Nước đang phát triển là gì 396

Địa lí 11/Phần 1/Bài 1 | Kiến thức Wiki

 

SỰ TƯƠNG PHẢN VỀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA CÁC NHÓM NƯỚC.
CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HIỆN ĐẠI


I. Sự phân chia thế giới thành các nhóm nước
Dia li 11 bai 1 hinh 1

– Trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau được chia làm 2 nhóm nước: phát triển và đang phát triển.
– Các nước đang phát triển thường có GDP/ người thấp, nợ nhiều, HDI thấp.
– Các nước phát triển thì ngược lại.
– Một số nước vùng lãnh thổ đạt được trình độ nhất định về công nghiệp gọi là các nước công nghiệp mới (NICs).

II. Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế xã hội của các nhóm nước

– GDP bình quân đầu người chênh lệch lớn giữa các nước phát triển và đang phát triển
– Trong cơ cấu kinh tế:
+ các nước phát triển khu vực dịch vụ chiếm tỉ lệ rất lớn, nông nghiệp rất nhỏ.
+ các nước đang phát triển tỉ lệ ngành nông nghiệp còn cao.
– Tuổi thọ trung bình các nước phát triển > các nước đang phát triển.
– HDI các nước phát triển > các nước đang phát triển.

III. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại

– Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỉ XXI, cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại xuất hiện.
– Đặc trưng: bùng nổ công nghệ cao.
+ Dựa vào thành tựu KH mới với hàm lượng tri thức cao
+ Bốn trụ cột:
* Công nghệ sinh học.
* Công nghệ vật liệu.
* Công nghệ năng lượng.
* Công nghệ thông tin.
=> Tác dụng: thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, đồng thời hình thành nền kinh tế tri thức – nền kinh tế dựa trên tri thức, kỹ thuật, công nghệ cao.


.: VGP News :. | Phát triển cơ sở hạ tầng tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

 

(Chinhphu.vn) – Chiều 30/3, Hội nghị Thượng đỉnh Kinh doanh GMS tiếp tục diễn ra phiên thảo luận chuyên đề “Phát triển cơ sở hạ tầng và tài chính cho cơ sở hạ tầng” với sự tham gia của đông đảo chuyên gia, học giả, các tổ chức tài chính và doanh nhân trong khu vực.

 src=
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Văn Thể phát biểu tại phiên thảo luận Ảnh:VGP/Tuấn Dũng

Tham dự và phát biểu tại phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Văn Thể nhấn mạnh, cơ sở hạ tầng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia, tạo động lực cho sự phát triển. Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội.

Chính vì vậy, việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đang là ưu tiên của nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam và một số thành viên GMS.

Việt Nam ý thức rằng con đường duy nhất để phát triển kinh tế bền vững đối với các nước đang phát triển là tập trung nguồn lực để phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông.

Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã dành mức đầu tư cao cho phát triển cơ sở hạ tầng. Khoảng 9-10% GDP hằng năm đã được đầu tư vào ngành giao thông, năng lượng, viễn thông, nước và vệ sinh… Việt Nam đã tận dụng rất nhiều nguồn lực trong và ngoài nước, nguồn lực xã hội để phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông vận tải, mạch máu của nền kinh tế.

Tuy nhiên, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam đa số có quy mô nhỏ bé, chưa đồng bộ và chưa tạo được sự kết nối liên hoàn, khả năng đáp ứng nhu cầu giao thông và an toàn giao thông còn hạn chế. So với một số nước tiên tiến trong khu vực, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam chỉ ở mức trung bình.

Để tiếp tục phát triển kinh tế-xã hội trong tương lai, Chính phủ Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng chất lượng cao, đặc biệt là hạ tầng giao thông.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể, Việt Nam sẽ tiếp tục hoàn thiện xây dựng hệ thống đường bộ cao tốc. Theo đó, từ nay đến 2020, sẽ hoàn thành thi công 654 km/khoảng 1.300 km đường cao tốc Bắc-Nam theo hình thức hợp tác công-tư (PPP), trong đó Nhà nước tham gia đóng góp khoảng 40% tổng mức đầu tư.

Cùng với đó, Việt Nam nghiên cứu phương án xây dựng mới tuyến đường bộ, đường sắt tốc độ cao, đồng bộ về tiêu chuẩn kỹ thuật, kết nối thuận lợi với hệ thống đường bộ ASEAN, Tiểu vùng Mekong mở rộng và đường sắt xuyên Á; xây dựng hệ thống cảng biển đáp ứng tốt nhu cầu thông quan về hàng hóa xuất nhập khẩu và nội địa; nghiên cứu đầu tư xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành có vai trò và quy mô ngang tầm với các cảng hàng không quốc tế lớn trong khu vực…

Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải cho biết, những nhóm giải pháp chính được đưa ra nhằm cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam là nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, phát huy tính đồng bộ kết nối của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tạo chuyển biến rõ rệt trong việc phân bổ nguồn vốn đầu tư giữa các lĩnh vực giao thông; tập trung vốn cho các công trình có tính lan tỏa, tạo sự kết nối giữa các phương thức vận tải, giữa các công trình trong cùng hệ thống, tại các vùng kinh tế trọng điểm, các cửa ngõ quốc tế.

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể nhấn mạnh, Chính phủ Việt Nam chào đón các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các đối tác phát triển cùng trao đổi, chia sẻ cơ hội hợp tác đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tại Việt Nam cũng như tại các nước thành viên GMS, biến khu vực này thành khu vực thịnh vượng và cùng phát triển.

Chia sẻ về nguồn kinh phí phát triển cơ sở hạ tầng, Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Umeda Kunio cho biết, Chính phủ Nhật Bản đã có sáng kiến thúc đẩy cơ sở hạ tầng chất lượng cũng như các nỗ lực khác nhằm cải thiện tính kết nối ở khu vực sông Mekong.

Với tư cách là đối tác của khu vực Mekong, Nhật Bản đã cung cấp, hỗ trợ mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong khu vực, giúp thu hẹp khoảng cách phát triển, thúc đẩy đầu tư và thương mại. Những nỗ lực này đã được hiện thực hóa thông qua các dự án phát triển cơ sở hạ tầng trong khu vực.

Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam nhấn mạnh điều quan trọng là phải thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực, tạo điều kiện để duy trì các hệ thống này, phát triển các khu vực dọc hành lang kinh tế, tạo ra phát triển bền vững.

Đại sứ tin tưởng, việc tạo ra sự kết nối năng động như vậy sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển khu vực Mekong. Nhật Bản cảm kết tiếp tục tăng cường hỗ trợ các quốc gia sông Mekong, nỗ lực tạo ra động lực mới để thúc đẩy hợp tác khu vực.

Tuấn Dũng

Ông Trump thúc giục WTO không công nhận Trung Quốc là nước đang phát triển

 

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sử dụng “cách phân loại lỗi thời giữa nước phát triển và đang phát triển, cho phép một số thành viên có được những lợi thế không công bằng”, Tổng thống Mỹ Trump ra bản ghi nhớ ngày 26/7.

Nếu không có “tiến bộ đáng kể” để đổi mới các quy tắc của WTO trong vòng 90 ngày, Washington sẽ không còn công nhận bất kỳ thành viên WTO nào “tuyên bố không đúng rằng họ là quốc gia đang phát triển, lợi dụng sự linh hoạt trong các quy tắc và đàm phán của WTO” là nước đang phát triển.

Mặc dù tuyên bố chỉ ra nhiều quốc gia đang được hưởng lợi từ cách phân loại này, Mỹ chủ yếu nhắm vào Trung Quốc. “Mỹ chưa bao giờ chấp nhận việc Trung Quốc tự nhận là nước đang phát triển”, bản ghi nhớ có đoạn viết, nhấn mạnh rằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Mỹ.

“Trung Quốc và quá nhiều quốc gia khác tiếp tục nhận là các nước đang phát triển, cho phép họ hưởng những lợi ích đi kèm với danh xưng đó và có những cam kết lỏng lẻo hơn so với các thành viên WTO khác”, Trump viết.

Những quốc gia được WTO coi là nước đang phát triển có thời hạn dài hơn để thực hiện các cam kết thương mại tự do cũng như có khả năng bảo hộ một số ngành công nghiệp trong nước và duy trì trợ cấp.

Xinhua năm ngoái đăng bài xã luận nêu lý do Trung Quốc vẫn là nước đang phát triển, gồm các yếu tố như GDP bình quân đầu người thấp, sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực trong nước, nhiều người ở nông thôn vẫn sống dưới mức nghèo.

Xem thêm >> Không ngăn được Thổ Nhĩ Kỳ mua S-400, Mỹ kêu gọi ‘đừng đưa vào hoạt động’

Phan Nghia

 

VIỆT NAM – MỘT NƯỚC
ANG PHT TRIỂN?

     Kể từ sau Thế Chiến
thứ 2, cc quốc gia km pht triển đều thống nhất quan điểm: muốn thot
khỏi ngho kh lạc hậu, vấn đề ưu tin hng đầu l phải kỹ nghệ ha đất
nước. Chnh NEHRU (Thủ tướng Ấn ộ) từ năm 1953 đ xc định trước đại diện
của cc quốc gia Phi: sự tiến bộ của đất nước ty thuộc vo kỷ nghệ ha.
V kỹ nghệ ha sẽ giải quyết được vấn đề khiếm dụng nhn cng, tăng trưởng
lợi tức quốc gia, tận dụng ti nguyn thin nhin v cuối cng l cải tiến
nhiều mặt x hội, tạo được sự thay đổi căn bản cho đời sống dn chng.
Nền kỹ nghệ của một quốc gia lun lun lin hệ đến bốn
lnh vực: Chnh sch kinh tế, nhn cng, ti chnh v kỹ thuật, trong đ
sch lược kinh tế, tư bản đầu tư v kỹ thuật khoa học l ba yếu tố quyết
định sự thnh cng cuộc kỹ nghệ ho.
a số cc quốc gia đang pht triển đều thiếu vốn v khả
năng kỹ thuật, chnh v thiếu hụt tư bản đầu tư nn trnh độ kỹ thuật lun
lun lạc hậu v thường phải gnh chịu những my mc thiết bị cng cch
thức sản xuất lỗi thời do cc quốc gia pht triển chuyển nhượng, đy một
phần cũng v khiếm khuyết chuyn mn nn giới chức trch nhiệm của nước
đang pht triển khng đủ trnh độ để thẩm định cc dự n đầu tư, hoặc do
lợi lộc ring tư nn sự kiểm sot cc dự n bị lệch lạc.
Hiển nhin chiều hướng pht triển kỹ nghệ khng thể
khc hẳn với đặc tnh của nền kinh tế quốc gia. V dụ một nước m truyền
thống l nng lm nghiệp th khng thể xy dựng một sch lược pht triển
kỹ nghệ đặt trn nền tảng cng nghiệp nặng hoặc một quốc gia c nhiều dầu
mỏ lại chuyn pht triển kỹ nghệ thực phẩm.
Bởi vậy, cấp thẩm quyền cần phải cn nhắc kỹ lưỡng khi
định hướng pht triển kỹ nghệ. Một khi nền tảng pht triển kỹ nghệ đặt sai
hay qu m đồm (ngnh no cũng muốn pht triển) khng những ti lực quốc
gia bị ph phạm m nền kinh tế đất nước sẽ kh lng cất cnh nổi.
Chnh sch kỹ nghệ ho của cc quốc gia đang pht triển
thường km hiệu quả v một số nguyn nhn:
– Cc dự n quy m c tnh cch dẫn hướng cho ton bộ
cng cuộc pht triển kỹ nghệ đ được xy dựng từ cảm hứng của cc nh lnh
đạo chnh trị, cc vị ny trong một pht bốc đồng hoặc được vun đắp từ
những mơ mộng thuở nin thiếu đ đề ra nhiều dự n kỹ nghệ hon ton phi
kinh tế, khng c lợi cho pht triển quốc gia, hao ph nhiều ti nguyn
tiền bạc, kết quả sử dụng thu lợi khng l bao, đ l chưa kể sự thiệt hại
do dự n thiếu chnh xc mang lại. Chẳng hạn cho xy những nh my sản
xuất kin cố m gi trị của ta nh đắt gấp bốn lần thiết bị bn trong hay
lập một nh my thủy điện với lượng điện thu được hng năm khng thể sử
dụng hết trong khi hng chục ngn mẫu ruộng ở hạ lưu mất hẳn lớp ph sa
được bồi đắp hng năm bởi con sng, hoặc cho xy dựng nh my pht điện
chạy bằng nguyn tử năng trong lc đa số dn chng đang bị thiếu dinh
dưỡng trầm trọng.
– Khi nghĩ đến pht triển kỹ nghệ, đa số giới chức cầm
quyền của cc quốc gia đang pht triển thường qun mất lực lượng kỹ nghệ
gia trong nước. D khng c nhiều vốn, d chưa tiếp thu những lnh vực kỹ
nghệ chuyn mn cao nhưng đy l lực lượng nng cốt cho vấn đề pht triển
kỹ nghệ đất nước. Cc doanh thương, kỹ nghệ gia ngoại quốc c đủ mọi yếu
tố vượt trội đối với cc kỹ nghệ gia bản xứ, nhưng cng cuộc đầu tư của họ
hon ton đặt trn căn bản lợi nhuận. Thực tế đ cho thấy c nhiều quốc
gia qu tin tưởng vo đầu tư của ngoại quốc nn đ v tnh hay hữu hạn
chế phần no hoạt động kinh doanh của cc doanh nhn bản xứ (bằng thủ tục
cấp giấy php, thuế biểu, đặt điều kiện qu cao về vốn v kỹ thuật. . .);
hoặc về lu di kỹ nghệ sản xuất của cc dự n ngoại quốc ny đ lm con
đường pht triển kinh tế của quốc gia bị lệch, khng đp ứng được yu cầu
như đ tin liệu.
– Một quan niệm lu nay đ lm đắn do nhiều người l
vấn đề kỹ nghệ ha một đất nước đang pht triển phải đặt chủ yếu vo vai
tr của doanh nghiệp Nh nước hay tư nhn.
Trn căn bản l thuyết kinh tế cũng như thực tế chứng
minh đối với một số quốc gia giu mạnh từ đống tro tn sau chiến tranh,
vai tr chủ động trực tiếp kinh doanh sản xuất của chnh quyền chỉ nn
được chấp nhận ở thời gian đầu trong cng cuộc kỹ nghệ ha, sau đ dần dần
nn nhường lại cho tư nhn (tập đon, tổng cng ty, hiệp hội. . . ) v trở
về cương vị quản l quy m trn căn bản sch lược kinh tế đ được hướng
định bằng cc phương tiện cng quyền như thuế quan, chnh sch xuất nhập
cảng, thẩm định giấy php đầu tư xy dựng cng trnh, biện php điều hnh
thị trường nội địa, chnh sch gi cả. . .
ể giải thch quan niệm ny, cc kinh tế gia cho rằng,
trong lnh vực kinh doanh sản xuất, cng chức khng thể no năng động,
nhanh nhạy bằng tư nhn. V vậy chỉ nn để lnh vực cng quản trị, một số
ngnh được xem l tuyệt đối quan trọng lin quan đến an ninh quốc phng,
b mật quốc gia hoặc v giới tư nhn chưa đủ trnh độ v khả năng để đảm
nhiệm (sự xc định ny cần phải khch quan v đặt trn căn bản lợi ch
chung).
Ngoi ra sự kiện cũng đ minh chứng một nền kinh tế chỉ
thực sự linh động pht triển khi giới kinh thương tư nhn được
“thoải mi”
trong vấn đề kinh doanh v đầu tư ở nhiều lnh vực với sự gip đỡ, yểm trợ
của chnh quyền trong bước đầu.
ể cc dự n kỹ nghệ c thể thực hiện v thnh cng
nhằm thc đẩy nền kinh tế pht triển, nh đầu tư v giới chức thẩm quyền
cần lưu một số điểm:
– Nghin cứu thị trường nhập cảng: Xc định được mức
cầu của thị trường nội địa v một số quốc gia ln cận l đ xc định được
mục tiu của dự n kỹ nghệ v lnh vực kinh doanh. Xa hơn, việc tm hiểu
lnh vực sản xuất hng giả cũng l yếu tố cần để quyết định xy dựng kỹ
nghệ thuộc ngnh no, loại no (vấn đề nghin cứu hng giả l một mặt
trong việc nghin cứu thị trường).
– iều tra sức cung của nguyn liệu nội địa: y l yếu
tố chnh để hạ gi thnh v chủ động để sản xuất lin tục, khng bị vấn đề
nguyn liệu lm gin đoạn.
– Tm hiểu khả năng quản trị của cấp điều hnh v trnh
độ tay nghề của nhn cng cng thực lực của cc ngnh kỹ nghệ c lin
quan. iều ny gip rt ngắn thời gian chuẩn bị để nh my sớm vận hnh v
lin tục hoạt động.
– Lun lun theo st v thay đổi kỹ thuật thch nghi:
ể gia tăng năng suất, cải tiến sản phẩm hoặc để thay đổi nguyn liệu
thch ứng.
– Từng giai đoạn nắm vững cch hoạt động hoặc chiến
lược kinh tế của quốc gia để tiến hnh kinh doanh sản xuất ph hợp. Lun
tổng kết, lượng định cc thnh quả đạt được để kịp thời chấn chỉnh, trnh
trường hợp thua lỗ hay phương hại đến nền kinh tế chung.
Kỹ nghệ ha l nguyn tắc tất yếu để pht triển, tuy
nhin kỹ nghệ ha như thế no để đất nước pht triển nhanh, giữa người đầu
tư v nước nhận đầu tư đều c lợi l vấn đề m cấp thẩm quyền phải cn
nhắc, suy tnh. Nếu lợi ch chung được đặt trn ci ring tư v lợi ch
lu di được đặt cao hơn lợi lộc ngắn ngủi ắt hẳn cc quốc gia ngho trn
thế giới khng cn qu nhiều như hiện nay.
Cho đến nay VN vẫn nằm trong danh sch cc nước ngho
nhất thế giới với lợi tức đầu người l $640/năm (theo bo co thng
12/2005 của chnh quyền CS), cn theo Ủy Ban Pht Triển của LHQ th lợi
tức đầu người ở VN hiện nay l $570/năm (lợi tức đầu người của cc nước
khng ngho l từ $3000-4000/năm)
Tuy nhin vấn đề lợi tức đầu người chỉ l hnh ảnh để
nhận định một cch tổng qut nền kinh tế của một quốc gia, ci chnh l sự
phn chia lợi tức c đồng đều (trn căn bản tạo ra sản phẩm v dịch vụ)
hay khng? Nếu thẩm định trn kha cạnh ny th nền kinh tế VN hiện nay
đang tăng trưởng trn một căn bản mất cn bằng về nhiều mặt m hậu quả l
người dn lao động l kẻ phải gnh chịu nhiều thiệt thi nhất, một cuộc
sống bấp bnh ngho khổ ko di từ đời ny qua đời khc, khng bao giờ
thot khỏi.
Theo quan niệm mới (Ủy Ban Pht Triển của LHQ), vấn đề
pht triển của một quốc gia được đnh gi qua nhiều kha cạnh chứ khng
thuần ty đặt trn căn bản lợi tức đầu người v tỷ lệ tăng trưởng kinh tế
hng năm.
Một nước được gọi l đang trn đ pht triển phải c sự tiến bộ trn cc
lnh vực: Chnh trị, Kinh tế, Mi trường, Hệ thống luật php v Tổ chức
Cng quyền, Gio dục, Y tế v nếp sống văn minh của X Hội.
Với những căn bản để lượng định kể trn phải ni VN hiện l một nước đang
Tăng Trưởng chứ khng phải một nước đang
Pht Triển, hnh ảnh ny giống
hệt như một người được nui ăn lớn nhưng đầu c tr độn khng pht triển,
nghĩa l tuy lớn con nhưng khng khc g một đứa con nt.
Việt Nam sau 15 năm đổi mới lợi tức đầu người chỉ tăng
được $150 v sau 30 năm cầm quyền của CS th mọi căn bản khc đều bị ph
vỡ. Từ một hệ thống chnh trị cai quản đất nước bằng một đảng duy nhất với
một mớ l thuyết viễn vng độc đon, một nền gio dục xưa cũ từ chương m
đến ngay cả thầy dạy cũng mất căn bản về gio dục chứ đừng ni đến sinh
vin học sinh. Một tổ chức cng quyền v một hệ thống y tế l nơi hnh hạ
bc lột người dn một cch tận tnh.
Nhưng điều m mọi người ưu tư nhất l nếp sống của x
hội VN hiện nay với quan niệm chụp giựt, tn thờ vật chất, cố lm giu
bằng mọi cch kể cả những cch bẩn thỉu, v đạo nhất miễn l c tiền.
Với những sắc thi như vậy th VN c lẽ sẽ khng bao
giờ l một nước đang pht triển đng nghĩa nếu khng c sự thay đổi!
Phan Nghĩa


Nợ nước ngoài của các nước đang phát triển tăng vọt trong năm 2018 | Thế giới

 

Nợ nước ngoài của Trung Quốc đã tăng 15% trong năm ngoái do nhu cầu trái phiếu nhân dân tệ tăng đột ngột, khiến tổng nợ của nhóm nước đang phát triển ngày càng “phình to”.
Tuy nhiên, nếu không tính 10 nước vay nhiều nhất thì mức tăng nợ vay từ nguồn nước ngoài chỉ tăng 4%, theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới.
Những khoản cho vay của các tổ chức tài chính quốc tế cũng tăng 86%, nhưng đa số đều nằm trong khoản viện trợ kỷ lục được Quỹ Tiền tệ Quốc tế bơm vào nền kinh tế Argentina.

Tuy nhiên, ông tỏ ra quan ngại về tình trạng không minh bạch trong các khoản đầu tư, và sự cần thiết phải phân bổ nguồn vốn hiệu quả nếu muốn thu được kết quả như kỳ vọng.

[VIDEO] Nhân vật quyền lực nhất giới ngân hàng Mỹ nói gì về thỏa thuận thương mại Mỹ – Trung?

 

Tăng trưởng tại các nước đang phát triển khu vực Đông Á và Thái Bình Dương đạt mức 6,0%

 

Cập nhật: 24/04/2019 22:08

(Thanh tra) – Tăng trưởng tại các quốc gia đang phát triển khu vực Đông Á và Thái Bình Dương dự báo sẽ đạt mức 6,0% trong năm 2019 và 2020, giảm nhẹ so với mức 6,3% năm 2018, chủ yếu do khó khăn quy mô toàn cầu và việc nền kinh tế Trung Quốc đang chững lại do can thiệp chính sách.

Tăng trưởng tại các nước đang phát triển khu vực Đông Á và Thái Bình Dương đạt mức 6,0% WB dự báo, tăng trưởng tại các nước đang phát triển khu vực Đông Á và Thái Bình Dương đạt mức 6,0%. Ảnh: TQ

Đó là nhận định của Báo cáo có tựa đề “Vượt qua trở ngại”, ấn phẩm tháng 4/2019 về Cập nhật Tình hình kinh tế Đông Á và Thái Bình Dương của Ngân hàng Thế giới (WB) ra mắt ngày 24/4.

Các nền kinh tế trong khu vực đã vượt qua những biến động thị trường tài chính trong năm 2018 tương đối tốt, chủ yếu nhờ khung chính sách hiệu quả và các yếu tố nền tảng tích cực, bao gồm nền kinh tế đa dạng, tỷ giá linh hoạt, và dư địa chính sách vững chắc.

Mặc dù những bất định về chính sách thương mại đã phần nào giảm bớt, nhưng tăng trưởng thương mại toàn cầu dự kiến sẽ còn khiêm tốn. Báo cáo cho biết, sức cầu nội địa còn mạnh ở hầu hết các nước trong khu vực phần nào cũng bù đắp những ảnh hưởng của việc xuất khẩu bị chững lại.

“Tăng trưởng kinh tế vững chắc tại khu vực tiếp tục làm giảm tỷ lệ nghèo, hiện đã xuống mức thấp nhất từ trước tới nay. Trên thực tế, chúng tôi kỳ vọng đến năm 2021, tỉ lệ nghèo cùng cực sẽ giảm xuống dưới 3%. Nhưng đồng thời, nửa triệu người dân trong khu vực vẫn chưa được đảm bảo an ninh kinh tế, và đang gặp rủi ro tái nghèo, đó là lời nhắc nhở quan trọng về quy mô của những thách thức mà các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt”, bà Victoria Kwakwa, Phó Chủ tịch WB phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương cho biết.

“Nền kinh tế Trung Quốc tiếp tục giảm tốc do can thiệp chính sách, với tốc độ tăng trưởng 6,2% trong các năm 2019 và 2020 so với 6,6% năm 2018. Dự báo tăng trưởng tại Indonesia và Malaysia vẫn không thay đổi trong năm 2019, còn tốc độ tăng trưởng ở Thái Lan và Việt Nam có thể chững nhẹ trong năm 2019. Tại Philippines, chậm trễ trong việc phê duyệt ngân sách năm 2019 của chính phủ dự kiến sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP năm 2019, nhưng tăng trưởng của quốc gia này sẽ nhích lên theo dự báo cho năm 2020”, báo cáo viết.

 src=

Báo cáo cho rằng, triển vọng tăng trưởng ở các nền kinh tế nhỏ trong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương vẫn thuận lợi. Ảnh: TQ

Báo cáo cho rằng, triển vọng tăng trưởng ở các nền kinh tế nhỏ trong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương vẫn thuận lợi. Các dự án hạ tầng lớn dự kiến sẽ giúp tăng trưởng tại CHDCND Lào và Mông Cổ được gia tốc.

Tăng trưởng tại Campuchia vẫn đứng vững theo dự báo, mặc dù tốc độ có thể giảm nhẹ so với với năm 2018, chủ yếu do sức cầu bên ngoài sẽ yếu hơn so với dự kiến. Chính sách tài khóa nới lỏng ở Miến Điện dự kiến sẽ thúc đẩy tăng trưởng của họ trong ngắn hạn, đồng thời những cải cách cơ cấu gần đây sẽ hỗ trợ tăng trưởng trong trung hạn.

Tăng trưởng năm 2019 tại Papua New Guinea dự kiến sẽ nhích dần khi nền kinh tế khôi phục sau trận động đất thảm họa năm 2018. Tăng trưởng ở Fiji tiếp tục đi lên theo dự báo, trong điều kiện các nỗ lực tái thiết sau trận bão nhiệt đới đã ổn định khi gần đến thời điểm hoàn công.

“Mặc dù triển vọng kinh tế của Đông Á và Thái Bình Dương cơ bản vẫn tích cực, nhưng điều quan trọng cần lưu ý là khu vực phải tiếp tục đối mặt với những áp lực lớn bắt nguồn từ năm 2018, hiện vẫn để lại nhiều tác động bất lợi. Tình trạng bất định vẫn tiếp diễn do nhiều nguyên nhân, kể cả do các nền kinh tế phát triển tiếp tục giảm tốc, khả năng nền kinh tế Trung Quốc suy giảm diễn ra nhanh hơn dự kiến, và căng thẳng thương mại chưa được giải quyết. Những trở ngại đang diễn ra như trên cần được chủ động quản lý”, ông Andrew Mason, Quyền Chuyên gia kinh tế trưởng của WB tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương phát biểu.

Để đối mặt với rủi ro hiện hữu, báo cáo nêu cụ thể các cách ứng phó cho trước mắt và trong trung hạn. Trước mắt, báo cáo kêu gọi củng cố lại dư địa đã suy giảm, bao gồm khôi phục nguồn dự trữ ngoại hối đã được dùng đến để xử lý biến động tỷ giá năm 2018. Chính sách tiền tệ cũng cần được điều chỉnh để trở nên trung lập hơn khi rủi ro về dòng vốn tháo chạy đã giảm xuống.

Báo cáo còn chỉ ra tầm quan trọng của việc tiếp tục những cải cách cơ cấu trong trung hạn – nhằm nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh, tạo cơ hội tốt hơn cho khu vực tư nhân, và tăng cường nguồn nhân lực của quốc gia.

Một số rủi ro tăng lên cũng cho thấy nhu cầu cần tiếp tục đầu tư cho các chương trình an sinh và bảo hiểm xã hội để phòng vệ cho những người dễ tổn thương nhất, báo cáo cho biết. Ngày nay, phạm vi an sinh xã hội dành cho hai mươi phần trăm dân số nghèo nhất ở các quốc gia đang phát triển ở Đông Á và Thái Bình Dương đang ở mức thấp nhất so với bất kỳ khu vực đang phát triển nào khác.

Báo cáo cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo bền vững nợ ở các quốc đảo Thái Bình Dương thông qua cải thiện về quản lý nợ, chất lượng chi tiêu, và nâng cao dư địa tài khóa. Mặc dù nợ công ở các nước đó vẫn tương đối thấp, nhưng các yếu tố mang tính cấu trúc như triển vọng tăng trưởng kinh tế dài hạn còn khiêm tốn, nguy cơ cao về thiên tai, chi phí cao cho hạ tầng và các dịch vụ sự nghiệp, khiến cho các quốc đảo ở Thái Bình Dương đang gặp rủi ro cao về căng thẳng nợ.

TQ

Trung Quốc trở thành một ‘phép màu kinh tế’ thế giới ra sao?

 

Máy của bạn không hỗ trợ nghe xem

‘Tôi thật tự hào được tham gia duyệt binh’

Trung Quốc mất chưa đầy 70 năm để thoát khỏi sự cô lập và trở thành một trong những cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới.

Trong khi đất nước này đang kỷ niệm ngày thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chúng ta hãy nhìn lại những biến đổi đem lại sự giàu có chưa từng thấy cũng như sự bất bình đẳng sâu sắc ở cường quốc châu Á này.

“Khi Đảng Cộng sản mới bắt đầu lãnh đạo Trung Quốc, nó rất, rất nghèo,” nhà kinh tế trưởng của DBS Chris Leung nói.

“Không có đối tác thương mại, không có mối quan hệ ngoại giao, họ đã dựa vào sự tự lực cánh sinh.”

Trong 40 năm qua, Trung Quốc đã đưa ra một loạt các cải cách thị trường mang tính bước ngoặt để mở ra các tuyến thương mại và dòng vốn đầu tư, cuối cùng đã kéo hàng trăm triệu người thoát khỏi đói nghèo.

 

Những năm 1950 đã chứng kiến ​​một trong những thảm họa lớn nhất của con người trong Thế kỷ 20. Bước Nhảy vọt Vĩ đại là nỗ lực của Mao Trạch Đông nhằm nhanh chóng công nghiệp hóa nền kinh tế nông dân của Trung Quốc, nhưng nó đã thất bại và 10-40 triệu người đã chết trong giai đoạn 1959-1961 – nạn đói thảm khốc nhất trong lịch sử loài người.

Tiếp theo đó là sự gián đoạn kinh tế của Cách mạng Văn hóa trong những năm 1960, một chiến dịch mà Mao phát động để loại bỏ các đối thủ của Đảng Cộng sản, nhưng cuối cùng đã phá hủy phần lớn kết cấu xã hội của đất nước.

‘Công xưởng của thế giới’

Tuy nhiên, sau cái chết của Mao vào năm 1976, những cải cách do Đặng Tiểu Bình khởi xướng đã bắt đầu định hình lại nền kinh tế. Nông dân được cấp quyền canh tác trên mảnh đất riêng của họ, cải thiện mức sống và giảm bớt tình trạng thiếu lương thực.

Cánh cửa được mở ra cho đầu tư nước ngoài khi Mỹ và Trung Quốc thiết lập lại quan hệ ngoại giao vào năm 1979. Háo hức để tận dụng lao động giá rẻ và chi phí thuê thấp, tiền bắt đầu đổ vào.

“Từ cuối những năm 1970 trở đi, chúng ta có thể thấy là phép màu kinh tế ấn tượng nhất của bất kỳ nền kinh tế nào trong lịch sử,” David Mann, nhà kinh tế trưởng toàn cầu tại Standard Chartered Bank nói.

Qua những năm 1990, Trung Quốc bắt đầu tăng tốc độ tăng trưởng nhanh chóng và việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2001 đã tạo cho nó một cú hích khác. Rào cản thương mại và thuế quan với các nước khác đã được hạ xuống và chẳng mấy chốc hàng hóa Trung Quốc có mặt ở khắp mọi nơi.

“Nó trở thành công xưởng của thế giới,” ông Mann nói.

 

Lấy những số liệu này từ Trường Kinh tế London: năm 1978, xuất khẩu là 10 tỷ đôla, chưa đến 1% thương mại thế giới.

Đến năm 1985, họ đạt 25 tỷ đôla và chưa đầy hai thập kỷ sau xuất khẩu đã trị giá 4,3 triệu đôla, biến Trung Quốc trở thành quốc gia xuất khẩu thương mại lớn nhất thế giới.

Tỷ lệ nghèo đói giảm

Các cải cách kinh tế đã cải thiện vận may của hàng trăm triệu người dân Trung Quốc.

Ngân hàng Thế giới cho biết hơn 850 triệu người đã thoát nghèo và đất nước đang trên đà xóa đói giảm nghèo tuyệt đối vào năm 2020.

Đồng thời, tỷ lệ giáo dục đã tăng vọt. Standard Chartered dự báo đến 2030, khoảng 27% lực lượng lao động của Trung Quốc sẽ có trình độ đại học – tương đương với Đức ngày nay.

 

Bất bình đẳng gia tăng

Tuy nhiên, thành quả của thành công kinh tế vẫn chưa trải đều trên dân số 1,3 tỷ người của Trung Quốc.

Những ví dụ về sự giàu có vượt bậc và tầng lớp trung lưu đang gia tăng xuất hiện bên cạnh các cộng đồng nông thôn nghèo và lực lượng lao động đang già đi, có tay nghề thấp. Bất bình đẳng ngày càng sâu sắc, phần lớn dọc theo sự phân chia giữa nông thôn và thành thị.

“Toàn bộ nền kinh tế chưa tiến bộ, có sự khác biệt lớn giữa các khu vực khác nhau,” ông Mann nói.

Ngân hàng Thế giới cho biết thu nhập trung bình đầu người Trung Quốc vẫn ở mức của một quốc gia đang phát triển và chưa bằng một phần tư mức trung bình của các nền kinh tế tiên tiến.

Thu nhập trung bình hàng năm của Trung Quốc là gần 10.000 đôla, theo DBS, so với khoảng 62.000 đôla ở Mỹ.

 

Tăng trưởng chậm lại

Bây giờ, Trung Quốc đang chuyển sang thời kỳ tăng trưởng chậm.

Trong nhiều năm, nước này đã thúc đẩy sự phụ thuộc vào xuất khẩu và hướng tới tăng trưởng do tiêu dùng. Những thách thức mới đã xuất hiện bao gồm nhu cầu toàn cầu trở nên ít hơn đối với hàng hóa Trung Quốc và cuộc chiến thương mại kéo dài với Mỹ. Áp lực của sự thay đổi nhân khẩu học và dân số già cũng làm mờ đi triển vọng kinh tế của đất nước.

Dù vậy, ngay cả khi tốc độ tăng trưởng ở Trung Quốc giảm xuống giữa 5% và 6%, quốc gia này vẫn sẽ là động cơ mạnh mẽ nhất đối với sự tăng trưởng kinh tế thế giới.

“Với tốc độ đó, Trung Quốc vẫn chiếm 35% tăng trưởng toàn cầu, là đóng góp lớn nhất của bất kỳ quốc gia nào, quan trọng gấp ba lần đối với tăng trưởng toàn cầu so với Mỹ,” ông Mann nói.

Tiên phong mới về kinh tế

Trung Quốc cũng đang mở ra một mặt trận mới trong phát triển kinh tế toàn cầu. Chương tiếp theo của đất nước trong việc xây dựng quốc gia là thông qua một làn sóng tài trợ các dự án cơ sở hạ tầng toàn cầu khổng lồ, Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường.

Cái gọi là Con đường tơ lụa mới nhằm kết nối gần một nửa dân số thế giới và một phần năm GDP toàn cầu, thiết lập các liên kết thương mại và đầu tư trải dài trên toàn thế giới.

 

Cái gọi là Con đường tơ lụa mới hướng đến việc kết nối gần một nửa dân số thế giới và một phần năm GDP toàn cầu, thiết lập các liên kết thương mại và đầu tư trải dài trên toàn thế giới.

Các nước đang phát triển mất thêm hàng chục tỷ đô do biến đổi khí hậu