Phạm duy là ai

Nhạc sĩ Phạm Duy với mối tình đầy tai tiếng

 

“Ngọn núi lửa” đầy mê hoặc

Từ những năm giữa thập niên 1950 đến đầu thập niên 1960, ca sĩ Khánh Ngọc, với thân hình bốc lửa, kiều diễm từng làm chao đảo nhiều văn nghệ sĩ tài danh và khán giả. Ngoài ra, bà còn là một trong những ngôi sao thuộc thế hệ đầu tiên sáng chói trong làng điện ảnh Sài Gòn trước cả Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Trang Thiên Kim, Kiều Chinh…

Giọng ca trời phú cộng với ngoại hình gợi cảm, phong cách biểu diễn hút hồn đã giúp Khánh Ngọc tạo nên tiếng tăm và có cơ duyên gặp, yêu, kết hôn với nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Bà vừa là vợ vừa là nguồn cảm hứng, là nỗi đau tột cùng…để Phạm Đình Chương sáng tác ra những ca khúc bất hủ, vang danh.

Nhạc sĩ Phạm Duy với mối tình đầy tai tiếng 1

 

Nữ minh tinh Khánh Ngọc

 

Đến anh rể cũng “trồng cây si”

Bất chấp Khánh Ngọc đã là vợ của Phạm Đình Chương (em trai ca sĩ Thái Hằng, vợ mình), Phạm Duy vẫn quyết tâm chinh phục người đẹp. Vào một buổi tối định mệnh, ông đã “bắt tại trận” cuộc tình vụng trộm của vợ tại quán chè ở Nhà Bè – Gia Định. Trời đất như sụp đổ dưới chân, Phạm Đình Chương phải nhờ bạn bè dìu quay trở lại nhà, nơi hai đứa con thơ dại đang ở nhà một mình ngóng chờ bố mẹ.

Cho dù Phạm Duy đã cầu cứu đến Bộ Thông Tin xin các báo cho ngưng bài điều tra, phóng sự nhưng “hoạ vô đơn chí”, chuyện lớn càng giấu diếm lại càng như đổ “thêm dầu vào lửa”. Chẳng mấy chốc cả Sài Gòn đã loạn lên vì biến cố trong đại gia đình nổi tiếng về nghệ thuật. Dù vẫn còn yêu vợ và thực lòng muốn thứ tha nhưng trước dư luận sục sôi, Phạm Đình Chương đành gạt nước mắt nộp đơn ly dị lên toà án và nhận quyền nuôi các con thơ.

Nhạc sĩ Phạm Duy với mối tình đầy tai tiếng 2

Đại gia đình nhạc sĩ Phạm Đình Chương

Những bản tình ca bằng nước mắt

Sau cuộc tình loạn luân đầy ngang trái giữa vợ và anh rể, Phạm Đình Chương quay về sống đơn độc, những bản tình ca bất hủ ra đời trong nước mắt và hoài niệm xót xa: “Nửa hồn thương đau”, “Đêm cuối cùng”, “Người đi qua đời tôi”, “Khi cuộc tình đã chết”, “Thuở ban đầu”, “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”…

Một đêm mưa tầm tã ở Sài Gòn, ông tình cờ gặp lại vợ sau ánh đèn sân khấu, ông có ý muốn đưa Khánh Ngọc trở về nhà nhưng sự ngại ngần không dám đối diện trước chồng đã khiến Khánh Ngọc cất lời từ chối. Những ngày tháng ấy với Phạm Đình Chương là chuỗi tuyệt vọng, ông viết trong “Nửa hồn thương đau: “Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt/ Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất/ Và tiếng hát/ Và nước mắt…”

Sau này, cuộc tình tay ba đã rẽ làm ba ngả. Phạm Duy rời phương trời cũ, tiếp tục sáng tác và có thêm nhiều mối tình dang dở. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương cũng qua đời trong cô độc. Và nữ danh ca Khánh Ngọc, “ngọn núi lửa” rực cháy một thời đã kề vai bên người chồng mới với hai đứa con và một vết thương sâu nặng mãi trong lòng.

Lữ Mai

Bức xúc tật xấu “mượn thơ” viết nhạc

 

Gần đây, nhạc trẻ Việt lại tiếp tục dậy sóng khi một số ca sĩ, nhạc sĩ trẻ sử dụng thơ của người khác để viết ca khúc ăn khách nhưng không xin phép tác giả.

Chuyện thường ngày

Gần đây, việc ca sĩ Quách Beem (tên thật Đoàn Đức Đông) bị tố sử dụng bài thơ Gánh mẹ của ông Trương Minh Nhật để viết ca khúc cùng tên nhận được sự quan tâm của dư luận. Bởi năm 2018, MV Gánh mẹ đã được ca sĩ trình làng, thu hút hàng chục triệu lượt xem, khán giả yêu thích bởi ca từ mộc mạc, xúc động về tình mẫu tử. Gần đây, bản nhạc này cũng được sử dụng trong phim Lật mặt 4: Nhà có khách của đạo diễn Lý Hải. Tuy nhiên, lúc ca khúc Gánh mẹ đang tạo nên cơn sốt trong cộng đồng thì ông Trương Minh Nhật lên tiếng cho biết, lời của bài hát này chính là bài thơ ông đã sáng tác từ năm 2014 để tặng người mẹ kính yêu của mình. Bài thơ này đã được ông Nhật đăng rộng rãi trên mạng xã hội và được nhiều người đọc yêu thích.

Ca sĩ Quách Beem gần đây làm nhiều người bức xúc vì bị tố “mượn” bài thơ Gánh mẹ của tác giả khác để viết ca khúc cùng tên.

Ca sĩ Quách Beem gần đây làm nhiều người bức xúc vì bị tố “mượn” bài thơ Gánh mẹ của tác giả khác để viết ca khúc cùng tên.

 

 

Trước việc ca sĩ Quách Beem dùng lời thơ để viết nhạc nhưng không xin phép, tác giả Trương Minh Nhật đã nhiều lần liên lạc với nam ca sĩ để làm rõ trắng đen, tuy nhiên phía nam ca sĩ không có thiện chí. Không những thế, Quách Beem còn tố ông Nhật phát ngôn sai sự thật, nam ca sĩ đăng bức ảnh chụp lại giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả ca khúc Gánh mẹ. Điều đáng nói, ca sĩ Quách Beem nói viết ca khúc Gánh mẹ từ 2013, nhưng theo kết quả từ hệ thống tra cứu niên giám tại website Cục Bản quyền tác giả thì tác phẩm Gánh mẹ mới chỉ đăng ký 26/3/2019. Điều này cho thấy nam ca sĩ đang “giấu đầu hở đuôi” và cố tình “chôm” chất xám của người khác. Theo ông Trương Minh Nhật, gần đây, phía nam ca sĩ Quách Beem muốn hợp tác với ông trong sản phẩm âm nhạc có tên đầy đủ Gánh mẹ 2 để tránh việc bị cho là đạo thơ của ca khúc Gánh mẹ nhưng ông Nhật chưa đồng ý.

Thực tế, việc “mượn” thơ người khác để viết ca khúc cho riêng mình không còn hiếm gặp, đặc biệt là ở những ca sĩ, nhạc sĩ trẻ nước ta. Dư luận từng bức xúc khi ca sĩ Phạm Hồng Phước đạo thơ để viết ca khúc Khi chúng ta già. Khi ra mắt, ca khúc này được nhiều người yêu thích vì ca từ giản dị, gần gũi và phần nhạc cuốn hút. Nhưng sau đó, khán giả phát hiện Khi chúng ta già của Phạm Hồng Phước đạo bài thơ cùng tên của tác giả Nguyễn Thị Việt Hà. Ngay sau đó, nam ca sĩ đã gửi lời xin lỗi tác giả và người hâm mộ, đồng thời ghi rõ ca khúc được phổ từ bài thơ cùng tên của Nguyễn Thị Việt Hà và trả phí tác quyền cho nhà thơ.

Đầu 2019, làng nhạc trẻ cũng dậy sóng khi ca khúc của Tình nhân ơi của ca sĩ Châu Đăng Khoa đạo thơ của tác giả Linh Linh trong cuốn Những nỗi buồn không tên. Cụ thể, bài thơ có đoạn viết: “Ngủ đi em đừng lo chuyện ngày mai/ Ai của ai, chẳng còn quan trọng nữa/ Tình yêu, suy cho cùng, cũng là một lời hứa/ Nên lắm người quên, em nhớ để làm gì?” thì ở Tình nhân ơi là: “Hãy ngủ đi em/ Lo làm gì chuyện của sớm mai/  Ai của riêng ai chẳng quan trọng nữa/ Tình yêu đến cuối cùng cũng chỉ là một lời hứa thôi/ Ai cũng quên rồi sao em nhớ?”. Trước những bằng chứng không thể chối cãi, ca sĩ Châu Đăng Khoa xin lỗi nhà thơ Linh Linh vì “không tìm hiểu kỹ”, “chẳng biết em để mà xin phép”. Tuy nhiên sau cùng, Châu Đăng Khoa đã phải trả tiền tác quyền cho tác giả Linh Linh và sự việc lùm xùm trong làng nhạc trẻ này sau đó mới lắng xuống.

Cần có ý thức và sự chuyên nghiệp

Nhiều ý kiến cho rằng, trường hợp có hai người cùng tuyên bố quyền tác giả của mình đối với một tác phẩm (không phải trong trường hợp đồng sáng tạo) thì phải chứng minh được quá trình họ đã lao động sáng tạo nên tác phẩm đó nhưng lợi thế sẽ thuộc về người chứng minh được thời điểm mình công bố tác phẩm sớm hơn. Tuy nhiên, việc đạo thơ như các trường hợp kể trên trong thời buổi công nghệ số, mạng xã hội phát triển như hiện nay rất khó để che đậy. Thực tế ở các trường hợp trên cho thấy, các tác giả thơ là người luôn có đủ bằng chứng chứng minh tác phẩm ra đời trước bài hát, ca khúc có phần lời như “anh em sinh đôi”.

Điều khán giả quan tâm hơn cả chính là ý thức và cách ứng xử của các ca sĩ, nhạc sĩ trẻ trước những sự việc mà họ phải đối mặt. Có thể thấy, ca sĩ Quách Beem, Châu Đăng Khoa, Phạm Hồng Phước khi vướng nghi án đạo thơ sang nhạc, ban đầu họ đều có thái độ, hành động phủ nhận, đưa ra lời giải thích không biết chủ nhân bài thơ, đoạn văn mà họ đã lấy để viết lên những bản nhạc là ai. Chỉ khi mọi chuyện rõ ràng, bức xúc trong dư luận lên cao trào thì các ca sĩ trẻ này mới nhận ra cái sai và có công thức chung là để khắc phục hậu quả: xin lỗi – trả tiền tác quyền.

Vì vậy, dù vì lý do là gì thì hành động đạo thơ làm nhạc và cách ứng xử của các ca sĩ thời gian gần đây cho thấy cách làm việc thiếu chuyên nghiệp. Nếu không có thực tài hoặc đánh cắp sản phẩm tinh thần của người khác, thì con đường nghệ thuật của ca sĩ nói riêng, nghệ sĩ nói chung khó lâu bền và tạo được chỗ đứng với công chúng.

Mai Kiên

 

Sự thật về tình bạn giữa Văn Cao và Phạm Duy

 

Nhà thơ – họa sĩ Văn Thao: Sự thật về tình bạn giữa Văn Cao và Phạm Duy

Tác giả:

Hồn Việt

Nhân kỷ niệm ngày sinh của nhạc sĩ Văn Cao (15-11-1920), Hồn Việt đã hỏi chuyện con trai ông, nhà thơ – họa sĩ Văn Thao, để hiểu rõ hơn thực chất tình bạn giữa hai nhạc sĩ Văn Cao và Phạm Duy. Một tình bạn mà truyền thông lâu nay vẫn ca ngợi với những lời có cánh như là một “Tình bạn tri kỷ” và vẫn luôn cố tình xếp hai người cùng đứng bên nhau trong nhiều chương trình văn nghệ…

http://www.hoinhacsi.vn/sites/default/files/005tinhkhucvancaojpg1372382379.jpg

* HV: Người đời nói nhiều về tình bạn giữa nhạc sĩ Văn Cao và nhạc sĩ Phạm Duy. Có nhiều điều thiếu chính xác. Xin ông cho biết sự thật về mối quan hệ đó giữa Văn Cao và Phạm Duy?

– Nhà thơ – họa sĩ VĂN THAO: Mùa xuân năm 1944, Phạm Duy theo gánh hát cải lương Đức Huy Charlot Miều mới được thành lập và xuống Hải Phòng biểu diễn ra mắt lần đầu tiên. Trong gánh hát, lúc đầu Phạm Duy chỉ là một anh chàng chuyên làm những công việc tạp vụ: dọn phông màn, bán vé, xếp chỗ ngồi, vẽ quảng cáo… Sau một vài đêm diễn, phát hiện Phạm Duy có một giọng hát hay, ông chủ gánh hát bèn bổ sung tiết mục, cho Phạm Duy ra hát lấp chỗ trống trong thời gian thay cảnh. Lần đầu được đứng trên sân khấu, với phong cách cách lãng tử và một giọng ca bẩm sinh ấm áp, qua hai tác phẩm: Bản đàn xuân của Lê Thương, Con thuyền không bến của Đặng Thế Phong, Phạm Duy đã gây được ấn tượng trong lòng khán giả. Qua một số người bạn ở Hải Phòng, Phạm Duy biết tới những sáng tác của Văn Cao. Những ngày sau đó, bài hát Buồn tàn thu của Văn Cao đã được Phạm Duy biểu diễn và được khán giả Hải Phòng ghi nhận.

http://honvietquochoc.com.vn/images/thumbs/0014802.jpeg

Phạm Duy gặp Văn Cao khi đó chỉ là một ca sĩ mới vào nghề, có một sáng tác đầu tay chưa được ai biết là bài Cô hái mơ (1942), phổ thơ Nguyễn Bính. Trong khi đó Văn Cao đã là một nhạc sĩ nổi tiếng Hải Phòng trong nhóm Đồng Vọng với hàng loạt ca khúc: Buồn tàn thu (1939), Thiên thai (1941), Trương Chi (1942), Suối mơ (1942), Thu cô liêu (1942), Bến xuân (1943), Cung đàn xưa (1943)… Cho nên không có chuyện “một vài bài hát… Văn Cao sáng tác cùng với Phạm Duy” như một số người đã đề cập.

Cuộc gặp gỡ lần đầu giữa Văn Cao với Phạm Duy mới được “dăm bữa, nửa tháng” chưa đủ để Văn Cao hiểu rõ về Phạm Duy. Tuy nhiên, Văn Cao đã nhìn thấy trước được “tiềm năng âm nhạc” trong con người Phạm Duy, vì thế ông đã động viên và khuyên “…mày nên đi vào sáng tác…”.

Còn Phạm Duy, trong hồi ký của mình, ông đã viết “…Trong thời gian ở Hải Phòng… tôi có cái may mắn gặp một người bạn. Người đó là Văn Cao”.

Sau gần hai tháng biểu diễn tại Hải Phòng, Phạm Duy tạm biệt Văn Cao cùng gánh hát Đức Huy tiếp tục cuộc hành trình từ Bắc vào Nam. Trong hành trang của mình, Phạm Duy đã có thêm một số tác phẩm của Văn Cao.

Sau hai năm gắn bó với gánh hát Đức Huy du ca khắp mọi miền đất nước, trung tuần tháng 6-1945, Phạm Duy rời bỏ gánh hát để trở thành ca sĩ tự do tại Sài Gòn. Cuối tháng 10-1945, Phạm Duy ra Hà Nội. Gặp lại Văn Cao, mới biết Văn Cao là tác giả của bài Tiến quân ca và một loạt ca khúc cách mạng khác như: Chiến sĩ Việt Nam, Công nhân Việt Nam, Không quân Việt Nam, Hải quân Việt Nam… Gặp Văn Cao và một số bạn bè cùng giới tại một số tụ điểm âm nhạc tại Hà Nội lúc đó, Phạm Duy đã là một ca sĩ thành danh và cũng đã có những sáng tác ban đầu được ghi nhận như: Chinh phụ ca, Cây đàn bỏ quên, Gươm tráng sĩ, Khối tình Trương Chi. Tuy nhiên với Văn Cao, Phạm Duy đã phải cảm phục thốt lên “Văn Cao thật là một con người tài hoa. Nhạc tình của nó hay, nhạc hùng của nó cũng hay không kém như: Chiến sĩ Việt Nam, Công nhân Việt Nam, Không quân Việt Nam…” (Hồi ký Phạm Duy, quyển 2, chương 4, 5).

Đầu năm 1946, Phạm Duy gia nhập đội quân Nam tiến vào chiến trường miền Nam, chiến đấu tại mặt trận Bà Rịa-Vũng Tàu. Cuối tháng 10-1946, Phạm Duy lại trở ra Hà Nội, lang thang và hát tại một số phòng trà. Ngày 19-12- 1946 (Toàn quốc kháng chiến), Văn Cao gặp Phạm Duy tại phố Huế, ông trao cho Phạm Duy một tấm giấy, giới thiệu Phạm Duy về công tác tại Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam tại chùa Trầm. Được “dăm bữa, nửa tháng”, Phạm Duy lại bỏ đài để gia nhập đoàn kịch Giải Phóng của họa sĩ Phạm Văn Đôn.

Đầu tháng 5-1947, đoàn kịch Giải Phóng lên đến Lao Kay, Phạm Duy gặp lại Văn Cao.

Văn Cao lên Lao Kay từ đầu năm 1947, phụ trách Đội điều tra Công an Liên khu X. Ông mở một quán ca nhạc, có tên là quán Biên Thùy bên kia cầu Cốc Lếu để làm vỏ bọc cho những hoạt động của mình. Tình hình Lao Kay lúc đó rất phức tạp, là một tỉnh biên giới với Trung Quốc, là địa bàn hoạt động của bọn phản động Quốc dân đảng, bọn thổ phỉ, bọn buôn lậu và còn là tỉnh lỵ tập trung đông dân tản cư từ khắp mọi miền của đất nước, vì vậy quán Biên Thùy trở thành một tụ điểm sinh hoạt văn hóa nơi biên ải. Với uy tín của mình Văn Cao đã thành lập được một ban nhạc, tập hợp nhiều nghệ sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ có tên tuổi từ Hà Nội, Hải Phòng lên biểu diễn phục vụ khách hàng thâu đêm. Gặp Văn Cao tại quán Biên Thùy với một không gian âm nhạc ấm cúng, lãng mạn, Phạm Duy liền bỏ đoàn kịch Giải Phóng và rủ luôn cả ca sĩ Mai Khanh cùng nhạc sĩ Ngọc Bích ở lại với Văn Cao. Phạm Duy hát tại quán Biên Thùy của Văn Cao gần ba tháng thì lại cùng Ngọc Bích chia tay Văn Cao ra đi. Cuộc chia tay giữa hai người lần này không vui vẻ lắm vì trong thời gian này Phạm Duy “phải lòng” một cô gái nhảy xinh đẹp là nhân viên hoạt động trong đội điều tra của Văn Cao. Không chấp nhận được điều đó, Văn Cao tức giận, đuổi Phạm Duy đi. Trước khi dứt tình ra đi, Phạm Duy đã để lại cho người đẹp nơi biên ải một tình khúc nổi tiếng là bài Bên cầu biên giới (trong cuốn Phạm Duy còn đó nỗi buồn, Tạ Tỵ có viết về sự kiện này).

Có thể nói, gặp Văn Cao lần này, Phạm Duy không chỉ là ca sĩ mà còn là một nhạc sĩ đã thành danh. Văn Cao coi Phạm Duy là một người bạn đồng nghiệp. Hai người đã có thời gian để bàn bạc, trao đổi với nhau nhiều về nghệ thuật, hiểu rõ về nhau hơn, vì thế, ông đã thẳng thắn khuyên Phạm Duy: “Thế mạnh của mày là ở dân ca. Hãy khai thác và đưa chất liệu dân ca vào những sáng tác của mình. Tao tin mày sẽ thành công. Cần tìm cho mình một con đường, một phong cách riêng…”.

Sau cuộc gặp gỡ này, hàng loạt những ca khúc của Phạm Duy đã ra đời. Năm năm đi theo kháng chiến, với hơn 40 ca khúc, Phạm Duy đã trở thành một trong những nhạc sĩ nổi tiếng, có nhiều đóng góp trong giai đoạn đó. Có thể kể ra một số bài điển hình như: Nhạc tuổi xanh, Gánh lúa, Nương chiều, Bà mẹ quê, Phố buồn, Bà mẹ Gio Linh, Bên cầu biên giới, Tiếng đàn tôi, Quê nghèo, Về miền Trung…

Cuối năm 1949, tại Thanh Hóa, Phạm Duy lấy vợ là ca sĩ Thái Hằng, em nhạc sĩ Phạm Đình Viêm. Giữa năm 1950, vợ chồng Phạm Duy được triệu tập lên Việt Bắc dự Đại hội Văn nghệ. Phạm Duy gặp lại Văn Cao. Đây là cuộc gặp cuối cùng giữa hai người để rồi họ xa nhau mãi mãi…

Sau Đại hội Văn nghệ, Phạm Duy trở về Thanh Hóa. Ngày 1-5-1951, Phạm Duy cùng gia đình từ bỏ kháng chiến, “dinh tê” về Hà Nội, rồi vào Sài Gòn sinh sống.

Tuy mỗi người ở một phương trời khác nhau nhưng Phạm Duy luôn kính trọng Văn Cao, coi ông là một nhạc sĩ lớn có nhiều ảnh hưởng trong sự nghiệp sáng tác của mình. Phạm Duy là người có công truyền bá các nhạc phẩm của Văn Cao đến với công chúng trên mọi miền đất nước. Nhiều tác phẩm của Văn Cao được ông đem ra phân tích và ca ngợi. Đặc biệt với bài Trường ca sông Lô ông đã viết: “Trường ca sông Lô là một tác phẩm vĩ đại. Thằng bạn này vẫn là kẻ khai phá. Nó là cha đẻ của loại trường ca. Về hình thức, bài của nó chẳng thua gì bất cứ một tuyệt phẩm nào của loại nhạc cổ điển Tây phương”. Sau này ở miền Nam, trong một lần được mời sang Mỹ giảng dạy về Âm nhạc phương Đông, Phạm Duy đã phát biểu: “Tôi được vinh dự này, xin cảm ơn một người bạn và cũng là một người thầy của tôi là nhạc sĩ Văn Cao hiện đang sống ở miền Bắc Việt Nam”.

Đầu năm 2000, Phạm Duy về nước. Cha tôi không còn nữa. Gặp tôi, ông nói: “…Tao luôn ganh đua với bố mày. Bố mày có Thiên thai, tao cũng có Tiếng sáo Thiên thai. Bố mày có Trương Chi, tao cũng có Khối tình Trương Chi. Bố mày có Trường ca sông Lô, tao cũng có Tiếng hát sông Lô. Bố mày giỏi quá. Tao không thể bằng được”.

Cuộc gặp này khiến tôi hiểu ra một điều – không giống nhiều người khác, Phạm Duy không có tính đố kỵ.

Còn Văn Cao, đối với Phạm Duy ông đã từng khẳng định “Muốn nói gì thì nói, Phạm Duy vẫn là một nhạc sĩ lớn. Nó là người có công trong việc sử dụng các chất liệu dân ca đưa vào những sáng tác của mình một cách sáng tạo, mở ra một con đường cho các nhạc sĩ sau này đi theo. Không thể phủ định nó trong lịch sử của nền âm nhạc Việt Nam”.

* Nghe nói chính nhạc sĩ Phạm Duy là người đã treo lá cờ đỏ sao vàng và hát bài Tiến quân ca trong cuộc mít tinh ngày 17-8-1945?

– Tôi khẳng định không có chuyện đó vì:

Phạm Duy theo gánh hát Đức Huy rời Hải Phòng vào cuối mùa xuân năm 1944 để tiếp tục cuộc hành trình lưu diễn từ Bắc vào Nam. Theo hồi ký của Phạm Duy thì “…Vào đầu tháng 8-1945, ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng, tôi nghe tin từ Hà Nội đưa vào: Một mặt trận chính trị mang cái tên là “Việt Nam Độc lập Đồng minh” đứng ra kêu gọi dân chúng làm cuộc tổng khởi nghĩa…”, “tới ngày 19-8-1945 có tin Cách mạng do Việt Minh lãnh đạo đã thành công ở miền Bắc…” (tập 2, chương 3).

Như vậy có thể khẳng định, trong những ngày Cách mạng tháng Tám lịch sử, Phạm Duy không có mặt tại Hà Nội.

Vậy mà không hiểu vì sao, nhà văn Thụy Khuê (sống và làm việc tại Pháp) đã từng đọc rất kỹ cuốn Hồi ký Phạm Duy mà vẫn còn cố tình gán cho Phạm Duy là người đã “buông lá cờ đỏ sao vàng [trên bao lơn Nhà hát Lớn] và xuống cướp loa phóng thanh hát [bài Tiến quân ca]”.

Thụy Khuê đã trích dẫn hồi ký của nhạc sĩ Văn Cao về bài Tiến quân ca in trên tạp chí Sông Hương số 26 tháng 7&8 năm 1987 để gán cho Phạm Duy là người có công tham gia trực tiếp trong những ngày Cách mạng tháng Tám – điều mà chính Phạm Duy cũng không dám nghĩ đến!

Cha tôi viết hồi ký Tại sao tôi viết Tiến quân ca? vào ngày 7-7-1976 tại Hà Nội. Một nhân vật trong hồi ký mà cha tôi viết tắt nguyên là chữ “Ph.Đ”. Do lỗi đánh máy, Sông Hương in mất dấu thành “Ph.D”. Vì vậy mới có chuyện để nhà văn Thụy Khuê suy diễn thành Phạm Duy…

Ông đã viết: “Lá cờ đỏ sao vàng được thả từ bao lơn Nhà hát Lớn xuống. Bài Tiến quân ca đã nổ như một trái bom. Nước mắt tôi trào ra. Chung quanh tôi, hàng ngàn giọng hát cất lên vang theo những đoạn sôi nổi. Ở những cánh tay áo mọi người, những băng cờ đỏ sao vàng đã thay những băng vàng của chính phủ Trần Trọng Kim. Trong một lúc, những tờ bướm in bài Tiến quân ca được phát cho từng người trong hàng ngũ các công chức dự mít tinh.

Tôi đứng lẫn vào đám đông quần chúng trước cửa Nhà hát Lớn. Tôi đã nghe giọng hát quen thuộc của bạn tôi, anh Ph.Đ. qua loa phóng thanh. Anh là người đã buông lá cờ đỏ sao vàng trên kia và xuống cướp loa phóng thanh hát. Con người trầm lặng ấy đã có sức hấp dẫn hàng vạn quần chúng ngày hôm đó, cũng là người hát trước quần chúng lần đầu tiên, và cũng là một lần duy nhất”…

Thụy Khuê ở nước ngoài, đã tiếp xúc Phạm Duy nhiều lần, từng gặp gỡ nhiều những nhân vật có tên tuổi trong và ngoài nước để phỏng vấn… Đó là công việc cần thiết của một nhà văn cho những sáng tác. Nghiên cứu tư liệu phục vụ cho những trang viết của mình, đặc biệt là những tư liệu liên quan tới những nhân vật nổi tiếng có gắn với những sự kiện lịch sử của dân tộc thì cần thiết phải có một cái tâm trong sáng, trung thực, khách quan và thận trọng trong từng trang viết. Một nhà văn “nổi tiếng” như Thụy Khuê chẳng nhẽ lại không hiểu?

“Ph.Đ” là Phạm Đức – người làng Kim Liên, Hà Nội. Một làng nghề có truyền thống cắt tóc. Gia đình Phạm Đức có một tiệm cắt tóc tại Hải Phòng. Phạm Đức người bé nhỏ, điềm đạm, có nước da ngăm đen nên bạn bè thường gọi là Đức đen. Phạm Đức yêu âm nhạc, biết đánh đàn piano. Sau này ông thường lên thăm cha tôi tại 108 Yết Kiêu, bao giờ cũng có quà cho anh em tôi. Những lúc cha tôi vắng nhà, lại thấy ông ngồi vào cây đàn của cha tôi đánh một cách say sưa. Văn Cao, Phạm Đức, Doãn Tòng, Đỗ Hữu Ích, Chương Đức Chính, Tín híp, Trần Liễn… chơi thân với nhau từ khi còn học tiểu học (sau này thêm Nguyễn Đình Thi). Đây cũng là những người được ông Vũ Quý, một cán bộ cách mạng hoạt động bí mật tại Hải Phòng, giác ngộ, đưa vào tổ chức Thanh niên Cứu quốc từ năm 1942. Về sau, những người bạn này đều tham gia vào đội Danh dự Việt Minh (đội trừ gian) do Văn Cao phụ trách.

Kể lại cho tôi nghe sự kiện này, tôi thấy giọng cha tôi nghèn nghẹn: “…Bố bất ngờ nhất là việc bác Đức đen nhảy xuống cướp loa phóng thanh, hát vang bài Tiến quân ca. Và hàng vạn quần chúng nhân dân cùng đồng thanh hát ầm vang cả quảng trường. Nước mắt bố trào ra… Vậy mà, sau này vẫn có người nhận mình là người treo cờ hôm đó”. Cha tôi lặng đi. Chén rượu trên tay run rẩy…

* Nhạc sĩ Văn Cao đã nhận xét về thái độ chính trị của Phạm Duy “Ai cũng có điểm dừng, chỉ có Phạm Duy là không có giới hạn” ý nói về những bài ca, những phát ngôn của Phạm Duy (ở Sài Gòn và ngoại quốc). Ông có nhận xét gì về những nhận xét đó của cha mình?

– Cha tôi đã nhận xét đúng về Phạm Duy. Về một khía cạnh nào đó mà tôi được biết, nhận xét này của ông còn có phần nương nhẹ đối với Phạm Duy.

* Cụ Văn Cao ủng hộ cho việc Phạm Duy về nước. Ông có bình luận gì về việc đó?

– Từ những năm đầu của thập kỷ 1990, đã có tin đồn về việc Phạm Duy xin về nước, đến năm 1994 thì thấy bà Thái Hằng (vợ Phạm Duy) về và đến thăm cha tôi. Khi đó gia đình tôi mới biết tin Phạm Duy xin về nước là chính xác. Sau đó ít lâu, một cán bộ cấp cao bên ngành an ninh đã đến gặp cha tôi hỏi ý kiến. Cha tôi nói “Phạm Duy là một nhạc sĩ có tên tuổi, có nhiều đóng góp cho nền âm nhạc nước ta. Không thể phủ nhận được những tác phẩm của ông ta trong nửa đầu của cuộc kháng chiến. Nó là thằng bạn cũ của tôi. Tôi hiểu nó. Giờ đây Phạm Duy đã gần 80 tuổi rồi, còn làm gì được nữa đâu…”.

Việc cha tôi ủng hộ cho Phạm Duy về nước là đúng.

* Sự nghiệp sáng tác của Văn Cao thật đồ sộ. Nhận xét của ông về tranh và minh họa của Văn Cao, có gì độc đáo? Những bức vẽ đó hiện đang ở đâu?

– Cha tôi hoạt động nghệ thuật trên nhiều lĩnh vực: văn, thơ, nhạc, họa. Sự nghiệp của ông là ở chính những tác phẩm của mình, mọi người đều biết. Hãy để cho giới chuyên môn đánh giá thì khách quan hơn.

Văn Cao tự học vẽ từ nhỏ. Ông chuyên vẽ sơn dầu. Đầu năm 1944, lần đầu tiên Văn Cao có ba bức tranh: Cuộc khiêu vũ của những người tự tử, Những đứa trẻ ăn mày, Tuổi dậy thì, được trưng bày tại triển lãm Salon Unique tại nhà Khai Trí Tiến Đức cùng với các bậc thầy của Trường Mỹ thuật Đông Dương. Tranh của ông được giới họa sĩ đánh giá cao về bút pháp và màu sắc. Đặc biệt là bức Cuộc khiêu vũ của những người tự tử đã được báo chí ca ngợi hết lời. Văn Cao vẽ không nhiều, số lượng tranh ông vẽ trước Cách mạng và trong kháng chiến có thể đếm trên đầu ngón tay, đến nay đã bị thất lạc hết. Tuy nhiên nhiều bức tranh nổi tiếng của ông như: Cô gái đan len, Thái Hà ấp đêm mưa, Lớn lên trong kháng chiến, Cây đàn đỏ… vẫn còn được mọi người nhắc đến. Sau này về Hà Nội, mãi đến năm 1961 ông mới vẽ lại… nhưng cũng chỉ được hơn một chục bức, vì không có đủ tiền mua toan và màu vẽ. Văn Cao vẽ trong tiếng vọng hoài niệm tìm đến vẻ đẹp của thẩm mỹ siêu thực với bút pháp phóng khoáng, mạnh mẽ, chủ động trong đường nét và bố cục. Những chuyển động mạnh của màu sắc trong những mảng miếng lập thể đã gây ấn tượng cho người xem. Tranh của Văn Cao luôn vượt ra khỏi sự gò bó của khung tranh. Những bức tranh nổi tiếng của ông trong thời kỳ này như Chân dung nhà văn Đặng Thai Mai, Chân dung cà phê Lâm, Dân quân Mèo, Người Mèo say rượu, Cô gái đánh dương cầm… đã làm cho giới mỹ thuật kinh ngạc và cảm phục. Nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân đã viết: “…Những cái nhìn hội họa ở anh có địa vị dẫn đường và chi phối…”. Tuy nhiên, tranh của ông vẽ ra hầu như không bán được. Ông thường tặng bạn bè và bán rẻ cho một số nhà sưu tập lấy một số tiền ít ỏi để trang trải cho cuộc sống. Thời chiến tranh, đời sống khó khăn, mấy ai có tiền để mua tranh. Văn Cao phải nhận vẽ bìa sách, minh họa để kiếm sống nuôi gia đình. Trong lĩnh vực này, “Chính Văn Cao và vài ba người nữa, vào những năm 60 đã mở một thẩm mỹ mới cho minh họa và bìa sách. Những đề xuất của anh về một ngữ pháp mới cho đồ họa theo tôi, đến nay vẫn còn khả năng khai thác và biến thể một ngôn ngữ nữa. Có thể nói Văn Cao đã lập được trường phái minh họa và bìa sách. Nhiều minh họa của anh trên báo Văn nghệ phải gọi là xuất sắc… Ta dễ dàng nhận ra những sáng tối tương phản, những đậm nhạt thầm lặng, những đường viền nặng nề rồi bỏ quãng trôi chìm vào bóng tối, những chữ sắc nét như dao trổ, những hình tượng đẩy dồn về phía trước, những không gian tượng trưng… Văn Cao tỏ ra nhạy bén về cảm xúc, và tinh tường trong quan sát” (Thái Bá Vân).

Trong những minh họa của mình, ông chỉ ký một chữ Văn, nhưng mọi người đều nhận ra minh họa của Văn Cao. Ông từng giải thích với tôi: “Mỗi minh họa của bố là một bức tranh đen trắng. Nó chưa hoàn chỉnh vì chỉ là những phác thảo cho những bức tranh sơn dầu sau này nếu như bố còn thời gian. Vì thế bố chỉ ký một nửa tên của mình”.

Tiếc rằng ông không còn nữa để có thể hoàn thiện hàng trăm bức minh họa của mình thành những những bức tranh và ký vào đấy hai chữ: Văn Cao.

Tác giả: Hồn Việt

Những mối tình nổi tiếng của NS Phạm Duy được kể lại bằng âm nhạc

 

Thứ Năm, ngày 01/11/2018 16:00 PM (GMT+7)

“Người kể chuyện tình” có tập 9 mang chủ đề về nhạc sĩ Phạm Duy.

Với chủ đề Nhạc sĩ Phạm Duy – Kiếp nào có yêu nhau, tập 9 Người kể chuyện tình sẽ mang đến những tiết mục được dàn dựng dựa trên các mối tình nổi tiếng của cố nhạc sĩ.

 

Nhạc sĩ Phạm Duy sinh năm 1921 tại Hà Nội, mất năm 2013 tại TP. HCM. Ông là “cha đẻ” của hàng loạt ca khúc nổi tiếng: Nghìn trùng xa cách, Tình ca, Tình hoài hương, Áo anh sứt chỉ đường tà, Ngày xưa Hoàng Thị… Khi còn sống, nhạc sĩ Phạm Duy từng chia sẻ ông là người nghiện yêu: “Tình trong ca khúc của tôi là có thật. Mỗi bài hát là một cuộc tình”.

 

Phạm Duy từng cho biết: “Trịnh tìm tình ru đời vào cõi mộng mị, Văn Cao cứ lạc bước vào chốn đào nguyên mà quên đường về. Còn tôi vẫn phá vách tường sương mù để tìm về thực tại”.

 

Các thí sinh Phan Ngọc Luân, Thu Hằng, Hồng Gấm, Nguyễn Ngọc Sơn, Khắc Minh sẽ tái hiện những chuyện tình nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Duy qua những ca khúc bất hủ.

 

Ca sĩ Hồng Hạnh tiết lộ mối thâm tình với nhạc sĩ Phạm Duy

 

Giám khảo khách mời tập 9 là nữ ca sĩ Hồng Hạnh. Không chỉ là một ca sĩ nổi tiếng, Hồng Hạnh còn được khán giả yêu thích với diễn xuất ấn tượng trong những bộ phim truyền hình, điện ảnh.

 

Nữ ca sĩ còn chia sẻ những thông tin thú vị bên lề, về mối thâm tình giữa gia đình chị và nhạc sĩ Phạm Duy. Hồng Hạnh xuất thân trong một gia đình có nền tảng âm nhạc vững vàng, cha mẹ cô là cặp song ca Nguyễn Hữu Thiết – Ngọc Cẩm lừng danh ở thập niên 40 – 50. Họ từng hát rất nhiều ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy.

 

Những mối tình nổi tiếng của NS Phạm Duy được kể lại bằng âm nhạc - 1

 

Hồng Hạnh có mối thâm tình với cố nhạc sĩ Phạm Duy.

 

Chị cho biết trong đêm nhạc Ngày trở về, nhạc sĩ Phạm Duy đã trao cho chị thể hiện ca khúc chủ đề khiến chị vô cùng vinh hạnh. Chính chị cũng thường song ca với ca sĩ Duy Quang – con trai của nhạc sĩ. Hồng Hạnh còn cho biết nhạc sĩ Phạm Duy thời trẻ cũng thường sang nhà mẹ chị đàn hát và còn ký tặng lên một cây đàn guitar.

 

Học trò Mr. Đàm hóa thành vợ cố nhạc sĩ Phạm Duy

 

Thu Hằng, cô học trò cưng của Đàm Vĩnh Hưng hóa thân vào vai ca sĩ dân công Thái Hằng, lần đầu gặp chàng chiến sĩ cách mạng Phạm Duy. Thái Hằng chính là chị ruột của danh ca Thái Thanh và là vợ của nhạc sĩ Phạm Duy sau này.

 

Tình yêu nảy nở giữa thời chiến được Thu Hằng lột tả đầy thơ mộng qua ca khúc Nước mắt mùa thu – ca khúc gắn liền với tên tuổi của danh ca Lệ Thu. Mặt khác, Nguyễn Ngọc Sơn, Hồng Gấm đảm nhận vai những ca sĩ nổi tiếng, mến mộ tài năng của nhạc sĩ Phạm Duy, trình diễn ca khúc Tình hờ, Kiếp nào có yêu nhau…

 

Những mối tình nổi tiếng của NS Phạm Duy được kể lại bằng âm nhạc - 2

 

Thu Hằng sẽ hóa thành vợ cố nhạc sĩ.

 

Phan Ngọc Luân dùng băng keo quấn guốc vào chân

 

Trong vai nhạc sĩ Phạm Duy lúc 18 tuổi, Phan Ngọc Luân thể hiện mối tình đơn phương với một cô gái tên Sâm qua ca khúc Cây đàn bỏ quên. Về sau, Sâm đi lấy chồng, người đó chính là anh trai ruột của nhạc sĩ. Không muốn làm kẻ tình địch của anh trai mình, Phạm Duy bỏ nhà vào miền Nam, đi hát rong từ đó.

 

Những mối tình nổi tiếng của NS Phạm Duy được kể lại bằng âm nhạc - 3

Những mối tình nổi tiếng của NS Phạm Duy được kể lại bằng âm nhạc - 4

 

Phan Ngọc Luân băng guốc.

 

Bất ngờ hơn, khi tiết mục kết thúc, MC Phương Trinh Jolie tinh ý phát hiện Phan Ngọc Luân đã dùng băng keo quấn guốc vào chân. Anh cho biết mình phải nhờ trợ lý làm vậy để tự tin diễn mà không bị rớt guốc.

 

Khắc Minh tái hiện chuyện “tình mẹ duyên con” của cố nhạc sĩ Phạm Duy

 

Khắc Minh sẽ đảm nhận vai Phạm Duy lúc 40 tuổi và thể hiện ca khúc Bao giờ biết tương tư. Chàng nhạc sĩ “hát rong” Phạm Duy từng yêu một người con gái Hà thành khi còn đôi mươi nhưng chuyện không thành.

 

Đến sau năm 1954, Phạm Duy được biết người đẹp đã di cư vào Sài Gòn, vắng bóng chồng, cô chỉ sống với con. Nhớ người xưa, Phạm Duy tìm đến thăm nhưng người phụ nữ ấy luôn giữ khoảng cách với ông.

 

Không ngờ, tất cả những tình cảm của Phạm Duy dành cho người đẹp đã làm rung động trái tim của cô con gái của nàng. Tình mẹ lại hóa duyên con. Lệ Lan chỉ mới mười mấy đôi mươi, đang tập tễnh làm thơ. Cô thể hiện sự khát khao yêu thương vào thơ và kín đáo gởi đến Phạm Duy.

 

Chuyện tình giữa Phạm Duy và Lệ Lan là một mối tình cao thượng, sự gặp nhau giữa hai tâm hồn. Nhạc sĩ Phạm Duy gọi đó là mối tình thơ và nhạc. Suốt 10 năm yêu nhau, Lệ Lan viết khoảng 300 bài thơ để tặng Phạm Duy. Trong gia tài sáng tác của nhạc sĩ Phạm Duy, ông cũng dành tặng nàng thơ ấy 40 bài hát.

 

Ngoài ra, cha đẻ của những nhạc phẩm nổi tiếng còn có chuyện tình chớp nhoáng với những bóng hồng khác như một ca sĩ phòng trà có tính cách bất cần đời, một vũ nữ nổi tiếng nhất nhì Hà Nội…

 

Tập 9 sẽ được phát sóng vào lúc 21h tối 1/11 trên kênh THVL1.

 

Rơi lệ đưa tang nhạc sỹ Phạm Duy

Sáng nay, 3/2, hàng ngàn người hâm mộ tại TP HCM đã đến tiễn đưa nhạc sỹ Phạm Duy về nơi an nghỉ cuối cùng. Hòa trong…

 

Dòng nhạc kỷ niệm với nhạc cũ miền Nam (kỳ 81): Hoàng Nguyên: Lời Dặn Dò

 

T.Vấn & Bạn Hữu thực hiện (2019)

clip_image001

clip_image002

clip_image003

clip_image004

clip_image005

Lời Dặn Dò – Sáng tác: Hoàng Nguyên

Trình bày: Hà Thanh (Pre 75)

Nghe thêm:

Hoài Nam – 70 Năm Tình Ca (23)- Hoàng Nguyên . . .

Đọc thêm hai bài của Du Tử Lê

Người đội vương miện cho nhan sắc Đà Lạt: Hoàng Nguyên

clip_image007

Cố nhạc sĩ Hoàng Nguyên/Cao Cự Phúc

Tôi không biết cố nhạc sĩ Hoàng Nguyên (1932-1973) có phải là người đầu tiên đem thành phố thơ mộng Đà Lạt ở miền Nam vào âm nhạc hay không? Nhưng, hiển nhiên, một trong những ca khúc viết về Đà Lạt của ông như “Đường nào lên thiên thai”, “Bài thơ hoa đào”, “Ai lên xứ hoa đào”… thì, ca khúc “Ai lên xứ hoa đào” đã trở thành “bạn-tâm-tưởng” của rất nhiều người.

Ca khúc vừa kể được Hoàng Nguyên viết khi ông mới 18 tuổi và mau chóng nổi tiếng tới mức sau này, nó trở thành một trong những ca khúc của hình thái “Tân-Cổ-Giao-Duyên” ngay những ngày tháng hình thành đầu tiên của nỗ lực phối hợp nghệ thuật này với phần cổ nhạc do soạn giả Viễn Châu soạn, nghệ sĩ Tấn Tài, trình bày.

Nếu bài thơ “Còn chút gì để nhớ” của nhà thơ Vũ Hữu Định, phải nhờ tới “chiếc đũa thần” ở phần nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy, để vinh danh thành phố Pleiku thì, chiếc vương miện dành cho Đà Lạt của Hoàng Nguyên lại là “thành phẩm” của riêng ông từ ca từ tới giai điệu:

“Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi

Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi

Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ

Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ

Nghe tâm tư mơ ước mộng đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa

“Ai lên xứ hoa đào dừng chân bước lần theo đường hoa

Hoa bay đến muôn người ngại ngần rồi hoa theo chân ai

Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa

Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương

Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên” (1)

Hai phân khúc đầu của “Ai lên xứ hoa đào” được Hoàng Nguyên / Cao Cự Phúc ghi lại những nét chính của Đà Lạt bằng những hình ảnh sống động tương tác với “khách lãng du” qua những nhân cách hóa có tính máu – thịt giữa thiên nhiên và con người, đã rất sớm cho thấy tài hoa của ông, cùng khả năng sử dụng hình ảnh và chữ nghĩa, như:

“Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ”

Hoặc

“Hoa bay đến muôn người ngại ngần rồi hoa theo chân ai”

Là những ca từ chứa đựng khá nhiều thi tính. Nhưng họ Cao không dừng ở đó. Ông đẩy ca từ của ông, lên một bậc cao hơn, khi cố tình khai thác đặc tính đảo ngữ mà chỉ ngôn ngữ Việt mới cho phép. Tôi muốn nói tới việc Hoàng Nguyên / Cao Cự Phúc đã vận dụng sự lặp lại một vài từ kép một cách ý nhị… Như các cụm từ “Hoa bướm / bướm hoa”, “quên lãng / lãng quên”:

“Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa”

Hay:

“Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên”

Từ điệp khúc tới phiên khúc cuối, trước khi hoàn tất chiếc vương miện dành cho nhan sắc Đà Lạt, họ Cao cho thấy mối tương quan đằm thắm hơn giữa hoa và người, khi ông so sánh màu hoa đào với môi, má người yêu. Cuối cùng, ông nhắc nhở du khách khi rời xứ hoa đào xin đừng quên mang về một cành hoa… Vì hoa, khi ấy không chỉ là một vật thể có đủ hương sắc mà, chúng còn chính là nỗi lòng, quá khứ của du khách nữa.

Tôi không biết đã có bao nhiêu du khách khi rời xa Đà Lạt, ngoài hành lý mang theo, còn là một cành hoa anh đào, như lời kêu gọi của họ Cao… Nhưng tôi tin, Đà Lạt đã phần nào thơ mộng hơn, cũng như đào ở thành phố lãng mạn này đã phần nào đẹp hơn, thắm thiết hơn, không chỉ trên hoa mà, còn trên môi, má và luôn cả tâm hồn du khách nữa.

Với một trái tim mẫn cảm, một tài năng rất sớm sủa được công nhận như trường hợp Hoàng Nguyên / Cao Cự Phúc, nhiều người cho rằng, họ Cao xứng đáng, rất xứng đáng để được hưởng nhận một đời sống nhẹ nhàng, êm ả tựa những ca từ (như thơ) của ông.

Nhưng thực tế đời thường đã hắt trả lại cho họ Cao, những phũ phàng, bất hạnh, như thể đó là “phần thưởng” mà định mệnh ganh ghét đố kỵ, đã dành riêng cho ông.

Cụ thể, cũng rất sớm, những ca khúc đẫm, đẫm chia lìa, những giai điệu, ca từ ngất, ngất đớn đau mang tên Hoàng Nguyên / Cao Cự Phúc ra đời như những nhát dao oan nghiệt xẻ nát đời ông.

Tiêu biểu cho tâm bão của phần đời tối ám này là ca khúc “Cho một người tình lỡ” hay “Đừng trách gì nhau”.

Tôi luôn nghĩ, một khi đau khổ, bất hạnh nhận chìm một tài năng nghệ thuật xuống tận đáy bùn địa ngục thì, đó là lúc mọi khả năng mang tính tài hoa, lãng mạn sẽ như thủy triều rút khỏi mọi bến bờ!

Trên bãi cát thực tế, đời thường sẽ khó có một hình ảnh thơ mộng, đầm ấm nào, ngoài những xác rác vương vãi… tựa chứng tích hiển nhiên tàn nhẫn mà bước chân hủy diệt của trận bão lầm than kia, đã cố tình để lại.

Tôi cho cảm nhận này khá đúng với trường hợp của cố nhạc sĩ Hoàng Nguyên / Cao Cự Phúc – nếu chúng ta làm một cuộc so sánh giữa ca từ óng ả, mượt mà, nhiều thi tính giữa “Ai lên xứ hoa đào” của ông, trước đấy “Đừng trách gì nhau” sau đó.

Ở “Đừng trách gì nhau” họ Cao vẫn có được cho ca khúc của mình giai điệu đẹp thiết tha (tới mủi lòng) – Nhưng ca từ của ca khúc này, lại như những lời nói dung dị, những hình ảnh mộc tới nhức nhối. Người nghe không hề tìm thấy một hình ảnh, một liên tưởng mang tính sáng tạo nào suốt chiều dài ca khúc. Phải chăng, cũng chính nhờ tính mộc, những lời nói bình thường, trực tiếp thốt ra từ tâm cảnh đứt đoạn ấy mà, nó đã cho ca khúc của họ Cao những xung động trực tiếp, đánh thẳng vào rung cảm người thưởng ngoạn. Nó là một câu chuyện kể lớp lang, trung thực, như người trong cuộc tâm sự với một người bạn sẵn lòng chia sẻ bất hạnh của mình:

“Ngày nào gặp nhau quen nhau yêu nhau rồi sống bên nhau

Những tưởng dài lâu như trăng như sao cho đến bạc đầu

Nào ngờ trời mưa mưa rơi không thôi nát tan tình đầu

Nước mắt rơi mau long lanh giọt sầu xót xa niềm đau

“Nào ngờ tình yêu đưa ta lênh đênh vào chốn mê say

Những tưởng thời gian không đi trong cơn mê đắm tuyệt vời

Nào ngờ giờ đây ly tan ly tan lứa đôi lạc loài

Giữa chốn u mê đêm đêm một người trách thương một người

“Ôi trời làm dông tố

Để người thầm trách người sao hững hờ phụ người

Ôi nửa đời gió sương. Mà còn đắng cay mà còn chua xót vì nhau

“Cuộc tình nào không thương đau anh ơi đừng trách chi nhau (2)

Trót vì mình vô duyên nên đôi nơi mang mối tình sầu

Vì trời còn mưa mưa rơi không thôi cuốn trôi tình người

Oán trách nhau chi bơ vơ nhiều rồi xót xa nhiều rồi.” (3)

Chú thích:

(1) Nguồn Wikipedia-Mở.

(2) Câu đầu của phiên khúc cuối, hầu hết các tư liệu trên mạng đều ghi là “anh” thay vì “em”: “Cuộc tình nào không thương đau anh ơi đừng trách chi nhau”- – Vì không có bản nhạc in trước 1975, nên tôi không biết có phải tác giả cố tình đặt mình vào vị trí người nữ, nói với người nam, tựa như người nữ đó, tự nhận nguyên nhân gây đổ vỡ về phía mình?

(3) Nđd.

Nguồn: https://dutule.com/a6997/nguoi-doi-vuong-mien-cho-nhan-sac-da-lat-hoang-nguyen-

Hoàng Nguyên, một đời tình không đầm ấm

Theo trang mạng Wikipedia-Mở thì đời thường cũng như đời tình của cố nhạc sĩ Hoàng Nguyên / Cao Cự Phúc là xâu chuỗi những gập ghềnh, bất hạnh. Khiến nhiều người đã đi tới kết luật rằng, cho tới lúc từ trần (khi còn rất trẻ) tuồng họ Cao không hề có cho riêng mình, một khoảng lặng êm đềm, hạnh phúc dài lâu nào?!? Tiểu sử của tác giả “Đừng trách gì nhau” được ghi như sau:

“Hoàng Nguyên (1932-1973) là một nhạc sĩ tên tuổi, tác giả các ca khúc nổi danh như Ai lên xứ hoa đào, Cho người tình lỡ.

Ông tên thật là Cao Cự Phúc, sinh ngày 3 tháng 1-1932 tại Quảng Trị. Lúc nhỏ theo học trường Quốc Học, Huế. Đầu thập niên 1950, Hoàng Nguyên tham gia kháng chiến nhưng rồi từ bỏ quay về thành phố.

Lên ở Đà Lạt, Hoàng Nguyên dạy học tại trường tư thục Tuệ Quang, thuộc chùa Linh Quang, khu số 4 Đà Lạt, do Thượng Tọa Thích Thiện Tấn làm Hiệu trưởng. Thầy giáo Cao Cự Phúc dạy Việt văn lớp đệ lục. Thời gian ở đó, ông là thầy giáo dạy nhạc cho Nguyễn Ánh 9, người sau này trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng đồng thời là nhạc công chơi đàn dương cầm.

Năm 1956, trong một đợt lùng bắt ở Đà Lạt, do trong nhà có bản Tiến Quân Ca của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, Hoàng Nguyên bị bắt và đày ra Côn Đảo khoảng năm 1957.

“… Ở Côn Sơn, thiên tình sử của người nghệ sĩ Hoàng Nguyên mở đầu với cảnh tình éo le và tan tác. Là một tài hoa đa dạng, người tù Hoàng Nguyên được vị Chỉ Huy Trưởng đảo Côn Sơn mến chuộng nên đã đưa chàng ta về tư thất dạy Nhạc và Việt văn cho ái nữ ông, tên H. năm đó khoảng 19 tuổi… Mối tình hai người nhóm lên vũ bão. Trăng ngàn sóng biển đã là môi trường cho tình yêu ngang trái này nảy nở.

“Chợt khi người con gái của Chúa Đảo mang thai. Mối tình hai nhịp so le bị phát giác. Để giữ thể thống cho gia đình. Vị Chúa Đảo giữ kín chuyện này và chỉ bảo riêng với người gây ra tai họa là nhạc sĩ Hoàng Nguyên: ông ta đòi hỏi Hoàng Nguyên phải hợp thức hóa chuyện lứa đôi của hai người và ông vận động cho người nhạc sĩ được trả tự do…” (Lâm Tường Dũ – Tình Sử Nhạc Khúc).

Hoàng Nguyên được trả tự do, trở về Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học ở trường tư thục Quốc Anh. Năm 1961, Hoàng Nguyên theo học Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, ban Anh văn. Trong thời gian theo học đại học, Hoàng Nguyên có quen biết với ông Phạm Ngọc Thìn, thị trưởng thành phố Phan Thiết. Bà Phạm Ngọc Thìn là nữ diễn viên Huỳnh Khanh, mến mộ tài năng của Hoàng Nguyên đã nhận ông làm em nuôi. Hoàng Nguyên dạy kèm cho Ngọc Thuận, con gái ông bà Phạm Ngọc Thìn. Hai người yêu nhau và Hoàng Nguyên trở thành con rể ông bà Phạm Ngọc Thìn. Trước đó Hoàng Nguyên có ý định quay lại với cô gái ở Côn Sơn, nhưng cô đã đi lấy chồng. Ca khúc “Thuở ấy yêu nhau” ra đời trong khoảng thời gian đó.

Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau đó chuyển về Cục Quân Cụ, dưới quyền của Đại tá nhạc sĩ Anh Việt – Trần Văn Trọng và được giao quản lý ban nhạc Hương Thời Gian của Anh Việt. Hương Thời Gian xuất hiện trên truyền thanh và truyền hình Sài Gòn thu hút khá đông khán thính giả.

Ngày 21 tháng 8 năm 1973 ở Vũng Tàu, Hoàng Nguyên mất do một tai nạn xe hơi.” (4)

Tới nay, tôi chưa thấy một tư liệu nào ghi rõ hai sáng tác bi lụy nổi tiếng nhất của họ Cao là “Đừng trách gì nhau” và “Cho người tình lỡ” ca khúc nào viết trước và cho, hay từ mối tình nào?

Nhưng theo tiết lộ của một người bạn (không làm văn nghệ) sát cánh, bên cạnh Hoàng Nguyên / Cao Cự Phúc tính tới những ngày cuối cùng của đời ông thì, mối tình của họ Cao với NT, em gái của nữ diễn viên H.K. cũng đã dẫn tới đoạn kết bi thảm, có phần đau đớn hơn mối tình với cô gái con ông chỉ huy trưởng trại tù Côn Sơn ngày nào – Vì, đó là kết cuộc họ Cao bị phản bội trong thời gian người con gái này đang chung sống với ông (?) Đó là sự kiện người phụ nữ ấy có liên hệ tình ái với một người đàn ông hoạt động trong lãnh vực xuất bản sách! (Người đàn ông này cũng đã qua đời cách đây nhiều năm, tại Sài Gòn. Người vợ chính thức của ông ta, hiện cư ngụ tại miền nam Cali).

Dù không ai biết chắc thời điểm sáng tác của hai ca khúc vừa kể, nhưng giai điệu cũng như ca từ của “Cho người tình lỡ” vẫn là những lời nói “mộc” – những lời nói đi ra từ cõi lòng tan nát – với những câu như:

“Khóc mà chi yêu thương qua rồi

Than mà chi có ngăn được xót xa

Tiếc mà chi những phút bên người

Thương mà chi nhắc chi chuyện đã qua…”

(…)

Mình nào ngờ tình rơi như lá rơi

Ngày tình đầy vòng tay ôm quá lơi

Để giờ này một người khóc đêm thâu

Một người nén cơn đau, nghe mưa mà cúi đầu

Hoặc nữa:

Thế là hết nước trôi qua cầu

Đã chìm sâu những tháng ngày đắm mê

Thôi đành quên những tiếng yêu đầu

Những lời yêu ấy nay đã quá xa…”

(Trích “Cho người tình lỡ”) (5)

Nhắc tới những tình khúc không đầm ấm của cố nhạc sĩ Hoàng Nguyên / Cao Cự Phúc, tôi cho sẽ là một thiếu sót, nếu không đề cập tới ca khúc “Tà áo tím”. Vì “Tà áo tím” của họ Cao cũng là một tình khúc nổi tiếng của ông.

Một nguồn tin khác cho biết, trước khi dấn sâu vào cuộc tình thương đau thứ hai, lúc được tin người yêu đầu của ông đang sống Huế, ông đã bay ra cố đô, tìm cô. Khi tìm được, ông mới hay, nàng đã có gia đình. Trở lại Sài Gòn, ông viết “Tà áo tím”. Như một lời từ biệt. Khai tử một giai đoạn, chia tay một quá khứ! Ca từ “Tà áo tím” có phần nhẹ nhàng thủ thỉ hơn. Dù kết cuộc vẫn là “…Người áo tím qua cầu / Tà áo tím phai màu / Để dòng Hương Giang hờ hững cũng nao nao”:

“Một chiều lang thang bên dòng Hương Giang

Tôi gặp một tà áo tím

Nhẹ thấp thoáng trong nắng vương

Màu áo tím ôi luyến thương

Màu áo tím ôi vấn vương

(…)

“Để rồi chiều chiều lê chân bên dòng Hương Giang

Mong tìm lại tà áo ấy

Màu áo tím nay thấy đâu

Người áo tím nay thấy đâu

Dòng nước vẫn trôi cuốn mau

“Rồi chợt nghe tin qua lời gió nhắn

Người áo tím qua cầu

Tà áo tím phai màu

Để dòng Hương Giang hờ hững cũng nao nao”

(Trích “Tà áo tím”) (6)

Chú thích:

(4), (5), (6): Nđd.

Nguồn: https://dutule.com/a7010/hoang-nguyen-mot-doi-tinh-khong-dam-am-

Comments are closed.

“Mối tình thơ nhạc” kéo dài 10 năm của nhạc sĩ Phạm Duy

 

Mối tình của nhạc sỹ Phạm Duy và người phụ nữ tên là Lệ Lan khởi đầu khá trớ trêu. Lệ Lan chính là con gái của người phụ nữ mà khi còn trai trẻ, nhạc sỹ Phạm Duy đã thầm thương trộm nhớ.

Những nghệ sỹ tài danh thường có chuyện tình rất lãng mạn. Những câu chuyện tình ấy, dù có kết thúc như thế nào thì cũng trở thành nguồn cảm hứng để họ thăng hoa hơn trong nghệ thuật. Chuỗi bài Chuyện tình đẹp của 4 cây đại thụ trong nền nhạc Việt sẽ hé mở những câu chuyện tình yêu đầy lãng mạn của những nghệ sỹ nổi tiếng của Việt Nam.

Những cuộc tình chớp nhoáng

Khi còn sống, nhạc sỹ Phạm Duy từng thừa nhận ông là người “nghiện yêu” và “mỗi bài hát là một cuộc tình”. Ông nói rằng, trên đời này, “chưa ai sướng bằng tôi. Sướng ở cái nghĩa người ta lao tới và không bao giờ quên được nhau. Đôi mắt bao giờ cũng còn đuôi, không bao giờ hận tình”. Với Phạm Duy “tình yêu đẹp lắm. Người nam và người nữ yêu nhau mới có cuộc đời, còn nếu không yêu, tuyệt giống từ lâu rồi”.

Cùng nổi tiếng là đa tình nhưng nếu như tình yêu trong cuộc sống của Trịnh Công Sơn giống như ảo ảnh, mơ mộng, thì tình yêu của Phạm Duy lại rất thật. Ông đã từng so sánh: “Giữa lúc khó khăn, Trịnh tìm tình ru đời vào cõi mộng mị, tôi vẫn phá ra vách tường sương mù để tìm về thực tại”.

'Mối tình thơ nhạc' kéo dài 10 năm của nhạc sĩ Phạm Duy

Cố nhạc sĩ Phạm Duy

Phạm Duy thường có những cuộc tình chớp nhoáng, đầy nhục dục và nồng cháy. Trong cuốn hồi ký của mình, ông cũng không ngại nhắc lại những cuộc tình đó.

Theo như Phạm Duy chia sẻ, trong thời gian còn đi hát tại Hà Nội, ông cùng lúc có quan hệ với 2 người phụ nữ. Người thứ nhất là ca sỹ phòng trà Thương Huyền – người “có nụ cười và hàm răng như hoa nở. Tính tình thuộc loại bạt mạng, bất cần đời. Trong buổi họp mặt các văn nghệ sĩ tại nhà của họa sĩ Phạm Văn Đôn trên đường Halais, ở dưới nhà, người ta ngâm thơ và ca hát, ở trên lầu, bất cần mọi người, tôi và Thương Huyền yêu nhau thắm thiết”

Người thứ 2 là vũ nữ Định. Theo Phạm Duy người này là một trong 2 vũ nữ nổi tiếng nhất Hà Nội lúc bấy giờ: “Vũ nữ Định đẹp một cách lộng lẫy, trông như con gái nhà lành. Hơn thế nữa, trông như con nhà quyền quý. Cô vũ nữ có đôi bàn tay rất mọng này lại là con người có tính đồng bóng. Vừa mới ngủ với người tình trong đêm, sáng ra lại trợn mắt hỏi: “Anh là ai?” Tôi soạn cho cô vũ nữ tàng tàng này một bài hát lấy tên là Tình kỹ nữ: “Đêm nay đôi người khách giang hồ. Gặp nhau tình trăng nước…”.

Cũng theo hồi ký của Phạm Duy, khi lên Yên Thế làm nghề trông coi đồn điền, ông cùng lúc có cuộc tình với 2 nàng thôn nữ, một trong số đó đã khiến ông có ý định lấy làm vợ. Tuy nhiên, có lẽ số kiếp không cho ông được hưởng cuộc sống an phận của một người nông dân nên cuộc tình đó cũng nhanh chóng tan vỡ. Sau này, có lần tác giả của Tình ca có quay trở lại tìm người con gái ông muốn lấy làm vợ: “Gặp lại cô gái quê, thấy nàng vẫn chưa lấy chồng, vẫn còn đẹp, vẫn quần quật lao động… Trong mấy ngày ở lại đây, tôi được hưởng những đêm ân ái nồng cháy trên ổ rơm thơm phưng phức bên người đẹp nhà nông có thân hình cứng như… gỗ lim này.

Mối tình thơ nhạc kéo dài 10 năm

Nổi tiếng với hàng loạt mối tình thoáng qua và đầy sự đam mê xác thịt nhưng Phạm Duy cũng có một mối tình rất trong sáng với người con gái tên là Lệ Lan. Ông gọi đó là “mối tình thơ nhạc”. Mối tình này dù kéo dài suốt 10 năm. Vợ ông – ca sỹ Thái Hằng –  cũng biết tới nhưng có lẽ vì sự trong sáng của mối tình ấy nên bà cũng không ghen.

Mối tình của Phạm Duy với Lệ Lan được mở đầu một cách khá trớ trêu. Khi còn ở độ tuổi 20, chàng thanh niên Phạm Duy đã đem lòng yêu một người con gái Hà Thành. Tuy nhiên, tình cảm của ông không được đáp lại. Người con gái này đã lấy chồng và sau năm 1954 thì vào Nam sinh sống.

Sau này, Phạm Duy có tìm đến thăm. Người phụ nữ này dù rất trân trọng tình cảm của ông nhưng vẫn giữ khoảng cách nhất định. Điều không ai ngờ đã xảy ra khi con gái của người phụ nữ này lại rung động với nhạc sỹ Phạm Duy. Vì sự chênh lệch tuổi tác và hoàn cảnh trớ trêu, tác giả của Kiếp nào có yêu nhau ban đầu cũng có ý định lẩn tránh cô gái trẻ. Tuy nhiên, về sau ông đã xiêu lòng. Mối tình giữa Phạm Duy và Lệ Lan đã kéo dài trong suốt 10 năm. Trong suốt khoảng thời gian đó, bà đã sáng tác 300 bài thơ tình gửi Phạm Duy, một số bài trong đó đã được ông phổ nhạc.

'Mối tình thơ nhạc' kéo dài 10 năm của nhạc sĩ Phạm Duy

Tấm ảnh hiếm hoi của Phạm Duy và Lệ Lan

Mặc dù yêu nhau tha thiết nhưng mối tình giữa Phạm Duy và Lệ Lan đã không thành. Trước khi đi lấy chồng, Lệ Lan đã gửi cho nhạc sỹ Phạm Duy một bức thư. Trong đó bà viết: “Mười năm, quá đủ cho một mối tình đẹp và một đời người ngắn ngủi…(…)…Từ đây đến ngày cưới có thể L. sẽ xin gặp chú một, hai lần nữa. Chẳng để làm gì cả. L. chắc chú cũng nghĩ như L. Chẳng có gì bi thảm. Chẳng có gì tiếc hận. Một mối tình đẹp kết thúc một cách êm ái. L. chỉ xin giữ lại một chút dư hương để truyền lại cho các con của L. sau này cho chúng nó cũng có một tâm hồn biết yêu thương đằm thắm”.

Sau nay, khi đã ở cái tuổi thất thập cổ lai hy, nhớ lại một thời đã qua, nhạc sỹ Phạm Duy vẫn dành những lời lẽ rất yêu thương cho “mối tình thơ nhạc”: “Tôi yêu người phụ nữ ấy lắm. Trong gia tài các nhạc phẩm của tôi, tôi dành tặng bà ấy 40 bài hát là Phạm Duy lúc còn trẻ. Với tôi, có 3 bài hát đánh đấu thời điểm tôi yêu, tôi xa và tôi quên bà ấy như Ngày ấy chúng mình, Ngàn trùng xa cách và Chỉ từng đấy thôi”.

Theo Khampha

Mẹ ruột Ý Lan chưa biết tin nhạc sĩ Phạm Duy qua đời

 

Ở đám tang của nhạc sĩ Phạm Duy, không nghe tiếng tụng kinh, gõ mõ mà là tiếng hát cao vút, thánh thót, thổn thức của danh ca Thái Thanh, trải lòng những ca khúc của người quá cố: Hòn vọng phu, Đưa em tìm động hoa vàng, Ngày xưa Hoàng Thị, Gánh lúa, Nha trang ngày về… Trong không gian đó, người con trai thứ 3 (theo vai thứ của người miền Nam) đã xúc động kể về bố mình trong những ngày cuối cùng của “chuyến rong chơi trần gian”.

“Hôm tôi đang trên đường đến bệnh viện thì bác sĩ gọi, nói là bố tôi sắp ngừng thở rồi. Tôi chạy đến nơi thì bố vừa mới ra đi. Tôi không kịp ở cạnh ông trong giây phút cuối cùng đó”, con trai nhạc sĩ Phạm Duy bộc bạch.

– Những ngày cuối cùng của cuộc đời, bố anh  có trăn trối gì không anh?

– Trước ngày ông mất một hôm, ông có gọi tôi ra nói chuyện. Ông nói: “Bố sống cuộc đời đầy đủ rồi. Giờ bố ra đi, ra đi để gặp anh Quang.

 src=
Nhạc sĩ Duy Cường bên linh cữu của người cha nổi tiếng – nhạc sĩ Phạm Duy.

– Trước đó, nhạc sĩ Phạm Duy có nghĩ rằng mình về cõi vĩnh hằng sớm không?

– Hôm đưa ông vào bệnh viện cấp cứu, ông bị viêm phổi, không thở được nên rất ít nói. Chỉ khi nào ông khoẻ mới nói vài tiếng thôi.

– Cách đây vài tháng, tôi có gặp nhạc sĩ Phạm Duy, vẫn còn thấy rất khoẻ mạnh, phong độ mà…

– Thật sự mà nói, sự ra của bố tôi, tôi nghĩ là do ông bị chấn động trước tin anh Duy Quang ra đi, ông mất tinh thần, ảnh hưởng rất nhiều đến sức khoẻ.

– Trong những ngày đó, nhạc sĩ Phạm Duy có những biểu hiện buồn phiền, suy sụp?

– Không, bố tôi là một người rất kiên cường, mạnh mẽ. Ông ít khi biểu lộ nỗi buồn của ông ra. Tôi là người gần gũi ông, tôi biết là ông rất đau khổ. Sự đau khổ đã làm cho sức khoẻ của ông đi xuống.

– Trước tin nhạc sĩ Phạm Duy mất, những người con trong gia đình anh như: Tuấn Ngọc, Ý Lan, Thái Thảo… đã về Việt Nam chịu tang chưa anh?

– Ý Lan vừa nghe tin bố tôi mất đã chạy đến nhà ngay, còn Tuấn Ngọc, Thái Hiền, Thái Thảo, Thái Hạnh và những con cháu, sau khi hay tin  đã mua vé máy bay ngay. Ngày hôm nay 30/1, mọi người sẽ có mặt ở Việt Nam để tiễn đưa ông lần cuối.

– Sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy ảnh hưởng đến con đường nghệ thuật của các con rất lớn. Là một người gần gũi với ông, anh muốn nói gì về người bố của mình?

– Nếu nói về bố mình thì có nhiều điều để nói, tôi không tiện nói ở đây vì rất dài dòng.

– Nhưng mà bố anh đã truyền cho các con dòng máu nghệ thuật, sau này các con con của ông đều kiếm tiền bằng nghệ thuật, anh có thể nói đôi chút?

– Chúng tôi đã nghe nhạc của bố từ khi còn nằm trong bụng mẹ, sự ảnh hưởng đó lớn lắm, cho đến bây giờ luôn.

– Nhạc sĩ Phạm Duy có dạy các con về tâm, đức khi hoạt động nghệ thuật?

–  Bố dạy anh em chúng tôi: Hoạt động nghệ thuật cũng là một cái nghề, giống như mọi ngành nghề khác, cùng chung sức đóng góp cho xã hội, cho cuộc đời thế thôi.

– Trong các tác phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy, đến giờ này có tác phẩm nào chưa từng được công bố mà ông rất là tâm đắc không?

>Những dòng sổ chứa chan niềm thương tiếc NS Phạm Duy<

– Phần lớn là đã được công bố hết rồi và sự mong ước của bố tôi là làm sao nhạc của mình được rộng rãi, phổ biến đến với công chúng.

– Ca sĩ Thái Thanh là một ca sĩ tiền bối, hát nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy. Được biết là cô Thái Thanh cũng đang bị bệnh, không biết là bà đã biết tin nhạc sĩ Phạm Duy qua đời chưa?

– Thái Thanh là dì ruột của tôi, là mẹ ruột của Ý Lan. Ý Lan cho tôi biết là dì chỉ có bệnh hay quên thôi, còn hoàn toàn không có bệnh nào hết. Hiện giờ vì sợ ảnh hưởng sức khoẻ của bà, gia đình vẫn giấu bà tin buồn này. Từ từ nguôi ngoay, gia đình chúng tôi cũng sẽ cho bà biết. Tôi nghĩ bà sẽ rất xúc động khi nghe tin bố tôi mất.

– Anh sống ở Mỹ hay sống ở Việt Nam cùng bố?

– Tôi sống ở Mỹ và về Việt Nam sống với bố, kể từ khi ông về đây vào năm 2005.

– Anh về Việt Nam có hoạt động nghệ thuật không?

– Tôi vẫn làm nhạc, vẫn làm hoà âm từ trước đến giờ và bây giờ vẫn vậy.

– Trong các con của nhạc sĩ Phạm Duy thì anh là người có vẻ lặng thầm nhất?

– Phải nói chính xác là hơi “nhạt”.

– Kỷ niệm nào đáng nhớ, xúc động nhất về bố trong anh?

– Tôi nhớ những buổi trưa, bố cần mẫn dạy tôi về nhạc học, về ngũ cung, sự thành lập ngũ cung… cách sáng tác một bài nhạc như thế nào. Bây giờ tôi vẫn có thể nhớ như in hình ảnh ông ngồi dạy tôi học lúc tôi còn là một thằng bé.

– Những ngày cuối cùng nhạc sĩ Phạm Duy, có khi nào anh nghe ông nói về những dự tính âm nhạc?

– Như tôi đã nói ở trên, những ngày cuối cùng của cuộc đời, mỗi lần nói, bố tôi rất mệt, vì phải vận động lá phổi. Có nói thì cũng chỉ hỏi thăm gia đình thôi.

– Nhạc sĩ Phạm Duy có ấp ủ chuẩn bị một đêm nhạc rất lớn và tất cả đã muộn rồi, phải không anh?

– Tôi không được nghe đến điều đó.

– Cách đây mấy ngày, có thông tin trên báo chí là nhạc sĩ Phạm Duy có dự định tổ chức một đêm nhạc để công những ca khúc chưa từng được công bố?

– Không, bố tôi bệnh nặng nhất trong vòng hai tháng nay, từ khi anh Duy Quang mất. Ông hoàn toàn không nói gì đến các buổi trình diễn, chủ yếu là lo cho sức khoẻ nhiều hơn.

– Cách đây vài năm, khi ông mới về Việt Nam, ông có hoài bão là cống hiến, phụng sự cho nền âm nhạc Việt Nam? Ông có bao giờ chia sẻ với anh?

– Theo tôi biết là ước ao lớn nhất của bố tôi là các ca khúc của ông được phổ biến rộng rãi đến công chúng.

– Xin cám ơn anh!

Lê Ngọc Dương Cầm thực hiện

Con gái và con rể nhạc sĩ Phạm Duy tập luyện cho đêm nhạc ‘Giai nhân’

 

 Nhạc sĩ Vũ Thành An,  ca sĩ Ngọc Châm, danh ca Tuấn Ngọc và Thái Hiền có những buổi tập luyện miệt mài chuẩn bị cho đêm nhạc “Tình ca không tên - Giai nhân” diễn ra vào 20h ngày 13/4 tại Nhà hát lớn Hà Nội. 

© Được VTC News cung cấp
Nhạc sĩ Vũ Thành An,  ca sĩ Ngọc Châm, danh ca Tuấn Ngọc và Thái Hiền có những buổi tập luyện miệt mài chuẩn bị cho đêm nhạc “Tình ca không tên – Giai nhân” diễn ra vào 20h ngày 13/4 tại Nhà hát lớn Hà Nội.

Nhạc sĩ Vũ Thành An trực tiếp theo sát từng buổi tập, có những góp ý, hướng dẫn tỉ mỉ với các nghệ sĩ khi hát các nhạc phẩm của mình. Ông từng chia sẻ, điều đáng tiếc là rất nhiều nghệ sĩ hát nhạc của ông nhưng không hỏi ý kiến ông và thường hát sai lời, làm mất đi ít nhiều ý nghĩa của bài hát. Từ trước tới nay, chỉ có album “Giai nhân” của học trò Ngọc Châm là ông đã theo sát từ đầu và không hát sai lời nhạc của ông. Với đêm nhạc “Tình ca không tên - Giai nhân”, nhạc sĩ Vũ Thành An muốn đem đến cho khán giả những ca khúc nổi tiếng nhất, những ca khúc ông tâm huyết nhất trong sự nghiệp sáng tác của mình. 

© Được VTC News cung cấp
Nhạc sĩ Vũ Thành An trực tiếp theo sát từng buổi tập, có những góp ý, hướng dẫn tỉ mỉ với các nghệ sĩ khi hát các nhạc phẩm của mình. Ông từng chia sẻ, điều đáng tiếc là rất nhiều nghệ sĩ hát nhạc của ông nhưng không hỏi ý kiến ông và thường hát sai lời, làm mất đi ít nhiều ý nghĩa của bài hát. Từ trước tới nay, chỉ có album “Giai nhân” của học trò Ngọc Châm là ông đã theo sát từ đầu và không hát sai lời nhạc của ông. Với đêm nhạc “Tình ca không tên – Giai nhân”, nhạc sĩ Vũ Thành An muốn đem đến cho khán giả những ca khúc nổi tiếng nhất, những ca khúc ông tâm huyết nhất trong sự nghiệp sáng tác của mình.

Theo đó, ê-kíp tham gia chương trình có những buổi tập luyện tại TP.HCM với ban nhạc Anh Khoa trong suốt tuần qua. Sau đó các nghệ sĩ lại tiếp tục ra Hà Nội sớm tiếp tục tập luyện sẵn sàng cho đêm diễn. Đây là lần đầu tiên danh ca Thái Hiền hát nhạc Vũ Thành An, Chính vì vậy, ngoài những khi tập bài tại nhà, chị tập luyện cùng ban nhạc rất kỹ lưỡng cùng sự góp ý của nhạc sĩ. Thái Hiền coi việc hát nhạc Vũ Thành An trog lần trở lại Việt Nam này là một thử thách, và chị mong sẽ tạo được những dư âm tốt đẹp với khán giả Hà Nội. Nhạc sĩ Vũ Thành An chia sẻ, giọng hát Thái Hiền rất đẹp, dẫu lần đầu hát nhạc của ông, nhưng ông rất hài lòng.

© Được VTC News cung cấp
Theo đó, ê-kíp tham gia chương trình có những buổi tập luyện tại TP.HCM với ban nhạc Anh Khoa trong suốt tuần qua. Sau đó các nghệ sĩ lại tiếp tục ra Hà Nội sớm tiếp tục tập luyện sẵn sàng cho đêm diễn. Đây là lần đầu tiên danh ca Thái Hiền hát nhạc Vũ Thành An, Chính vì vậy, ngoài những khi tập bài tại nhà, chị tập luyện cùng ban nhạc rất kỹ lưỡng cùng sự góp ý của nhạc sĩ. Thái Hiền coi việc hát nhạc Vũ Thành An trog lần trở lại Việt Nam này là một thử thách, và chị mong sẽ tạo được những dư âm tốt đẹp với khán giả Hà Nội. Nhạc sĩ Vũ Thành An chia sẻ, giọng hát Thái Hiền rất đẹp, dẫu lần đầu hát nhạc của ông, nhưng ông rất hài lòng.

Nhiều năm ngưng hát, không còn mặn mà với sân khấu, nhưng giọng hát của danh ca Thái Hiền vẫn vẹn nguyên sự tinh tế và sự dịu dàng, nữ tính như ru người nghe vào một khung trời thật êm dịu, nhẹ nhàng. Trong chương trình, danh ca Thái Hiền sẽ có phần song ca đặc biệt với em rể là Tuấn Ngọc. Hai nghệ sĩ đã từng là một cặp đôi song ca ăn ý, nổi tiếng trên sân khấu một thời, đêm nhạc “Giai nhân” sẽ là dịp lần đầu tiên khán giả Hà Nội được thưởng thức phần song ca của họ.  

© Được VTC News cung cấp
Nhiều năm ngưng hát, không còn mặn mà với sân khấu, nhưng giọng hát của danh ca Thái Hiền vẫn vẹn nguyên sự tinh tế và sự dịu dàng, nữ tính như ru người nghe vào một khung trời thật êm dịu, nhẹ nhàng. Trong chương trình, danh ca Thái Hiền sẽ có phần song ca đặc biệt với em rể là Tuấn Ngọc. Hai nghệ sĩ đã từng là một cặp đôi song ca ăn ý, nổi tiếng trên sân khấu một thời, đêm nhạc “Giai nhân” sẽ là dịp lần đầu tiên khán giả Hà Nội được thưởng thức phần song ca của họ.

Lần đầu trở về Hà Nội, đứng trên sân khấu quê mẹ, quê cha, con gái của nhạc sĩ Phạm Duy không giấu những cảm xúc bồi hồi và có phần hồi hộp, chị hy vọng khán giả Hà Nội sẽ đón nhận và yêu thương mình. Với Thái Hiền, vừa đặt chân đến Hà Nội, chị đã thấy có những rưng rưng, thấy thân gần và xiết bao thương mến, bởi Hà Nội là nơi cha chị - nhạc sĩ Phạm Duy và mẹ chị - danh ca Thái Hằng, sinh ra và lớn lên. Trong cuộc sống và sự nghiệp, Thái Hiền chịu ảnh hưởng rất lớn từ cha và mẹ, và chị cũng tha thiết mong có ngày được đứng trên sân khấu Hà Nội để gần với cha mẹ hơn. Vì vậy, Thái Hiền đã nhận lời tham gia “Giai nhân”.  

© Được VTC News cung cấp
Lần đầu trở về Hà Nội, đứng trên sân khấu quê mẹ, quê cha, con gái của nhạc sĩ Phạm Duy không giấu những cảm xúc bồi hồi và có phần hồi hộp, chị hy vọng khán giả Hà Nội sẽ đón nhận và yêu thương mình. Với Thái Hiền, vừa đặt chân đến Hà Nội, chị đã thấy có những rưng rưng, thấy thân gần và xiết bao thương mến, bởi Hà Nội là nơi cha chị – nhạc sĩ Phạm Duy và mẹ chị – danh ca Thái Hằng, sinh ra và lớn lên. Trong cuộc sống và sự nghiệp, Thái Hiền chịu ảnh hưởng rất lớn từ cha và mẹ, và chị cũng tha thiết mong có ngày được đứng trên sân khấu Hà Nội để gần với cha mẹ hơn. Vì vậy, Thái Hiền đã nhận lời tham gia “Giai nhân”.

 Với nhạc sĩ Vũ Thành An, lần thứ 2 gặp lại khán giả Hà Nội sau đêm nhạc “Đời đáng vàng” năm 2017. Lần này ông không chỉ là một nhạc sĩ với những bản tình ca không tên nổi tiếng, mà còn là một ca sĩ đặc biệt. Nhạc sĩ Vũ Thành An đã gây bất ngờ cho cả ê-kíp tập luyện chương trình khi giọng hát của ông vẫn còn rất phong độ và lãng mạn. Nếu nhắm mắt lại để nghe ông hát, sẽ không thể nghĩ đây là giọng hát ở tuổi 76. Nhạc sĩ Vũ Thành An là một trong số ít những nhạc sĩ có thể hát không thua kém ca sĩ. Trong đêm “Giai nhân”, phần trình diễn của ông là tiếng lòng dành cho khán giả Hà Nội, cho người Hà Nội, những người đã yêu thương và trân trọng các sáng tác của ông. 

© Được VTC News cung cấp
Với nhạc sĩ Vũ Thành An, lần thứ 2 gặp lại khán giả Hà Nội sau đêm nhạc “Đời đáng vàng” năm 2017. Lần này ông không chỉ là một nhạc sĩ với những bản tình ca không tên nổi tiếng, mà còn là một ca sĩ đặc biệt. Nhạc sĩ Vũ Thành An đã gây bất ngờ cho cả ê-kíp tập luyện chương trình khi giọng hát của ông vẫn còn rất phong độ và lãng mạn. Nếu nhắm mắt lại để nghe ông hát, sẽ không thể nghĩ đây là giọng hát ở tuổi 76. Nhạc sĩ Vũ Thành An là một trong số ít những nhạc sĩ có thể hát không thua kém ca sĩ. Trong đêm “Giai nhân”, phần trình diễn của ông là tiếng lòng dành cho khán giả Hà Nội, cho người Hà Nội, những người đã yêu thương và trân trọng các sáng tác của ông.

 Hồi hộp nhất chính là giọng hát “Giai nhân”- ca sĩ Ngọc Châm, khi cô là người được nhạc sĩ Vũ Thành An tin tưởng giao phần lớn sáng tác mới của ông cho cô thể hiện. Nhạc sĩ Vũ Thành An luôn động viên học trò của mình “Con làm được, con sẽ làm tốt”. Đây là động lực để Ngọc Châm nỗ lực chuẩn bị cho phần trình diễn. 

© Được VTC News cung cấp
Hồi hộp nhất chính là giọng hát “Giai nhân”- ca sĩ Ngọc Châm, khi cô là người được nhạc sĩ Vũ Thành An tin tưởng giao phần lớn sáng tác mới của ông cho cô thể hiện. Nhạc sĩ Vũ Thành An luôn động viên học trò của mình “Con làm được, con sẽ làm tốt”. Đây là động lực để Ngọc Châm nỗ lực chuẩn bị cho phần trình diễn.

Trong đêm nhạc “Tình ca không tên – Giai nhân”, Ngọc Châm cũng sẽ lần đầu song cùng danh ca Tuấn Ngọc một sáng tác của nhạc sĩ Vũ Thành An là “Bài không tên số 3”. Ngọc Châm chia sẻ, mặc dù làm việc cùng danh ca Tuấn Ngọc rất nhiều lần trong vai trò giám đốc sản xuất, nhưng đây là lần đầu tiên cô hát chung cùng nam ca sĩ trên sân khấu. Điều này khiến cô không ít lo lắng. Tuy nhiên, qua các buổi tập luyện, hai anh em lại ăn ý đến bất ngờ. “Điều thú vị nhất chính là anh Tuấn Ngọc rất ga-lăng, luôn nâng đỡ và hỗ trợ phụ nữ trên sân khấu”- Ngọc Châm nói.

© Được VTC News cung cấp
Trong đêm nhạc “Tình ca không tên – Giai nhân”, Ngọc Châm cũng sẽ lần đầu song cùng danh ca Tuấn Ngọc một sáng tác của nhạc sĩ Vũ Thành An là “Bài không tên số 3”. Ngọc Châm chia sẻ, mặc dù làm việc cùng danh ca Tuấn Ngọc rất nhiều lần trong vai trò giám đốc sản xuất, nhưng đây là lần đầu tiên cô hát chung cùng nam ca sĩ trên sân khấu. Điều này khiến cô không ít lo lắng. Tuy nhiên, qua các buổi tập luyện, hai anh em lại ăn ý đến bất ngờ. “Điều thú vị nhất chính là anh Tuấn Ngọc rất ga-lăng, luôn nâng đỡ và hỗ trợ phụ nữ trên sân khấu”- Ngọc Châm nói.

 Ngoài phần song ca với Tuấn Ngọc, Ngọc Châm cũng sẽ trình diễn cùng nhạc sĩ Vũ Thành An. Đã từng song ca trong album “Giai nhân” nên cô tự tin phần song ca của mình và nhạc sĩ Vũ Thành An sẽ đem đến nhiều thú vị cho khán giả

© Được VTC News cung cấp
Ngoài phần song ca với Tuấn Ngọc, Ngọc Châm cũng sẽ trình diễn cùng nhạc sĩ Vũ Thành An. Đã từng song ca trong album “Giai nhân” nên cô tự tin phần song ca của mình và nhạc sĩ Vũ Thành An sẽ đem đến nhiều thú vị cho khán giả

Microsoft có thể nhận được tiền hoa hồng khi bạn mua hàng thông qua đường dẫn giới thiệu trong bài viết.

 

Leave your Comment