Phạm duy nhạc sỹ

Câu chuyện nhạc sĩ Phạm Duy và đêm nhạc “Ngày trở về”

 

07:54 05/06/2018

Khi tôi làm Phó Tổng thư kí Thường trực Hội Nhạc sĩ Việt Nam có câu chuyện về nhạc sĩ Phạm Duy mà tôi vẫn còn nhớ mãi.

 

Lệ Quyên nói gì về nhận xét “không phù hợp với bolero” của ca sĩ Phương Dung, nhạc sĩ Vinh Sử?

 

Lệ Quyên là ca sĩ xuất thân từ dòng nhạc trẻ, đi hát từ năm 1999 khi mới 18 tuổi và bắt đầu nổi tiếng với album phòng thu đầu tiên năm 2004 mang tên Giấc Mơ Có Thật. Tuy nhiên sau đó, tên tuổi của cô bị chìm dần, rồi bỗng nhiên lại vụt sáng khi chuyển sang hát dòng nhạc vàng vào năm 2010 với album mang tên Khúc Tình Xưa.

Có thể nói, năm 2010 là một cột mốc quan trọng của nhạc vàng ở trong nước (người ta hay gọi là nhạc bolero), vì đó là thời điểm cơ chế nhà nước bắt đầu cởi mở hơn, nhiều bài nhạc vàng bắt đầu được “cấp phép” để ca sĩ hát. Đó cũng là năm bắt đầu nở rộ bolero và album Khúc Tình Xưa đã làm nên thương hiệu cho Lệ Quyên, đưa cô lên vị trí ngôi sao hạng A ở trong nước. Sự thành công ngoài mong đợi của album về doanh số lẫn chuyên môn khiến ngay cả chính bản thân nữ ca sĩ này cũng ngạc nhiên về hiệu ứng mà nó đem lại cho cô.

Không rõ là bắt đầu từ đâu, Lệ Quyên được mệnh danh là “Nữ hoàng bolero”, và có thể nói đây là danh hiệu gây tranh cãi nhất trong làng nhạc 10 năm qua. Bởi vì bên cạnh số lượng fan hâm mộ Lệ Quyên đông đảo, thì có một số lượng rất lớn người nghe nhạc chê Lệ Quyên khi cô hát nhạc vàng. Lý do là vì cô hát nhạc vàng rất gồng giọng, không có cảm xúc, trong khi dòng nhạc này chú trọng việc đưa cảm xúc vào câu hát.

Chính danh ca Phương Dung, một huyền thoại của dòng nhạc bolero đã nhận xét về Lệ Quyên như sau:

“Theo tôi, Lệ Quyên không phải là ca sĩ dòng nhạc bolero. Quyên thích thì Quyên hát dòng nhạc này thôi chứ không phù hợp với dòng nhạc bolero. Bolero có những luyến láy riêng, chỉ cần một chữ được người nghệ sĩ xử lý kỹ thì đã khác rồi. Tôi phải khắt khe mà, với kinh nghiệm của mình, tôi thấy thực tế là vậy”.

Không chỉ có Phương Dung nhận xét như vậy, mà nhạc sĩ Vinh Sử cũng đồng tình khi nói rằng:

“Có thể khán giả ái mộ Lệ Quyên nhưng tôi thấy cô ấy hát chỉ ở mức dễ nghe thôi. Giờ người ta nghe nhạc bolero mà ca sĩ càng xinh đẹp thì khán giả càng thích…

Có thể, cô ấy hát hay vì được nhiều người nâng đỡ, có phòng trà riêng của ông xã nhưng với tôi thì tôi thấy bình thường. Giọng hát đó so với nhiều người chỉ đáng gọi là dễ nghe…”

Tại thời điểm mà Phương Dung hay Vinh Sử nhận xét như vậy, Lệ Quyên chỉ giữ im lặng, cũng như cô không lên tiếng khi bị chê từ rất nhiều ý kiến của cộng đồng người yêu nhạc vàng. Đã có rất nhiều bình luận tranh cãi về Lệ Quyên và bolero.

Trong một cuộc chia sẻ với phóng viên bên lề họp báo tại Hà Nội mới đây, nữ ca sĩ lần đầu tiên lên tiếng về vấn đề này.

Theo Lệ Quyên, cô nói rằng cô không phải người xốc nổi mà là người biết lắng nghe, và bản thân cô cũng buồn và không thích bị chê nhưng luôn biết nhận định cái chê đó trong trường hợp nào và người nói là ai.

Cô còn nói thêm: Nếu người đó chê thậm tệ mà là người non trẻ hơn cô thì cô sẽ bức xúc. Nhưng đó là người đi trước (như Phương Dung, Vinh Sử) thì cô không có quyền bức xúc, mà sẽ cười, tiếp nhận điều đó trước rồi về nhà suy nghĩ lại vấn đề. Đối với Lệ Quyên, đó là bài học cho cô và đã là bài học thì cô đều chấp nhận.

“Quan điểm của tôi là, đã là nhận xét của những bậc tiền bối thì mình không có ý kiến. Người lớn sẽ luôn có lý do để đưa ra một nhận định nào đó. Đã là nhận định thì là của cá nhân và mọi người đều có quyền nói. Tôi không bao giờ cho phép mình phản biện với người lớn, nhưng mình cũng suy nghĩ tại sao có những nhận định đó để nghiêm túc và cố gắng chinh phục nốt những thiếu sót đó”, Lệ Quyên bày tỏ.

Nói về danh xưng mà khán giả đặt cho mình, Lệ Quyên bày tỏ, bất kỳ danh xưng nào đều là sự yêu quý của khán giả dành cho ca sĩ. Bản thân cô không quá kỳ vọng vào những danh xưng.

Đông Kha (nhacxua.vn)

Hàng nghìn người thương tiếc tiễn đưa nhạc sĩ Phạm Duy – VIỆT NAM

 

 

Hàng nghìn người thương tiếc tiễn đưa nhạc sĩ Phạm Duy – VIỆT NAM – RFI

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

"/

Nghe
Tải nạp
Podcast

  • 13h00 – 13h17 GMTThông tin 04/11 13h00 GMT
  • 13h17 – 14h00 GMTPhần còn lại của chương trình 06/11 13h17 GMT

Các chương trình phát thanh mới nhất



Để khai thác hết nội dung truyền thông đa phương tiện, bạn phải có phần bổ trợ Flash trong trình duyệt của bạn.


Để có thể kết nối, bạn phải kích hoạt các cookie trong tham số trình duyệt của bạn.


Để lướt web nhanh nhất, website RFI tương thích với những trình duyệt sau đây : Internet Explorer 8 và +, Firefox 10 và +, Safari 3 và +, Chrome 17 và + v.v..

RFI

Các ngoại ngữ

Các dịch vụ

Nghe

Đài RFI

Các website khác của tập đoàn

Rất tiếc, thời hạn kết nối đã hết.

 

Nhạc sĩ Phạm Duy qua đời

 

Ở tuổi 93, nhạc sĩ Phạm Duy ra đi, để lại di sản sáng tác đồ sộ cùng tình yêu trọn đời dành cho âm nhạc.

14h30 chiều 27/1, nhạc sĩ Phạm Duy mất tại bệnh viện 115, TP HCM sau 3 ngày nhập viện cấp cứu. Hiện người nhà ông đang làm thủ tục để chuyển thi hài người nhạc sĩ tài hoa về nhà lo an táng. Chăm sóc ông những ngày cuối đời có con trai Duy Cường luôn túc trực cùng với một vài người thân. Phút lâm chung, ông cũng ra đi trong vòng tay người thân, gia đình và bạn bè.

Từ Pháp liên lạc về, Đức Tuấn khóc: “Tôi coi Phạm Duy như một người ông. Ông ra đi mà tôi không có bên cạnh. Thật buồn”. Anh cũng chia sẻ cảm xúc trên facebook: “Nghìn trùng xa cách, Ông đã đi rồi….. Con xa quá không gặp được Ông lần cuối. Xin kính chúc nhạc sĩ Phạm Duy yên giấc. Một cuộc phiêu lưu mới Ông đang bắt đầu. Con sẽ hát mãi những bài hát của Ông cho một thế hệ mới”.

Nhạc sĩ Phạm Duy Loạt chương trình giao lưu ca nhạc mừng sinh nhật Phạm Duy, chủ đề
Nhạc sĩ Phạm Duy tại cuộc giao lưu mừng sinh nhật ông với chủ đề “Tạ ơn đời” diễn ra từ ngày 5 đến ngày 18/10. Chặng cuối cùng của “Tạ ơn đời” khép lại vào ngày 18/10/2012 tại Phòng trà Da Vàng, TP HCM với ca sĩ: Cẩm Vân, Đức Tuấn, Quang Linh, Thanh Thúy, Xuân Phú… Tâm sự trong đêm này, Phạm Duy cho biết, ông rất hạnh phúc khi ở tuổi 93 vẫn cảm thấy trẻ trung và những nhạc phẩm mình sáng tác sống được theo thời gian, được các ca sĩ trẻ chọn hát. Ảnh: Lý Võ Phú Hưng.

Nhạc sĩ nổi danh qua đời chỉ hơn một tháng sau khi con trai cả Duy Quang của ông mất ở tuổi 62. Trước đó người nhà giấu tin Duy Quang mất vì sợ Phạm Duy buồn và ảnh hưởng đến sức khỏe vốn đã rất yếu của ông. Nhưng khi biết tin, Phạm Duy không quá đau buồn. Ông tâm sự với nữ danh ca Ánh Tuyết, ông biết con trai bệnh và sẽ không qua khỏi nên đã chuẩn bị sẵn tâm thế để đón nhận. Nhạc sĩ Phạm Duy cảm thấy được an ủi hơn khi con trai mất trong tình cảm yêu thương của khán giả, bạn bè và người thân.

Tuổi cao sức yếu, thời gian qua Phạm Duy vài lần vào viện cấp cứu rồi lại ra viện khi sức khỏe có dấu hiệu phục hồi. Khoảng 2 tuần trước khi qua đời, ông còn có thể đi dạo được. Những người gần gũi ông giai đoạn cuối đời đều nhận xét, ông luôn thể hiện sự lạc quan, yêu đời, yêu người, yêu cuộc sống như chính âm nhạc của mình. Khoảng một tuần trước khi mất, ông còn trao đổi thư từ qua email với ca sĩ Ánh Tuyết để góp ý cho chị về việc thực hiện những album nhạc của ông mà nữ danh ca đã ấp ủ kế hoạch từ lâu.

anh-tuyet-1-jpg-1359277748-1359277858_50
Cuối tháng 12/2012, nữ ca sĩ Ánh Tuyết thực hiện đêm nhạc Phạm Duy để quyên tiền ủng hộ người nhạc sĩ tài hoa mà chị yêu quý khi ông đang nằm cấp cứu. Sau đêm diễn, Ánh Tuyết mang số tiền nhỏ đến biếu ông.

Sau 14 ca khúc được cấp phép biểu diễn vào tháng 4/2012 như: Mùa thu chết, Giọt mưa trên lá, Tạ ơn đời, Tiễn em, Đi đâu cho thiếp theo cùng… gần đây nhất, một loạt ca khúc khác của Phạm Duy tiếp tục được cấp phép trở lại, gồm có: Mẹ ta, Mẹ xinh đẹp, Mẹ chờ mong, Lúa mẹ, Nước mắt rơi, Những gì sẽ đem theo về cõi chết, Phố buồn, Tiếng hát trên sông Lô, Viễn du, Xuân nồng, Biển khúc, Em hát, Khúc ru tình, Nỗi nhớ vô thường, Tình qua tin nhắn…

Phạm Duy sinh ngày 5/10/1921 tại Hà Nội, tên thật là Phạm Duy Cẩn. Ông là nhạc sĩ, ca sĩ, nhà nghiên cứu nhạc của Việt Nam. Ông được coi là một trong những nhạc sĩ lớn của nền tân nhạc với số lượng sáng tác đồ sộ, đa dạng về thể loại, trong đó có những bài đã trở nên rất quen thuộc với người Việt. Ngoài sáng tác, Phạm Duy còn có nhiều công trình khảo cứu về âm nhạc Việt Nam có giá trị. Ông cũng từng giữ chức giáo sư nhạc ngữ tại trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn.

Từ sau năm 1975, ông sang Mỹ sống và định cư. Năm 2005, ông về Việt Nam sống an hưởng tuổi già. Tang lễ nhạc sĩ Phạm Duy được tổ chức tại tư gia ở Lê Đại Hành, phường 3, Quận 11, TP HCM. Lễ nhập quan diễn ra lúc 9h ngày 28/1, lễ động quan lúc 6h ngày 3/2. Nhạc sĩ Phạm Duy sẽ yên nghỉ tại Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương.

Thoại Hà –  Hoàng Dung

Đêm nhạc thoại “Văn Cao trong tôi” của nhạc sĩ Phạm Duy (1): SỰ ĐA DẠNG CỦA VĂN CAO

 

 

(NCTG) Đánh giá về Văn Cao, có lẽ ít ai có thẩm quyền như Phạm Duy, người đã dành sự trọng thị ở mức độ cao nhất mỗi khi có dịp nhắc đến bạn cũ của mình mà theo ông, là “người viết Tình ca số một”, “người đẻ ra thể loại Hùng ca và Trường ca Việt Nam”.

 

Văn Cao năm 20 tuổi

Hai thập niên trước, trong “Lược sử Tân nhạc Việt Nam”, Phạm Duy đã dành những dòng ưu ái nhất để nói về Văn Cao: “Nói tới nhạc tình thì… Văn Cao là nhất! […] Văn Cao đã đưa nhạc tình tiền chiến lên tới một cao độ vượt khỏi những khuôn sáo cũ mèm”.

Mười năm trước, trong cuộc trò chuyện với các bạn trẻ Đông Âu, Phạm Duy lại khẳng định: “Nếu so sánh Văn Cao và tôi thì phải công nhận là anh Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều lắm. Về nhạc. Về họa. Về thơ. Đủ mọi phương diện”.

Tuy nhiên, những dòng ấy, những lời lẽ ấy, được Phạm Duy viết và nói khi còn ở mảnh đất tạm dung, chưa biết ngày nào mới có dịp về thăm quê, nói chi đến hồi hương? Không phải ngẫu nhiên, những dòng viết của Phạm Duy về Văn Cao cũng đượm nỗi buồn “quê hương khuất bóng hoàng hôn”, nhất là khi ông đặt câu hỏi: “Ai là người sẽ nhỏ lệ lên trái tim Văn Cao?”

Rót rượu tưởng nhớ hương hồn Văn Cao

Với Phạm Duy, con người hành động, hỏi cũng là trả lời. Ngay khi mới hồi hương, ông đã có bài viết về Văn Cao, đã có mặt và phát biểu trong đêm nhạc Văn Cao do Ánh Tuyết tổ chức nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của “chàng Văn”. Và gần đây nhất, là chuỗi các đêm nhạc “Văn Cao trong tôi” được tổ chức theo cách “rất Phạm Duy”, do chính ông làm MC: vinh danh người bạn thân thiết trong dịp sinh nhật của mình!

Mừng thượng thọ người nhạc sĩ lão thành Phạm Duy, và cũng là để thắp một nén hương trước hương hồn Văn Cao, người “sang trọng như một ông hoàng” trong những tác phẩm âm nhạc “của thần tiên bay bổng” mà ông để lại (chữ dùng của Trịnh Công Sơn), NCTG xin trân trọng giới thiệu một phần nội dung của ba đêm Nhạc thoại “Văn Cao trong tôi” của Phạm Duy.

Chân thành cám ơn nhạc sĩ Phạm Duy đã chia sẻ với NCTG tư liệu âm nhạc quý báu này! (H.Linh)

*

Trong ba đêm VĂN CAO TRONG TÔI tại phòng trà TÌNH CA, tôi nói ra được vài điều mà tôi nghĩ là sẽ bổ ích cho những người yêu nhạc và nhất là yêu nhạc Văn Cao.

Trước hết, tôi nói tới sự đa dạng trong nhạc tình của VC trong thời kỳ mới thành lập của Tân Nhạc này. Lúc đó, những chàng thanh niên mới tập tễnh soạn ca khúc Việt Nam (như Lê Thương, Đặng Thế Phong, Hoàng Quý, Văn Cao…) thường dùng một âm giai “mineure” hơi giống như âm giai của điệu Sa Mạc (re fa sol la do re). Những bài như Buồn Tàn Thu (1), Bản Đàn Xuân, Cô Láng Giềng, Con Thuyền Không Bến đều có chung một hơi hướng Việt Nam và một phong cách buồn bã như nhau.

Duy chỉ có Văn Cao là muốn thay đổi phong cách, cho nên sau Buồn Tàn Thu thì ông buông cái “re mineure” ra và dùng những âm giai “majeure” để diễn tả cái buồn (lúc đó chưa có nhạc vui trong Tân Nhạc như hướng đạo ca hay thanh niên lịch sử ca. Ngay Nguyễn Xuân Khoát và Đỗ Nhuận cũng còn bám vào âm giai “re mineure” để viết Hồn Xuân, Nhớ Chiến Khu hay Côn Đảo.

Không còn là ngũ cung “re mineure” nữa, và dù tác giả tuyên bố trong một cuốn video, đây là ca khúc của kẻ thất tình, nhạc điệu trong Thu Cô Liêu, Cung Đàn Xưa của Văn Cao là nhạc chủ thể Tây Phương (musique tonale) với những áp-âm (notes sensibles) làm cho nét nhạc có nhiều cảm tính. Nhịp điệu là thể valse đầy lưu luyến và cũng đầy luyến tiếc.

Sau đó, trong hai bài nhạc tình về mùa Thu và mùa Xuân là Suối Mơ và Bến Xuân (2), bao giờ nét nhạc mineure mở đầu cũng rất là lâng lâng rồi cũng sẽ chuyển qua một nét nhạc majeure ngắn để diễn tả một niềm vui thoáng qua. Hình ảnh người tình trong cả hai bài hát này đều rất là lộng lẫy, cao sang. Tình cảm của cả hai bài nhạc tình đều không dìm con người vào cõi u tối, trái lại làm cho người nghe thấy một chút hạnh phúc. Con suối trong rừng Thu buồn muôn thuở là vì còn lưu luyến hương vị tình yêu của chúng ta. Ðứng trên bến Xuân để nhìn những cánh buồm xa xa và nghe tiếng chim ca như lưu luyến cuộc tình vừa qua của chúng mình…

Rồi tới khi vươn tới những tác phẩm lớn như Thiên Thai và Trương Chi thì “ngữ nhạc” của Văn Cao sẽ dắt ta tới đỉnh cao nhất của cuộc tình tiên cảnh cũng như sẽ đưa ta vào cõi sâu thẳm nhất của tình buồn với hai câu chuyện cổ dân gian biến thành hai bản tình ca muôn thuở.

Trong những đêm hát này, tôi còn được hân hạnh mời mọi người nghe hai bài hướng đạo ca của Văn Cao do các em thiếu nhi trong ban Văn Nghệ của quận Phú Nhuận hát. (Tôi thấy ở trên NET, vài websites đăng tên bài Anh Em Khá Cầm Tay sau khi đọc HỒI KÝ PD, nhưng không chua tên tôi là người sưu tập và chỉnh đốn. Họ rất thiếu lương thiện…)

Anh Em Khá Cầm Tay

(Phạm Duy sưu tập và chỉnh đốn)

Anh em khá cầm tay

Mau đến cùng nhau hát nhé

Nơi đây chúng mình ca

Trong gió chiều thật êm êm

Bao nhiêu gió về đây

Chim chóc về đây hót nhé

A vui sướng làm sao

Ta ngó trời thật xanh êm

Mà ca hát cười nô

Không biết chi là u buồn

Ðời trần gian chắc là thắm tươi

Trời xanh ngắt tầng cao

Đang ngước nhìn chúng ta cười

Này này sao các người vui thế?

Này này sao các người vui thế?

Này này sao các người vui thế?

Này này sao… các… người… vui… thế?

Gió Núi

(Phạm Duy sưu tập và chỉnh đốn)

Gió núi qua mái lều vi vu

Vừng trăng xế lu

Phía cách xa núi mờ ánh trăng

Lời ca hát rằng:

Cùng ngồi lại đây

Ta chờ hơi gió

Là tiếng hát phất phơ từ đâu?

Từ đồi cao tới nơi rừng sâu

Rừng cây với núi vấn vương máu hồng

Ngàn đời về xưa

Ngàn đời về xưa

Muôn quân thương tiếc

Muôn quân thương tiếc

Bao nhiêu thây chết nơi đây

Ngàn đời về sau

Ngàn đời về sau

Ầm vang gió núi

Ầm vang gió núi

Nấu nung máu hờn!

Ghi chú (của NCTG):

(1) Ca khúc được Văn Cao viết lời đề tặng: “Tương tiến nhạc sĩ Phạm Duy, kẻ du ca đã gieo nhạc buồn của tôi khắp chốn”.

(2) Viết chung với Phạm Duy.

Khánh Ngọc trong đời nhạc sĩ Phạm Duy | Văn hóa

 

Mới đây trên Báo Văn Nghệ TP.HCM có đăng bài viết của nhạc sĩ Văn Lương về nhạc sĩ Phạm Duy, trong đó nhắc đến mối tình của Phạm Duy và Khánh Ngọc: “Cho tới khi anh lâm nạn vì chuyện “ăn chè ở Nhà Bè” với cô Khánh Ngọc, một cơn địa chấn đối với anh, khi cả làng báo Sài Gòn rộ lên làm một cuộc “bề hội đồng” không thương tiếc! Bởi cái tên anh lớn. Sự kiện bi thảm này đã thực sự khiến anh mất tinh thần. Mặc dù sau khi tỉnh hồn, anh vẫn đáp trả lại công luận bằng sự đanh thép, gan lì của một nghệ sĩ không sợ gì ai cả, đó là bản nhạc Tôi còn yêu, tôi cứ yêu!”.

Thế hệ hậu sinh biết chuyện tình buồn này với hậu quả là một gia đình tan vỡ và một nhạc phẩm Nửa hồn thương đau để đời. Người ta chỉ biết Khánh Ngọc là vợ của Hoài Bắc Phạm Đình Chương, là một ca sĩ trong ban hợp ca Thăng Long nhưng thân thế và cuộc đời hoạt động nghệ thuật của Khánh Ngọc ít được ai biết đến.

Ăn chè ở nhà bè

Nhà Bè thuở ấy vắng vẻ chứ chưa có nhà hàng bán cá chìa vôi và sốt đất như bây giờ. Và chắc chắn lại không có một quán bán chè hay cháo nào hết. Nhưng sau khi vụ án tình giữa Phạm Duy – Khánh Ngọc xảy ra thì cụm từ “ăn chè Nhà Bè” được nhắc đến nhiều.

Theo báo chí ngày đó tường thuật thì nhạc sĩ Hoài Bắc đã nghi ngờ cuộc tình của vợ mình với người anh rể nên rắp tâm theo dõi (vợ Phạm Duy là ca sĩ Thái Hằng, chị ruột của Hoài Bắc Phạm Đình Chương). Một đêm xui cho đôi tình nhân này, Phạm Đình Chương và một vài người trong gia đình đã bám theo chiếc xe Studebaker chở Phạm Duy – Khánh Ngọc trên đường đi Nhà Bè. Do không kềm chế được cảm xúc nên Phạm Đình Chương đã cho chiếc xe Traction chặn đầu xe của Phạm Duy lại. Hiện trạng chỉ như thế chứ chưa kịp đi đến giai đoạn “nụ hôn ao ước” hay trong phòng tối sờ soạng. Cũng cần biết là thời chính quyền Ngô Đình Diệm chuyện “thuần phong mỹ tục” rất là gắt gao. Sau đó cả hai ra tòa và Khánh Ngọc được quyền nuôi dưỡng đứa con trai.

Từ vụ án tình này, trên mặt báo cũng như ngôn ngữ đời thường thì hai chữ “ăn chè” được dùng để chỉ những cuộc tình vụng trộm với hàm ý châm biếm.

Mối tình gắn kết từ phim ?

Khánh Ngọc tên thật là Hàn Thị Lan Anh, sinh năm 1937 tại Hà Nội, là kết tinh của mối tình mẹ Việt cha người Minh Hương. Thuở nhỏ, Lan Anh theo học trường Tàu cho đến trung học thì quay qua học chữ Pháp. Đến năm 1951, Lan Anh theo gia đình vào Nam. Nhờ học nhạc khi còn là nữ sinh, được thụ giáo môn dương cầm dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ Võ Đức Thu, Khánh Ngọc đi sâu vào ngành ca nhạc và được mời hát trên làn sóng điện của Đài phát thanh quốc gia và Đài Pháp Á Sài Gòn. Với giọng ca vàng của mình, Khánh Ngọc gia nhập ban hợp ca Thăng Long và đã hai lần theo ban hợp ca này ra Bắc trình diễn vào năm 1952 – 1953.

Chưa thể so với giọng ca vượt thời gian Thái Thanh nhưng thời gian này Khánh Ngọc cũng là một giọng ca có hạng. Tuy vậy, Khánh Ngọc vẫn còn ước mơ xa hơn đó là vòm trời điện ảnh. Khánh Ngọc đã một lần tâm sự trên mặt báo: “Tôi mê thành diễn viên màn bạc từ lâu lắm, chẳng nhớ là từ bao lâu, nhưng có điều chắc chắn là ngay từ hồi bé tí tôi đã mê những Shirley Temple, Mickey Rooney, Deanna Durbin. Tôi thường vẫn nói với tụi bạn bè “ôn con” của tôi hồi đó: “Tao mê chúng nó quá biết bao giờ mình mới được đóng xi nê như thế nhỉ?” (Tuần báo Truyện Phim số 46 – 1958).

Không biết vận may hay vận rủi cho đời bà khi “giấc mơ điện ảnh đã đến với tôi trong một đêm đẹp trời giữa lúc tôi không ngờ nhất”. Vào một đêm cuối năm 1955, sau khi trình diễn ca nhạc tại một rạp chiếu bóng ở Sài Gòn, Khánh Ngọc đã được các chuyên viên điện ảnh Mỹ và Philippines đại diện cho một hãng điện ảnh Philippines sang hợp tác với VN sản xuất bộ phim Exodus và đang đi tìm một nữ diễn viên. Sau đó, Khánh Ngọc đã được đạo diễn César Amigo chọn đóng chung với các nam tài tử Philippines. Trong phim còn xuất hiện hai chị em Thái Thanh, Thái Hằng và Phạm Duy. Rồi từ bộ phim này, Khánh Ngọc đi hẳn vào con đường điện ảnh bằng vai chính trong phim Đất lành đóng với Lê Quỳnh, Lê Thương và Kiều Hạnh, rồi tiếp theo là cuốn phim màu Chim lồng do chính Phạm Duy làm đạo diễn.

Có lẽ cuộc tình của Phạm Duy – Khánh Ngọc bùng cháy sau cuốn phim Đất lành. Sau khi phim quay xong thì Phạm Duy và Khánh Ngọc được hãng phim mời đi Hồng Kông để chuyển âm. Nơi đất khách quê người, không gia đình dòm ngó nên cuộc tình “ngược dòng” của hai nhân tài đã bùng cháy…

Được biết sau khi ly dị, Khánh Ngọc đã sang Mỹ tiếp tục theo học nghề điện ảnh và ca hát. Bà theo học Trường Pasadena Playhouse College (California) và học thanh nhạc với ông Tuttle. Trong một lá thư đăng trên Báo Kịch Ảnh năm 1962, Khánh Ngọc cho biết: “Tôi đã hát tại Los Angeles, Pasadena, San Francisco… trong những buổi trình diễn nhạc kịch và đã thâu một số dĩa như Danny boy, Smoke gets in your eyes, Never on Sunday… Tôi cũng có dịp hát tại Đài NBC bài Giấc mơ hồi hương của Vũ Thành…”. Vào tháng 7.1962, Khánh Ngọc về thăm lại Sài Gòn và hát trong Đại nhạc hội Kim-Vân-Khánh được báo chí tiếp đón, viết những bài báo rất thân thiện.

Có thể cuộc tình Phạm Duy – Khánh Ngọc sẽ phôi phai theo thời gian nhưng vì bà đã dính vào tên của một nghệ sĩ mà “thiên tình cổ lụy” rất đa đoan. Mỗi khi nhắc đến đời tình ái nhiều tai tiếng, tréo ngoe cũng như bài hát Nửa hồn thương đau trong tam giác Phạm Duy – Khánh Ngọc – Phạm Đình Chương thì không ai lại không nhớ đến tên nữ ca sĩ và diễn viên điện ảnh tài hoa. Nhà văn Mai Thảo đã nhận định trong Báo Kịch Ảnh: “Tình yêu lớn đó gửi cho nghệ thuật cho quê hương nếu đích thực sâu rộng và đằm thắm ở Khánh Ngọc vẫn là những hiện tượng được che giấu kín đáo dưới bề ngoài lặng lờ gần như lạnh nhạt của một người trước hết đã dám sống đời sống của mình. Dầu phải đánh đổi bằng những cái gì thật quý giá, quý giá như chính lòng đam mê nghệ thuật và tình đất nước quê hương”.

Sau này chẳng nghe tin bà trở về VN và theo báo chí thời xưa thì bà đã lập gia đình mới và mở quán ăn tại Mỹ chứ không theo con đường nghệ thuật nữa.

Điều ít biết về người vợ kém 14 tuổi của danh ca Tuấn Ngọc

 

Ít ai biết Thái Thảo- vợ danh ca Tuấn Ngọc chính là con gái của nhạc sĩ Phạm Duy, ca sĩ Thái Hằng và có dì ruột là danh ca Thái Thanh, cậu ruột là các nhạc sĩ Phạm Đình Chương, Phạm Đình Viêm.

"/

Vợ danh ca Tuấn Ngọc- Thái Thảo từng là một thành viên trong ban nhạc gia đình The Dreamers. Năm 1984, cô chính thức hoạt động solo và trở thành giọng ca hải ngoại được đông đảo khán giả yêu thích.

"/

Tuy nhiên, sau khi kết hôn với danh ca Tuấn Ngọc vào năm 1994, Thái Thảo dần lui về hậu trường, dừng biểu diễn từ năm 2004 để toàn tâm toàn ý chăm sóc cho gia đình.

"/

Trả lời phỏng vấn báo chí vào cuối năm 2018, danh ca Tuấn Ngọc tâm sự: “Nhiều năm nay, vợ tôi không đi hát mà ở nhà chăm lo cho gia đình. Ca sĩ không biểu diễn là một thiệt thòi, không tránh khỏi những lúc buồn tủi, nhớ nghề.

Tuy nhiên, gia đình nên có một người xông xáo đối ngoại, làm trụ cột kinh tế, một người tề gia nội trợ. Việc nhà cũng khó khăn không kém gì việc ra ngoài kiếm tiền”.

"/

Thái Thảo sinh năm 1961, kém danh ca Tuấn Ngọc 14 tuổi. Không chỉ tài năng, Thái Thảo còn là người phụ nữ đẹp. Tuy nhiên, từ sau khi kết hôn, cô hiếm khi xuất hiện trước truyền thông cũng như công chúng.

"/

Để gìn giữ hạnh phúc gia đình trong suốt 25 năm chung sống, Tuấn Ngọc tiết lộ, ông luôn cư xử chừng mực, đàng hoàng, không bao giờ có gì vượt quá giới hạn với người khác giới để vợ yên tâm và đặt trọn niềm tin.

"/

“Tôi nghĩ nếu độc thân, bạn thích làm gì thì làm. Khi có gia đình, con cái, ai cũng cần có trách nhiệm hơn, không nên làm gì để con cái xấu hổ. Tôi quan niệm thú vui ở cuộc đời không chỉ có ăn chơi, yêu đương nam nữ. Với tôi, đàn ông có nhiều mục tiêu quan trọng khác cần xác định”- danh ca Tuấn Ngọc bày tỏ.

"/

Hiện cặp đôi có ba người con gái, riêng Thái Thảo có một người con trai riêng.

Phạm Duy: ‘Tôi về đây là vì tôi yêu nước’ – BBC Vietnamese

 

"

Nhạc sỹ Phạm Duy kể lại những biến cố trong cuộc đời mà ông đã trải qua, từ cuộc di cư từ Bắc vào Nam, các sự kiện Mùa Hè đỏ lửa, tháng 4/1975 và chuyến vượt biên lênh đênh qua Hoa Kỳ của ông.

Trong phần II của cuộc trao đổi với BBC, chương trình
Bấm

Your World, ông cũng dành thời gian nói về quan điểm sống, quan niệm sáng tác, về kỷ niệm của nhiều ca khúc và đặc biệt nói về chuyến trở về Việt Nam sau hàng chục năm sống ở xứ người.

BBC: Ông rời Việt Nam sang Mỹ năm 1975, ông có thể kể về toàn bộ chuyến đi và thời gian ông ở Mỹ được không?

Cũng vất vả lắm, nhưng cũng xong rồi. Đầu tiên tôi cũng không đi đâu được cả, bởi vì lúc đầu chỉ có 250.000 người Việt Nam ở rải rác khắp nơi, nhưng rồi nó lên đến 2 triệu người, thì tôi đi hát cho những người đó nghe.

BBC: Ông ở Philippines bao nhiêu lâu trước khi đến Mỹ?

Ở trong trại tị nạn hồi đó, đáng lý ra tôi phải đi ra ngoài ngay. Nhưng tại vì lúc đó tôi bị kẹt vì mấy người con còn ở lại. Thành ra tôi cũng nán lại. Nhưng hình như chỉ ở độ 3 hay 4 tháng thôi. Đi sang bên đó vào đầu tháng Năm, thì vào tháng Tám, tháng Chín thì tôi ra khỏi trại.

BBC: Và khi ông tới Mỹ thì có vấn đề gì không?

Không, không có vấn đề gì. Tôi không có coi cái gì là quan trọng cả. Tất cả giản dị lắm.

BBC: Khi đi Mỹ thì ông có tâm trạng như thế nào, ông có buồn không?

Đi Mỹ, phải đi Mỹ, thì vừa buồn, vừa vui. Buồn là vì phải bỏ nước ra đi, mất luôn cả mấy cái nhà nữa. Nhưng đi thì cũng là cơ hội để mình đi xem quốc tế, thế giới ra sao, lại vui.

BBC: Khi đi Mỹ, ông xuất bản cuốn “Musics of Vietnam” ra sao và việc biểu diễn âm nhạc của ông ở Mỹ thế nào?

Cái đó tôi viết lâu rồi, nhưng khi sang tới Mỹ, lúc đó mới kịp in ra. Cuốn “Musics of Vietnam” tôi viết từ lâu. Tôi đi gần như khắp nước Mỹ. Khổ nỗi là lúc đó tôi đã già rồi, đã trên 50 tuổi rồi, không đủ sức khỏe để đi nhiều thôi. Nhưng tôi sang bên đó, thì tôi đi hát chung với những người nhạc sỹ, ca sỹ Mỹ. Và đồng thời gia đình tôi cũng có mấy người đi hát với tôi. Hồi đó Khánh Ly cũng đi hát chung trong nhóm của chúng tôi. Chúng tôi vẫn đi luôn.

BBC: Thời gian ông đi Philippines, ông đã viết “Tị nạn ca”, “Nhục ca” đúng không?

Những bài đó là bài soạn ra trong lúc hoảng hốt, không nên nhắc đến. Tôi quên rồi.

BBC: Khi ông về lại Việt Nam, phản ứng của chính quyền thế nào, có vấn đề gì không?

“Đi Mỹ, phải đi Mỹ, thì vừa buồn, vừa vui. Buồn là vì phải bỏ nước ra đi, mất luôn cả mấy cái nhà nữa. Nhưng đi thì cũng là cơ hội để mình đi xem quốc tế, thế giới ra sao, lại vui”

Rất tốt. Khi tôi về, đầu tiên, tôi xin lại, hồi tịch lại, tôi lại trở thành người Việt Nam ngay. Tôi không còn là người Mỹ nữa. Đó là một cái rất tốt. Đối với tôi và chính quyền ở đây không có vấn đề gì cả. Họ cũng thấy tất cả mọi sự trong cuộc gọi là giao tranh giữa hai miền như vậy, thì không có ai…

BBC: Còn phản ứng của mọi người nói chung ra sao?

Rất tốt. Là vì khi tổ chức một đêm “Ngày trở về” ở Hà Nội, thì tất cả các ca sỹ thượng thặng đều tham gia hết.

BBC: Cảm xúc của ông khi trình diễn “Phạm Duy – Ngày trở về” ở Nhà hát lớn như thế nào?

Tôi rất mừng vì bao nhiêu năm nay, tôi tưởng người Việt Nam không ai còn hát nhạc của tôi nữa. Tôi về, tôi thấy là họ vẫn hát nhạc của tôi như thường. Vui lắm. Tôi còn nhớ là lúc còn trẻ, tôi làm bài “Nhạc tuổi xanh”. Trong đó có một câu là “Đường ta, ta cứ đi”, thì bây giờ thì “Đường về, ta cứ về thôi.” Giản dị. Hồi đó tôi cũng thấy bình thường thôi. Tôi đã đứng hát trên sân khấu Nhà hát lớn cách đây gần 60 năm rồi. Bây giờ tôi trở lại, tôi cũng vui chứ. Chỉ có vấn đề là hát không có hay như ngày xưa thôi, dở lắm.

BBC: Được biết là chỉ có 10% bài hát của ông được cho phép ở Việt Nam, cái này đúng không?

Đúng rồi, nước nào người ta cũng có những quy định về vấn đề cho phép hay không cho phép. Nói cho đúng ra, sở dĩ tôi chỉ có 1/10 sáng tác của tôi thôi, là cũng giản dị là vì tôi không đứng ra xin phép. Nếu tôi xin phép, có thể họ cũng cho ra đấy. Nhưng ở đây phải xin phép mới được. Thế thôi, không có gì khó cả. Rất giản dị. Những người ngoài thấy là hơi bất bình là vì tại sao tôi nhiều bài như vậy mà chỉ cho tôi có 100 bài thôi. Nhưng khổ nhất vấn đề là tôi phải đứng ra tôi xin thêm thì người ta mới cho chứ. Không xin thì người ta không cho.

BBC: Ông có không băn khoăn gì về chuyện phép tắc đó không?

Tôi nói rằng tôi về đây, cứ hát một bài của tôi là cũng xong rồi. Đừng nói là được hát 100 bài. Tôi về đây không phải là tôi đi tìm danh vọng, hay tôi tìm đồng tiền kinh tế. Không phải. Tôi về đây là vì tôi yêu nước thôi. Mà tôi phải về vì người già nào cũng muốn chết ở quê hương của mình, thế thôi.

BBC: Ông có viết một số bài gọi là “Hương ca” nói về cảm xúc của ông khi về nước đúng không?

Đúng, những bài đó là tâm tình của tôi đấy. Lúc tôi về nước, tôi làm 10 bài hương ca. Nhưng mới xin phép được 5 bài thôi. Bởi vì tôi chỉ mới xin phép 5 bài thôi. Ví dụ như bài “Hương rừng Cà Mau”. Đây là bài thơ của một thi sỹ tên là SơnNam. Tôi làm một bài để xưng tụng những người đầu tiên đi khai phá miềnNam.

‘Đang xin phép’

BBC: Trước đây ông có một trường ca rất nổi tiếng là “Mẹ Việt Nam,” tác phẩm này có được phép không?

“Mẹ Việt Nam” và “Trường ca Miền Nam” là hai bài đang xin phép. Cũng mới gửi đi xin phép, thành ra không thể nói gì hơn được nữa. Nếu mà được thì càng tốt, bởi vì những bài đó xưng tụng sự thống nhất của đất nước và con người.

BBC: Ngoài bài “Mẹ Việt Nam”, cũng có bài “Việt Nam, Việt Nam”, Việt Kiều ở Mỹ nghĩ gì về bài đó?

“Người Việt Nam ở Mỹ, hay đi hải ngoại rồi, muốn nghĩ gì thì nghĩ, tôi không quan tâm”

Người Việt Nam ở Mỹ, hay đi hải ngoại rồi, muốn nghĩ gì thì nghĩ, tôi không quan tâm. Bởi những người đó vẫn còn nuôi oán thù. Mà tôi chủ trương là sau 30 năm trời, thì phải đến các lúc mà có sự hòa hợp dân tộc. Thì phải thế thôi. Thế còn người nào cất tiếng lên chửi bới nhau chỉ vì đi về Việt Nam không thôi, thì tôi không nói chuyện với họ. Muốn nghĩ gì thì nghĩ. Khi tôi làm bài đó ra, tôi đâu có nghĩ đến trường hợp đến một ngày nào đó, có một người Việt Nam ở bên Mỹ lại hát bài đó. Tôi chỉ làm ra thôi. Cái tình cảm của tôi lúc đó vẫn là hòa hợp dân tộc.

BBC: Ông viết “Mẹ Việt Nam” năm 1965, tại sao lúc đó ông lại muốn viết bài này?

Đầu tiên nước Việt Nammình sinh ra là một nước theo chế độ mẫu hệ. Tức là xưng tụng người đàn bà nhiều hơn. Tôi cũng dựa vào cái đó để tôi nói về lịch sử ViệtNam. Lịch sử Việt Namthì cũng có những lúc chia rẽ nhau như thời Trịnh – Nguyễn phân tranh chẳng hạn. Thế nhưng cũng có thời họ thống nhất. Nước Việt Nam mình đã có thời kỳ chia cắt, thì phải có lúc thống nhất thôi.

BBC: Có người nói ông có công lớn với âm nhạc Việt Nam, ông nghĩ sao?

Không, không nói công với tội gì cả. Tôi sợ những cái đó. Ai khen tôi hay ai chê tôi, tôi đều sợ cả. Vì tôi làm việc cũng như người làm ruộng thôi. Làm ruộng thì phải cấy lúa, làm nhạc thì phải đánh đàn, giản dị thế thôi.

BBC: Có một số bài chưa nói tới như “Gánh lúa.”

Ô, bài ấy hay lắm. Bài ấy vui lắm. Bài ấy là bài cuối cùng của tôi làm trong khi còn ở Kháng chiến. Bài ấy tôi diễn tả một đoàn người nông dân đi gánh lúa để nuôi lính, nuôi quân. Hay lắm. Khi tôi hát bài dân ca, thì cũng có khi có những người hát thay tôi bài “Gánh lúa”. Nếu tôi không nhầm, thì tôi giữ được nhiều “versions” của những người này, người họ hát. Họ hát hay lắm, rất ViệtNam.

BBC: Rất nhiều ca sỹ đã trình bày các bài hát của ông, ông nghĩ gì về họ?

Nhiều lắm. Thái Thanh suốt đời hát nhạc của tôi. Còn Khánh Ly cũng hát. Ai cũng hát hết, những người nhạc sỹ già đó. Còn những người nhạc sỹ trẻ như Tấn Minh hay Đức Tuấn hay Mỹ Linh cũng đều hát nhạc của tôi hết. Tất nhiên là họ hát những bài đã được phép. Nước nào cũng có quy luật của nó chứ. Anh làm sao đi quá luật được.

BBC: Từ đầu 1960 so với Tết Mậu Thân, thì nhạc của ông có thay đổi không?

Cái đó thì phải để người khác người ta phê bình, chứ tôi không biết. Tôi chỉ biết làm thôi. Đại khái như bài nhạc của tôi làm hôm nay nó khác với bài trước như thế nào, thì tôi chịu chết (không thể biết được). Tôi không thể giải thích được. Người khác giải thích hộ tôi.

BBC: Nhưng có một số bài nói về thiên nhiên vào những năm 1950 và đầu 1960, như là bài ca “Sao” và “Chiều về trên sông”, ông có thể nói gì về quan hệ thiên nhiên và âm nhạc?

Lúc đó là lúc tôi bỏ qua trường hợp nhìn vào đất nước Việt Nam. Tôi muốn nhìn vào cuộc đời nhiều hơn. Tôi nói những câu chuyện về “Bài ca sao”, “Bài ca Trăng”, thì nó vượt ra khỏi nước Việt Nam rồi.

BBC: Từ năm 1954-1975 ở miền Nam, không khí âm nhạc thời đó như thế nào?

Tôi không nhớ được, quên rồi. Thời cuộc của Việt Nam thay đổi nhiều quá, thành ra tôi cũng quên mất.

BBC: Nhưng khi ông hát “Tâm phẫn ca”, sinh viên nghe thì họ thấy sao?

Cái đó thì họ phải thích chứ. Bởi vì cái đó cũng nói lên được lòng căm giận của họ cũng như của tôi, là vì chiến tranh kéo dài quá.

BBC: Về âm nhạc mà ông đã sáng tác sau khi về Việt Nam năm 2005, ông có thể nói về trường ca về “Minh họa Kiều”?

"

Về đây tôi mới sáng tác được toàn vẹn “Minh họa Kiều”. Vì “Minh họa Kiều” dài lắm. Nó dài phải đến hơn 2 tiếng đồng hồ mới hết. Tôi mới làm được 3 phần, về đây tôi làm nốt là phần thứ tư, về đây mới làm được, xong rồi. Tôi làm “Hương ca” là bản nhạc mới. Rồi tôi làm thêm những bài nhạc phổ thơ của thi sỹ Bích Khê. Đó cũng là những cái mới hết. Muốn biết nó ra sao thì phải mua đĩa để nghe thôi.

Trong “Hương ca” nó nói gì? Nó nói về tình yêu nước. Mà yêu nước của Việt Nam nay nó khác với yêu nước của ngày xưa rồi. Ngày xưa tôi làm bài “Tình hoài hương” là vào 1950, thì cái đẹp của đất nước nó khác cái đẹp của bây giờ. Ví dụ như là ngày xưa còn có những người đàn bà con gái răng đen, và đồng thời ăn mặc quần áo nâu. Bây giờ người con gái, anh đi về vùng quê anh coi, họ mặc hoàn toàn giống như những người mới, chứ không phải như người cũ nữa. Vậy thì tình cảm của tôi cũng phải khác đi.

BBC: Ông chọn một bài thơ để phổ nhạc như thế nào, ông có thể cho một vài ví dụ?

Tại sao tôi chọn bài thơ của ông Hoàng Cầm, là vì lúc đó ông Hoàng Cầm là nhà vô địch của những bài thơ kháng chiến. Tại sao tôi lại phổ thơ của ông Phạm Thiên Thư, là vì lúc đó, ông Phạm Thiên Thư đưa ra những loại nhạc lúc đó gọi là “Đạo ca”, là những cái mới hết. Ông Nguyễn Tất Nhiên là những bài ca ngộ nghĩnh, vui vẻ. Tôi chỉ có thể nói thế được thôi, còn đi vào chi tiết, không thể nói được.

BBC: Còn các bản “Tị nạn ca” thì sao?

“Tị nạn ca” là những bản nhạc nói chung về những vấn đề những năm không còn ở trong nước nữa. Đó là tị nạn chứ gì. Thế nhưng xong rồi thì tôi thấy là nó là những bản nhạc hơi “ảo ảnh quê hương”, chứ không phải là bản nhạc thật. Ngồi ở Bridgeway City mơ tưởng đến cánh đồng Việt Nam, thì nó hơi vô duyên quá (non-sense). Sau tôi quyết định tôi không nhắc đến nữa.

BBC: Giáo sư Trần Văn Khê sẽ viết về những tác phẩm nào của ông không?

Tôi không biết, chỉ biết là ông ấy đã viết được trên 100 trang rồi.

BBC: Ông là người rất nhạy về công nghệ, nhất là ứng dụng cho âm nhạc, ông đã sản xuất một CD đầu tiên ở Mỹ. Ông có thể nói gì về chuyện này?

Giản dị thôi, ngày xưa, tôi đi học ở trường Kỹ nghệ thực hành, thành ra những cái gì thuộc về vấn đề kỹ thuật, tôi thích lắm. Khi có được thời đại computer, năm 1982 là lúc computer ra đời, thì tôi vội vàng học ngay rồi. Từ đó tới nay, tôi áp dụng vào trong sáng tác nhạc, thì rất tốt. Nếu tôi không đi học được kỹ thuật, thì tôi không hiểu biết được kỹ thuật mới. Tôi nghĩ là tôi may mắn hơn những người khác là tôi thấy ngay được cái hay, cái ích lợi của computer và tôi dùng nó ngay.

BBC: Ông biết gì về phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”? Âm nhạc của phong trào này khác gì với nhạc của ông?

Không, tôi không làm loại đó. Cái loại đó của người khác làm. Ông Tôn Thất Lập thì phải. Không phải tôi. Tôi không biết. Tôi không được nghe những bài đó. Tôi có biết là ông ấy có làm những bài hát là “Hát cho đồng bào nghe”, nhưng tôi không có ở trong tay để biết là bài đó ra sao. Tôi không dám phê bình.

‘Sức mấy mà buồn’

BBC: Âm nhạc ở miền Nam Việt Nam ngày xưa có rất nhiều luồng, quan hệ giữa chúng ra sao?

"

Tôi cũng biết hết đấy, nói cho nó ngay ra mà nói là không biết thì không đúng, nhưng mà biết, nhưng nó không ảnh hưởng đến tôi gì cả. Tôi kính trọng những bài đó, thế thôi. Tôi không chê mà tôi cũng không khen.

BBC: Mục đích nhạc của ông những năm 1960 là gì?

Vẫn là con đường cũ tôi đi theo. Tức là vấn đề “khóc, cười theo mệnh nước”, lúc nào nước vui, thì tôi cười, thế còn lúc nào nước buồn thì tôi khóc.

BBC: Có sự kiện nào trong lịch sử làm cho ông buồn?

Không bao giờ tôi buồn cả, bởi vì tôi có bài hát gọi là “Sức mấy mà buồn”. Không bao giờ tôi buồn cả. Buồn làm gì, vô ích. Nếu có buồn, thì cũng chỉ buồn đại khái thôi, nói cho nó vui thôi chứ, không bao giờ tôi bị buồn cả.

BBC: Nhưng có một số bài buồn như là “Ngậm ngùi”?

“Ngậm ngùi” thì đâu có buồn. Đó là một bài hát an ủi. Ông ta làm thơ như vậy để khuyên mọi người trở về với đời sống bình thường thôi. Thì đó là an ủi nhau thôi chứ không có gì mà buồn.

BBC: Bài “Quê nghèo” chẳng hạn?

“Quê nghèo” thì thực sự là buồn. Đó là bởi vì chiến tranh. Tôi làm bài “Quê nghèo” đó là người ở quê là người dân nghèo, đói nhất ViệtNam, lại còn bị chiến tranh nữa. Thì tôi diễn tả đó thôi.

BBC:Bài “Quê nghèo” thì ông diễn tả điều gì?

“Tôi không xa kinh kỳ sáng chói”, có những ông già “Cày bừa thay trâu” thì khổ quá. Đó là một bài mà nhiều người Việt Nam rất cảm động, rất thích, là bởi vì tôi nói được những cái đó lên.

Leave your Comment