GDP0 )/GDP0 x 100%

Trong đó:

ΔGDPn: Quy mô tăng trưởng GDP năm nghiên cứu (năm n) so với năm gốc so sánh.

GDPn: Tổng sản phẩm quốc nội năm n.

GDP0: Tổng sản phẩm quốc nội năm gốc so sánh.

G: tốc độ tăng trưởng kinh tế

1.4. Lợi ích tăng trưởng kinh tế/ Economic Growth

Lợi ích tăng trưởng kinh tế/ Economic Growth là gì?
Lợi ích tăng trưởng kinh tế/ Economic Growth là gì?

Dựa trên thì lý thuyết thì việc tăng trưởng kinh tế đối với một quốc gia chính làm cho tổng mức sản lượng và thu nhập của một quốc gia tăng lên. Là nền tảng để có thể cải thiện cũng như nâng cao được chất lượng cuộc sống, cơ sở hạ tầng cho cộng đồng. Hay nói một cách dễ hiểu nhất thì nó chính là tiền đề để nền kinh tế được mở sang trang mới có nhiều hứa hẹn hơn.

Tuy nhiên nếu nói dưới góc độ vĩ mô và thực tế hơn thì tốc độ tăng trưởng nhanh cũng chính là dấu hiệu giúp quốc gia chúng ta từ một quốc gia nghèo có thể đuổi kịp, sánh vai hay thậm chí là vượt qua được nhiều quốc gia giàu có khác hơn mình. Đối với mức tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cũng sẽ dần được cải thiện, và đó chính là điều kiện thuận lợi để xã hội phát triển hơn, nhu cầu về chất lượng cuộc sống cũng sẽ nâng cao và kéo theo đó chính là cuộc sống nề nếp, văn mình có cơ được tăng lên. Hoặc khi các bạn nhìn vào đất nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm thì đương hiên thu nhập cũng sẽ thấp và không đủ để đáp ứng được mục tiêu đã đề ra. Và đó cũng chính là lý do vì sao mà một quốc gia nào cũng cần phải làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

Như vậy, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế vô cùng chặt chẽ, tăng trưởng kinh tế chính là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Đóng vai trò là nhân tố quan trọng hàng đầu để giải được một số bài toán hóc búa trong vấn đề xã hội. Tuy nhiên khi các bạn đã tham khảo “phương diện xét tăng trưởng kinh tế là gì?” được chia sẻ ở trên thì các bạn cũng đã biết được rẳng việc tăng trưởng theo chiều rộng không thể mang lại sự phát triển kinh tế bền vững được, đồng thời cũng tương đối khó để thực hiện được tốt các chính sách về xã hội. Do vậy tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu mới là yếu tố cần thiết.

1.5. Hạn chế tăng trưởng kinh tế

Bên cạnh những lợi ích vô cùng quan trọng được kể ở trên thì vấn đề về tăng trưởng kinh tế vẫn còn nhiều mặt hạn chế khác mà các bạn cũng cần phải nắm được đó là:

– Khi tăng trưởng kinh tế quá cao, quá nóng thì chi phí mà xã hội cần phải gánh chịu cũng sẽ ra tăng.

– Nếu tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng thì sẽ làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, từ đó sẽ làm ô nhiễm môi trường;

– Khi chất lượng cuộc sống cộng đồng được nâng cao cũng là lúc nguy cơ làm nảy sinh các vấn đề xã hội như tệ nạn xã hội, bất bình đẳng xã hội phân biệt giàu nghèo,…

XEM THÊM: Mã tổ hợp môn xét tuyển khối C và con đường sự nghiệp tương lai

2. Tình hình tăng trưởng kinh tế nước ta đầu năm 2019 thế nào?

Tình hình tăng trưởng kinh tế nước ta đầu năm 2019 thế nào?
Tình hình tăng trưởng kinh tế nước ta đầu năm 2019

Mặc dù nền kinh tế của nước ta vẫn còn nhiều thách thức cũng như khó khăn, nhưng dựa trên những số liệu thực tế thì các chuyên gia cũng dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2019 của nước ta khả năng cao là sẽ vượt mục tiêu cũng như chỉ tiêu trong kế hoạch được Quốc hội đề ra. Mục tiêu của tăng trưởng kinh tế là gì? Là những chỉ tiêu được đề ra bởi đơn vị có thẩm quyền đề ra cao hơn so với mặt chung của tăng trưởng kinh tế nhiều năm, và nó cũng được đánh giá là đích đến không dễ đi.

Minh chứng cụ thể là tốc độ tăng trưởng GDP trong 6 tháng đầu năm 2019 của nước ta đạt 6,76%, mặc dù thấp hơn so với thời điểm 6 tháng đầu năm 2018 ( cụ thể là 7,05%) nhưng nó vẫn tương đối là cao so với thời điểm cùng kỳ của nhiều năm trước từ 2011 đến 2017. Và dựa theo Tiến sĩ Trần Thị Hồng Minh, hiện là Giám đốc của Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế – xã hội Quốc gia chia sẻ, kinh tế của toàn cầu đang dịch chuyển chậm do có nhiều yếu tố rủi ro gia tăng, nhất là đối với các quốc gia có nền kinh tế lớn và Việt Nam vẫn đạt được những kết quả tương đối là tích cực.

Một số yếu tố tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế nước ta chính là diễn biến cuộc chiến thương mại giữa Trung – Mỹ cùng với sự căng thẳng giữa Mỹ – Iran về lĩnh vực dầu mỏ. Ngoài ra Chính phủ cũng đang đẩy mạnh các dự án thu hút cũng như cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đồng thời cũng tận dụng triệt để các cơ hội của việc mở cửa hội nhập kinh tế đa quốc gia. Cùng với đó là những công tác thúc đẩy cơ cấu nền kinh tế và không ngừng cơ cấu lại các lĩnh vực kinh doanh để đảm bảo được chất lượng nhằm tăng khả năng “miễn dịch” của nền kinh tế trước những biến động của nền kinh tế thương mại toàn cầu.

XEM THÊM: Thị trường lao động là gì? tình hình thị trường lao động Việt Nam

3. Yếu tố nội sinh của tăng trưởng kinh tế là gì?

Yếu tố nội sinh của tăng trưởng kinh tế là gì?
Yếu tố nội sinh của tăng trưởng kinh tế là gì?

Đối với môi trường kinh tế diễn biến khó lường như hiện nay thì các nghiên cứu trên thế giới cũng đã chỉ ra được rằng để đảm bảo được sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là sự đầu tư hợp lý. Thực ra, vào năm 1988, các chuyên gia kinh tế cũng đã đưa ra nhận định rằng với hệ thống kinh tế, việc tích lũy vốn con người chính là nội sinh, là nhân tố hàng đầu trong các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, nếu có sự đầu tư chuẩn xác. Và vốn con người cùng với kho tri thức thực hiện đối với sự phát triển kinh tế như hiện nay thì nó cũng giống như một món hàng hóa công cộng, dễ hiểu hơn thì các bạn có thể liên tưởng rằng khi kho kiến thức kết hợp với sự phát triển của công nghệ 4.0 dưới sự phản ảnh của vốn đầu tư vật chất thì chắc chắn sẽ tạo ra được những hàng hóa công cộng. Thêm vào đó là sự tác động của hiệu ứng tràn – Spillover Effect thì gây ra sự ảnh hưởng đến tăng trưởng năng suất của nền kinh tế.

Thực tế thì vốn con người được hình thành dựa trên các khoản đầu tư nâng cao trình độ cùng với chất lượng cuộc sống, trong đó điều đặc biệt cần phải quan tâm chính là lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, nghệ thuật và khoa học,… Hoặc các bạn cũng có thể hiểu đơn giản, vốn con người ở đây có nghĩa là bao gồm cả về tri thức, tài năng, kỹ năng, năng lực, trí thông minh, kinh nghiệm,…Tức là để đạt được quy mô tăng tưởng kinh tế bền vững thì cần phải có sự đầu tư cho vốn vật chất (máy móc, trang thiết bị, khoa học công nghệ kỹ thuật cao,…) và khu vực tri thức. Tuy nhiên so với tình hình thực tế của nước ta trong nhiều năm trước thì dù có cố gắng đến đâu, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong việc đầu tư vì chưa thực sự đáp ứng đủ được những nhu cầu để đảm bảo được nguồn vốn con người. Do vậy mà việc cải thiện cũng như đầu tư vào vốn con người của nước ta trước kia vẫn còn chậm. Nhưng Nhà nước ta vẫn không ngừng đưa ra những phương án để cải thiện được những mặt còn hạn chế đó để đảm bảo rằng sẽ tăng trưởng kinh tế bền vững trong tương lai gần.

Tóm lại, để xây dựng, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao không phải là chuyện đơn giản mà quốc gia nào cũng có thể thực hiện được. Tuy nhiên với vai trò là công dân của Việt Nam thì trước tiên chúng ta cần phấn đấu nỗ lực, đóng góp trí tuệ cùng với công sức để nâng cao được sự phát triển kinh tế trong tương lai. Hy vọng những nội dung chia sẻ về “Economic Growth – Tăng trưởng kinh tế là gì?” đã mang hữu ích đến các bạn! Nếu có thông tin gì mới về vấn đề này thì sẽ được cập nhật trong nội dung tiếp theo của Blog Timviec365.vn, các bạn cùng chờ theo dõi nhé!

Tác giả: Đào Thanh Hồng

TweetScoop.itShare in VK ');

$('#js_share').append("");
$('#box-social').addClass('share');
}
});

 

Dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 7,05% trong năm 2019

 

 src=

Các đại biểu dự tọa đàm (Ảnh: M.P)

Ngày 10/10 tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) tổ chức buổi tọa đàm công bố báo cáo kinh tế vĩ mô quý III.

Theo ông Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng VEPR, tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý III năm 2019 đạt mức 7,31% và trong 9 tháng đạt 6,98%. FDI tiếp tục là khu vực đóng góp chính và tăng trưởng thông qua xuất khẩu.

Về tình hình doanh nghiệp, trong quý III/2019, cả nước có 35.316 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 430,6 nghìn tỷ đồng, tăng 37%. Số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động tiếp tục giảm xuống còn 12.505 doanh nghiệp.

Hoạt động bán lẻ và kinh doanh dịch vụ diễn ra ổn định. Tăng trưởng vốn đầu tư khu vực nhà nước thấp, trong khi tại khu vực FDI tăng trưởng và tỷ lệ giải ngân cao. Cán cân thương mại trong 9 tháng 2019 duy trì ở trạng thái cân bằng. Các nền kinh tế lớn đều hướng tới giảm lãi suất nhằm mục đích khuyến khích tăng trưởng. Tại Việt Nam, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh sau quyết định giảm lãi suất điều hành.

Với mức tăng trưởng đạt 7,31% của quý III, nhóm nghiên cứu Kinh tế vĩ mô của VEPR cho rằng, mục tiêu tăng trưởng 6,6% - 6,8% của năm 2019 do Quốc hội đề ra là khả thi. Dự báo tăng trưởng quý IV là 7,26% và cả năm 2019 đạt 7,05%.

Tại buổi tọa đàm, nhóm nghiên cứu của VEPR đã đưa ra phân tích, nền kinh tế thế giới chứng kiến sự suy giảm tăng trưởng trong quý III năm 2019, nhưng tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong quý III ở mức 7,31%. Hoạt động bán lẻ và kinh doanh dịch vụ cũng diễn ra ổn định. Tăng trưởng vốn đầu tư khu vực nhà nước thấp, trong khi tại khu vực FDI tăng trưởng và tỷ lệ giải ngân cao. Cán cân thương mại trong 9 tháng duy trì ở trạng thái cân bằng. Cùng với đó, các nền kinh tế lớn đều hướng tới giảm lãi suất nhằm mục đích khuyến khích tăng trưởng. Tại Việt Nam, lãi suất liên ngân hàng cũng đã giảm mạnh sau quyết định giảm lãi suất điều hành.

Tuy nhiên, có một số lưu ý cũng được VEPR đưa ra trong báo cáo. Đáng chú ý là việc Việt Nam trở thành một trong 7 đối tác xuất khẩu nhiều nhất sang Mỹ trong quý III. Lượng dự trữ ngoại hối ngày càng gia tăng, tới hơn 71 tỷ USD. Vì vậy Ngân hàng Nhà nước cần cẩn trọng trong việc điều hành chính sách tiền tệ, linh hoạt và khách quan. Đặc biệt, Việt Nam nên tập trung vào cách chính sách về tài khóa, tiền tệ và tỷ giá để đối mặt bất ổn của kinh tế thế giới, đặc biệt nên điều chỉnh tỷ giá linh hoạt, giữ lãi suất ổn định./.

Tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế từ sau khi gia nhập WTO – Trang Ngoại giao Kinh tế

 


 width=
Kim ngạch xuất khẩu trong 11 tháng đầu năm 2017 đã bằng 4 lần so với năm 2007.

Trong những năm kinh tế thế giới hứng chịu khủng hoảng tài chính và suy thoái, nền kinh tế đã cho thấy sức chống chịu và đạt mức tăng trưởng thuộc diện cao so với mặt bằng thế giới. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, phát huy vai trò của khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ. Chúng ta đã gia nhập nhóm các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình ngay từ năm 2008, và có mức GDP bình quân đầu người khoảng 2.215 USD vào năm 2016 – cao hơn 2,8 lần so với năm 2006.

Trong Báo cáo về “Tình hình kinh tế – xã hội của Việt Nam dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế từ sau khi gia nhập WTO” của Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh, Phó trưởng Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế đã nêu bật ý nghĩa này. Xin giới thiệu bản Báo cáo với 3 nội dung chính: Thứ nhất, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từ năm 2007 đến nay. Thứ hai, đánh giá tình hình phát triển kinh tế -xã hội dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn 2007-2017. Thứ ba, một số kiến nghị với Chính phủ, các bộ ngành, địa phương và doanh nghiệp nhằm thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, bối cảnh hội nhập kinh tế đa phương có nhiều yếu tố bất lợi. Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn tới suy giảm tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư ở bình diện thế giới và không ít đối tác chủ chốt của nước ta. Biểu hiện của chủ nghĩa bảo hộ nổi lên ở một số nơi, đặc biệt là từ nửa cuối năm 2016. Chương trình nghị sự phát triển Đô-ha vẫn còn bế tắc.

Trong bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam vẫn kiên định với chủ trương chủ động, thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Từ năm 2013, chúng ta định hướng mở rộng hội nhập toàn diện với trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế. Phương thức tham gia đã chuyển từ hội nhập theo chiều rộng sang hội nhập theo chiều sâu, với những bước đi chiến lược trong việc lựa chọn các đối tác. Tính đến cuối năm 2017, Việt Nam đã và đang đàm phán, ký kết và thực hiện 16 FTA song phương, đa phương và nhiều bên với 58 đối tác.

So với giai đoạn trước khi gia nhập WTO, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của ta từ năm 2007 được thực hiện qua các tuyến đa dạng hơn, cụ thể là:

Thứ nhất, chúng ta vẫn tích cực tham gia thảo luận, hợp tác với các đối tác nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy hệ thống tự do hóa thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO. Việt Nam đã cùng với các thành viên WTO khác kết thúc đàm phán Hiệp định Thuận lợi hóa thương mại vào năm 2013 và bắt đầu thực hiện Hiệp định này từ tháng 2/2017 (đây là Hiệp định đa phương đầu tiên được WTO phê chuẩn kể từ khi tổ chức này được thành lập).

Thứ hai, ta đã tham gia tích cực vào quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN đến năm 2015 và Kế hoạch hành động của Cộng đồng Kinh tế ASEAN giai đoạn 2016-2025. Trong các năm từ 2008-2015, Việt Nam luôn nằm trong nhóm thực thi các cam kết ASEAN nghiêm túc nhất với tỷ lệ thực hiện từ 85%-95%. Cùng với các nước ASEAN, chúng ta đã ký kết và thực thi hiệp định thương mại tự do (FTA) với 6 đối tác chủ chốt ở khu vực, và hiện đang cùng các đối tác này đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP). Chúng ta cũng tôn trọng và góp phần phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong các cơ chế ở khu vực.

Thứ ba, ta đã mạnh dạn, chủ động ký kết các FTA song phương với các đối tác quan trọng, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, v.v. Đi kèm với các hiệp định này là những cơ hội, khung khổ hợp tác sâu rộng với các đối tác về đầu tư và thương mại, phù hợp với lợi thế và định hướng phát triển của đất nước.

Thứ tư, ta đã tham gia Hiệp định FTA với tính chất nhiều bên. Nổi bật nhất là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Dù Hoa Kỳ đã rút khỏi Hiệp định này, 11 thành viên còn lại đã đạt được thỏa thuận về Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Đây là một kết quả quan trọng bên lề Hội nghị cấp cao APEC 2017 và có vai trò rất lớn của Việt Nam.

Thứ năm, chúng ta đã chủ động, tận dụng tốt hơn cơ hội hợp tác – trên tinh thần tự nguyện, không ràng buộc – với các tổ chức, diễn đàn quốc tế như Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM), Diễn đàn Kinh tế thế giới, v.v. Năm APEC 2017 đã thành công rực rỡ với vai trò tích cực của chủ nhà Việt Nam, thể hiện một tâm thế chủ động hơn của đất nước trong thúc đẩy hợp tác khu vực, là điều đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương còn nhiều bất ổn.

Chúng ta cũng thực thi đầy đủ, nghiêm túc các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là về cắt giảm thuế quan, mở cửa dịch vụ, đầu tư, v.v. Ngoài một số ít các mặt hàng nhạy cảm có lộ trình đến năm 2019, về cơ bản ta đã hoàn thành lộ trình cắt giảm theo WTO từ năm 2014. Bên cạnh đó, chúng ta đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ ban hành các biểu thuế ưu đãi thuế nhập khẩu đối với các FTA đã ký kết, kể cả khi một số FTA đi vào giai đoạn thực hiện cam kết sâu rộng hơn.

Các kết quả hội nhập kinh tế quốc tế nêu trên có một phần quan trọng là từ những định hướng, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Trong đó phải kể đến Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững khi là thành viên của WTO; Nghị quyết 22-NQ/TW năm 2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, và nhiều văn bản chỉ đạo liên quan khác. Đặc biệt, vào tháng 11/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về Thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, trong bối cảnh nước ta tham gia hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cùng thời điểm với Nghị quyết 05-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế, và Nghị quyết 24/2017/QH14 về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020. Nhờ đó, công tác định hướng, chỉ đạo hội nhập kinh tế quốc tế gắn chặt và nhất quán hơn với những chủ trương lớn về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.

Thực hiện định hướng, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, các Bộ ngành và địa phương đã chủ động hơn trong công tác tham vấn, thông tin về tình hình chuẩn bị, đàm phán và thực thi các FTA quan trọng. Các nhiệm vụ về hội nhập kinh tế quốc tế đã được các Bộ, ngành và địa phương lồng ghép ngày một chặt chẽ hơn vào kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực và địa phương. Chính sách của các Bộ, ngành và địa phương cũng hướng nhiều hơn đến phát huy lợi thế riêng và khả năng cạnh tranh của mình, tùy theo các kênh hội nhập kinh tế quốc tế riêng. Những biến động lớn trên thị trường thế giới – như khủng hoảng tài chính toàn cầu, Brexit, v.v. – đều được Chính phủ, các Bộ ngành theo dõi sát sao nhằm đề ra các biện pháp ứng phó kịp thời, qua đó giúp duy trì môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội.

Bản thân cộng đồng doanh nghiệp cũng nhận thức đầy đủ hơn về yêu cầu nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế. Các doanh nghiệp đã tham gia thực chất hơn vào quá trình tham vấn chính sách, đặc biệt là khi đàm phán các FTA quan trọng như TPP hay FTA với EU. Các doanh nghiệp theo dõi bài bản hơn các diễn biến, cảnh báo về khả năng áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật, hàng rào kỹ thuật ở các thị trường đối tác.

Tình hình kinh tế-xã hội dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2007-2017

Nhờ từng bước thực hiện hiệu quả công tác hội nhập kinh tế quốc tế, môi trường kinh tế vĩ mô ngày càng thuận lợi hơn cho việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế – xã hội trong nước. Từ việc phụ thuộc nhiều vào biến động nhanh và mạnh trên thị trường thế giới, lạm phát đã được duy trì ở mức ổn định, hợp lý. Nhờ đó, tăng trưởng kinh tế đã phục hồi vững chắc hơn trong những năm gần đây, đi kèm với ít rủi ro về lạm phát và mất cân đối vĩ mô. Tôi xin báo cáo kết quả đạt được trên một số lĩnh vực như sau:

1.     Thể chế kinh tế

Dưới tác động của quá trình thực thi cam kết WTO cũng như đàm phán, thực hiện các FTA mới, thể chế kinh tế đã ngày càng được hoàn thiện hơn.

Cho đến nay, các luật, pháp lệnh có liên quan tới việc thực thi các cam kết WTO về cơ bản đều đã được ban hành đầy đủ theo kiến nghị tại Báo cáo số 192/BC-BTP ngày 09 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả rà soát pháp luật thực hiện Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP. Bên cạnh đó, chúng ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới một số luật, pháp lệnh trên cơ sở nhu cầu nội tại của đất nước trong giai đoạn phát triển hiện nay, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

Khác với giai đoạn trước 2007, công tác hoàn thiện thể chế kinh tế trong thời gian qua không chỉ hướng tới thực hiện các cam kết quốc tế một cách thụ động, mà đã đi trước một bước nhằm thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế, đồng thời chủ động chuẩn bị cho cộng đồng doanh nghiệp. Tiêu biểu nhất là chuỗi Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh (từ năm 2014) đã thể hiện tinh thần tự cải cách, gắn với tiêu chí đánh giá phổ biến được quốc tế công nhận, để chủ động tháo gỡ những rào cản bất hợp lý đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Nhờ đó, môi trường kinh doanh ngày một cạnh tranh hơn và được quốc tế công nhận: Việt Nam tăng 9 bậc trong năm 2016 và tăng 14 bậc trong năm 2017 (lên thứ 68/190) theo xếp hạng môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới, thậm chí có những lĩnh vực cực kỳ ấn tượng như nộp thuế và bảo hiểm xã hội (tăng 81 bậc trong năm 2017), tiếp cận điện năng (tăng 32 bậc).

2.     Tăng trưởng thương mại, dịch vụ

Giai đoạn 2007-2017 chứng kiến nỗ lực thực thi cam kết WTO và một loạt FTA có trình độ/yêu cầu đa dạng phù hợp với năng lực của nhiều nhóm doanh nghiệp. Do đó, xuất khẩu hàng hóa giữ xu hướng tăng, tốc độ tăng xuất khẩu bình quân ước đạt 16,6%/năm. Dù thấp hơn so với giai đoạn 2000-2006 (19,4%/năm), song mức tăng trưởng này vẫn rất ấn tượng trong bối cảnh kinh tế thế giới hứng chịu tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Riêng trong 11 tháng đầu năm 2017, các doanh nghiệp (đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) đã tận dụng cơ hội từ các FTA và sự phục hồi kinh tế thế giới để đạt tăng trưởng xuất khẩu tới 21,5%. Kim ngạch xuất khẩu trong 11 tháng đầu năm 2017 đã bằng 4 lần so với năm 2007.

Nhập khẩu hàng hóa đã được định hướng để phục vụ tốt hơn nhu cầu đầu tư, sản xuất trong nước. Tốc độ nhập khẩu trung bình đạt 15,1%/năm trong giai đoạn 2007-2017, thấp hơn đáng kể so với giai đoạn 2000-2006 (21,1%/năm).

Theo đó, cán cân thương mại hàng hóa được cải thiện đáng kể. Tỷ lệ nhập siêu so với GDP giảm liên tục từ mức 20% trong các năm 2007-2008 xuống còn 8,2% năm 2011, sau đó chuyển sang thặng dư trong khoảng từ 0,1-1,2% GDP trong các năm 2012-2017. Kết quả này có sự cải thiện đáng kể so với giai đoạn 2000-2006 (thâm hụt thương mại trung bình khoảng 8% GDP).

Cùng với xu hướng mở rộng thương mại hàng hóa, nền kinh tế Việt Nam cũng đạt độ mở ngày càng lớn. Năm 2016 độ mở thương mại xấp xỉ 171%, cao hơn so với mức trước khủng hoảng tài chính thế giới (157,4% vào năm 2008).

3.  Về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta tăng mạnh kể từ năm 2007, qua đó bổ sung đáng kể nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội. Giai đoạn từ đầu năm 2007 đến tháng 11/2017 có hơn 18 nghìn dự án được cấp phép mới, tương đương 2,2 lần số dự án trong cả giai đoạn 1988-2006. Tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm từ năm 2007 đến nay đạt 296,4 tỷ USD, bằng 3,8 lần so với giai đoạn trước WTO. Kết quả này có nguyên nhân quan trọng từ: (i) gia tăng cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài từ các FTA mà Việt Nam đã, đang đàm phán và thực hiện; và (ii) nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh của Chính phủ, các Bộ ngành và địa phương.

Tính đến tháng 11/2017, có 126 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Những đối tác đầu tư quan trọng hàng đầu cũng đều là những đối tác thương mại chủ chốt trong các FTA khu vực, trong đó có Hàn Quốc (chiếm 18,1% tổng vốn đầu tư), Nhật Bản (15,5%), và Xinh-ga-po (13,2%).

4.  Một số lĩnh vực khác

Cùng với việc thực hiện các FTA (đặc biệt gắn với mở cửa thị trường giáo dục) và các sáng kiến phát triển nguồn nhân lực, trình độ, kỹ năng của nguồn nhân lực có những bước tiến đáng kể từ năm 2007. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 34,75% năm 2007 lên 49% cuối năm 2014.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã trở thành điểm sáng trong thực hiện chính sách xã hội ở nhiều mục tiêu: Đạt được hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG), đặc biệt về giảm nghèo, giảm trên 3/4 tỷ lệ nghèo, thu nhập bình quân nhân khẩu của hộ nghèo tăng. Các đối tượng xã hội được bảo trợ ngày càng tốt hơn.

  1. Đánh giá chung

Nhìn chung, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2007-2017 có ảnh hưởng không nhỏ đối với thể chế kinh tế nói chung và phương thức điều hành kinh tế – xã hội nói riêng. Trong những năm đầu sau khi gia nhập WTO, những điểm yếu cố hữu của nền kinh tế – như mất cân đối đầu tư – tiết kiệm, thâm hụt thương mại, khả năng cạnh tranh chậm cải thiện, … – bộc lộ rõ nét hơn dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế. Đây chính là một trong những cơ sở quan trọng để Đảng, Chính phủ kiên định hơn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.

Do đó, dù mức tăng trưởng trung bình chỉ đạt 6,04%/năm trong giai đoạn 2007-2017 (thấp hơn so với 7,51%/năm trong 2000-2006), song chất lượng và đà phục hồi tăng trưởng kinh tế ngày một vững chắc hơn. Dự báo mức tăng trưởng kinh tế năm 2017 đạt 6,7% – một trong bước phục hồi ấn tượng nhất trong nhiều năm qua. Trong những năm kinh tế thế giới hứng chịu khủng hoảng tài chính và suy thoái, nền kinh tế đã cho thấy sức chống chịu và đạt mức tăng trưởng thuộc diện cao so với mặt bằng thế giới. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, phát huy vai trò của khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ. Chúng ta đã gia nhập nhóm các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình ngay từ năm 2008, và có mức GDP bình quân đầu người khoảng 2.215 USD vào năm 2016 – cao hơn 2,8 lần so với năm 2006.

Với việc thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện với trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế, vị thế của đất nước tiếp tục được cải thiện đáng kể. Ta đã có 3 đối tác chiến lược toàn diện, 15 đối tác chiến lược và 12 đối tác toàn diện – hầu hết đều được thiết lập trong giai đoạn 2007-2017. Tiếng nói và vị thế của ta được coi trọng, ghi nhận ở không ít tổ chức, diễn đàn quốc tế như Liên hợp quốc, UNESCO, APEC, v.v.

Tuy vậy, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2007-2017 cũng cho thấy một số tồn tại, cụ thể là:

Thứ nhất, mặc dù đã ban hành Chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế, tuy nhiên việc triển khai thực hiện Chiến lược trong thực tế còn một số bất cập. Các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ trong các lĩnh vực chưa được triển khai đồng bộ, nhịp nhàng trong một chiến lược tổng thể. Một số chương trình, hoạt động chậm được cụ thể hóa, hoặc cụ thể hóa mà không tính đến chiều cạnh tương ứng của hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ hai, cải cách trong nước, nhất là về mặt thể chế, vẫn chưa đáp ứng và chưa theo kịp các yêu cầu của việc thực thi cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Trong khi đẩy mạnh quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế thì việc điều chỉnh chính sách trong không ít trường hợp còn chậm hoặc mang tính đối phó, chưa đồng bộ.

Thứ ba, khả năng nhận định, đánh giá và dự báo về xu thế và diễn tiến hội nhập kinh tế quốc tế chưa cao. Việc đánh giá thực hiện định kỳ kết quả hội nhập kinh tế quốc tế và tác động đối với phát triển kinh tế – xã hội chưa được quan tâm đúng mức nên kết quả rất hạn chế.

Các vấn đề trên xuất phát từ một số nguyên nhân chính. Thứ nhất, nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và các thỏa ước hội nhập nói riêng còn chưa cụ thể, nhất quán, đặc biệt là ở địa phương. Thứ hai, một số chủ trương, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế chưa được lồng ghép chặt chẽ vào kế hoạch hành động của Bộ, ngành, địa phương, dẫn tới thiếu quan tâm và/hoặc điều phối thiếu hiệu quả. Thứ ba, sự phối hợp trong quá trình triển khai công tác hội nhập giữa các bộ, ngành, giữa các cơ quan Trung ương với các địa phương, doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ. Cuối cùng là, nguồn lực (tài chính, nhân lực) cho công tác hội nhập kinh tế quốc tế còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đề ra.

  1. Về phía Chính phủ, Bộ ngành và địa phương:

Thứ nhất là, cần tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện luật pháp trực tiếp liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, nội luật hoá theo lộ trình phù hợp những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trước hết là luật pháp về thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, lao động – công đoàn… bảo đảm tranh thủ được thời cơ, thuận lợi, vượt qua các khó khăn, thách thức từ việc tham gia và thực hiện các FTA thế hệ mới.

Thứ hai là, cần tiếp tục cụ thể hoá và thực hiện hiệu quả các Chương trình hành động về hội nhập kinh tế quốc tế. Các địa phương cần chú trọng việc lồng ghép việc thực thi các Chương trình hành động vào các kế hoạch cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.

Thứ ba là, cần tăng cường sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương trong quá trình triển khai công tác hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy vai trò và năng lực điều phối của Ban chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế.

Thứ tư là, tăng cường sự gắn kết, phối hợp giữa hội nhập kinh tế quốc tế và hội nhập trong các lĩnh vực khác. Hội nhập trong các lĩnh vực hợp tác khác phải hỗ trợ và góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế.

Cuối cùng, cần tiếp tục phổ biến thông tin về hội nhập kinh tế quốc tế và hướng dẫn việc thực thi các cam kết hội nhập cho các địa phương, doanh nghiệp và người dân. Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo về tác động hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, cần khuyến khích sự tham gia rộng rãi, tích cực và chủ động hơn của khu vực tư nhân, các hiệp hội ngành, các tổ chức chính trị xã hội và người dân trong việc tìm hiểu, thực thi các cam kết hội nhập.

  1. Về phía cộng đồng doanh nghiệp:

Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động, thường xuyên tìm hiểu thông tin về các thị trường đối tác và các FTA mới thông qua các cơ quan chức năng đầu mối; thường xuyên tổ chức đối thoại với các cơ quan Chính phủ, nêu lên các thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế để Chính phủ và các Bộ, ngành kịp thời có những điều chỉnh chính sách và các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Thứ hai, các doanh nghiệp Việt Nam phải chủ động và tăng cường hơn nữa khả năng tận dụng các ưu đãi trong các hiệp định kinh tế thương mại mà Chính phủ đã ký kết thời gian qua. Doanh nghiệp cũng phải chấp nhận cạnh tranh và tìm cách vươn lên trong cạnh tranh, bao gồm cả việc liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước và kết nối với bên ngoài. Trong quá trình này, các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phải tăng cường năng lực quản trị doanh nghiệp, đổi mới phương thức kinh doanh, tăng cường đổi mới công nghệ, chủ động ứng phó với các rủi ro.

Cuối cùng, doanh nghiệp phải đồng hành với Chính phủ và biết đối thoại pháp lý để đối phó với những rào cản thương mại mới, đặc biệt là các hàng rào phi thuế quan trong quá trình hội nhập. Hỗ trợ của Chính phủ sẽ thiếu ý nghĩa nếu bản thân doanh nghiệp cũng chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nhu cầu, khó khăn và thách thức của mình trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Công thương

Phó trưởng ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế .

Bàn về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

 

Quỹ đạo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm từ 7%-8% xuống còn 5%-6% trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới. Về nguyên nhân của sự suy giảm, một số chuyên gia nhận định, tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới hiện tại là nguyên nhân chính, trong khi số khác lại cho rằng, do mô hình tăng trưởng không còn động lực. Tác giả bài viết làm rõ thêm về các nguyên nhân này.
 src=

 

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Sự tiến hóa của lý thuyết tăng trưởng kinh tế

Cuộc sống luôn vận động và mọi lý thuyết luôn đứng trước thách thức cần được bổ sung và hoàn thiện. Lý thuyết tăng trưởng không phải ngoại lệ. Robert Solow là chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực tăng trưởng kinh tế hiện đại, nhưng bản thân ông xem Adam Smith mới là cha đẻ của lý thuyết tăng trưởng. Lý thuyết tăng trưởng hiện đại tiến hóa cùng với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, thể hiện rõ ở sự thay đổi quan điểm về nguồn gốc của tăng trưởng.

Trong lý thuyết tăng trưởng, các nhà kinh tế thường chỉ ra hai mô hình chính: Tăng trưởng theo chiều rộng và tăng trưởng theo chiều sâu. Nhưng trong thực tế, không tồn tại một mô hình thuần túy, mà một mô hình hỗn hợp được quan sát tại nhiều nước. Những mô hình hỗn hợp khác nhau ở tỷ lệ đóng góp của các yếu tố hữu hình và vô hình. Trong xu hướng hình thành nền kinh tế hậu công nghiệp tại một số nước phát triển, một mô hình tăng trưởng mới được bàn luận ngày càng nhiều là mô hình sáng tạo.

Một trong những hình thái chính của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng là tăng trưởng thiếu cân đối và không bền vững, đặc trưng cho nền kinh tế trải qua một số thời kỳ tăng trưởng cao, nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân có xu hướng giảm và dẫn đến tình trạng trì trệ. Khác với tăng trưởng không bền vững, tăng trưởng bền vững là tăng trưởng cân đối với sự hỗ trợ nhà nước cho phát triển các lĩnh vực khoa học cơ bản, giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường. Tính thiếu cân đối và không bền vững của tăng trưởng thường đi liền với nhau.

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời kỳ cải cách kinh tế

Sau khi chương trình cải cách kinh tế (nghĩa là Đổi mới) được khởi động từ năm 1986, nước ta đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng tương đối cao kéo dài gần 30 năm. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong khoảng thời gian từ năm 1986-2013 đạt 6,71%. Toàn bộ thời kỳ này được chia thành những thời kỳ nhỏ với các tốc độ tăng trưởng và đặc điểm kinh tế - xã hội khác nhau. Theo quan điểm của tác giả, có thể phân biệt 4 thời kỳ: thời kỳ bình ổn kinh tế (1986-1991), thời kỳ tăng trưởng phục hồi (1991-1997), thời kỳ tăng trưởng hướng về xuất khẩu (1998-2007), thời kỳ suy giảm tăng trưởng (từ 2008 đến nay) (Bảng 1).

Đặc điểm của thời kỳ này là nền kinh tế nước ta chuyển từ kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường. Thực trạng kinh tế vĩ mô trong giai đoạn này biểu hiện những quy luật điển hình của một nền kinh tế chuyển đổi: lạm phát bùng nổ trong những năm đầu trong quá trình tự do hóa giá cả; nhiều doanh nghiệp nhà nước ngừng hoạt động hoặc phá sản; sản lượng công nghiệp sụt giảm kéo theo tăng trưởng kinh tế giảm mạnh; cuộc sống của người dân khó khăn. Trước tình hình như vậy, chính sách kinh tế của Việt Nam được thực hiện theo kịch bản “sốc ôn hòa” với nhiệm vụ bình ổn nhanh kinh tế, nhưng không để xảy ra cú sốc mạnh đối với hoạt động sản xuất.

Bởi vậy, trong gói giải pháp cải cách thị trường, có những biện pháp triệt để như giải phóng giá hàng hóa, mở cửa nền kinh tế, “cởi trói” các lực lượng sản xuất và các biện pháp ôn hòa như thay đổi thể chế (cải cách doanh nghiệp nhà nước, đổi mới cấu trúc thượng tầng, xây dựng các thị trường, đặc biệt là cải tổ hệ thống tài chính).

Trong thời kỳ này, do cơ cấu kinh tế và nền tảng thể chế của hệ thống kinh tế cũ chưa thay đổi đáng kể, nông nghiệp và khu vực kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất, hiệu quả kinh tế thấp, xã hội hầu như chưa có tích lũy.

Thời kỳ tăng trưởng phục hồi có đặc điểm là quan hệ kinh tế đối ngoại gặp khó khăn do khủng hoảng kinh tế xảy ra tại hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa cũ vốn là những đối tác kinh tế chính của nước ta, Mỹ và nhiều nước khác tiếp tục cấm vận kinh tế Việt Nam.

Nhà nước nhanh chóng chuyển hướng chính sách kinh tế đối ngoại sang các nước tư bản và đồng thời đẩy mạnh hoạt động kinh tế tư nhân và nước ngoài, tăng tính tự chủ của doanh nghiệp nhà nước. Tiềm năng sản xuất vốn đã bị kìm hãm trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch tập trung, nhờ đó được khai thác mạnh mẽ, góp phần làm gia tăng tổng sản lượng xã hội và hiệu quả kinh tế. Do trong giai đoạn này, nền kinh tế vừa được mở cửa, thị trường nội địa vẫn đóng vai trò quyết định.

Như vậy, hiệu ứng tích cực từ chính sách cải cách kinh tế cùng với sự gia tăng nhu cầu trong nước là những nhân tố chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của giai đoạn này.

Nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng vào năm 1995 và sau đó, tăng trưởng có dấu hiệu chững lại. Trong thời kỳ này, nền kinh tế bắt đầu có tích lũy. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến tích cực: tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ cũng như các khu vực kinh tế tư nhân và nước ngoài tăng. Tăng trưởng kinh tế cao, nhưng lạm pháp lại có xu hướng giảm.

Bảng 1: Đặc điểm của các thời kỳ tăng trưởng

Chỉ tiêu

Thời kỳ bình ổn kinh tế

Thời kỳ tăng trưởng phục hồi

Thời kỳ tăng trưởng hướng về xuất khẩu

Thời kỳ suy giảm tăng trưởng

Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Giảm mạnh, dao động trong khoảng 2,8%-5,8%

Phục hồi và tăng mạnh trong khoảng 8,1%-9,5%

Tăng bền vững trong khoảng 4,8%-8,5%

Suy giảm trong khoảng 5%-6,8%

Tương quan giữa cầu nội địa và cầu nước ngoài*

Chủ yếu nội địa, tỷ lệ xuất khẩu/GDP chỉ đạt 26,3% (năm 1991)

Cầu nước ngoài bổ sung cầu nội địa, tỷ lệ xuất khẩu/GDP đạt đến 34,2% (năm 1997)

Cầu nước ngoài dần chiếm ưu thế, tỷ lệ xuất khẩu/GDP tăng lên 68,4% (năm 2007)

Vai trò của cầu nước ngoài không giảm, tỷ lệ xuất khẩu/GDP tăng cao hơn 80% (từ năm 2011)

Hiệu quả nền kinh tế**

Thấp do sức ì của hệ thống kế hoạch tập trung vẫn còn lớn

Tăng nhờ hiệu ứng cải cách kinh tế

Hiệu quả giảm dần

Hiệu quả chưa được cải thiện

Tiết kiệm và đầu tư

Hầu như không có tích lũy trong nước, đầu tư chiếm 18% GDP (năm 1991) chủ yếu nhờ nguồn vốn vay quốc tế

Bắt đầu có tích lũy, đầu tư tăng mạnh nhờ nguồn tiết kiệm trong nước và nước ngoài, chiếm 35% GDP (năm 1997)

Tích lũy và đầu tư tăng, đầu tư tăng tới 46,5% GDP (năm 2007)

Tích lũy và đầu tư đều giảm, tỷ lệ đầu tư/GDP còn khoảng 30% (năm 2012)

Sự thay đổi cơ cấu sản xuất theo ngành

Nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm 40,5% GDP (năm 1991)

Thay đổi theo hướng tăng công nghiệp - xây dựng đạt mức 32% GDP và dịch vụ là 40% GDP, giảm nông, lâm, ngư nghiệp xuống còn 28% (năm 1997)

Nông - lâm - ngư nghiệp tiếp tục giảm những tốc độ thay đổi chậm lại, tỷ trọng khối ngành này trong GDP còn 19%, trong khi công nghiệp - xây dựng và dịch vụ là 39% và 42% (năm 2007)

Hầu như không thay đổi

Sự thay đổi cơ cấu sản xuất theo hình thức sở hữu

Khu vực kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất mặc dù giảm từ 40% (năm 1986) xuống 31% GDP (năm 1991)

Các khu vực kinh tế tư nhân và nước ngoài tăng nhanh đạt tỷ lệ 60% GDP (năm 1997)

Quá trình thay đổi chậm lại, khu vực kinh tế tư nhân và nước ngoài chỉ tăng tới 64% GDP

Tỷ trọng khu vực kinh tế tư nhân và nước ngoài tăng nhẹ

Lạm phát

Tăng cao, chỉ số CPI trong khoảng 66,1%–875,6% (so với tháng 12 năm trước)

Giảm mạnh, chỉ số CPI trong khoảng 3,6%-17,6%

Tăng dần từ mức giảm -0,6 (năm 2000) cho đến 12,6% (năm 2007)

Cao hơn so với giai đoạn 1992 - 2007

Nguồn: Tổng cục Thống kê, các năm; *Hội Kinh tế Việt Nam, 2012; **APO, 2012

Trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế hướng về xuất khẩu sau cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Nam Á (1997-1998), tăng trưởng kinh tế phục hồi nhanh và từ năm 2002, tốc độ tăng đều qua các năm. Đáng chú ý là trong giai đoạn này, hiệu ứng tích cực từ những biện pháp cải cách kinh tế được thực hiện trong thập niên 1990 đã kiệt cạn. Nhưng thay vào đó, trong điều kiện nền kinh tế thế giới tăng trưởng nóng, xuất khẩu và chính sách kinh tế (chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa) mở rộng, đặc biệt đầu tư công trở thành hai động lực chính của tăng trưởng. Nhờ đó, nền kinh tế tăng trưởng khá cao và đạt mức sản lượng tiềm năng vào năm 2005 (Ủy ban Kinh tế Quốc hội, 2013).

Tốc độ tăng trưởng kinh tế sụt giảm trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra từ năm 2008 đến nay. Nếu trong những giai đoạn trước đó, nền kinh tế tăng trưởng cao (8,8% giai đoạn 1992-1997) và 7,1% giai đoạn 1998-2007), thì trong giai đoạn hiện tại, tốc độ tăng trưởng bình quân chỉ còn khoảng 6%/năm. Nếu bỏ qua những năm khôi phục kinh tế sau cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Nam Á, cụ thể 1998-2001, thì tốc độ tăng trưởng đạt mức bình quân 7,9% từ năm 2002-2007.

Do chịu sự tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã bộc lộ một số hạn chế lớn tồn tại trong suốt thời gian dài:

- Mô hình tăng trưởng cơ bản theo chiều rộng với sự đóng góp chủ yếu của những yếu tố vật chất có chất lượng thấp từ phía cung và phía cầu.

Hạn chế từ phía cung là sự đóng góp không đáng kể của năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) mà các minh chứng điển hình là năng suất lao động thấp, đầu tư kém hiệu quả, mức độ tiêu hao năng lượng và nguyên vật liệu cao. Số liệu của Tổ chức Năng suất châu Á (APO) cho thấy đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế của nước ta có xu hướng giảm mạnh, cụ thể từ mức 2,1% giai đoạn 1985-2000 xuống chỉ còn 1,3% giai đoạn 2000-2010 (APO, 2012).

Cũng theo số liệu của APO về sản lượng bình quân trên một lao động quy đổi theo PPP cho thời kỳ 1990-2010, trong 22 nước châu Á không thuộc nhóm nước xuất khẩu dầu mỏ, Việt Nam chỉ thăng hạng từ ví trí 19 lên 17 trong thập niên 1990, nhưng vị trí này giữ nguyên cho đến năm 2010. Trong khối ASEAN, chúng ta chỉ đứng trên Lào, Campuchia và Myanmar về năng suất lao động. Năng suất lao động của công nhân Việt Nam chỉ bằng 5,9% Singapore - nước đứng đầu nhóm.

Nguyên nhân trực tiếp khiến xếp hạng năng suất lao động của nước ta chậm cải thiện là tốc độ tăng năng suất lao động có xu hướng giảm. Chỉ số này tăng 5,2% giai đoạn 1990-1995, nhưng giảm xuống còn 4,7% giai đoạn 1995-2000, 4,8% giai đoạn 2000-2005 và 4,2% giai đoạn 2005-2010 (APO, 2012). Trong khi đó, Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước đạt được bước nhảy vọt về năng suất lao động.

Hạn chế từ phía cầu là chất lượng tổng cầu thấp thể hiện ở thu nhập thực tính theo đầu người của Việt Nam thấp và tăng trưởng chậm, chênh lệch vật chất giữa các địa phương và các tầng lớp dân cư ngày càng dãn rộng, mức sống và chất lượng cuộc sống của bộ phận lớn dân cư còn thấp, hàng hóa xuất khẩu có giá trị gia tăng không cao, sản phẩm công nghệ cao chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong xuất khẩu, tính sinh thái, tính xã hội và tính sáng tạo của hoạt động kinh tế còn rất thấp.

Trong những báo cáo thống kê của các tổ chức quốc tế hiện nay, có nhiều chỉ tiêu khác nhau mà có thể được sử dụng để đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế. Chẳng hạn, để đánh giá tính sinh thái, có thể sử dụng chỉ tiêu thải CO2 như chỉ tiêu mang tính đại diện, còn tính sáng tạo có thể được đánh giá bằng chỉ tiêu xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao.

Theo Báo cáo thống kê năm 2013 của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ thải CO2 trong công nghiệp chế biến và xây dựng tại nước ta cao hơn nhiều so với mức bình quân thế giới, cụ thể 33,69% so với 21,22%, còn tỷ trọng công nghệ cao trong giá trị xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến chưa bằng một nửa mức bình quân thế giới, 8,6% so với 17,7% (WDI 2013).

- Tăng trưởng kinh tế của nước ta không bền vững, một số năm tăng trưởng cao như 1992-1997, hoặc 2005-2007, nhưng lại đan xen những năm tăng trưởng thấp như 1998-2001, hoặc 2008-2012. Xu hướng chung của tăng trưởng là tốc độ tối đa và tốc độ bình quân của các thời kỳ giảm dần.

Tính không bền vững của tăng trưởng có nguyên nhân nằm trong sự thiếu cân đối của cấu trúc nền kinh tế. Khu vực kinh tế nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng cao, lao động và vốn đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng, sản xuất trong nước ngày càng phụ thuộc vào thị trường thế giới. Điều này cho thấy, tăng trưởng kinh tế của nước ta đang dựa trên nền tảng bao gồm những nhân tố có chất lượng thấp và vận hành thiếu ổn định.

Chất lượng thể chế thấp đang kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Giữa hệ thống thể chế và tăng trưởng kinh tế tồn tại một mối quan hệ hữu cơ. Hệ thống thể chế hiệu quả tác động tích cực tới tăng trưởng vì giảm thiểu được rủi ro từ sự bất định và tình trạng bất đối xứng thông tin, đồng thời tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô. Ngược lại, tăng trưởng thấp làm phát sinh tham nhũng và những hành vi cơ hội khác.

Theo đánh giá của Gradstein (2003), hệ số tương quan giữa thu nhập bình quân đầu người và chất lượng thể chế nằm trong khoảng 0,7-0,9. Trong Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu 2013-2014, về chỉ tiêu chất lượng của thể chế, Việt Nam chỉ xếp thứ 98/144 quốc gia.

Rõ ràng, lỗ hổng thể chế của chúng ta là một trong những cản trở chính của tăng trưởng kinh tế bền vững.

Để chuyển sang mô hình hỗn hợp thiên về tăng trưởng theo chiều sâu

Nền kinh tế nước ta duy trì được tăng trưởng khá cao trong thời kỳ gần 30 năm Đổi mới. Do vậy, trong điều kiện tăng trưởng liên tục, các nguồn lực vật chất, như: vốn, tài nguyên thiên nhiên và lao động được khai thác gần như triệt để.

Trong điều kiện tăng trưởng theo chiều rộng, năng suất các yếu tố sản xuất giảm dần trong khi việc mở rộng chúng về lượng vấp phải những giới hạn - sự khan hiếm của các nguồn lực vật chất và năng suất biên của chúng chậm cải thiện trong điều kiện suy thoái giáo dục và khoa học, kỹ thuật hiện nay. Đầu tư không thể vượt quá năng suất biên của vốn và việc sử dụng lao động, cũng như khai thác tài nguyên thiên nhiên không tránh được quy luật tất yếu này. Năng suất biên của các yếu tố sản xuất chỉ tăng trong điều kiện tiến bộ kỹ thuật.

Như vậy, mục tiêu chuyển sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu là đẩy nhanh tiến bộ kỹ thuật trong nền kinh tế. Đó là nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Để góp phần thực hiện nhiệm vụ này, theo tôi, cần thực thi một số giải pháp định hướng dưới đây.

Thứ nhất, nhiệm vụ trước mắt cần nâng cao hiệu quả sử dụng những nguồn lực sản xuất hiện có bằng các cách: đảm bảo toàn dụng, tăng năng suất và tái phân phối chúng.

Đối với nguồn lao động, cần những biện pháp giảm tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm, tăng năng suất lao động, đảm bảo sự tương quan giữa tiền lương và năng suất lao động, nâng cao mức sống và chất lượng sống của người lao động, hạn chế sự phân hóa vật chất, hình thành vững chắc tầng lớp trung lưu. Đặc biệt, để tăng năng suất lao động, cần phát triển vốn nhân lực thông qua hệ thống đào tạo đại học và dạy nghề hiệu quả, cung ứng cho xã hội nguồn nhân lực đáp ứng được các yêu cầu công việc của doanh nghiệp.

Để tăng năng suất vốn, cần nâng cao hệ số đổi mới và làm chậm quá trình hao mòn thực máy móc và thiết bị. Ngoài ra, đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các nguồn lực không tái sinh, không được khai thác bừa bãi, mà phải đảm bảo tính cân đối trong sử dụng, đồng thời cần ứng dụng những công nghệ thăm dò và khai thác tiên tiến, thực thi các biện pháp mạnh mẽ nhằm giảm mức độ tiêu hao nguyên vật liệu trong sản xuất.

Bên cạnh đó, cần tái phân phối các nguồn lực. Đây là nhiệm vụ cho cả ngắn và dài hạn. Trong ngắn và trung hạn, kiên quyết thực hiện tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước theo hướng thu hẹp tối đa nhóm doanh nghiệp hoạt động vì lợi nhuận, còn đầu tư công chỉ nên hướng vào những ngành xã hội tạo điều kiện chung cho tăng trưởng kinh tế.

Thứ hai, cần hoạch định một chính sách công nghiệp hiệu quả và gắn bó chặt chẽ, đồng bộ với chính sách đầu tư trong quá trình thực hiện. Chính sách công nghiệp là tạo các điểm tăng trưởng nhằm tăng năng lực cạnh tranh quốc tế của khu vực doanh nghiệp và đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững. Theo kinh nghiệm quốc tế, nhiều nước phát triển đã đạt được sự phát triển thần kỳ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của mình do biết khai thác tiềm năng kinh tế to lớn của những làn sóng công nghệ thay đổi luân phiên theo chu kỳ 50 năm.

Để hoạch định hiệu quả các điểm tăng trưởng, cần dự báo tốt những xu hướng khoa học, công nghệ lớn. Thế giới đã trải qua năm làn sóng công nghệ và đang bắt đầu làn sóng thứ 6. Dự báo những xu hướng khoa học, công nghệ lớn là nhằm phát hiện kịp thời các xu hướng phát triển nhất. Theo thống kê quốc tế, trong thập niên 1980, 50% bằng sáng chế thuộc viễn thông, thông tin; 20% thuộc vi sinh; 10% thuộc vật liệu mới và hóa học.

Một công việc quan trọng nữa là cần dự báo và đánh giá được nhu cầu xã hội đối với những công nghệ đột phá trong việc giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Cuối cùng, phân tích khả năng phát triển những ngành kinh tế dựa trên các công nghệ đang hình thành này bằng tiềm lực vốn thực, vốn nhân lực và vốn tri thức của chúng ta và hoạch định chính sách đầu tư.

Thứ ba, triển khai xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia (national innovation system). Hệ thống đổi mới quốc gia là toàn bộ những tổ chức hoạt động sản xuất và tiêu thụ thương mại kiến thức khoa học, công nghệ trong phạm vi quốc gia. Những nguyên tắc vận hành của hệ thống đổi mới quốc gia là Nhà nước phải gánh vác phần lớn kinh phí cho hoạt động nghiên cứu cơ bản, vì đây là lĩnh vực có rủi ro cao và mức sinh lợi thấp đối với tư bản tư nhân; doanh nghiệp là động lực chính phát triển hệ thống đổi mới quốc gia trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng theo sau nghiên cứu cơ bản;

Thứ tư, cần lựa chọn phương án phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa phù hợp trong mô hình tăng trưởng hiệu quả. Chính sách tiền tệ mục tiêu lạm phát là một mô hình phối hợp chính sách tốt, nhưng để ứng dụng thành công phương án phối hợp này, cần hoàn thiện những điều kiện cần thiết. Một trong các điều kiện bắt buộc là ổn định kinh tế vĩ mô, trước hết phải giảm tỷ lệ lạm phát xuống thấp hơn 3% tương tự nhiều nước đã thực hiện. Tỷ lệ lạm phát thấp sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn tài chính giá rẻ để tăng năng lực cạnh tranh của mình.

Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á năm 2019

 

Đây là nhận định được Ngân hàng Châu Á ADB công bố sáng nay, 18/7.

Ngân hàng châu Á dự báo gì về tăng trưởng kinh tế Việt Nam?

ADB giữ nguyên dự đoán tăng trưởng kinh tế Trung Quốc ở các mức 6,3% năm 2019 và 6,1% năm 2020, sau khi nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này tăng trưởng chậm lại còn 6,2% trong quý 2 này và cho rằng sự hỗ trợ về mặt chính sách có thể giúp Trung Quốc bù đắp nhu cầu trong nước và ngoài nước suy yếu.

Về khu vực Đông Nam Á, ADB dự báo triển vọng của kinh tế khu vực này sẽ tăng trưởng 4,8% năm 2019 và 4,9% năm 2020, so với các mức 4,9% và 5% đưa ra hồi tháng Tư vừa qua.

Theo dự báo, không chỉ nền kinh tế Việt Nam bị đánh giá là “dễ tổn thương” trước nguy cơ hệ lụy của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, hầu hết các quốc gia đều phải chịu các tác động nhất định đến triển vọng tăng trưởng. Dù chính quyền Donald Trump đã có nhiều động thái “làm hòa với Trung Quốc”, dấu hiệu đình chiến vào cuối tháng 6 vừa qua cho phép nối lại nhiều kênh đàm phán thương mại, nhưng rõ ràng, hồi kết của cuộc chiến hiện vẫn chưa xác định.

“Ngay cả khi xung đột thương mại tiếp diễn, khu vực này vẫn sẽ duy trì mức tăng trưởng mạnh mẽ dù có giảm nhẹ. Tuy nhiên, cho tới khi 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới đạt được thỏa thuận, sự bất ổn vẫn sẽ tiếp tục phủ bóng lên triển vọng của khu vực”, Chuyên gia Kinh tế trưởng của ADB Yasuyuki Sawada nhận định.

IMF dự báo gì về tăng trưởng GDP Việt Nam?

Tốc độ tăng trưởng kinh tế này thấp hơn mức kế hoạch Quốc hội đề ra là từ 6,6% - 6,8%.

Trong số các dự báo được những tổ chức quốc tế đưa ra cho kinh tế Việt Nam, IMF có phần thận trọng nhất khi tăng trưởng dự kiến thấp hơn mức kế hoạch đề ra.

Sau một thập kỷ, nền kinh tế Việt Nam “tăng trưởng nhanh nhất thế giới”?

Phát biểu trước báo giới trước đây, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ cho biết:

"Sau 11 năm, Việt Nam mới đạt được mức tăng trưởng kinh tế 7,08%, vượt xa chỉ tiêu Quốc hội giao là 6,7%. Đây là kết quả từ điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nỗ lực của các cấp, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp, của mỗi người công nhân và nông dân".

Việc nền kinh tế thế giới trải qua nhiều biến động trong năm 2018 và nửa đầu 2019, đặc biệt là xung đột thương mại giữa các nước lớn, xu hướng gia tăng chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, gian lận thương mại, cùng với việc FED (Cục dự trữ liên bang Mỹ) liên tiếp tăng nhiều lần lãi suất đẩy đổng USD tăng giá, lãi suất trung và dài hạn trên thị trường thế giới tăng đã tác động lớn đến sản xuất, xuất khẩu của các nước, kể cả Việt Nam.

Trước tình hình đó, với “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả”, Chính phủ Việt Nam đã lãnh đạo, chri đạo quyết liệt các Bộ, ngành, địa phương, thực hiện tập trung, đồng bộ hiệu quả, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ. Kết thúc năm 2018, kinh tế — xã hội Việt Nam có những chuyển biến tích cực, đặc biệt là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt mức "kỷ lục" 7,08%.

"Nhờ đó, quy mô kinh tế năm nay là 5,5 triệu tỷ đồng, tương đương 240,5 tỷ USD, tăng gấp 1,3 lần so với năm 2015. Thu nhập bình quân đầu người đạt xấp xỉ 2.600 USD/người/năm, tăng gần 200 USD so với năm ngoái", Phó Thủ tướng cho hay.

Về năng suất lao động, Việt Nam có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN. Năng suất lao động toàn nền kinh tế đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD), tăng 346 USD, cao hơn gần 6% so với năm 2017.

Phó thủ tướng Việt Nam khẳng định:

"Có lẽ đây là lần đầu tiên sau hơn 10 năm tốc độ tăng trưởng kinh tế cao gấp đôi chỉ số lạm phát, do đó mức tăng trưởng kinh tế năm 2018 càng có ý nghĩa. Đã có những ý kiến cho rằng Chính phủ nên nới lỏng chỉ số lạm phát, nhưng nhìn vào thực tế tôi cho rằng việc nới lỏng là không thuyết phục khi mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô không chỉ là bài học của Việt Nam vào thời điểm trước đây hay hiện nay và cả nhiều năm tới nữa".

Ông Ousmane Dione — Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam — trong bản tin cuối năm "Âm vang Việt Nam" cũng nhấn mạnh:

"Năm 2018 là một năm tốt đẹp với Việt Nam. Tuy nhiên, con đường của năm 2019 còn nhiều "mây mờ giăng lối", bởi khi đã trở thành một trong những nền kinh tế mở nhất thế giới thì Việt Nam cũng dễ bị tổn thương do những biến động, nhất là khi căng thẳng thương mại toàn cầu leo thang…", đòi hỏi Việt Nam phải bản lĩnh, khôn ngoan và sáng suốt khi ra quyết sách.

Nền kinh tế Việt Nam có tăng trưởng bứt phá?

Ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng, Tổng cục thống kê rất lạc quan rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, tăng trưởng chậm lại, nhiều yếu tố rủi ro, thách thức gia tăng, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng đánh giá nền kinh tế Việt Nam đang ở thời kỳ “bất trắc cao” thì mức tăng trưởng như vậy là rất tích cực.

“Con số 6,76% tuy thấp hơn mức tăng của 6 tháng đầu năm 2018, nhưng cao hơn mức tăng của 6 tháng các năm từ 2011-2017. Kết quả này khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu được Chính phủ ban hành để thực hiện Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội năm 2019; cũng như sự nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng”, ông Lâm nói.

Xu hướng là tích cực, tuy nhiên, câu hỏi lớn nhất được đặt ra lúc này là, liệu cả năm, tăng trưởng GDP sẽ ở mức bao nhiêu, liệu có thể đạt được mục tiêu 6,8% hay không?

Ông Dương Mạnh Hùng Vụ trưởng Hệ thống tài khoản quốc gia thuộc Tổng Cục thống kê cũng đánh giá, mục tiêu này, thậm chí mức tăng trưởng 6,9% cũng vẫn “khả thi”. Bởi lẽ, sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tuy không tăng nhanh bằng năm 2018, nhưng vẫn duy trì ở mức khá cao.

“Các doanh nghiệp khá lạc quan về tình hình sản xuất - kinh doanh của mình. Theo kết quả khảo sát, có 83,5% doanh nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá tình hình sản xuất - kinh doanh quý II khả quan hơn quý I và 88,6% tin là quý III hơn quý II”, ông Hùng kết luận.

Leave your Comment