Nhạc sỹ Phạm duy

Nữ ca sĩ đi hát lâu năm vẫn bị nhạc sĩ trẻ “đuổi thẳng“ khỏi phòng thu

 

(Dân Việt) Ca sĩ Hoàng Yến Idol và nhạc sĩ Huỳnh Quốc Huy bất ngờ chia sẻ nhiều kỉ niệm thú vị trong suốt thời gian hợp tác.

Số tiếp theo của “Giải mã tri kỷ”, MC Khả Như đã phải “đau đầu” với cặp đôi tri kỷ có mặt trong tuần này của chương trình – ca sĩ Hải Yến Idol và nhạc sĩ Huỳnh Quốc Huy. Đến với nhau với tư cách là cộng sự, hợp tác trong các sản phẩm âm nhạc của Hải Yến, lâu dần, giữa họ ngày càng trở nên thân thiết và xem nhau như chị em, có thể chia sẻ nhiều điều trong công việc lẫn cuộc sống.

" "nu ca si di hat lau nam van bi nhac si tre "duoi thang" khoi phong thu hinh anh 1

Hải Yến Idol là gương mặt đã quán quen thuộc với khán giả yêu nhạc Việt, Huỳnh Quốc Huy lại là “bàn tay quyền lực” sau những sản phẩm của nữ ca sĩ.

Mở đầu chương trình, khi được hỏi về ấn tượng đầu tiên về nam nhạc sĩ trẻ, Hải Yến đã thẳng thắn cho biết: “Đã có lúc tôi nghĩ cậu này cũng chả đến đâu đâu, đã có lúc tôi định nói thẳng với Huy là: một là làm việc tiếp thì làm cho tử tế, hai là giải tán luôn, chị không cần em”. Lần đầu đã không mấy có ấn tượng tốt về đối phương, tuy nhiên, chỉ sau 2 năm làm việc, nữ ca sĩ đã phải rút lại suy nghĩ này. Lúc này, khi nhìn lại những sản phẩm Quốc Huy đã thực hiện cho mình, Hải Yến bộc bạch: “Cậu ấy trẻ nhưng làm việc rất chuyên nghiệp, tôi thích những người trẻ và thái độ làm việc như vậy nên từ sự nghi ngờ cậu này trẻ quá có làm được hay không thì bây giờ tôi hoàn toàn yên tâm”.

" "nu ca si di hat lau nam van bi nhac si tre "duoi thang" khoi phong thu hinh anh 2

Cả hai đã có phút giây ôn lại kỉ niệm cùng “Giải mã tri kỷ”.

Tự biết được năng lực của bản thân, Hải Yến tự tin cho biết cô thường được mệnh danh là nữ ca sĩ thu âm nhanh nhất, một bài hát cô thu không quá 30 phút và hầu như không cần chỉnh sửa nhiều. Tuy nhiên, cũng chính trong lần làm việc với Huỳnh Quốc Huy đã khiến người đẹp “tỉnh ngộ”. Như đã từng chia sẻ về lần bị đuổi ra khỏi phòng thu vì cả ngày không thể thu được trọn vẹn 1 ca khúc, Hải Yến nói thêm: “Lần đầu tiên tôi hát không tốt nhưng Huy còn tử tế, tế nhị nên cũng chưa đuổi, nhưng đến 2 – 3 lần không được thì Huy nói: bà đi về đi”.

Giải thích về điều này, nam nhạc sĩ điển trai lại cho rằng hành động của mình là tôn trọng đàn chị vì muốn sản phẩm khi ra mắt phải chỉn chu, trọn vẹn nhất. “Một ca sĩ thu âm đối với tôi là hát đúng với cảm xúc của mình ở thời điểm đó, ngay tại lúc đó”, Huỳnh Quốc Huy thẳng thắn.

" "nu ca si di hat lau nam van bi nhac si tre "duoi thang" khoi phong thu hinh anh 3

Cả hai nghệ sĩ đều là những người khó tính trong công việc lại chọn hợp tác cùng nhau.

Tuy nhiên, cũng chính từ sự chuyên nghiệp, nghiêm túc của Huỳnh Quốc Huy trong công việc, Hải Yến càng thêm trân quý người em này. Đặc biệt, cả hai đều vô cùng kĩ tính và đòi hỏi sự hoàn hảo trong công việc, vì vậy có những sản phẩm đã kép dài đến gấp 3 thời gian so với dự kiến. “Hai chị em nói sản phẩm này mình chỉ làm 3 tháng nhưng rồi thời gian bị gấp 3 lên. Biết là deadline cận kề rồi nhưng vẫn phải dời vì mình phải làm sản phẩm đó tốt nhất có thể”, nam nhạc sĩ cho biết.

Không chỉ có những bất đồng trong công việc sau đó mới có thể đồng điệu được, cặp đôi tri kỷ này cũng từng vướng phải những hiểu lầm không đáng có. Hải Yến cho biết thời gian đầu khi chưa thân thiết, hai nghệ sĩ không làm việc trực tiếp với nhau nên xảy ra tình trạng không hiểu ý, dẫn đến công việc trì trệ và không mang lại kết quả tốt. Huỳnh Quốc Huy kể trong lần hẹn gặp trực tiếp nữ ca sĩ: “Khi tôi bước vào quán cà phê, chị Yến như một “cơn bão” vậy, làm cho tôi một tràng, nhưng sau khi nói ra những khúc mắc thì mới biết vấn đề không phải ở hai chị em mà là do người trung gian truyền tin không đúng và không kịp thời”.

" "nu ca si di hat lau nam van bi nhac si tre "duoi thang" khoi phong thu hinh anh 4

Cặp đôi cũng gửi lời cảm ơn, xin lỗi đến nhau vì quãng thời gian qua.

Nhìn lại 2 năm làm việc cùng nhau, Huỳnh Quốc Huy đã gửi đến Hải Yến lời xin lỗi vì chưa thể tạo hit cho đàn chị như nhiều nghệ sĩ khác, nam nhạc sĩ tuyên bố với Hải Yến trên sóng truyền hình: “Em sẽ dùng hết công lực của mình để hỗ trợ chị tối đa. Mình vẫn phải đi cùng với nhau và chị là tấm gương để em trau dồi, học hỏi nhiều hơn. Chị là người đầu tiên trao cho em niềm tin em làm được. Từ trước khi chị đến thì chưa ai can đảm trao cho em niềm tin đó. Chị là dấu son trong sự nghiệp của em từ lúc em vào nghề đến giờ”. Đáp lại, nữ ca sĩ cũng dành cho đồng nghiệp cái ôm thay lời cảm ơn chân thành.

Tag:  Hải Yến Idol, ca sĩ Hải Yến, MC Khả Như, giải mã tri kỷ, nhác sĩ Huỳnh Quốc Huy

Tiểu Sử Nhạc Sĩ Phạm Duy

 

Phạm Duy sinh tại Hà Nội năm 1921, theo học các Trường Trung Học Thăng Long, Cao Ðẳng Mỹ Thuật, Kỹ Nghệ Thực Hành, tự học nhạc và đi huấn nghệ tại Pháp trong hai năm 1954-1955, học trò của Robert Lopez và bàng thính viên tại Institut de Musicologie, Paris.

Khởi sự đời nhạc của mình là một ca sĩ trong gánh hát Ðức Huy, đi hát lưu động trong những năm 1943-1945. Rồi trở thành cán bộ văn nghệ trong cuộc Kháng Chiến chống Pháp. Vào sinh sống tại miền Nam một vài năm trước khi đất nước bị phân chia, trong suốt hơn 20 năm, Phạm Duy là người phản ảnh đầy đủ mọi khía cạnh đời sống tình cảm của người dân trong nước.

Phạm Duy chia sự nghiệp của mình ra nhiều giai đoạn :

* Khởi đi từ dân ca, ghi lại hình ảnh người dân Việt Nam trong thời đấu tranh giành độc lập rồi tới trường ca là liên khúc của nhiều bài dân ca, nói lên sự vĩ đại của dân tộc Việt.

* Sau đó là tâm ca, những bài ca thức tỉnh lương tâm, phản đối bạo lực và lòng phi nhân.

* Tới đạo ca, mang tính chất thiền ca, là những bài hát đi tìm sự thật.

* Rồi tới tục ca, những bài hát tiếu lâm nói thẳng vào cuộc đời đầy rẫy ngụy thiện.

* Tới bé ca, nữ ca và bình ca là những khúc hoan ca.

* Chưa kể những tình khúc mà suốt 40 năm qua, nghĩa là trải qua ba thế hệ, bất cứ đôi tình nhân Việt Nam nào cũng đều hát tới và sẽ nhớ mãi.

Sau biến cố tháng Tư năm 1975, Phạm Duy và gia đình di cư qua Hoa Kỳ, cư ngụ tại Midway City, California, tiếp tục hành nghề hát rong và thường xuyên có mặt tại khắp nơi trên thế giới để hát những bài thuộc loại mới là tị nạn ca, ngục ca và hoàng cầm ca.

Từ mùa Xuân 1988, với sự hợp tác của con trai Duy Cường, Phạm Duy chuyển hướng từ nhạc đơn điệu qua nhạc đa điệu. Sau khi tung ra 10 bài rong ca với nhan đề Người Tình Già Trên Ðầu Non hay là Hát Cho Năm 2000, Phạm Duy hoàn tất Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ, bài này được khởi soạn từ 1975 và phải đợi 15 năm sau mới hoàn thành. Các trường ca Con Ðường Cái Quan và Mẹ Việt Nam cũng được phóng tác để trở thành nhạc giao hưởng.

Tới 1992 thì Phạm Duy rời lĩnh vực nhạc xã hội để tiến qua nhạc tâm linh với những nhạc phẩm Ðạo Khúc Thiền Ca, Trường Ca Hàn Mặc Tử…

1995 là lúc Phạm Duy đi vào kỹ thuật để thăng tiến nghệ thuật, tức là đi vào lãnh vực Multimedia. Ðĩa CD-Rom đầu tiên của người Việt Nam trên thế giới đã ra đời, mang tựa đề Voyage Through Motherland – Hành Trình Trên Ðất Mẹ (với trường ca Con Ðường Cái Quan là bản nhạc chính).

Từ 1997, Phạm Duy muốn được kết thúc sự nghiệp của mình vào năm 2000 và sẽ hoàn tất vào lúc đó một nhạc phẩm lớn, mang cao vọng thăng hoa được con đường dân ca mà ông đã chọn từ khi mới nhập cuộc hát rong, hát dạo. Nhạc phẩm đó là MINH HỌA TRUYỆN KIỀU, hoàn tất năm 2010.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã hồi hương năm 2005, và tạ thế tại Sài Gòn ngày 27 tháng 1 năm 2013, trong niềm tiếc thương vô hạn của những người yêu quý dòng nhạc Phạm Duy.

***

Pham Duy was born in Ha Noi in 1921. He attended Thang Long High School, the College of Arts and the Ky Nghe Thuc Hanh Vocational College. He taught himself music and studied in France during 1954-55 under Robert Lopez and as an unregistered student at the Institut de Musicologie in Paris.

His musical career started as a singer in the Duc Huy musical troupe, performing around the country in 1943-44. He the became a musical cadre during the anti-French Resistance. Settling in the South a few years before Vietnam was divided, for more than twenty years Pham Duy’s music reflected all aspects of the Vietnamese’ emotional life.

Pham Duy divides his career into several periods:

* Folk Songs (Dan Ca), which recorded the images of the Vietnamese during the struggle for independence, culminating into his Song Cycles (Truong Ca), which join several folk tunes to proclaim the greatness of the Vietnamese people.
* Heart’ Songs (Tam Ca) – which aimed to awake humanity’s conscience, to protest against violence and inhumanity.
* Spiritual Songs (Dao Ca), with a Zen character, which aimed to seek for the truth.
* Profane Songs (Tuc Ca), which tackled head-on hypocritical attitudes and phoney virtues.
* Children’s Songs (Be Ca), Young Women’s Songs (Nu Ca) and Peace Songs (Binh Ca), which were songs of joy.
* In addition, his many love songs have been sung and learnt by heart by three generation of lovers over the last 40 years.

After the events of April 1975, Pham Duy and his family went to the United States where he settled in Midway City, California. He continues a minstrel’s life and appears regularly all over the world to sing his new refugees’ songs (ti nan ca), prisoner’s songs (nguc ca) and hoang cam songs.

Since the spring of 1988, with the cooperation of his son Duy Cuong, Pham Duy has been moving towards polyphonic music. After releasing ten new Rong Ca entitled The Old Lover On The Mountain, or Singing For The Year 2000, Pham Duy finally completed the song cycle Bay Chim Bo Xu (The Birds Leaving Home), which he started fifteen years earlier, in 1975. His song cycles Con Duong Cai Quan (The Mandarin Road) and Me Viet Nam (Mother Vietnam) were also cast into synphonic form.

In 1992 Pham Duy left the social music area to enter the field of metaphysical music with his compositions Dao Khuc Thien Ca (Songs of Tao and Zen), Han Mac Tu, etc.

In 1995 Pham Duy started using multimedia technology to serve art. The world’s first Vietnamese CD-ROM was created with the title Hanh Trinh Tren Dat Me (Voyage Through Motherland) featuring the song cycle The Mandarin Road.

From 1997 he worked on his last composition, called MINH HỌA KIỀU (Illustration of The Tale Of Kieu) and finished it in the year 2010.

He returned to live in Viet Nam in 2005, and passed away on 27 January 2013 in Saigon.

Ngày trở về của Phạm Duy trong bối cảnh âm nhạc Việt Nam

 

Phạm Quang Tuấn
2005Việc nhạc sĩ Phạm Duy hồi hương gây nhiều tranh luận sôi nổi trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại cũng như ở trong nước. Hầu hết những bài báo hải ngoại và một số bài báo trong nước nhìn việc này qua lăng kính chính trị. Một số bài cũng nhìn vào khía cạnh tình cảm cá nhân của một ông già trở về quê hương sinh sống. Tuy nhiên, bài này sẽ hoàn toàn không đề cập đến những khía cạnh đó, mà sẽ tập trung vào mặt âm nhạc, văn hóa của chuyến hồi hương này.

Tự nó, việc Phạm Duy trở về không có ý nghĩa nhiều về mặt âm nhạc. Nhưng nếu sự hồi hương của Phạm Duy dẫn tới việc nhạc của ông (sớm) được lưu hành và phê bình, bàn luận ở trong nước, thì có thể sẽ có những hậu quả quan trọng cho nền tân nhạc Việt Nam. Ðó mới là điều giới nhạc Việt Nam quan tâm.

Trước hết, tôi xin bàn về vị trí của nhạc Phạm Duy trong âm nhạc Việt Nam. Nền tân nhạc Việt Nam thường được coi là “chính thức” khai sinh khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên đi khắp nước diễn thuyết và trình bày những ca khúc của ông vào năm 1938, tuy rằng nhiều nhạc sĩ đã bắt đầu viết ca khúc theo thang âm Âu châu vài năm trước đó, nhưng chưa có cơ hội phổ biến. Vậy cứ cho rằng tân nhạc có một lịch sử khoảng 70 năm. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, ba nhạc sĩ thường được coi là nổi bật nhất là Văn Cao, Phạm Duy và Trịnh Công Sơn.

Theo thiển ý, chỗ đứng của Văn Cao không vững vàng bên cạnh hai người kia. Tuy ông là người đa tài, tiềm năng của ông đã không được thể hiện xứng đáng vì những hoàn cảnh lịch sử, chính trị. Những tác phẩm của ông làm thời trẻ còn quá cổ điển, quá Âu tây (dù đã dùng ngũ cung Việt Nam trong bài Thiên thai), chưa phát huy đến nơi đến chốn tính thẩm mỹ Việt Nam, chưa độc sáng và thoát ra khỏi cái khuôn mẫu “dĩ Âu vi trung”. Lê Thương mới thực sự là nhạc sĩ đáng kể với những đóng góp vô cùng quan trọng và giàu tính dân tộc qua ba bản Hòn Vọng Phu.

Nhưng Lê Thương hơi kém về lượng. Trịnh Công Sơn mới chính là đối thủ của Phạm Duy về số lượng và tính cách độc sáng. Nếu Phạm Duy là người đã đem dân ca VN vào nhạc, thì Trịnh Công Sơn là người đã đem hồn thơ, và quan trọng hơn, đem những suy tư của người Việt trẻ đô thị, vào nhạc. Mỗi nhạc sĩ đã sản xuất trên dưới một ngàn tác phẩm.

Trong nghệ thuật, cũng như trong khoa học, số lượng không phải là điều quan trọng, mà quan trọng là sự đặc sắc và khai phá. Có những người có thể viết cả ngàn bài thơ, bản nhạc, mà thế giới không biết họ là ai và cũng không cần biết, vì những thơ nhạc đó chỉ là rập theo khuôn mẫu của kẻ khác. Có những người (như Lê Thương trong tân nhạc hay Mendel trong khoa học) chỉ có vài ba bản nhạc hay một khám phá mà đủ để có chỗ đứng trong lịch sử. Nhưng những nghệ sĩ lớn thường có số lượng đồ sộ, vì nghệ thuật là cả cuộc đời của họ, và họ không thể ngừng sáng tác. Và do đó Trịnh Công Sơn và Phạm Duy là hai cột trụ của tân nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20.

Tính cách của hai nhạc sĩ này hoàn toàn khác nhau. Trong khi Trịnh Công Sơn tập trung vào một phong cách riêng, với những giai điệu dựa trên âm giai E minor đặc thù của chiếc tây ban cầm, kể lể suy tư suốt mấy trăm tác phẩm, thì Phạm Duy, trái lại, như một con bướm bay từ vườn này sang vườn khác. Trịnh Công Sơn tinh khiết, Phạm Duy xác thịt. Trịnh Công Sơn là mặt trăng, Phạm Duy là mặt trời. Trịnh Công Sơn trừu tượng, Phạm Duy cụ thể. Trịnh Công Sơn đơn điệu đơn sắc, Phạm Duy đa điệu đa sắc đến cùng cực. Trịnh Công Sơn có chỗ đứng vững chắc, Phạm Duy luôn luôn đi trong cuộc hành trình. Không có đề tài nào mà Phạm Duy không thí nghiệm, từ cái dơ dáy củaTục Catới cái hồn nhiên củaBé Cavà cái cao siêu củaÐạo Ca, thuần khiết củaThiền Ca. Phạm Duy như một đứa trẻ năm tuổi, chạy chơi tung tăng trong vườn hoa của cuộc đời và của nghệ thuật, khi thì bắt bướm, khi thì vọc bùn, hoàn toàn không cần biết cha mẹ răn đe la mắng, cứ thích gì là làm nấy. Và may mắn cho chúng ta, một trong những cái Phạm Duy thích làm là… viết ca khúc!

Nhưng điều đáng buồn là, trong khi Trịnh Công Sơn được chính thức vinh danh, nhạc của ông được phê bình, bàn luận, in và phổ biến, thì nhạc Phạm Duy bị cấm đoán, không ai được nói tới trong nước. Dĩ nhiên, một số ca khúc Phạm Duy vẫn được hát trong các phòng trà, phòng khách. Nhưng khi sự lưu hành hoàn toàn dựa vào thị hiếu của công chúng như vậy, mà không có sự phê bình bàn luận chuyên nghiệp hỗ trợ, thì không thể bảo đảm rằng những tác phẩm giàu nghệ thuật nhất, trong sự nghiệp âm nhạc đồ sộ và đa dạng của ông, có cơ hội được sống.

Trong mọi bộ môn nghệ thuật, thị hiếu của công chúng không bao giờ là thước đo của giá trị nghệ thuật. Những tác phẩm thực sự độc đáo và tầm cỡ thường khó làm quen, và cần sự bàn luận, phê bình của những người có trình độ để khơi óc tò mò của công chúng và nhẹ nhàng dẫn dắt họ đi vào tác phẩm. Thử hỏi thời nay nếu chương trình trung học không dạy về Truyện Kiều thì sau vài chục năm còn có ai cảm nhận nổi? Dĩ nhiên, khi công chúng đã được giới thiệu và tác phẩm bắt đầu trở thành quen thuộc, thì nó sẽ đi vào lòng người một cách sâu đậm và lâu dài hơn những tác phẩm kém giá trị.

Cũng vậy, thành phần nhạc Phạm Duy hiện được lưu hành một cách tự phát và không chính thức chỉ là một phần nhỏ, vài chục bài tình ca, trong một sự nghiệp đồ sộ và đa dạng. Ðó là những tác phẩm bắt tai nhất của Phạm Duy, đánh vào những cảm xúc thông thường của lòng người bằng những kỹ thuật căn bản. Những bản nhạc ngắn với cấu trúc ABA, âm giai trưởng hoặc thứ của Âu châu, trở về chủ âm thường xuyên để ve vuốt lỗ tai, lời lẽ ướt át, tuy không đến nỗi “sến,” nhưng thường cũng chỉ ở mức độ cảm nhận trung bình của thanh niên thiếu nữ thành thị. Những tác phẩm đó, theo tôi, không cho một hình ảnh chính xác và đầy đủ về nghệ thuật của Phạm Duy.

Nói chuyện về Phạm Duy với một người trẻ ở miền Bắc, hay sinh ra ở miền Nam sau 1975, ta thường nghe những ý kiến như sau: “Có gì đâu, chỉ vài bài tình ca lỗi thời”, “Tôi không thấy nhạc Phạm Duy hay ở chỗ nào,” “Không làm tâm hồn tôi rung cảm gì cả”, thậm chí “Nhạc Phạm Duy nghe thấy sến!”. Hẳn những thính giả miền Nam và hải ngoại ái mộ Phạm Duy nghe vậy sẽ rất kinh ngạc, nhưng những người am hiểu một chút về sự cảm nhận âm nhạc và nghệ thuật nói chung thì không ngạc nhiên với những phản ứng ấy. Chúng xuất phát từ sự thiếu quen thuộc của những người mới chỉ nghe vài bản tình ca Phạm Duy.

Sự cảm nhận âm nhạc, nói cho cùng, dựa vào sự quen tai: về phương diện âm thanh thì quen với cung cách giai điệu, thang âm, tiết tấu, tiến trình hòa âm; về ca từ thì quen với từ ngữ, hình ảnh. Trừ phi có học lý thuyết âm nhạc, cái mà hầu hết thính giả Việt Nam không có điều kiện, còn thì sự quen tai là tất cả. Nghe đi nghe lại một số bản nhạc cho đến khi những đường nét giai điệu hằn vào trong óc như vết rãnh của bánh xe bò trên đường đá, nhất là khi đầu óc còn non nớt mềm dẻo và đá còn là đất, đó là tất cả sự đào tạo âm nhạc của hầu hết thính giả Việt Nam.

Trong cái khung cảnh âm thanh rất hạn chế đó, yếu tố ca từ nổi lên chiếm phần quan trọng. Mà ca từ thì tùy thuộc rất nhiều vào thời đại, vào bối cảnh xã hội chính trị. Khi nhạc của một nhạc sĩ bị cấm đoán trong ba mươi năm, qua một cuộc đổi đời về xã hội chính trị, sự cảm thụ tác phẩm của nhạc sĩ ấy trong một thế hệ mới sẽ không dễ. Tân nhạc Việt Nam, do đó, là một tập hợp của những phong trào, biến cố phù du. Bộ phận nào lỡ đánh rơi là mất, không tìm lại được nữa. Sự cấm đoán nhạc Phạm Duy trong 30 năm qua, một sự nghiệp làm gạch nối liên tục suốt từ những năm đầu của Tân nhạc cho đến bây giờ, do đó, là một vết thương trầm trọng của tân nhạc VN.

Một lý do nữa của sự phù du của tân nhạc Việt Nam là nó bị quá coi rẻ trong nền giáo dục âm nhạc. Trong khi nhạc cổ điển Tây Phương luôn luôn được coi là tuyệt đỉnh nghệ thuật, ở cả miền Nam và miền Bắc trước và sau thống nhất, và được giảng dạy trong các nhạc viện, và nhạc truyền thống dân tộc cũng được chú trọng (tuy nhiều khi “phát triển” sai cách và bị ép theo khuôn mẫu Tây phương), thì tân nhạc phổ thông hoàn toàn không được chú ý, kiểu như nhạc jazz bị giới nhạc hàn lâm Tây phương lơ là coi rẻ trong đầu thế kỷ 20. Vì sự lơ là đó mà hầu như không có một sự liên tục nào trong tân nhạc Việt, cứ mỗi thế hệ lại chạy theo những thời trang mới nhất nhập cảng từ ngoại quốc, như một đám bèo bọt trên sông đi từ vũng xoáy này sang vũng xoáy khác.

Muốn có một sự tiến bộ và mở mang liên tục, mỗi thế hệ nhạc sĩ cần học hỏi từ các thế hệ đàn anh. Phải có những bài bàn luận, phê bình, khảo cứu về cách viết nhạc, để xem những người đi trước đã có những sáng tạo gì về kỹ thuật cũng như nội dung, những gì đặc sắc, những gì Việt Nam. Học hỏi để bắt chước và phát huy những cái hay, hoặc để tránh bắt chước một cách vô tình nếu ta muốn đi tìm con đường mới.

Hiện nay, thay vì học viết ca khúc từ các đàn anh nhạc sĩ Việt Nam, các nhạc viên phải học từ các nhạc sĩ Âu châu thời cổ điển. Ðành rằng, ở một trình độ căn bản, ca khúc Việt Nam cũng giống ca khúc thất cung Âu châu, nhưng đó chỉ là trình độ nhập môn. Ca khúc xuất phát từ ngôn ngữ, mà tiếng Việt khác hẳn với các loại tiếng Âu châu về âm thanh. Những ngũ cung các miền Việt Nam, những luyến láy theo dấu của các địa phương VN, đem tới cho ca khúc Việt một sắc thái đặc biệt không nước nào có.

Phổ thơ sang nhạc là một hoạt động căn bản của nhạc sĩ khắp các nước, nhưng với các thể thơ Việt Nam dựa lên âm điệu lên xuống, luật bằng trắc và những thể thơ riêng, hoạt động ấy có những vấn đề rất đặc biệt. Trải qua mấy thế hệ, các nhạc sĩ tìm cách giải quyết và áp dụng nhiều cách khác nhau. Mà về phương diện đó thì Phạm Duy là bực thầy. Thử xem ông phổ câu ca dao

Trèo lên cây bưởi hái hoa

và hớn hở nhắc đi nhắc lại chữ “trèo lên” để vươn lên gần hai bát độ, ngân nga nũng nịu kéo dài dấu hỏi trong chữ “bưởi”, thì mới thấy tài năng tuyệt diệu của ông trong cách biểu diễn tình cảm qua âm điệu và làm chủ ngôn ngữ Việt Nam. Tác giả bài này đã bàn thêm về nghệ thuật phổ thơ của Phạm Duy trong một bài khác [1] .

Như đã nói ở trên, những tình ca ngăn ngắn của Phạm Duy viết trong thời ở miền Nam, tuy rất thịnh hành và được lưu hành không chính thức vì dân chúng quá thích nên không ngăn được, không thể coi là những đóng góp quan trọng nhất của Phạm Duy. Không có tình ca Phạm Duy thì cũng có tình ca của nhiều nhạc sĩ khác, còn mùi mẫn, ướt át cảm động hơn. Dĩ nhiên, nhiều người khác, kể cả nhạc sĩ Phạm Duy, có thể không đồng ý với ý kiến này!

Vậy những bản nhạc nào biểu hiện cho sự đóng góp lâu dài của Phạm Duy vào kho tàng âm nhạc Việt Nam? Tác phẩm của Phạm Duy quá đa dạng để mọi người có thể đồng ý về sự lựa chọn. Riêng tôi, tạm để ra ngoài những tác phẩm có tính cách thời sự khó lòng được lưu hành trong tương lai gần (tuy nhiều bài rất giá trị về mặt nghệ thuật), và cũng xin tạm không nói đếnMinh họa Kiềucòn cần thời gian để đánh giá, tôi xin đưa ra vài ví dụ tiêu biểu sau đây:

    1. Dân ca (mới). Ðiều này ai cũng biết. Nét đặc biệt của Phạm Duy là đã đem dân ca vào dòng chính của tân nhạc, với những âm điệu hấp dẫn, mới mẻ mà vẫn đầy bản sắc Việt Nam. Tối thiểu, dân ca Phạm Duy là chiếc cầu để người trẻ thành thị đi về với dân ca truyền thống nguyên thủy. Nhưng còn hơn nữa, dân ca Phạm Duy làm thăng hoa dân ca truyền thống, làm nảy nở những tinh hoa của nó.Nghe một bài dân ca Phạm Duy nhưÐố ai, Quê nghèo, Người về, Ngày trở về, Bài ca sao, người thành thị không chút nào cảm thấy cố gắng phải “tìm về bản sắc dân tộc” để “ra vẻ Việt Nam”, mà cảm thấy cái bản sắc ấy tự nhiên nảy nở throng lòng họ và lôi cuốn họ, chẳng kém, hoặc còn hơn, là khi nghe một bản nhạc thời trang ngoại quốc. Ít có nhạc sĩ VN khác nào làm được điều đó.

 

    1. Những tình ca quê hương: cũng tương tự như dân ca, nhưng phát triển thêm một nấc về tầm cỡ, nghệ thuật và cảm xúc. Cách phân loại của tôi hơi khác với của Phạm Duy, tôi xin đặt vào loại này những bản nhưVề miền Trung, Tình ca, Tình hoài hương, Chiều về trên sông… Ðây là những tác phẩm điêu luyện, có tầm cỡ, độc đáo, bố cục chặt chẽ mà lại không khả đoán, ra ngoài khuôn sáo của các bài hát bình thường, mang nhiều âm hưởng ngũ cung dân gian, và tràn đầy tình quê hương, thích hợp và cần thiết cho mọi thế hệ người Việt.

 

    1. Hai bài trường caTrường ca Con đường cái quanvàMẹ Việt Nam. Ðặc sắc nhất, theo thiển ý, là tác phẩmMẹ Việt Nam. [2] 21 ca khúc trong Trường ca này được dàn dựng chặt chẽ, nối kết với nhau bởi một ý tưởng rất đẹp và sâu sắc, dùng chất liệu thần thoại và lịch sử của dân tộc, để nói lên những khát vọng hòa bình, cảm thông và đoàn kết của cả một dân tộc. Không hiểu những khát vọng phi chính trị, rất chính đáng và rất hợp thời này có được chính quyền sớm hiểu và cho phép phổ biến không? Hay là vì nó xuất phát từ trong một trái tim “ngoài vòng kiềm tỏa,” chứ không phải từ một ban tuyên giáo hay trường chính trị nào đó, nên sẽ bị cấm đoán mãi? Nếu vậy thì thật đáng tiếc.

 

    1. Mười bàiÐạo ca, phổ nhạc Phạm Thiên Thư. Về mặt âm nhạc thuần túy, cũng như về mặt kết hợp giữa nhạc điệu và ca từ, tôi nghĩ rằng đây là một kiệt tác của Phạm Duy. Ông đã dùng những kỹ thuật về tiến trình hòa âm và chuyển thể của âm nhạc Tây phương một cách điêu luyện để diễn tả những tư tưởng thiền và đạo rất Việt Nam.

 

    1. Những bài khác có tính cách khai phá kỹ thuật, thử nghiệm với những âm điệu lạ tai, nhưng vẫn thành công rực rỡ trong việc chuyển tải cảm xúc:Ðường chiều lá rụng, Mộng du, Tóc mai sợi vắn sợi dài

 

    1. Những ca khúc phổ thơ sử dụng những kỹ thuật đặc sắc để thích ứng với ngôn ngữ và thể điệu thơ Việt:Thuyền viễn xứ, Tiếng sáo thiên thai, Nụ tầm xuân…

 

Không biết bao giờ nhạc Phạm Duy mới được chính thức lưu hành và tự do bàn cãi tại Việt Nam. Nhưng một ngày qua mà chưa được hát, chưa được bàn, là thêm một mất mát cho nền âm nhạc Việt Nam, vốn dĩ chưa có gì phong phú.

Phạm Quang Tuấn
© 2005 talawas

Chú thích:

[1]Phạm Quang Tuấn. Nghệ thuật phổ nhạc của Phạm Duy. Thế Kỷ 21, đăng lại ở http://www.tuanpham.org/photho.htm.
[2]Phạm Quang Tuấn. Introduction to Phạm Duy’s “Mẹ Viet Nam”, http://www.tuanpham.org/EnglishLyricsFull.htm#MVN0.

Phạm Thu Hà đắm say với tình khúc Phạm Duy

 

(VOV5) – Các ca khúc được giới thiệu: Đường em đi, Cỏ hồng, Tiếng sáo thiên thai, Chiều về trên sông.

Ca sỹ Phạm Thu Hà – “họa mi” của dòng nhạc bán cổ điển, vừa cho ra mắt công chúng album “Đường em đi” với 8 ca khúc nổi tiếng của nhạc sỹ Phạm Duy. Đĩa than này đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của công chúng yêu nhạc, đặc biệt là những người say đắm những bản tình ca của người nhạc sỹ tài ba.

Phạm Thu Hà đắm say với tình khúc Phạm Duy - ảnh 1

Nghe âm thanh tại đây:

“Đường em đi” là album thứ 4 của Phạm Thu Hà sau các album “Classic meets Chillout”, “Tựa như gió phiêu du” và “Hà Nội yêu”. Đối với cô gái trẻ ấy, mỗi lần làm album là một lần cô gửi gắm vào đó những thiết tha với nghề, những đắm say với đời và trên tất cả là sự nỗ lực để mang đến những điều tốt đẹp nhất giới thiệu với công chúng.

Chính vì vậy, ngay album đầu tay “Classic meets Chillout” của cô đã được vinh danh ở hạng mục album của năm – giải âm nhạc cống hiến lần thứ 8 năm 2013. Và đến album thứ 4 này cũng là một thành quả lao động nghiêm túc trong suốt 2 năm của Phạm Thu Hà.

Cô chia sẻ: “Khi lựa chọn một sản phẩm như một ước mơ đối với các ca sỹ – một sản phẩm đĩa than, tôi đã lựa chọn những sáng tác tiêu biểu của nhạc sỹ Phạm Duy là một nhạc sỹ rất nổi tiếng với những tình khúc. Lựa chọn những tình khúc của Phạm Duy vì chất giọng của tôi rất phù hợp với âm nhạc của ông, và tôi rất thích những tác phẩm đó. Tôi đã kết hợp tình ca với cổ điển để làm đĩa than cho mình. Tôi sống ở Hà Nội, và tôi phải bay vào Sài gòn để cùng thu âm với nhạc sỹ Duy Cường. Sau khi thu xong, tôi đã bay sang Mỹ rất nhiều tháng để làm mastering và mix những ca khúc đó. Cũng đã rất nhiều công đoạn để có thể có được album Đường em đi hoàn chỉnh”.

8 ca khúc trong album Đường em đi đều là những ca khúc gắn liền với những giọng ca tên tuổi của tân nhạc như Thái Thanh, Lệ Thu, Tuấn Ngọc, Khánh Ly… Điều này cũng tạo nên sức ép không nhỏ với Phạm Thu Hà khi phải tìm những dấu ấn riêng biệt cho mình. Và cơ duyên đã đến với Phạm Thu Hà, khi cô nhận được sự hợp tác, chỉ đạo nghệ thuật của chính con trai nhạc sĩ Phạm Duy là nhạc sĩ Duy Cường. Ngoài tài năng âm nhạc được thừa hưởng từ cha, nhạc sĩ Duy Cường còn là người hiểu nhất từng nốt nhạc, nguồn gốc và xuất xứ của tác phẩm âm nhạc Phạm Duy… Và anh đã chỉ cho Phạm Thu Hà từng chi tiết để cô ngấm và hiểu từng lời ca mà mình thể hiện.

Thu Hà tâm sự: “Cái may mắn nhất của tôi là trong khi đang rất phân vân khi bắt tay vào dự án này, thì tôi đã gặp ngay được con trai của nhạc sỹ Phạm Duy – đó là nhạc sỹ Duy Cường. Nhạc sỹ Duy Cường là người đã chọn ra 30 ca khúc để tôi chọn ra 8 – 10 ca khúc để anh phối khí. Có những cách xử lý khác so với những gì các danh ca ngày trước đã hát nhạc Phạm Duy, vẫn không mất đi được chất xưa, chất tình ca của Phạm Duy nhưng vẫn là Phạm Thu Hà hát. Khi nghe tôi hát, nhạc sỹ Duy Cường đã nói với tôi rằng – anh mong muốn album này sẽ là một album mang tính chất thế hệ bản lề, cho một thế hệ trẻ hát Phạm Duy đúng và chuẩn”.

Theo Phạm Thu Hà, mỗi thế hệ và mỗi nghệ sỹ sẽ có những cách thể hiện âm nhạc khác nhau, nhưng quan trọng nhất vẫn là cảm xúc. Chính cảm xúc là điều đưa người nghệ sỹ đến với tác phẩm để từ đó chuyển tới đôi tai và trái tim của người nghe. Trong album Đường em đi, Phạm Thu Hà thể hiện những gì được coi là chuẩn mực nhất của kỹ thuật thanh nhạc, hòa âm cổ điển bằng sự nhẹ nhàng, bay bổng, thanh thoát mà tinh tế, sâu lắng.

Chia sẻ về ca khúc tâm đắc nhất trong album, Thu Hà cho biết: “Để nói về sự hoàn chỉnh cả về phối khí lẫn thu âm và cảm xúc, tôi rất thích ca khúc Chiều về trên sông. Ca khúc này đã từng được danh ca Thái Thanh thể hiện rất thành công. Nhưng bản phối mới của nhạc sỹ Duy Cường là một bản phối có cả hình ảnh. Khi nhắm mắt lại, tôi có thể cảm thấy được một buổi chiều trên một dòng sông ở miền Tây Nam bộ, nó đem đến một cảm xúc rất đặc biệt và tôi đã hát bằng tất cả trái tim, tâm hồn mình gửi gắm vào đó. Phải nói rằng khi một ca sỹ thành công, không thể không nói đến tác động rất lớn của phần phối khí. Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi nhạc sỹ Duy Cường là phù thủy hòa âm. Chính cảm xúc khi nghe phần hòa âm của nhạc sỹ đã giúp tôi thể hiện được thành công ca khúc”.

Được biết trong tương lai, ca sỹ Phạm Thu Hà sẽ thực hiện CD Đường em đi với 10 ca khúc của nhạc sỹ Phạm Duy.

Nhạc Sĩ của Thế Kỷ XX: Cố nhạc sĩ Phạm Duy.

 

CON NGƯỜI THẬT CỦA PHẠM DUY, nhạc sĩ của Thế kỷ XX.

  • Bác sĩ Nguyễn Văn Bảo.

Lời nói đầu:

Nghĩa tử là nghĩa tận. Trước một “nhân vật của quần chúng” (a person of the public) vừa nằm xuống, giữ im lặng là thái độ nghiêm chỉnh nhất. Nhưng sự ra đi của Phạm Duy là một ngoại lệ. Nhiều người khen qúa độ. Nhiều người chê qúa lời. Nhiều người muốn khen, chê đúng mức mà không lên tiếng vì e ngại phản ứng của cả đôi bên. Đài BBC cũng tường thuật rất tỉ mỉ về đám tang của ông.

Hãy thử tìm con người đích thực của PD qua tác phẩm, hành động và lời nói của ông để biết nguyên do của cái dư luận ồn ào sau tin ông qua đời.

A/ NHỮNG LÝ DO KHIẾN PD ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI NHẮC TỚI.

1/ Ông là một nhạc sĩ được ngưỡng mộ bởi hàng triệu người Việt từ thế hệ trẻ tới thế hệ gìa, từ giới bình dân tới giới trí thức, từ thời chiến tới thời bình, từ chủ nghĩa Cộng Sản tới chủ nghĩa Tự Do, từ chính quyền độc tài tới chính quyền dân chủ, từ trong nước tới hải ngoại.

2/ Cảm tình của quần chúng đối với ông rất phức tạp. Nhiều người khen. Nhiều người chê. Nhiều người vừa khen vừa chê. Nhiều người trước khen nay chê. Nhiều người trước chê nay khen.

Phe Việt Cộng, sau nửa thế kỷ căm thù ông, nay mua chuộc ông để làm mồi cho chiêu bài “Hòa Giải Dân Tộc”.

Phe Tự Do, qua nửa thế kỷ quý mến ông, nay ruồng bỏ ông vì nghĩ rằng ông bị kẻ thù mua chuộc.

Những biểu lộ ấy (khen-chê, yêu-ghét, mua chuộc-ruồng bỏ) rất thường tình. Thiên hạ không ngẫu nhiên (mà có lý do thầm kín) gán ghép cho ông. Ông cũng không cố ý gây ra. Lối phát ngôn vụng về và nếp sống buông thả của ông đóng một vai trò quan trọng trong sự phán xét của họ.

3/ Những tác phẩm của ông, từ dân ca, tình ca, quân ca, đạo ca, nhi ca v. v.. đều có gíá trị độc đáo: mang âm giai ngũ cung hài hòa của dân tộc và lời ca truyền cảm của ca dao.

4/ Nhạc phổ thơ của ông là một tuyệt kỷ. Giới truyền thông đã liệt ông vào hàng “phù thủy” của loại nhạc này. Dù phổ nguyên văn bài thơ (như Ngậm Ngùi của Huy Cận..) hoặc chỉ lấy ý thơ (như Tiếng Sáo Thiên Thai của Thế Lữ..) ông cũng làm cho thơ tăng thêm gía trị.

5/ Đời tư của ông có một vài tì vết. Ông sống buông thả theo thú vui xác thịt, bất chấp hậu quả (vụ Khánh Ngọc và Julie Quang) khiến những người đạo đức khinh bỉ và những người đối lập khai thác.

6/ Lòng yêu dân, yêu quê, yêu nước trong những tác phẩm của ông rất hiển hiện. Một người có tình yêu giả tạo không thể nào làm được những bài Tình Ca, Tình Hoài Hương, Quê nghèo, Về Miền Trung, Bà Mẹ Gio Linh, Nhớ Người Thương Binh, Vợ Chồng Quê, Em Bé Quê, Ngày Trờ Về, Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam, v.v…

 width=Với hàng ngàn nhạc phẩm đươc quần chúng yêu thích, nhạc sĩ Phạm Duy là người viết nhạc đồ sộ nhất của dân tộc Việt Nam. Giữa lúc dư luận khen/chê ông dữ dội, Đông-Phương Foundation (since 1976) là cơ sở văn hóa duy nhất đã ngang nhiên thực hiên buổi vinh danh long trọng ông Phạm Duy là “Nhạc Sĩ VN của Thế Kỷ XX” ngày 17 tháng 7 năm 1998. Ba văn nghê sĩ cùng trao bảng vàng vinh danh tới nhạc sĩ lão thành Phạm Duy là thi văn sĩ Quốc Nam, nữ danh ca Lệ Thu & Tài tử Huỳnh Thanh Trà (vai chính trong phim “Loan Mắt Nhung”), cùng những người tuổi trẻ Viêt đến Seattle từ nhiều nơi trên thế giới. Photo by MasterTrịnh.

B/ KIỂM ĐIỂM NHỮNG LỜI KHEN.

Hầu hết những người khen đều công nhận rằng ông là một “đại thụ” của nền tân nhạc Việt và là một nhạc sĩ có thiên tài, có lòng yêu dân, yêu quê, yêu nước chân thành. Có người đã tặng ông những đức tính mà thực sự ông không có (như khiêm nhượng, cao siêu). Thậm chí, có người còn vinh danh ông là chiến sĩ chống Cộng hoặc  nhà tư tưởng thâm thúy. Những nhận xét như vậy chỉ đúng nửa vời:

1/ Quả thực ông là một đại thụ của nền tân nhạc Việt. Nhưng đại thụ ấy có tỳ vết: ông đã 2 lần vi phạm luân lý Việt (vụ Khánh Ngọc và Julie Quang).

2/ Ông không khiêm nhượng mà còn háo danh. Một thí dụ: Trong cuốn video Paris By Night 19, ông trả lời ký giả Lê Văn của đài BBC: “Tôi muốn hậu thế nhắc đến tôi như một người Việt Nam”. Khiêm nhượng thay câu trả lời! Nhưng cũng trong cuốn video ấy ông nói: “Tôi sẽ làm trường ca Hàn Mặc Tử bởi vì tôi đã có 10 bài Đạo Ca cho Phật giáo thì tôi cũng phải có một bài cho Công giáo mới công bằng”. Thế ra ông là người ban phát ân huệ cho 2 tôn giáo này! Nét háo danh đã lộ liễu trong lời nói vụng về ấy.

3/ Ông không phải là một chiến sĩ chống Cộng mà chỉ là một nhạc sĩ muốn được sinh hoạt văn nghệ mà không bị chỉ đạo bởi chính quyền. Ông bỏ Kháng Chiến về Thành không phải vì muốn xả thân cho lý tưởng chống Cộng mà vì muốn gia đình được sống thoải mái trong chính thể Dân Chủ và bản thân được tự do sáng tác theo tiếng nói của con tim.

Ông đã hưởng trọn vẹn ân huệ của những người đã hy sinh để bảo vệ chế độ dân chủ tự do cho gia đình ông sống yên vui. Bù lại, ông đã đền đáp công ơn của họ bằng vài trăm bài ca bất hủ xưng tụng những thứ cao đẹp mà họ trân qúy. Tuy ông không hy sinh xương máu cho chính nghĩa tự do nhưng ông đã góp phần không ít vào việc tô điểm nó. Tuy ông có nhiều điểm đáng khen nhưng không nên tặng ông cái vinh dự mà ông không xứng (chiến sĩ chống Cộng).

4/ Ông không phải là một nhân vật thâm thúy. Suốt đời, ông chưa nói được một câu nào xứng đáng cho danh hiệu ấy. Một bài nhạc của ông có câu: “Đừng cho không gian đụng thời gian”. Ông mượn ý đó trong thuyết Tương Đối của Albert Einstein (Einstein cho rằng chỉ có không gian, không có thời gian vì thời gian chỉ là phương tiện để đo lường không gian; thí dụ: hai thiên hà cách xa nhau một tỷ năm ánh sáng). Có người đã xin ông giải thích câu đó nhưng ông chỉ trả lời loanh quanh, vô nghĩa, chứng tỏ ông đã không hiểu ông muốn nói gì.

Thật là khôi hài khi một anh chàng văn sĩ VC nói câu này trong đám tang của ông: “Nhạc PD còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn”. Hắn nhái câu thậm xưng của Phạm Quỳnh trong thập niên 1930: “Chuyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn”.

(Cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây để nói rằng đừng vì một câu của một lãnh tụ CS ca ngợi ông mà chụp cái mũ “thân Cộng” cho ông).

C/ KIỂM ĐIỂM NHỮNG LỜI CHÊ

Những lời chê ông nở rộ trong 2 thời kỳ:

1/ Thời kỳ thứ nhất từ năm 1950 tới 2005:

Khi ông bỏ Kháng Chiến về Thành, VC đã chê ông là phản động.

Ông đã không phản động mà chỉ phản Cộng.

Phản Cộng vì Cộng không thể cung cấp những nhu cầu căn bản (cơm ăn, áo mặc) cho gia đình ông và không cho phép ông phục vụ văn nghệ theo sở trường mà còn buộc ông phải khai tử một bài hát vô tội (innocent): bài Bên Cầu Biên Giới. Giản dị thế thôi !

2/ Thời kỳ thứ hai từ 2005 cho tới nay:

Khi ông quyết định trở về VN để sống nốt tuổi gìa, một số nạn nhân bị CS đày đọa đã chê ông là phản bội những anh hùng chống Cộng.

Công bằng mà xét thì ông không phản bội ai cả. Lý do ông trở về quê bây giờ cũng giản dị như lý do ông về Thành thuở xưa.

Ở Hoa Kỳ, các con của ông không có nghề ngỗng gì ngoài nghề ca hát mà nghề này thì không cung ứng đủ những nhu cầu vật chất cho chúng. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt không bao bọc nổi vài trăm ca nhạc sĩ Việt. Những người lớn tuổi, đã về hưu, gắng gượng mới có tiền dự những buổi đại nhạc hội được tổ chức xuân thu nhị kỳ vì giới trẻ trung thì thích nhạc Mỹ do nó phong phú hơn, sống động hơn, giật gân hơn, hợp nhĩ hơn. Bản quyền sáng tác nhạc không được tôn trọng. Đĩa nhạc được sao chép và bán rẻ rúng công khai trong mọi tiệm nhạc. Sống nhờ trợ cấp xã hội thì không cam lòng. Chìa tay nhận 2000$ để phổ nhạc vài bài thơ “con cóc” của “vô thượng thiền sư” Thanh Hải thì tủi thân cho một nhạc sĩ tài danh như ông.

Giữa lúc nghèo túng thì cơ hội chợt tới: một khế ước trị giá 400 ngàn đô-la trong 4 năm để sưu tầm, hòa âm, trình diễn tất cả những bài ca do ông sáng tác tại VN từ 1945 tới 1975. Khế ước đó không buộc ông phải hòa âm những bản nhạc của VC hoặc sáng tác những bài ca mới cho VC. Thính giả của ông sẽ chỉ là những người thích nghe nhạc Phạm Duy bất kể chính kiến. Có thể ông đã biết một cái bẫy vô hình ẩn sau khế ước đó: sách lược “Hòa Giải Dân Tộc” của VC đang ở cao điểm trong thời gian này. Một người có “khí tiết” ắt không chấp thuận. Nhưng Phạm Duy không phải hạng người có khí tiết. Ông không thích sống “gương mẫu” mà thích sống thoải mái, buông thả, sung túc như thường tình.

Thế là ông đưa gia đình về quê hương sống ung dung trong 8 năm cho tới khi ông từ trần. Ông rất thích câu của ai đó nói rằng: “Về đi thôi! Kiếp sau biết có hay không?”. Tính tình của ông khác đời ở chỗ: rất thích thú khi được khen và rất ít phiền hà khi bị chửi.

Trong 8 năm ấy ông đã gặp đủ hạng người, trong mọi lứa tuổi: ca nhạc sĩ đã quen hoặc chưa quen, thính giả yêu nhạc của ông dù đã biết hoặc chưa hề biết tên ông, lãnh tụ CS kể cả những người đã từng cấm hát nhạc của ông như Võ Văn Kiệt, Tố Hữu và Trần Bạch Đằng, người đã tuyên bố một câu vô liêm sỉ năm 1989: “PD hãy tự sát đi, chúng tôi sẽ cho phổ biến nhạc của ông ta”. Dĩ nhiên ông không thể từ chối gặp mặt những lãnh tụ CS đã mở đường cho ông trở về. Cũng không đáng phàn nàn nếu ông muốn gặp một vài lãnh tụ CS đã chơi thân với ông trong thời kháng chiến chống Pháp. Ông rất dễ tính và vô tư trong việc gặp bạn cũ, chuyện làm quà chỉ là chuyện tếu hoặc kỷ niệm xưa, không bàn về chính trị. Chả có gì đáng trách cho những cuộc gặp gỡ lấy lệ hoặc xã giao như vậy.

Có một điểm son đáng ghi nhận: ông không hề bợ đỡ một lãnh tụ CS nào và cũng không hề nói xúc phạm tới bất cứ ai của chính thể VNCH trong suốt thời gian 8 năm ấy (cựu phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã phạm lỗi này).

Tôi muốn tóm tắt thái độ của Phạm Duy trong một câu sơ sài: Khi sáng tác thì tận tình, khi vui chơi thì tận hưởng, khi nói năng thì thì tận tục. Duyên Anh đã thuật lại rằng PD, trong lúc đùa rỡn với bạn bè, đã nói trong hơi men: “Ai ngu mới thích nghe nhạc của tôi. Chúng đã được làm trong cầu tiêu”. Có lẽ ông đã làm những bài Tục Ca trong cầu tiêu.

D/ KẾT LUẬN:

Nhạc sĩ tài danh Phạm Duy là một người đáng thương hại nhiều hơn là đáng trách cứ. Cuộc đời của ông trôi nổi qua nhiều vinh nhục, thăng trầm. Ông thích sống buông thả và chỉ có một tham vọng tích cực (productive): sáng tác những bản nhạc có giá trị.

Lối phát ngôn của ông thuộc loại Tú Xương (“Một thày, một cô một chó cái” hoặc “Cao lâu thường ăn quịt, thổ đĩ lại chơi lường”). Từ 50 năm nay, chả có ai coi ông như một “quý nhân”. Họ mến ông vì ông đã cống hiến cho họ nhiều bài ca bất hủ, và đi chung với họ trên một đoạn đường dài nhất của cuôc đời để cùng nhau “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”.

Ông chưa bao giờ là công cụ của CS. Trong 5 năm theo Kháng Chiến chống Pháp, ông chưa hề làm một khúc ca xưng tụng một lãnh tụ CS nào mà chỉ xưng tụng những anh hùng, liệt sĩ chống ngoại xâm. Tới khi cáo hồ ló đuôi thì ông bỏ chúng về Thành.

Ông cũng chưa bao giờ là công cụ của chính quyền độc tài. Trong 25 năm sống trong chính thể Quốc gia, ông chưa hề làm một ca khúc suy tôn lãnh tụ nào. Những bài hát “xây dựng nông thôn” là những bài làm ra bởi một tác gỉa công chức hơn là bởi một nhạc sĩ chuyên nghiệp; chúng đã không thọ lâu.

Khoảng 100 bài ca bất hủ của ông đã đi sâu vào mọi làng xóm của thôn quê, mọi ngõ ngách của thành thị rồi “di tản” ra ngoại quốc để ve vuốt nỗi cô đơn của vài triệu người sống lưu vong.

Cuộc “trở về quê” của ông chỉ tổn thương cho thanh danh của cá nhân ông, không có ảnh hưởng đáng kể tới tinh thần chống cộng của quần chúng. Chả có ai “hòa giải dân tộc” với VC chỉ vì Phạm Duy đã hồi hương. Sự hòa giải ấy sẽ không bao giờ xảy ra. Nói cách khác, chỉ có hòa giải khi nào chính thể CS bị giải thể hoàn toàn. Còn nữa, chỉ có lực lượng của quần chúng ở trong nước mới có khả năng giải thể chúng. Vậy thì chả nên quá quan tâm tới cái sách lược “Hòa Giải Dân Tộc” của chúng. Nó đã chết ngay sau khi vừa sinh ra. Chả nên chia sớt bớt nỗi căm thù VC rồi xối vào những ca nhạc sĩ như Phạm Duy, Từ Công Phụng, Khánh ly, Lệ Thu, Chế Linh v.v… Có một cái gì “bất đắc dĩ” trong viêc trở về của họ (như đã nói ở trên). Vả lại, họ không đem đô-la về nước để góp thêm ngoại tệ cho VC (như một số thương gia và những kẻ ham du hí) mà còn tiêu bớt ngoại tệ của chúng (lãnh thù lao bằng đô-la). Hãy thông cảm cho họ (thông cảm không có nghĩa là cổ võ cho người khác trở về) miễn là họ chỉ thân thiện với dân, chỉ hát cho dân nghe những bài ca mà chúng ta chấp nhận và không nói lảm nhảm, xúc phạm tới tinh thần chống Cộng.

Riêng đối với Phạm Duy, hãy để cho ông yên nghỉ, gọi là đáp lễ những bài ca bất hủ mà ông đã cống hiến trong suốt cuộc đời ông. Nghĩa tử là nghĩa tận! Có cả ngàn người (phần lớn là thường dân) đã tiễn đưa ông tới nơi an nghỉ cuối cùng. Vài nhóm trong số người này vừa khóc vừa đồng ca trước mồ ông một số bài chọn lọc, trong đó có bài Tình Ca và một bài chưa được chính quyền VC cho phép (Những Gì Sẽ Đem Theo Về Cõi Chết). Từ vạn dặm, chúng ta hãy gửi tới ông một chút thương cảm, một chút ngậm ngùi, một chút vị tha. Người yêu chuộng tự do lúc nào cũng tôn trọng tự do ngôn luận (trong đó có tự do chọn lựa lối sống) hơn bất cứ điều gì trên đời.

BS Nguyễn Văn Bảo, M.D.

Post Views:
278

Nhạc sĩ Phạm Duy qua đời: Chủ nhật buồn…

 

Là người Hà Nội, xuất hiện trước công chúng bao giờ ông cũng thật tinh tươm, vì thế khi ý thức tình trạng tiều tụy của mình, trong bệnh viện bao giờ ông cũng “xin lỗi tôi không tiếp chuyện lâu được” trước những người vào thăm, đặc biệt là với phụ nữ.

3ssDVpPk.jpgPhóng to
Nhạc sĩ Phạm Duy trong chương trình giới thiệu Trường ca Hàn Mặc Tử tại Hà Nội ngày 27-5-2012 – Ảnh: NGUYỄN ÐÌNH TOÁN

15g, nghe tin ông đã mất… Bên mình không một người thân…

Nhạc sĩ Phạm Duy qua đời

Nhạc sĩ Phạm Duy tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 5-10-1921 tại Hà Nội, từ trần lúc 14g30 ngày 27-1-2013 (nhằm 16 tháng chạp năm Nhâm Thìn).

Tang lễ tổ chức tại tư gia, 349/126 Lê Ðại Hành, P.15, Q.11, TP.HCM. Lễ nhập quan lúc 9g ngày 28-1-2013 (nhằm 17 tháng chạp năm Nhâm Thìn). Lễ động quan lúc 6g ngày 3-2-2013 (nhằm 23 tháng chạp năm Nhâm Thìn). An táng tại hoa viên nghĩa trang Bình Dương.

Là hàng xóm của ông từ thập niên 1960, quan tâm đến ông từ lúc ông bắt đầu nộp đơn xin về nước, theo ông suốt chuyến đi xuyên Việt thực hiện bộ phim tài liệu Phạm Duy – nhạc & đời (*) do tôi viết kịch bản với đạo diễn Ðinh Anh Dũng, làm MC trong nhiều chương trình của ông ở các cà phê sách Phương Nam…, giờ phút này tôi chỉ ấn tượng nhất về ông hai điều:

Thứ nhất, tôi chưa thấy người cha nào thương con bằng ông (lẽ dĩ nhiên còn vô số người cha thương con không kém ông, nhưng tôi chưa được gặp). Tám đứa con, nhắc tới đứa nào là mắt ông cũng sáng lên, giọng đầy tự hào. Ông chăm chút từng chút cho mỗi người, đến mức tôi luôn ngạc nhiên khi họ đã lớn vậy mà vẫn để cho ông phải lo như một đứa trẻ. Mỗi một sô của ông, thậm chí ông còn lo vé cho từng đứa con trở về. Nghề nghiệp của con cái đều do ông quyết định và xây đắp…

Ðối với ông, con cái là mối quan tâm lớn nhất. Chính tay ông đã dẫn dắt tất cả những người con của mình vào con đường âm nhạc. Dạy từng nốt nhạc, từng cách hát. Sáng tác cho con và vì con.

Với ông, những đứa con mãi mãi vẫn bé bỏng như những đứa trẻ. Dù đó đã là danh ca Duy Quang, Thái Hiền, Thái Thảo vang bóng một thời, dù đó đã là Duy Cường tài hoa nổi tiếng. Hơn 80 tuổi, khi ca sĩ Duy Quang mở phòng trà, đều đặn mỗi tối ông vẫn đến để giúp con tiếp khách, góp ý biên tập chương trình. Hơn 90 tuổi ông vẫn chưa yên tâm vì còn vài người con chưa lập gia đình hoặc còn phải mưu sinh khó khăn. Mấy tháng trước, ngay cả lúc bệnh nặng, gặp người vào thăm, ông chẳng lo gì bản thân mà cứ nằn nì nhờ cậy tìm cách chữa chạy cho ca sĩ Duy Quang đang bị ung thư. Dù đã tuổi cao, sức yếu, hơi tàn ông vẫn yêu thương, lo lắng, chăm sóc cho từng người con, từng chút một. Một tình yêu thương vô bờ bến.

Chính vì biết ông rất thương con như vậy nên hơn một tháng trước đây, ngày 19-12-2012, khi người con trai cả của ông là ca sĩ Duy Quang mất vì bệnh ung thư ở Mỹ, thoạt đầu đã không có ai dám báo tin cho ông. Nhưng rồi ông cũng phải biết, bình tĩnh đến đáng ngạc nhiên. “Tôi không đau ở đây – ông đặt tay lên đầu – mà là đau ở đây – lên tim”. Trái tim già nua và sử dụng hết công suất hơn rất nhiều người ở tuổi ngoài 90 có lẽ đã quá tải với cơn đau ấy. Một tháng qua ông phải vào bệnh viện mấy lần và cuối cùng đã gục ngã.

Ðiều thứ hai tôi ấn tượng về ông là về sức làm việc. Con số hơn 1.000 ca khúc để lại chưa đủ cho thấy sức làm việc đáng nể của người nhạc sĩ này. Mấy năm nay đến nhà, tôi luôn thấy ông thường ngồi trước máy vi tính. Ông nói: “Tôi mắc bệnh… nghiện làm việc, dù sức khỏe không còn được như xưa. Lúc trước tôi ngồi năm tiếng trước máy, giờ thì chỉ hai tiếng phải nghỉ tí rồi mới làm tiếp được”. Trở về VN sau 30 năm sống tại Mỹ, ông vẫn tiếp tục công việc sáng tác, phổ nhạc, viết sách. Ông đang thực hiện một quyển sách tập hợp các kinh nghiệm mình học hỏi được trong nhiều năm ở xứ người, cũng như toàn bộ tinh hoa ông chắt lọc được trong hành trình đến với âm nhạc. Ðồng thời, ông còn dự định cho phát hành quyển sách mang tên Vang vọng một thời viết về xuất xứ, hoàn cảnh ra đời các ca khúc của mình. Một sức làm việc và một tình yêu với công việc của đời mình thật đáng nể. Ði sô với ông, bao giờ tôi cũng thấy trước đó có vẻ như ông đang mệt hết hơi, chỉ cần tới giờ phải ra sân khấu là lại tươi tỉnh, tinh tươm và hoạt bát đầy năng lượng! Lòng yêu nghề và sức làm việc ấy là một bài học lớn cho tôi.

*

Thêm một ngày chủ nhật buồn!

Chợt nhớ tới lời Việt mà ông viết – có ai tìm ra nhạc sĩ nào của VN viết nhạc phổ thơ và viết lời Việt cho ca khúc nước ngoài hay bằng ông? – cho bài Sombre dimanche (**):

Chủ nhật nào tôi im hơi

vì đợi chờ không nguôi ngoai

bước chân người

nhớ thương tôi

đến với tôi thì muộn rồi

Trước quan tài khói hương mờ

bốc lên như vạn ngàn lời

dẫu qua đời mắt tôi cười

vẫn đăm đăm nhìn về người…

Trong Phạm Duy – nhạc & đời, ông cho biết mình thích nhất Tình ca trong những ca khúc đã viết, rồi nói về cái chết của mình: “Mộ tôi sẽ nằm trên môi những người hát Tình ca. Cứ mỗi lần có ai hát bài này, tôi tin là mình đang được tái sinh trong lòng họ”.

Vâng. Trước quan tài khói hương mờ, ngày mai đây và nhiều ngày sau nữa sẽ vẫn còn rất nhiều người hát: Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời… Ðể tin ông sẽ còn sống rất lâu trong lòng người yêu nhạc VN.

*************************

(*) Bộ phim tài liệu này chưa phát hành.

(**) Ca khúc gốc Szomorú Vasárnap của nhạc sĩ Rezso Seress (Hungary) viết năm 1932 đã từng khiến nhiều người tự tử khi nghe.

* Tin bài liên quan:

Trái tim nghệ sĩ luôn lưu luyến cuộc đời Lắng đọng với năm bài hát vang bóng Phạm DuyPhạm Duy mong có thêm nhiều ca khúc được cấp phépNhạc sĩ Phạm Duy giao lưu với sinh viên HuếPhạm Duy – ngày về Hà NộiCon đường tình ta đi: Chưa thật đầy những thăng trầm…Tuổi ngọc

Tiểu sử của nhạc sĩ Phạm Duy – Tiểu Sử Của Các Nhạc Sĩ

 

UserPostedImage

 

 

Update RequiredTo play the media you will need to either update your browser
to a recent version or update your Flash plugin.

Tên Thật : Phạm Duy Cẩn
Ngày Sinh :5/10/1921 tại Hà Nội.
Nghề Nghiệp : Nhạc Sĩ
Thể Loại :Tình Khúc 1954-1975, Nhạc Vàng.
Tác Phẩm Nổi Tiếng :”Tình ca”, “Tình hoài hương”, “Con đường cái quan”, “Mẹ Việt Nam”
Ca Sĩ Trình Bày Thành Công : Thái Thanh

Sơ Lược

Phạm Duy (sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921) tên thật Phạm Duy Cẩn là một nhạc sĩ, ca sĩ, nhà nghiên cứu nhạc nổi tiếng của Việt Nam. Ông được coi là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của nền Tân nhạc với số lượng sáng tác đồ sộ và đa dạng về thể loại, trong đó có những bài đã trở nên rất quen thuộc với người Việt. Ngoài sáng tác, Phạm Duy còn có nhiều công trình khảo cứu về âm nhạc Việt Nam có giá trị. Ông cũng từng giữ chức giáo sư nhạc ngữ tại trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn.

Khởi sự đời nhạc trong gánh hát Đức Huy với vai trò ca sĩ hát lưu động. Từng tham gia Kháng chiến chống Pháp một thời gian trước khi vào miền Nam để tiếp tục tự do hoạt động âm nhạc. Phạm Duy là một tên tuổi lớn và đầy ảnh hưởng của miền Nam Việt Nam với những hoạt động tích cực giành cho cả âm nhạc lẫn chính trị, cho đến sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, khi ông vượt biên sang Hoa Kỳ. Trong suốt 30 năm từ 1975 đến 2005, Phạm Duy bị nhà nước xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam cấm đoán về nhân thân, những ca khúc của ông bị liệt vào loại nhạc quốc cấm. Tuy nhiên tại cộng đồng người Việt hải ngoại, nhạc của ông vẫn được phổ biến rộng rãi. Năm 2005, ông về Việt Nam định cư và một số ca khúc của ông mới bắt đầu được cho phép phổ biến. Tính cho đến nay, có hơn 50 ca khúc trong số hàng nghìn sáng tác của Phạm Duy được cấp phép.

Tiểu Sử

Nhạc sĩ, tên thật là Phạm Duy Cẩn, xuất thân từ một gia đình văn nghiệp. Cha là Phạm Duy Tốn thường được xem như nhà văn xã hội đầu tiên của nền Văn học Mới hồi đầu thế kỷ 20. Anh là Phạm Duy Khiêm, giáo sư thạc sĩ, cựu Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Pháp, văn sĩ Pháp văn, tác giả những cuốn Légendes des terres sereines, Nam et Sylvie, De Hanoi à Lacourtine…

Sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921 (5 tháng 9 năm Tân Dậu) tại phố Hàng Cót, Hà Nội. Phạm Duy học vỡ lòng tại trường Hàng Thùng, học tiểu học tại trường Hàng Vôi, học rất dốt và thường bị phạt. Đến khi 13 tuổi (1934) vào được lớp nhất, ông học giỏi lên dần, thành một trong những học sinh ưu tú của lớp, nhất là môn đọc thơ tiếng Pháp.

Năm 1936, vào học ở trường Thăng Long, một trọng điểm trong thời kỳ kháng chiến. Thầy dạy ông có Võ Nguyên Giáp, còn trong đám bạn cùng lớp có nhà thơ Quang Dũng.

Năm 1940, nghe lời bè bạn, ông thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương, học thầy Tô Ngọc Vân, chung lớp với Bùi Xuân Phái, Võ Lăng… nhưng ông không có năng khiếu nhiều và không ham vẽ cho lắm. Thời kỳ này ông ca hát nhiều hơn là vẽ tranh.

Năm 1942 ông có sáng tác đầu tay “Cô hái mơ”.

Năm 1944, ông thành ca sĩ hát tân nhạc trong gánh hát cải lương Đức Huy – Charlot Miều. Gánh hát này đưa ông đi rất nhiều miền trên đất nước, từ Bắc chí Nam, khiến ông mở mang tầm mắt, ngoài ra tự nhiên cũng trở thành một trong những nhân tố quan trọng trong việc phổ biến tân nhạc đến các vùng. Thời kỳ hát rong, Phạm Duy được gặp gỡ nhiều tên tuổi lớn như thi sĩ Lưu Trọng Lư, nhạc sĩ Lê Thương, Lê Xuân Ái, Văn Đông… và nhất là nhạc sĩ Văn Cao, người sau này trở thành bạn thân thiết.

Sau đó ông khởi sự con đường âm nhạc của mình với việc trở thành ca sĩ trong gánh hát Đức Huy, đi diễn lưu động từ Bắc qua Trung vào Nam trong những năm 1943-1945. Ông là người đầu tiên hát nhạc cải cách trên đài Radio Indochine ở Sài Gòn vào năm 1944, mỗi tuần trình bày 2 lần.

Năm 1945, xảy ra nạn đói, Phạm Duy rời nhà cũ đi lang thang nhiều nơi, sau đó ông theo kháng chiến. Trong thời Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Phạm Duy trở thành cán bộ văn nghệ của Việt Minh và là một trong những nhạc sĩ thành công nhất lúc đó. Thời kỳ này, bên cạnh tài năng được khen ngợi, thì xu hướng lãng mạn của Phạm Duy bị cho là tiêu cực, nhiều bài hát của ông bắt đầu bị xét duyệt, cấm đoán. Sau do không chịu sự quản thúc ngặt nghèo, ông đã rời bỏ Việt Minh về thành. Từ đó tác phẩm của ông bị cấm phổ biến trong vùng kiểm soát của Việt Minh, cũng như ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Năm 1949 ông lập gia đình với ca sĩ Thái Hằng.

Năm 1951, ông đem gia đình về Sài Gòn.

Năm 1953, ông qua Pháp học về âm nhạc, tại đây quen với giáo sư Trần Văn Khê. Về lại miền Nam, ông tiếp tục sáng tác và biểu diễn trong ban hợp ca Thăng Long. Nhạc Phạm Duy phổ biến rất rộng rãi ở miền Nam (mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng gọi là “bàng bạc khắp mọi nơi” thời bấy giờ). Thời gian này ông có những hoạt động trong ngành điện ảnh, và đã gây nên một vụ tai tiếng lớn khắp từ Nam chí Bắc khi ngoại tình với người vợ của em vợ. Ca sĩ Khánh Ngọc là vợ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương – người em vợ duy nhất của ông.

Sau sự kiện này, ông lại dính vào một vụ tình cảm nữa với Alice, con gái của một người tình cũ hồi năm 1944 tên Hélène. Tuy nhiên, ông khẳng định cả hai chuyện này đều là những tình cảm trong sáng: “Vì vấn đề chênh lệch tuổi tác cũng như vì tôi không muốn làm phiền những người chung quanh một lần nữa, tôi quyết định ngay từ lúc đầu rằng đây chỉ là một mối tình giữa hai tâm hồn mà thôi. Tôi cố gắng tránh mọi đụng chạm về xác thịt và tôi hãnh diện để nói rằng nàng vẫn là một trinh nữ khi rời xa tôi để bước chân lên xe hoa về nhà chồng. Là một nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để thở. Tôi không cần phải chiếm đoạt ai cả, nhất là chiếm đoạt một người con gái còn ít tuổi. Giữa chúng tôi, không có ràng buộc, trói chặt nhau. Ông đã viết nhạc và lời cho khá nhiều bài nhân chuyện này: “Nụ Tầm Xuân”, “Thương Tình Ca”, “Chỉ Chừng Đó Thôi”, “Tìm Nhau”, “Cho Nhau”.

Từ sau 30 tháng 4 năm 1975, ông và gia đình cư ngụ tại Thành phố Midway (Quận Cam), California.

Năm 1990, ông bắt đầu viết hồi ký, khi hoàn tất chia làm 4 cuốn.

Năm 1999, vợ ông là bà Thái Hằng qua đời, sự kiện này khiến ông bị cao huyết áp phải đi nằm bệnh viện một thời gian dài. Sau năm này, lần đầu về thăm quê hương sau 25 năm lưu lạc, ông gặp gỡ nhiều bạn cũ ở Việt Nam.

Tháng 5 năm 2005, ông trở về Việt Nam, mua nhà sống tại Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cùng các con trai Duy Quang (ca sĩ), Duy Cường. Tháng 7 cùng năm, có 9 nhạc phẩm của ông được phép lưu hành ở Việt Nam; tháng 11, được phép lưu hành thêm 10 tác phẩm nữa. Tính đến nay (tháng 8 năm 2007) đã có hơn 40 tác phẩm của Phạm Duy được phổ biến tại Việt Nam, tính cả các đoản ca trong ” Trường ca Con đường cái quan”.

Phạm Duy Và Người Bạn Văn Cao

Phạm Duy là người đầu tiên đem ca khúc “Buồn tàn thu” của Văn Cao đi khắp mọi miền đất nước. Nhưng hai người thường được biết đến như là một đôi bạn thân thiết, có một tình bạn kéo dài nửa thế kỷ, dù đi theo hai con đường đối lập nhau. Hai người quen nhau tại Hải Phòng năm 1944. Trong hồi ký của mình, Phạm Duy tả về Văn Cao:

“Thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều. Chắc chắn là đứng đắn hơn tôi. Lúc mới gặp nhau, anh ta chưa dám mày-tao với tôi, nhưng tôi thì có cái tật thích nói văng mạng (và văng tục) từ lâu, kết cục, cu cậu cũng theo tôi mà xổ chữ nho. Nhưng Văn Cao bản tính lầm lỳ, ít nói, khi nói thì bàn tay gầy gò luôn luôn múa trước mặt người nghe. Anh ta thích hút thuốc lào từ khi còn trẻ, có lần say thuốc ngă vào tay tôi. Về sau, anh còn nghiện rượu rất nặng.”
Hai người trở thành đôi bạn thân, thường giúp nhau sáng tác nhạc (bài “Suối mơ”, bài “Bến xuân” là hai người sáng tác chung) và ra vào những chốn ăn chơi, sau đó còn rủ nhau theo kháng chiến.

Đến năm 1949, Phạm Duy dinh tê về Nam còn Văn Cao ở lại với cách mạng. Bị cấm liên lạc từ đó đến 1987, khi Phạm Duy ở Hoa Kỳ, Văn Cao ở Việt Nam, họ mới liên lạc với nhau được bằng thư tay, qua một số người Việt kiều. Hai người vẫn xưng hô mày, tao như hồi xưa. Sau này vợ chồng Phạm Duy và vợ chồng Văn Cao còn được nghe giọng nói, xem cử chỉ của nhau bằng tin nhắn qua băng video do cô Nam Trân, một phóng viên truyền hình ở hải ngoại giúp đỡ.

Ngoài ra, ban điện ảnh của đài BBC ở Luân Đôn còn định thực hiện một phim về Văn Cao – Phạm Duy, mà họ gọi là hai chàng Lưu – Nguyễn thời nay, lấy cảm hứng từ bài hát “Thiên Thai”. Nhưng lúc này Phạm Duy đang bị cấm rất gắt tại Việt Nam, rồi Trịnh Công Sơn đă được mời thay Phạm Duy đóng phim này.

Năm 1995 Văn Cao mất, nhưng phải đến 2001 Phạm Duy mới viếng mộ được. Trong lần đầu trở lại quê hương, ông đă cầm một chai rượu rưới lên khắp mộ người bạn chí cốt

Gia Đình

Gia đình Phạm Duy có nhiều người nổi tiếng trong lãnh vực nghệ thuật:

Cha của Phạm Duy là nhà văn Phạm Duy Tốn
Anh cả của Phạm Duy là Phạm Duy Khiêm, một học giả và là một nhà văn viết tiếng Pháp
Người anh thứ hai của Phạm Duy là Phạm Duy Nhượng, một nhà giáo, cũng là một nghệ sĩ tài tử, tác giả bài Tà áo Văn Quân
Vợ của Phạm Duy là ca sĩ Thái Hằng
Một người anh họ của ông là học giả Nguyễn Văn Ngọc
Sau này ông có cha nuôi là học giả Trần Trọng Kim
Các con của Phạm Duy cũng là những ca sĩ, nhạc sĩ:

Ca sĩ Thái Hiền
Ca sĩ Duy Quang
Ca sĩ Thái Thảo
Nhạc sĩ hòa âm Duy Cường
Ngoài ra có thể kể đến:

Ca sĩ Thái Thanh, em gái của bà Thái Hằng
Ca sĩ Ý Lan, con gái của Thái Thanh, tức cháu gái của Thái Hằng
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương, em trai của Thái Hằng, là ca sĩ Hoài Bắc của ban hợp ca Thăng Long.
Nghệ sĩ Phạm Đình Sỹ, anh trai của Thái Hằng
Phạm Đình Viêm, anh trai của Thái Hằng, là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long.
Ca sĩ Tuấn Ngọc, chồng của Thái Thảo
Ca sĩ Mai Hương, con gái của Phạm Đình Sỹ, tức cháu gái của Thái Hằng

Sự Nghiệp
* Thời Kỳ Tiền Chiến.

Năm 1942, khi còn đang hát cho gánh hát Đức Huy, Phạm Duy cho ra đời tác phẩm đầu tay là “Cô hái mơ” (phổ nhạc cho bài thơ “Cô hái mơ” của Nguyễn Bính). Năm 1944 đến bài hùng ca “Gươm tráng sĩ”, là bài hát đầu tiên ông viết cả lời lẫn nhạc.

Thời kháng chiến nam bộ (1945–1946) ông chơi thân với Văn Cao, ngoài việc cùng ra vào chốn ăn chơi, ông còn được Văn Cao giúp đỡ nhiều trong việc sáng tác. Những nhạc phẩm đầu tay của ông có nhiều hùng ca: “Gươm tráng sĩ”, “Chinh phụ ca”, “Thu chiến trường”, “Chiến sĩ vô danh”, “Nợ xương máu”… Bên cạnh đó còn có nhạc tình lãng mạn, trong đó có nhiều bài giúp ông trở nên nổi tiếng: “Cây đàn bỏ quên”, “Khối tình Trương Chi”, “Tình kỹ nữ”, “Tiếng bước trên đường khuya”…

Năm 1947, Phạm Duy bắt đầu quan tâm đến dân ca. Ông muốn sáng tác nhạc âm hưởng dân ca để xâm nhập sâu vào chốn thôn quê hơn, từ đó cho ra đời nhiều bài mà ông gọi là “Dân ca mới”, rất được đông đảo quần chúng yêu thích: “Nhớ người thương binh”, “Dặn dò”, “Ru con”, “Mùa đông chiến sĩ”, “Nhớ người ra đi”, “Người lính bên tê”, “Tiếng hát sông Lô”, “Nương chiều”… Những bài này được ông sáng tác dựa trên 2 tiêu chí:

Nét nhạc vẫn dùng âm giai ngũ cung cố hữu nhưng áp dụng nhạc thuật chuyển hệ làm cho giai điệu không nằm chết trong một ngũ cung nào đó như trong dân ca cổ mà chạy dài trên nhiều hệ thống ngũ cung khác nhau;
Lời ca tuy nằm trong thể thơ lục bát, nhưng có nhiều khi được biến thể, do đó tiết điệu cũng theo âm tiết của lời ca mà trở nên phong phú hơn

Từ năm 1948, bên cạnh những bài có sắc thái tươi vui như: “Gánh lúa”, “Đường ra biên ải”… Ông có sáng tác thêm một thể loại mới: nói về sự đau khổ của những người sống trong chiến tranh. Những bài như: “Bao giờ anh lấy được đồn tây” (sau đổi thành “Quê nghèo”), “Bà mẹ Gio Linh”, “Về miền Trung”, “Mười hai lời ru”, “Về miền Trung”… đều có hình ảnh làng quê và người dân quê nghèo khổ.

Những bài hát này tuy được quần chúng yêu thích và phổ biến rất rộng rãi, nhưng do nói về sự bi, sự khổ mà Phạm Duy bắt đầu bị sự chỉ trích của cấp trên thời kháng chiến, ông bèn về miền Nam để tự do sáng tác. Năm 1952, bài ““Tình hoài hương” ra đời, khởi xướng cho xu hướng sáng tác “Tình ca quê hương”, sau đó là “Tình ca”; hai bài này được yêu thích từ Nam ra Bắc và nằm trong những tác phẩm tiêu biểu nhất nói về quê hương, với những câu như: “Quê hương tôi có con đê dài ngây ngất, lúc tan chợ chiều xa tắp, bóng nâu trên đường bước dồn, lửa bếp nồng, vòm tre non làn khói ấm hương thôn” (trong ““Tình hoài hương”), “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi, mẹ hiền ru những câu xa vời, à à ơi! tiếng ru muôn đời” (trong “Tình ca”).

Tiếp đó ông trở về thể loại dân ca mới với những bài “Đố ai”, “Nụ tầm xuân”, “Ngày trở về”, “Người về”, “Tình nghèo”… Bên cạnh đó là “Thuyền viễn xứ”, “Viễn du” nói về sự chia lìa quê hương. Bài “Hẹn hò” nói về sự ngăn chia đôi lứa, ông dùng nhạc ngũ cung giọng Huế. Ngoài ra còn có: “Xuân ca”, “Dạ lai hương”, “Xuân thì”… Năm 1954, ông chuyển từ nhạc tình ca quê hương sang tự tình dân tộc, soạn ra “Bà mẹ quê”, “Em bé quê”, “Vợ chồng quê”, trong đó có “Em bé quê” được trẻ con thuộc như bài đồng dao.

* Thời Kỳ Chia đôi Đất Nước.

Sau khi sang Pháp du học âm nhạc, ông sáng tác thêm được nhiều bài giá trị, ban đầu vẫn là “Dân ca mới”, lại có thêm nhiều tác phẩm ca ngợi tình yêu đôi lứa mà phổ biến nhất phải kể đến “Đừng xa nhau”, “Ngày đó chúng mình”, “Tìm nhau”…

Lúc này ông sáng tác tự do theo nhiều chủ đề, những bài hát như nói về tâm tưởng ‘”Chiều về trên sông”, “Một bàn tay”, “Tạ ơn đời”, “Đường chiều lá rụng”, “Nước mắt rơi”… được Thái Thanh, Kim Tước, Quỳnh Giao thể hiện thành công; nhất là ca sĩ Thái Thanh, em của Thái Hằng, tên tuổi của bà đã gắn liền với những tác phẩm “Dân ca mới” và nhạc tình của Phạm Duy.

Phạm Duy ở Những Vùng Cấm.

Nhạc Phạm Duy từng rất phổ biến khắp cả miền Nam, miền Bắc nước Việt Nam trong những năm 1945-1954 và được nhiều người hát. Nhưng từ khi ông tỏ ra bất phục với chính quyền cách mạng, đã có nhiều nhìn nhận khắt khe về ông dẫn đến việc cấm hát, cấm nói về Phạm Duy – nhạc Phạm Duy từ sau năm 1954 tại miền Bắc, và việc ông vượt biên sang Mỹ đã khiến nhà nước Việt Nam đưa ông vào danh sách 2 người bị cấm toàn bộ về nhân thân trên toàn nước Việt Nam từ sau 1975.

Tại Bắc-Việt trước 1975

Theo hồi ký của Phạm Duy thì lệnh cấm nhạc của ông bắt đầu từ bài “Bên cầu biên giới”, ra đời năm 1952; bài này bị chỉ trích là có thứ tình cảm bỉ mị buồn bã, làm nản lòng người ta. Sau khi được Nguyễn Xuân Khoát thông báo lệnh cấm, Phạm Duy rời bỏ cách mạng về miền Nam.

Ban đầu tại các diễn đàn văn nghệ còn có những cuộc bàn cãi về việc cho hay không cho hát nhạc Phạm Duy, nhưng về sau thì cấm tiệt. Từ đó, nhạc Phạm Duy bị liệt vào hạng phản động, tên tuổi của ông được đem ra phê phán. Ông cũng bị nghi ngờ có liên hệ với CIA.

Nhạc sĩ Đỗ Nhuận là người hưởng ứng nhiệt tình việc này, ông đặc biệt tỏ ra coi thường âm nhạc của Phạm Duy. Trong các bài viết năm 1958 và 1969, Đỗ Nhuận gọi việc sinh viên miền Bắc phổ biến bài “Tìm nhau” của Phạm Duy là “rải tuyên truyền”, Đỗ Nhuận gọi bài đó là “dâm ô”

Tại Việt Nam Từ 1975-2005

Sau ngày thống nhất đất nước, Trần Văn Khê từ Pháp có về hỏi Tố Hữu về vụ Phạm Duy, Tố Hữu nói: “Bỏ khúc giữa, lấy khúc đầu và khúc đuôi”[5], nghĩa là vẫn nên phổ biến sau khi bỏ hết những bài sáng tác thời nội chiến. Nhưng rồi nhạc Phạm Duy vẫn bị cấm trên cả nước, ngoài ra bàn luận về Phạm Duy cũng bị cấm. Ông cùng với Hoàng Thi Thơ là hai nhạc sĩ đặc biệt nhất bị cấm về nhân thân.

Tuy vậy, khoảng 30 năm, vẫn thấy vài người viết về Phạm Duy. Trong cuốn Những bài viết tiến bộ công khai trên báo chí Sài Gòn từ 1954 – 1975 có cho đăng lại một phần trích đoạn của cuốn Phạm Duy đă chết như thế nào. Hay như thi sĩ Chế Lan Viên cũng nhắc tới Phạm Duy trong một bài báo tên “Hồi Ký” đăng tại tạp chí Sông Hương ngày 22 tháng 6 năm 1986:

“Tất cả về cội, không mất mát gì ư? Có chứ, Mất Phạm Duy! Chúng ta tiếc lắm, vì anh có tài lớn. Nhưng chúng ta làm sao được! Anh ấy bỏ chúng ta, chứ chúng ta đâu có bỏ anh.”
Bài viết của Chế Lan Viên kết thúc bằng đoạn:

“Vâng chỉ có trường hợp anh Phạm Duy là…là không cần cội vậy thôi. Chứ hình như hầu hết, lá rụng đều về cội cả và mọc lên thành cội nữa.”
Nhà báo Nguyễn Phúc Long trong bài “Công và tội” đăng trên báo Đoàn kết, số 393 ra tháng 7 năm 1987, có nhắc đến Phạm Duy, sau một loạt tên tuổi mà ông cho là “phản bội”, nhưng vẫn có công cho văn hoá nước nhà như Trần Ích Tắc, Lê Trắc, Phạm Thái, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Khiêm, Võ Phiến và nhóm Tự Lực Văn Đoàn:

“Trong lĩnh vực ca nhạc, Phạm Duy, “con người của phản bội”, bị nhân dân ta khinh bỉ cũng đă có cái may mắn là để lại cho chúng ta một số bài hát giàu tính dân ca và trữ tình nhất là những bài được ông ta sáng tác trong thời kỳ đi theo kháng chiến – 1946 – 1949.”
Đến năm 1994, báo chí Việt Nam mới có một bài thiện ý với Phạm Duy. Đó là bài thơ “Về thôi” mà nhà văn Lưu Trọng Văn, con trai nhà thơ Lưu Trọng Lư, gửi lên tờ Tuổi trẻ chủ nhật, có đề chữ “Tặng P.D.” bên cạnh. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đă phổ nhạc bài này. Rồi sau đó chính Phạm Duy cũng phổ nhạc với tên “Trăm năm bến cũ”. Theo Phạm Duy, đây là bài thơ làm ông nghĩ nhiều tới việc về thăm Việt Nam, mà năm 2001 ông đă thực hiện.

Thể Loại
Phạm Duy Cho Ra Đời Nhiều Tác Phẩm rất đa dạng…

Nhạc Kháng Chiến :Sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nói lên sự căm giận của người dân quê đối với giặc cướp nước, phá làng. Tiêu biểu có thể kể: “Bà mẹ Gio Linh”, “Mười hai lời ru”, “Chiến sĩ vô danh”.

Nhạc Quê Hương : Một phần quan trọng trong sự nghiệp của ông, gồm những bài ca ngợi quê hương đất nước, hình ảnh con trâu, đồng lúa, cái cày… Nhiều bài rất quen thuộc với người Việt: “Tình ca”, “Về miền Trung”, ““Tình hoài hương”, “Bà mẹ quê”, “Em bé quê”…

Nhạc Tình Đôi Lứa :Tình yêu là một đề tài lớn trong cuộc đời cũng như trong sự nghiệp sáng tác của Phạm Duy. Nhạc tình có khối lượng nhiều nhất trong kho nhạc đồ sộ của ông, có thể kể những bài được giới trẻ trong nam ngoài bắc hát như “Hẹn hò”, “Cỏ hồng”, “Ngày đó chúng mình”, “Cây đàn bỏ quên”, “Phượng yêu”, “Kiếp nào có yêu nhau”, “Đừng xa nhau”, “Mưa rơi”, “Đường em đi”, “Tôi còn yêu tôi cứ yêu”, “Trả lại em yêu”, “Giết người trong mộng”…

Nhạc Tâm Tư : Ngoài viết về tình yêu trai gái, tình yêu quê hương, thì những sự suy tưởng cao siêu hay nhớ nhung buồn nản vẩn vơ cũng được Phạm Duy ghi lại thành nhạc, có thể kể đến “Đường chiều lá rụng”, “Bên cầu biên giới”, “Chiều về trên sông”, “Dạ lai hương”, “Viễn du”… Hay những bài nói lên tâm trạng phẫn uất trước nội chiến, cảm khái trước thế thời như: “Huyền sử ca một người mang tên Quốc”.

Trường Ca :Những tác phẩm lớn khiến ông có một địa vị chắc chắn trong nền tân nhạc Việt Nam: “Con đường cái quan”, “Mẹ Việt Nam”, “Hàn Mạc Tử”, sau này là “Minh họa Kiều” không mấy thành công.

Ngoài ra còn có những thể loại được ông đặt sẵn tên:

Rong Ca :Gồm 10 bài sáng tác năm 1988: “Người tình già trên đầu non”, “Hẹn em năm 2000”, “Mẹ năm 2000”, “Mộ phần thế kỷ”, “Ngụ ngôn mùa Xuân”, “Nắng chiều rực rỡ”, “Bài hát nghìn thu”, “Trăng già”, “Ngựa hồng”, “Rong khúc”.

Đạo Ca :Gồm 10 bài, phổ thơ của Phạm Thiên Thư vào thập niên 1970: “Pháp thân”, “Đại nguyện”, “Chàng dũng sĩ và con ngựa vàng”, “Quán thế âm”, “Một cành mai”, “Lời ru bú mớm nâng niu”, “Qua suối mây hồng”, “Giọt chuông cam lộ”, “Chắp tay hoa”, “Tâm xuân”.

Thiền Ca :Gồm 10 bài, sáng tác vào thập niên 1980: “Thinh không”, “Võng”, “Thế thôi”, “Không tên”, “Xuân”, “Chiều”, “Người tình”, “Răn”, “Thiên đàng địa ngục”, “Nhân quả”.

Tâm Ca : Gồm 10 bài, thở than về những xáo trộn trong cuộc sống người dân miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam sụp đổ: “Tôi ước mơ” (thơ Thích Nhất Hạnh), “Để lại cho em” (thơ Nguyễn Đắc Xuân), “Tiếng hát to”, “Ngồi gần nhau”, “Giọt mưa trên lá” (ý thơ Nhất Hạnh), “Một cành củi khô”, “Kẻ thù ta” (ý thơ Nhất Hạnh), “Ru người hấp hối”, “Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe”, “Hát với tôi”. Ngoài ra còn nhiều bài khác cũng theo hướng Tâm ca như “Những gì sẽ đem theo về cõi chết”, “Tôi còn yêu tôi cứ yêu”.

Tâm Phẫn Ca : Sáng tác sau Tết Mậu Thân: “Tôi không phải gỗ đá”, “Nhân danh” (thơ Tâm Hằng), “Bi hài kịch” (thơ Thái Luân), “Đi vào quê hương” (thơ Hoa Đất Nắng), “Người lính trẻ”, “Bà mẹ phù sa”… Ngoài ra còn một số bài sáng tác cho phong trào du ca.

Tục Ca, Vĩa hè Ca :Gồm những bài ca lời rất tục tĩu, chỉ có tác giả hát, không ca sĩ nào chịu hát, đến nay đã thất truyền

*Bên cạnh những thể loại kể trên, còn có Tổ khúc Bầy chim bỏ xứ, Tị nạn ca nói về tâm trạng và sự khó nhọc của người ly hương;

Hoàng Cầm Ca :phổ những bài thơ của thi sĩ Hoàng Cầm;

Hương Ca :sáng tác khi ông về ở Việt Nam…

Trường Ca
Con đường cái quan

Những dòng nhạc đầu tiên của trường ca này được ông sáng tác năm 1954 tại Paris, ngay khi Hiệp định Genève vừa ký kết để phản đối sự chia cắt đất nước. Phần còn lại được soạn sau đó 6 năm, hoàn tất năm 1960. Cho đến nay đây vẫn là trường ca thành công nhất của Phạm Duy.

Nội dung trường ca nói về một sự du hành từ miền Bắc Việt Nam, qua miền Trung Việt Nam, đến miền Nam Việt Nam của một người du khách, với chí hướng nối ba miền làm một. Chuyến đi ấy bắt đầu từ Ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mau, từ ngày lập quốc cho đến ngày hoàn thành, đi trong lịch sử nhưng cũng là trong lòng người dân để nối liền đất nước, nối liền lòng dân, mà đi tới đâu người lữ khách cũng được dân chúng miền đó đón chào.

Trường ca này gồm có ba phần: từ miền Bắc, qua miền Trung, vào miền Nam. Mỗi phần được sáng tác theo phong cách dân ca nơi đó và mỗi phần mang một ý nghĩa riêng. Phần từ miền Bắc bắt đầu bằng âm điệu hào hùng, như tâm trạng người vừa lên đường vì chí lớn, và trở nên dịu êm dần. Nhạc chuyển thành đau xót ở phần qua miền Trung, do chứng kiến cảnh lầm than của dân. Nhạc tươi sáng dần lên khi sang đoạn vào miền Nam vì lòng sung sướng của người lữ khách đã làm được một việc lớn.

Theo nhiều người (Trần Văn Khê, Georges Étienne Gauthier…), “Trường ca Con đường cái quan” đã chứng tỏ có thể đem yếu tố nhạc Việt Nam truyền thống kết hợp với nhạc giao hưởng phong cách Tây phương mà vẫn không làm mất tính chất Việt. Trường ca được phát sóng rất nhiều lần trên Đài Phát thanh Sài Gòn với giọng Thái Thanh, Kim Tước, Thái Hằng – Duy Khánh, Nhật Trường, Trần Ngọc và ban nhạc Hoa Xuân để trở những giai điệu quen thuộc nhất của Việt Nam. Nhiều sinh viên ở nhiều nơi đã dựng tác phẩm này thành một hoạt cảnh. Sau này, khi nhạc Phạm Duy đã bị cấm tại Việt Nam, đài truyền hình Bình Dương vẫn thường mở một vài đoạn hoà tấu ngắn trong trường ca lúc chuyển tiếp chương trình.

Mẹ Việt Nam
Tác phẩm này rực rỡ không kém “Trường ca Con đường cái quan”. “Mẹ Việt Nam” soạn năm 1964 và hoàn thành trong năm đó, ca tụng hình ảnh người mẹ tổ quốc hay những bà mẹ điển hình trong lịch sử.

Trường ca gồm 4 phần: Đất mẹ, Núi mẹ, Sông mẹ và Biển mẹ, tượng trưng cho các giai đoạn của bà mẹ: từ tươi trẻ mầu mỡ đến kiên cường sắt đá rồi thì rộng lượng bao dung. Khi sáng tạo hình ảnh người mẹ trong trường ca này, tác giả có ý đi tìm “mẫu số chung” của dân tộc. Tác phẩm này có phong cách dân ca với giọng khoan hò và điệu ru con mà giai điệu và lời, theo Georges Étienne Gauthier trong cuốn Một người Gia Nã Đại với nhạc Phạm Duy, đã đạt tới trình độ “toàn thiện”.

Về sự phổ biến, trường ca “Mẹ Việt Nam” có lẽ không được rộng rãi như “Con đường cái quan” vì nội dung thu hẹp, nhưng vẫn rất được nhiều người yêu thích qua những giọng của Thái Thanh, Kim Tước, Thái Hằng – Duy Khánh, Nhật Trường, Trần Ngọc và ban nhạc Hoa Xuân.

Hàn Mặc Tử
Trường ca này được sáng tác bên Mỹ vào năm 1994, dựa vào 9 bài thơ của Hàn Mạc Tử. Trường ca gồm ba phần: Tình quê, Trăng sao và Ave Maria, mà tác giả đã cố ý diễn tả tâm trạng của Hàn Mạc Tử qua giai điệu của mình. Do sáng tác bên Mỹ và chỉ hát bên Mỹ, cộng với giai điệu mang nhiều phong cách Tây phương nên trường ca này không phổ biến tại Việt Nam bằng hai trường ca trên, tuy vậy vẫn được xem là thành công với giọng hát Tuấn Ngọc, Thái Hiền, Duy Quang, Thái Thảo.

Bầy Chim Bỏ Xứ
Theo Phạm Duy, “Con đường cái quan” mang tính chất tả thực, “Mẹ Việt Nam” mang tính chất tượng trưng, “Hàn Mạc Tử” mang tính chất siêu hình, thì “Bầy chim bỏ xứ” mang tính chất ẩn dụ.

Trường ca này có thể cho là một thành công của Phạm Duy, dù chỉ ở hải ngoại. Khởi soạn năm 1975, hoàn tất năm 1985, thu thanh năm 1990, với các giọng ca Kim Tước, Vũ Anh, tác phẩm này gồm 16 đoản khúc (có thể là 16 bài hát riêng) nói về một bầy chim, mà mỗi con chim ẩn dụ cho một hạng người, một số phận khác nhau… mà chính nhất là chim quyên, lấy cảm hứng từ tích Thục Đế. Chim quyên rời bỏ thôn Đoài, trải qua bao nhiêu việc, bao nhiêu lần hoá thân, rồi chết nơi xứ người, nhưng từ đống tro tàn ấy, chim quyên lại tái sinh để về lại thôn Đoài.

Minh họa KIỀU
Như tên của nó, tác phẩm này có ý minh họa lại truyện Kiều của Nguyễn Du, để thể hiện lòng kính trọng của tác giả với nhà đại thi hào. Đây là tác phẩm rất dài vì gom gần hết những lời thơ trong Truyện Kiều, âm điệu cũng phức tạp nhưng không đậm màu dân ca. “Minh họa Kiều” chia ra làm bốn phần, bốn giai đoạn của Thuý Kiều: phần một Kiều gặp Đạm Tiên, biết được số phận long đong của mình; phần hai Kiều gặp Kim Trọng, tình yêu nảy nở nhưng biết là không trọn vẹn; phần ba là giai đoạn khổ nhục của Thuý Kiều; phần bốn Kiều gặp Từ Hải, phần này tác giả chưa soạn xong.

Theo Phạm Duy, đây là tác phẩm ông bỏ công nhiều nhất (sáng tác những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21). Tác phẩm được thể hiện đầu tiên với giọng Duy Quang, Tuấn Ngọc, Thái Hiền, Ái Vân, Thanh Ngoan, Thái Thảo, Anh Dũng,…

Tháng 3 năm 2009, ông cho biết đã hoàn thành Minh họa Kiều, ông có nhiều buổi diễn thuyết tại Hà Nội về đề tài này.

Phổ Nhạc Đặt Lời
Phạm Duy được xem là một trong số ít nhạc sĩ Việt Nam giỏi về nghệ thuật phổ nhạc vào thơ và đặt lời cho nhạc nước ngoài, nhạc bán cổ điển.

Những tác phẩm thơ phổ nhạc thành công nhất của ông có thể kể đến “Ngậm ngùi” (thơ Huy Cận – nhà thơ Huy Cận từng gửi lời cám ơn ông về việc giúp bài thơ này nổi tiếng); “Ngày xưa Hoàng Thị” (thơ Phạm Thiên Thư); “Áo anh sứt chỉ đường tà” (thơ Hữu Loan); “Tiễn em” (thơ Cung Trầm Tưởng); “Tỳ bà” (thơ Bích Khê); “Vần thơ sầu rụng”, “Tiếng thu” (thơ Lưu Trọng Lư); “Tình cầm” (thơ Hoàng Cầm); “Em hiền như Masoeur”, “Thà như giọt mưa”, “Hai năm tình lận đận” (thơ Nguyễn Tất Nhiên)…

Nhiều ca khúc nước ngoài nhờ ông đặt lời Việt mà trở nên phổ biến ở Việt Nam, như “Em đẹp nhất đêm nay” (La plus belle pour aller danser), “Khi xưa ta bé” (Bang bang), “Tình cho không biếu không” (L’amour c’est pour rien), “Tuyết Rơi” (Tombe la neige), “Tiếng Cười Trong Đêm” (La nuit), “Những Mùa Nắng Đẹp” (Seasons in The Sun), “Chuyện tình” (Love Story của Francis Lai),… Ngoài ra ông còn đặt lời cho dân ca của nhiều nước trên thế giới.

Tiếp đến là những tác phẩm nhạc bán cổ điển, vốn là loại nhạc khó hoà nhập, thì ông cùng với tiếng hát Thái Thanh đã dễ dàng đưa đến số đông dân chúng: “Dạ khúc” (Nächtliches Ständchen của Franz Schubert), “Dòng sông xanh” (An der schönen blauen Donau op. 314 của Johann Strauss), “Mối tình xa xưa” (Célèbre Valse, hay bài số 15 trong “16 bài valse cho piano”, của Johannes Brahms)…

Ca Sĩ Thể Hiện :
Thành công nhất với nhạc Phạm Duy cho đến nay là Thái Thanh. Thái Thanh hát nhạc Phạm Duy từ những ngày đầu ông sáng tác, bà đã biểu diễn và ghi âm hàng trăm bài. Từ những bài “Dân ca mới” như “Tình ca”, “Người về”, “Về miền Trung”, “Quê nghèo”, ““Tình hoài hương”,…, những bài có âm điệu phức tạp như “Đường chiều lá rụng”, Chiều về trên sông”… đến tình ca đôi lứa dễ hát dễ thuộc như “Ngày xưa Hoàng Thị”, “Nghìn thu”, “Dạ lai hương”… bà đều thể hiện tốt với sự đồng cảm. Nhạc Phạm Duy – giọng Thái Thanh đã là sự kết hợp hoàn hảo suốt nhiều thập kỷ qua.

Về mảng nhạc mang âm hưởng dân ca, ngoài Thái Thanh còn có một giọng nam thể hiện thành công là Duy Khánh. Những bản “Ngày trở về”, “Chiến sĩ vô danh”, “Một bàn tay”, “Những bàn chân”, “Quê nghèo”, “Về miền Trung”, “Dân ca thương binh”, “Dặn dò”, “Mẹ trong lòng Người đi”… từng nổi tiếng cùng với tên tuổi Duy Khánh. Duy Khánh cùng với Thái Thanh là hai ca sĩ đầu tiên thể hiện hai “Trường ca Con đường cái quan” và “Mẹ Việt Nam”, và được xem là thành công nhất. Cho đến nay chỉ có vài ca sĩ hay nhóm nhạc hát lại hai trường ca này.

Ngoài hai danh ca trên, có thể kể đến Khánh Ly với rất nhiều ca khúc thành công như “Xuân Thì”, “Khối tình Trương Chi”, “Còn gì nữa đâu”, “54-75”, “Bên Ni Bên Nớ”; Kim Tước, Quỳnh Giao, Mai Hương, Hà Thanh hát ít nhưng cũng được yêu thích với những phong cách riêng. Một số ca sĩ thành công với những bài riêng như Julie với “Mùa thu chết”, “Yêu Tinh Tình Nữ”, “Huyền thoại trên một vùng biển”; Lệ Thu với “Ngậm ngùi”, “Thuyền viễn xứ”, “Nước Mắt Mùa Thu”, Người Về”; Duy Quang với “Chỉ chừng đó thôi”, “Em hiền như Masoeur”, “Cô bắc kỳ nho nhỏ”; Tuấn Ngọc với “Tiễn em”, “Hẹn hò”, “Trăng sao rớt rụng”; Thái Hiền thì nổi danh khoảng thập niên 1970 với những bài nhạc Phạm Duy sáng tác cho “tuổi ô mai”. Gần đây có các ca sĩ Bích Liên, Mộng Thủy,… tại Mỹ cũng hát thành công nhạc Phạm Duy.

Gần đây có nhóm ca sĩ trẻ ở Việt Nam gồm Mỹ Linh, Đức Tuấn, Quang Linh… cũng ưa hát nhạc Phạm Duy, riêng nam ca sĩ Đức Tuấn đã cho là mình thành công với nhạc Phạm Duy trong một bài phỏng vấn

Phạm Duy Qua Sự Nhận Xét Của Nhiều Người

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý:
“Trong “gia tài” của Phạm Duy, có những tác phẩm mà qua lăng kính của mình ông đã nói lên những triết lý sâu sắc. Chẳng hạn như “Nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi. Còn gì đâu nữa mà khóc với cười”… Công tâm mà nói, trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, Phạm Duy là một nhạc sĩ có nhiều tác phẩm để đời và mãi mãi còn trong lòng người Việt Nam qua nhiều thế hệ.” – Trong bài viết Phạm Duy, người bạn, người anh, người thầy của tôi

Nhạc sĩ Lê Uyên Phương:
“Như tiếng chuông vọng đến từ hư vô. Như những tia chớp sáng ngời trong đêm tối. Như những tia nắng ấm đầu tiên của một ngày trong mùa Đông giá lạnh. Như những tia nắng chiều rực rỡ của một ngày đầy vui buồn của kiếp sống. Âm nhạc Phạm Duy đã đến trong mỗi cuộc đời Việt Nam như không khí trong bầu khí quyển của ca dao, tục ngữ, của truyện Kiều, của Cung Oán Ngâm Khúc, của Chinh Phụ Ngâm, của ngôn ngữ, của âm thanh, của cảm xúc Việt Nam. Trong đáy lòng của mỗi người Việt Nam, từ đã từng là một thiếu niên trong thời kháng chiến hay đến hôm nay là một thanh niên ở cuối thế kỷ 20, đều mang một dấu vết nào đó còn sót lại của bầu dưỡng khí đã nuôi lớn tâm hồn họ trong gần nửa thế kỷ nàỵ” – Trong bài viết Phạm Duy, nắng chiều rực rỡ

Giáo sư Trần Văn Khê:
“Từ trước đến giờ, tôi chỉ thấy Mai Văn Bộ, Lê Thương và Phạm Duy là đặt lời đẹp nhất – từ năm 1950 đến giờ tôi không theo sát phong trào nhạc mới nên có thể có nhiều người khác đặt lời đẹp mà tôi chưa biết – Có điều tôi chắc là trong hầu hết những bài hát của Phạm Duy, lời và nhạc chẳng những hay, mà lại có tánh cách giản dị, mộc mạc và nên thơ của những bài ca daọ Những câu lục bát biến thể, hay những câu lục bát có thêm tiếng đệm được phổ nhạc một cách tài tình.” – Trong bài viết Nhân xem “Trường ca Con đường cái quan” của Phạm Duy
Thi sĩ Nguyên Sa:
“Hôm nay, có những người thích Rong Ca, có những người mê Bầy Chim Bỏ Xứ, có những người ngất ngây với Hoàng Cầm Ca, có những tín đồ của Thiền Ca. Có những người yêu Phạm Duy của new age, của nhạc giao hưởng, của mini opera và của thánh ca hơn Phạm Duy của Tình ca, Phạm Duy của dân ca, Phạm Duy của Kháng chiế

Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam by Phạm Duy

 

Nhạc sĩ, tên thật là Phạm Duy Cẩn, xuất thân từ một gia đình văn nghiệp. Cha là Phạm Duy Tốn thường được xem như nhà văn xã hội đầu tiên của nền Văn học Mới hồi đầu thế kỷ 20. Anh là Phạm Duy Khiêm, giáo sư thạc sĩ, cựu Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Pháp, văn sĩ Pháp văn, tác giả những cuốn Légendes des terres sereines, Nam et Sylvie, De Hanoi à Lacourtine…

Sinh ngày 5 tháng 10 năm 192

Nhạc sĩ, tên thật là Phạm Duy Cẩn, xuất thân từ một gia đình văn nghiệp. Cha là Phạm Duy Tốn thường được xem như nhà văn xã hội đầu tiên của nền Văn học Mới hồi đầu thế kỷ 20. Anh là Phạm Duy Khiêm, giáo sư thạc sĩ, cựu Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Pháp, văn sĩ Pháp văn, tác giả những cuốn Légendes des terres sereines, Nam et Sylvie, De Hanoi à Lacourtine…

Sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921 (5 tháng 9 năm Tân Dậu) tại phố Hàng Cót, Hà Nội. Phạm Duy học vỡ lòng tại trường Hàng Thùng, học tiểu học tại trường Hàng Vôi, học rất dốt và thường bị phạt. Đến khi 13 tuổi (1934) vào được lớp nhất, ông học giỏi lên dần, thành một trong những học sinh ưu tú của lớp, nhất là môn đọc thơ tiếng Pháp.

Năm 1936, vào học ở trường Thăng Long, một trọng điểm trong thời kỳ kháng chiến. Thầy dạy ông có Võ Nguyên Giáp, còn trong đám bạn cùng lớp có nhà thơ Quang Dũng.
Nhạc sĩ Phạm Duy thời còn theo gánh hát Đức Huy

Năm 1940, nghe lời bè bạn, ông thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương, học thầy Tô Ngọc Vân, chung lớp với Bùi Xuân Phái, Võ Lăng… nhưng ông không có năng khiếu nhiều và không ham vẽ cho lắm. Thời kỳ này ông ca hát nhiều hơn là vẽ tranh.

Năm 1942 ông có sáng tác đầu tay “Cô hái mơ”.

Năm 1944, ông thành ca sĩ hát tân nhạc trong gánh hát cải lương Đức Huy – Charlot Miều. Gánh hát này đưa ông đi rất nhiều miền trên đất nước, từ Bắc chí Nam, khiến ông mở mang tầm mắt, ngoài ra tự nhiên cũng trở thành một trong những nhân tố quan trọng trong việc phổ biến tân nhạc đến các vùng. Thời kỳ hát rong, Phạm Duy được gặp gỡ nhiều tên tuổi lớn như thi sĩ Lưu Trọng Lư, nhạc sĩ Lê Thương, Lê Xuân Ái, Văn Đông… và nhất là nhạc sĩ Văn Cao, người sau này trở thành bạn thân thiết.

Sau đó ông khởi sự con đường âm nhạc của mình với việc trở thành ca sĩ trong gánh hát Đức Huy, đi diễn lưu động từ Bắc qua Trung vào Nam trong những năm 1943-1945. Ông là người đầu tiên hát nhạc cải cách trên đài Radio Indochine ở Sài Gòn vào năm 1944, mỗi tuần trình bày 2 lần.

Năm 1945, xảy ra nạn đói, Phạm Duy rời nhà cũ đi lang thang nhiều nơi, sau đó ông theo kháng chiến. Trong thời Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Phạm Duy trở thành cán bộ văn nghệ của Việt Minh và là một trong những nhạc sĩ thành công nhất lúc đó. Thời kỳ này, bên cạnh tài năng được khen ngợi, thì xu hướng lãng mạn của Phạm Duy bị cho là tiêu cực.

Năm 1949 ông lập gia đình với ca sĩ Thái Hằng.

Năm 1951, ông đem gia đình về Sài Gòn.

Năm 1953, ông qua Pháp học về âm nhạc, tại đây quen với giáo sư Trần Văn Khê. Về lại miền Nam, ông tiếp tục sáng tác và biểu diễn trong ban hợp ca Thăng Long. Nhạc Phạm Duy phổ biến rất rộng rãi ở miền Nam (mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng gọi là “bàng bạc khắp mọi nơi”[1] thời bấy giờ). Thời gian này ông có những hoạt động trong ngành điện ảnh, và đã gây nên một vụ tai tiếng lớn khắp từ Nam chí Bắc khi ngoại tình với ca sĩ Khánh Ngọc, là vợ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương – người gọi ông bằng anh rể.[2].

Sau sự kiện này, ông lại dính vào một vụ tình cảm nữa với Alice, con gái của một người tình cũ hồi năm 1944 tên Hélène. Tuy nhiên, ông khẳng định cả hai chuyện này đều là những tình cảm trong sáng: “Vì vấn đề chênh lệch tuổi tác cũng như vì tôi không muốn làm phiền những người chung quanh một lần nữa, tôi quyết định ngay từ lúc đầu rằng đây chỉ là một mối tình giữa hai tâm hồn mà thôi. Tôi cố gắng tránh mọi đụng chạm về xác thịt và tôi hãnh diện để nói rằng nàng vẫn là một trinh nữ khi rời xa tôi để bước chân lên xe hoa về nhà chồng. Là một nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để thở. Tôi không cần phải chiếm đoạt ai cả, nhất là chiếm đoạt một người con gái còn ít tuổi. Giữa chúng tôi, không có ràng buộc, trói chặt nhau”. Ông đã viết nhạc và lời cho khá nhiều bài nhân chuyện này: “Nụ Tầm Xuân”, “Thương Tình Ca”, “Chỉ Chừng Đó Thôi”, “Tìm Nhau”, “Cho Nhau”.

Từ sau 30 tháng 4 năm 1975, ông và gia đình cư ngụ tại Thành phố Midway (Quận Cam), California.

Năm 1990, ông bắt đầu viết hồi ký, khi hoàn tất chia

Leave your Comment