Nguyên tố vi lượng là gì 344

Mục lục

Vai trò của khoáng chất đối với trẻ em – Bệnh Viện Nhi Trung Ương

 

 

 

Cập nhật: 30/07/2013 – 11:17 am

 

I.KHOÁNG CHẤT LÀ GÌ? Khoáng chất là các chất vô cơ, chuyển hóa thành thực phẩm qua quá trình tích hợp vào đất và thực vật, động vật. Chúng ta hấp thu các loại khoáng chất bằng cách ăn các loại đó. Có hơn 20 loại khoáng chất cần cho cơ thể trẻ em. 1.Phân […]

I.KHOÁNG CHẤT LÀ GÌ?

Khoáng chất là các chất vô cơ, chuyển hóa thành thực phẩm qua quá trình tích hợp vào đất và thực vật, động vật. Chúng ta hấp thu các loại khoáng chất bằng cách ăn các loại đó. Có hơn 20 loại khoáng chất cần cho cơ thể trẻ em.

1.Phân loại:

Về phương diện dinh dưỡng, khoáng chất được chia ra làm hai nhóm, căn cứ theo nhu cầu của cơ thể:

– Vĩ khoáng (macromineral) hay khoáng chất đa lượng đó là: Calci, phospho, sulfur, magnesium và ba chất điện phân natri, chlor và kali.

– Vi khoáng (microminerals) hay khoáng chất vi lượng như là: Sắt, đồng, bạc, kẽm, crôm, magan, selen, cobalt, fluor, silic, molybden, boron…

2.Vai trò của khoáng chất

–       Cần cho sự tăng trưởng và sự vững chắc của xương;

–       Điều hòa hệ thống tim mạch, tiêu hóa và các phản ứng hóa học;

–       Để làm chất xúc tác chế biến diếu tố ( enzyme);

–       Là thành phần của chất đạm, chất béo trong các mô, tế bào;

–       Có tác dụng phối hợp với các sinh tố, kích thích tố trong các chức năng của cơ thể;

–       Giữ thăng bằng các thể dịch lỏng trong cơ thể.

Trong thực tế, cơ thể không cần khoáng chất dưới dạng thực phẩm phụ và cũng không cần khoáng chất với liều lượng quá lớn (megadose). Sự tác động qua lại trong cơ thể của khoáng chất, sinh tố, các chất dinh dưỡng và nhiều chất khác, rất là phức tạp. Cho nên một lượng lớn của bất cứ một thành phần nào cũng đều gây ra sự mất cân bằng và cản trở hấp thụ bình thường các chất dinh dưỡng.

3.Hậu quả thiếu khoáng chất

–       Gia tăng khả năng mắc các bệnh cảm cúm, nhiễm trùng của trẻ

–       Trầm cảm, lo âu

–       tăng trưởng hoặc xương yếu

–       Đau nhức bắp thịt, khớp xương

–       Rối loạn tiêu hóa như ợ chua, táo bón, buồn nôn.

II. CÁC LOẠI KHOÁNG CHẤT:

1.Sắt

·         Sắt giúp cơ thể bé có được hệ miễn dịch khỏe mạnh. Ngoài ra, sắt còn có chức năng hình thành hồng cầu và khiến hồng cầu có màu đỏ. Sắt đảm nhiệm vai trò trong việc phát triển thể chất, trí não và tinh thần cho trẻ nhỏ.

·         Vì sao bé cần:Sắt quan trọng cho sự phát triển của não bộ – nghiên cứu cho thấy sự thiếu hụt khoáng chất này có thể dẫn đến khiếm khuyết trong tư duy và vận động của trẻ.

·         Các bé sơ sinh khi ra đời đều có một nguồn dự trữ sắt dồi dào, thường đủ cho nhu cầu của bé trong 4-6 tháng đầu đời. Tuy nhiên, các bé sinh non có thể thiết hụt một phần hoặc toàn bộ dự trữ sắt quan trọng được tích lũy trong tam cá nguyệt thứ ba của thai kỳ. Điều này, cùng với việc nhịp tăng trưởng có thể làm cạn kiệt nguồn sắt dự trữ của bé sinh non chỉ trong 2-3 tháng.

·         Liều lượng hàng ngày: Sữa công thức đã chứa lượng sắt cần thiết cho nhu cầu của bé trong năm đầu đời, nhưng sữa mẹ thì không được bổ sung khoáng chất này, đó là lý do vì sao phụ huynh cần cho bé làm quen với thực phẩm giàu sắt sớm trong nửa sau của năm đầu đời, khi bé bắt đầu ăn dặm . Từ 7-12 tháng tuổi, bé cần 11mg nguyên tố sắt mỗi ngày, và từ 1-3 tuổi, liều lượng giảm còn 7mg/ngày.

·         Cung cấp cho bé:Sau 6 tháng tuổi, bạn có thể chọn bột ngũ cốc tăng cường dinh dưỡng để làm thức ăn dặm đầu tiên cho bé, với 2 khẩu phần mỗi ngày (mỗi khẩu phần khoảng 15g) để cung cấp 11mg sắt.

·         Nguồn sắt trong loại thực phẩm: Thịt và cá là các nguồn cung cấp sắt tự nhiên, bạn có thể cho bé ăn thêm thịt bò, gà và cá. Một số nguồn cung cấp sắt khác gồm có: quả bơ, khoai tây, bông cải xanh, trứng, đậu nành và rau bó xôi, trứng, cá, thịt bò, gan, các loại rau xanh đậm là nguồn cung cấp sắt dồi dào cho trẻ.

 

              "/

Số lượng sắt trong thực phẩm

 

 

 

2. Acid folic:

·         Axit folic giữ vai trò hình thành tế bào hồng cầu và giúp đảm bảo một hệ thần kinh khỏe mạnh cho trẻ.

·         Do đó, cho con ăn thực phẩm cho chứa acid folic có thể giúp bé thông minh, tránh những nguy cơ dị tật ống thần kinh và bệnh tự kỉ.

·         Mẹ có thể tìm nguồn axit folic cho con trong loại thực phẩm: Các loại rau xanh đậm, súp lơ, các loại đỗ, ngũ cốc, cam, bơ, cà chua đều chứa hàm lượng acid folic cao.

 

3. Chất béo:

·         Chất thuộc nhóm chất dinh dưỡng chính và đóng vai trò thiết yếu với cơ thể, là nguồn năng lượng quan trọng đối với sự phát triển của trẻ, đặc biệt là với sự phát triển của não bộ và thị giác.

·         bổ sung các loại dầu thực vật, mỡ động vật sạch trong khẩu phần ăn của trẻ để đảm bảo lượng chất béo cần thiết.

4.Choline:

·         Choline là một trong các chất dinh dưỡng thiết yếu giúp não bộ của trẻ phát triển bình thường. Ngoài ra, choline còn giúp thúc đẩy quá trình trao đổi chất béo trong cơ thể, bảo đảm chức năng vận động cơ và khả năng ghi nhớ của trẻ.

·         Muốn trẻ học tốt nhớ lâu đừng quên bổ sung Choline

·         Cung cấp cho trẻ choline thông qua các thực phẩm như sữa, trứng, gan, lạc.

5. Canxi:

·         Canxi giúp bé đạt được tỉ trọng xương tối ưu, cần thiết để tạo xương chắc khỏe và ngăn ngừa gãy xương khi bé leo trèo hoặc chơi thể thao.

·         Liều lượng hàng ngày: Sữa mẹ và sữa công thức cung cấp đủ can-xi cho bé trong năm đầu đời. Khi bạn chuyển sang cho bé dùng sữa bò nguyên chất, bé cần cung cấp đủ 500mg can-xi mỗi ngày.

·         Giúp bé quen với mùi vị các chế phẩm sữa ít béo sẽ có ích cho bé khi bước vào tuổi dậy thì cần lượng can-xi vượt trội (1300mg/ngày khi bé 9 tuổi), vì can-xi được hấp thụ tốt nhất từ thực phẩm. Các bé thừa cân và có nguy cơ béo phì, hoặc gia đình có tiền sử mắc tim mạch sớm có thể dùng sữa giảm béo từ 12-24 tháng tuổi.

 

 "/

Số lượng Canxi có trong thực phẩm

6.Kẽm:

·         Ngoài tác dụng tích cực đối với khả năng nhận thức và phát triển, vai trò chính của kẽm là duy trì chức năng miễn dịch và đảm bảo sự tăng trưởng tối ưu và sửa chữa các tế bào. Thiếu hụt kẽm liên quan đến suy giảm tăng trưởng, tăng khả năng nhiễm trùng và nguy cơ tiêu chảy.

·         Sữa công thức cung cấp đủ nhu cầu kẽm của bé, nhưng sữa mẹ thì không, vì vậy điều quan trọng là cần cho bé ăn các thực phẩm giảu kẽm trong nửa sau của năm đầu đời. Trẻ từ 7 tháng tuổi đến 3 tuổi cần 3mg kẽm mỗi ngày.

·         Mỗi 50g thịt thăn heo chứa khoảng 2mg kẽm, mỗi 250g sữa chua chứa 1.6mg kẽm, và nửa cái ức gà chứa 1mg kẽm. Các nguồn thực phẩm chứa kẽm khác gồm: thịt bò, cá, trứng, sữa tươi nguyên chất, phô-mai cheddar, gia cầm và cá, vì vậy nếu bạn cho bé ăn đủ chất sắt, khả năng là bé cũng được cung cấp đủ kẽm.

 

"/

 

Người viết bài : Phạm Thị Yến – Khoa Dinh Dưỡng Tiết Chế

 

Kẽm – Nguyên tố vi lượng không thể thiếu cho cơ thể

 

Kẽm là một yếu tố vi lượng quan trọng, nó chịu trách nhiệm trong hoạt động của gen chứa thông tin ở các tế bào, kẽm nằm chủ yếu trong cơ, xương, tóc, mắt…

Kẽm 1

Kẽm là gì?

Kẽm là một yếu tố vi lượng quan trọng, nó chịu trách nhiệm trong hoạt động của gen chứa thông tin ở các tế bào của chúng ta. Thiếu kẽm xảy ra nhiều hơn so với thiếu sắt cho đến bây giờ kẽm vẫn là một yếu tố vi lượng mà vị trí của nó bị đánh giá thấp hơn sự thật.

Kẽm có trong tất cả loài vật sống. Cơ thể người lớn chứa trung bình từ 2 đến 3g. Tầm quan trọng của nó cũng như sắt, hơn một nửa kẽm nằm trong cơ, một phần ba trong xương. Đặc biệt một vài mô có hàm lượng kẽm tăng cao : tuyến tiền liệt, tóc, mắt.

Vai trò của kẽm ?

Hơn 200 phản ứng sinh hóa được xác định có lệ thuộc vào kẽm. Do đó kẽm can thiệp vào nhiều chuyển hóa, chuyển hóa glucid, protein và acid nucleic. Một trong những vai trò rõ nhất của nó là chứa chương trình gen trong acid nucleic. Thực vậy, kẽm rất cần thiết cho quá trình tổng hợp của gen, cho sự sao chép ADN có sẵn để tế bào nhân lên. Thiếu kẽm sẽ ảnh hưởng lên tất cả những gì có liên quan đến hoạt động nhân đôi của tế bào, sinh sản, tăng trưởng, liền sẹo, tính miễn dịch.

Kẽm còn can thiệp vào khả năng thể hiện của gen và quá trình tổng hợp của protein, cũng như trong chuyển hóa của acid béo không no tạo ra màng tế bào. Xuất phát từ đây, các chất trung gian chủ yếu đi đến trương lực mạch máu, hoạt tính của tiểu cầu máu và bạch cầu.

Kẽm cần thiết cho cấu tạo thành phần hoạt động của hormon sinh dục nam, testosteron, và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp, cấu trúc, bài tiết nhiều hormon khác: Insulin, hormon tăng trưởng, NGF (yếu tố tăng trưởng của dây thần kinh), thymulin, gestin…

Nó cũng tác động đến những bộ phận thụ cảm có khả năng giải mã thông tin được lưu hành bởi một vài hormon hay vitamin, giống như vitamin A. Những công trình gần đây còn cho thấy vai trò quan trọng của kẽm trong cấu trúc và hoạt động của tác nhân cơ bản trong việc ngăn ngừa ung thư, protein 53, cũng như ngăn chặn sự sinh sản của các tế bào bất thường, các tế bào mà ADN của chúng bị hư hỏng bởi những gốc tự do và chất ô nhiễm.

Đặc biệt, ngoài đặc tính can thiệp vào cấu trúc và hoạt hóa coenzym của nhiều phân tử, kẽm cũng như magesi, calci, natri và kali còn tham gia vào hoạt động và sức khỏe của cơ thể. Nó được thu hút bởi nhóm thiols hay gốc lưu huỳnh của các acid amin, và bảo vệ, chúng chống lại sự tấn công của các gốc tự do. Kẽm là một chất bảo vệ chống ôxy hóa. Nó chống lại các tác dụng của một vài chất độc, kim loại nặng như cadimi và các chất ô nhiễm khác.

Thức ăn nào cung cấp kẽm?

Kẽm được tìm thấy trong thịt, cá, thức ăn biển nguồn giàu nhất là con hàu. Ngũ cốc, rau khô và hạt có dầu cũng chứa kẽm, nhưng như sắt, nó khó được hấp thu từ thực vật. Sợi có trong bắp hạt, mầm đậu nành chống lại khả năng hấp thu của kẽm.

Nguồn tự nhiên của kẽm: Hàu, Gan, Sò, Thịt đỏ, Trứng

Sắt cũng là một chất ức chế mạnh khả năng hấp thu của kẽm. Không nên trộn lẫn kẽm và sắt để bổ sung.

Aspirin ức chế khả năng hấp thu sắt ở mức độ ít hơn so với kẽm. Rượu đỏ dường như cải thiện khả năng hấp thu.

Nhu cầu hàng ngày về kẽm là bao nhiêu?

Trẻ còn bú: 6 mg/ ngày

Trẻ từ 1 đến 9 tuổi: 10 mg/ ngày

Trẻ từ 10 đến 12 tuổi: 12 mg/ ngày

Thanh niên từ 13 đến 19 (nam):15 mg/ ngày

Thanh niên từ 13 đến 19 (nữ): 12 mg/ ngày

Người lớn nam:15 mg/ ngày

Người lớn nữ :12 mg/ ngày

Phụ nữ có thai:15 mg/ ngày

Phụ nữ cho con bú: 19 mg/ ngày

Người già:12 mg/ ngày

Thiếu kẽm biểu hiện triệu chứng như thế nào?

–  Móng dễ gãy, hoặc chậm mọc và có những vết trắng. Da khô (biến đổi chuyển hóa acid béo) là một dấu hiệu gián tiếp. Những dấu hiệu bên ngoài thường được biểu hiện là gia tăng tính tổn thương với nhiễm trùng, ở trẻ em thì chậm phát triển, đàn ông giảm khả năng sinh sản, ở phụ nữ có thai gia tăng biến chứng của thai nghén.

– Phụ nữ có thai, thiếu kẽm có nguy cơ sinh non tăng gấp 3 lần. Sắt được cung cấp một cách hệ thống trong lúc có thai sẽ ngăn cản sự hấp thu kẽm và có thể làm mức độ thiếu kẽm nặng thêm. Ngoài ra, bổ sung kẽm còn làm giảm nguy cơ biến chứng lúc đẻ.

– Những dấu hiệu thiếu kẽm khác là: giảm sự ngon miệng, giảm vị giác, chậm liền sẹo, chậm mọc tóc và móng, hay dễ rụng tóc.

Những ai dễ bị thiếu kẽm?

Trong quần thể người lành, 80% trẻ em và người lớn không nhận đủ từ thực phẩm hàng ngày nhu cầu của cơ thể. Tại Pháp, gần toàn bộ phụ nữ trong tuổi sinh đẻ bị thiếu kẽm, hơn 70% trong số họ không nhận được 2/3 nhu cầu đề nghị.

Kẽm không chỉ giữ vai trò quan trọng trong hoạt động phần lớn các cơ quan và mô, mà nó còn có tầm quan trọng ở phụ nữ khi có thai, đặc biệt ảnh hưởng đến bà mẹ và trẻ em. Người ăn chay có nhu cầu cung cấp k ẽm thấp hơn những người khác, người già hấp thu kẽm kém

Trẻ em đang phát triển, phụ nữ có thai hay cho con bú, người bị phẫu thuật, bị chấn thương, bị đái tháo đường, uống rượu nhiều, người dùng sắt hay aspirin. Có nhu cầu tăng cao, đơn giản ở đàn ông sẽ mất 1mg kẽm cho một lần phóng tinh.

Người hút thuốc, tiếp xúc với cadimi, cũng có nhu cầu tăng lên. Người ta phát hiện rằng thiếu kẽm thường xảy ra ở người chán ăn, bao gồm tinh thần, những bệnh nhân bị bệnh crohn, và phần lớn các bệnh đường ruột khác, sẽ đưa đến các rối loạn hấp thu, vảy nến, loét, bỏng.

Trường hợp nào nên dùng kẽm?

Kẽm được kê trong những tình huống thiếu, có những dấu hiệu xuất hiện như chậm mọc hay rụng lông tóc, móng chậm phát triển ở trẻ em, giảm khả năng sinh sản ở đàn ông. Người ta có thể phát hiện ra thiếu trước khi xuất hiện các rối loạn này, bằng cách định lượng trong máu.

Kẽm được cho với liều cao hơn liều điều chỉnh trong trường hợp bị mụn trứng cá, chán ăn tâm lý, loét tiêu hóa, herpes…

Từ thời Ai Cập cổ kẽm được đưa vào bằng đường bên ngoài để kích thích sự tạo sẹo.

Cuối cùng kẽm được dùng với liều thấp trong phương pháp điều trị vi lượng hay phép vi lượng đồng căn, thường được dùng kèm với các yếu tố khác.

Dùng kẽm thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?

Người ta khuyên rằng không dùng kẽm khi bị nhiễm trùng, vì vi khuẩn có thể lợi dụng kẽm (cũng như sắt) làm tác nhân tăng trưởng khi hệ thống miễn dịch của cơ thể sử dụng đến nó. Ngược lại, kẽm có xu hướng tạo hoạt động chống virus bằng cách hiệp đồng với acid béo không no và các chất chống ôxy hóa.

Liều quá cao, trên 150mg/ngày có thể gây ức chế miễn dịch, thay vì kích thích miễn dịch. Liều cao kẽm kéo dài sẽ tạo điều kiện thiếu đồng.

Phần lớn muối kẽm khó hấp thu và khó được dung nạp. Nó còn gây buồn nôn. Một vài muối, giống như citrat kẽm không có những tác dụng phụ này.

Viên sủi ZINKC với thành phần kết hợp độc đáo giữa kẽm và vitamin C giúp bổ sung lượng kẽm cần thiết cho cơ thể.

Chất dinh dưỡng và vai trò sinh lý với cây trồng

 

I. CHẤT DINH DƯỠNG CÂY TRỒNG

Gần như toàn bộ các nguyên tố hóa học có trong đất đều có mặt trong cây. Mỗi nguyên tố, hay một nhóm nguyên tố đều đảm nhiệm một chức năng nào đó trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây. Có nguyên tố tham gia trực tiếp thành phần cấu tạo của tế bào mô cây và có nguyên tố lại trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của cây hoặc tác động đến các enzym, các chất điều hoà sinh trưởng hoặc là thành phần cấu tạo nên các chất đó. Các nguyên tố đó gọi là chất dinh dưỡng cây trồng và được phân làm hai nhóm: nhóm các chất dinh dưỡng thiết yếu và nhóm các chất dinh dưỡng có lợi.

* Chất dinh dưỡng thiết yếu : là chất mà cây trồng nhất thiết phải được cung cấp đầy đủ và nếu thiếu cây trồng sẽ không hoàn thành được chu kỳ sống, hoặc bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây.

Chất dinh dưỡng thiết yếu bao gồm 16 nguyên tố: các bon (C), hydro (H), oxy (O), đạm (N), lân (P), kali (K), canxi (Ca), magiê (Mg), lưu huỳnh (S), săt (Fe), kẽm (Zn), đồng (Cu), măngan (Mn), bo (B), molypden (Mo), clo (Cl). Những chất này tham gia vào thành phần cấu tạo các chất hữu cơ chủ yếu trong cây, hoặc xúc tác cần thiết cho sự tổng hợp vật chất và các quá trình sinh lý trong cây.

Cacbon (C), hydro (H), oxy (O) tham gia thành phần cấu tạo hầu hết các chất hữu cơ, đạm (N) là thành phần chính của protein ; lân (P) là thành phần chính của ATP, ADP, NADP là những chất cung cấp năng lượng chủ đạo cho các phản ứng sinh hóa trong cây ; lưu huỳnh (S) có trong thành phần cấu tạo của một số axít amin cần thiết ; sắt (Fe) ; magiê (Mg) có trong thành phần của chất diệp lục (chất đã giúp sự sống trên hành tinh phát triển), đồng (Cu), kẽm (Zn) … có trong thành phần của các enzym, các chất điều hòa sinh trưởng… Tùy theo nhu cầu của cây và mức độ hạn chế của mỗi nguyên tố đến sinh trưởng phát triển của cây mà đã được phân thành các nhóm dinh dưỡng gọi là đa, trung và vi lượng.

* Chất dinh dưỡng có lợi: là chất mà nếu không có cây vẫn có thể sinh trưởng phát triển một cách bình thường, nhưng nếu được bổ sung thêm sẽ làm cây sinh trưởng phát triển thuận lợi hơn, tốt hơn và đem lại giá trị cao hơn cho từng nhóm nông sản. Thông thường, những chất này cây cần với lượng rất ít và có thể gọi là nhóm siêu vi lượng.

Chất siêu vi lượng gồm: cô ban (Co), natri (Na), nhôm (Al), niken (Ni), vanadi (V) … và các nguyên tố đất hiếm (lanthanum, cerium, praseodymium, samarium, europium, gadolinium, terbium, dysprosium, thulium…).

Những vùng cây đặc sản như: tiêu Phú Quốc, tỏi Lý Sơn, bưởi Đoan Hùng, bưởi Phúc Trạch, bưởi Diễn, cam Cao Phong, cam Vĩnh Tuy, quýt Lai Vung, vú sữa Vĩnh Kim, xoài cát Hòa Lộc, nhãn lồng Hưng Yên, vải Thanh Hà, … được hình thành là nhờ sự khác biệt về các chất siêu vi lượng trong đất và sự tương tác của chúng với mỗi loại cây trồng.

II. VAI TRÒ CHẤT DINH DƯỠNG THIẾT YẾU CỦA CÂY TRỒNG

1. Vai trò của đạm (N)

Đạm là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với dinh dưỡng cây trồng, là thành phần cơ bản của protein (không có protein, không có sự sống). Đạm có mặt trong thành phần của các men, chất xúc tác sinh học hoạt tính cao và đạm cũng là thành phần chính của chất diệp lục, nơi thực hiện các phản ứng quang hợp. Đạm thúc đẩy sự nẩy chồi, ra lá, sự phát triển của quả, tăng lượng sinh khối… Do vậy, đạm được xem là yếu tố ảnh hưởng chính, quyết định đến năng suất và chất lượng nông sản. Thời kỳ đầu cây cần đạm để phát triển rễ, thân, chồi, búp, lá còn thời kỳ sau cây cần đạm để tạo nên các chất tích lũy trong quả, trong hạt và lượng đạm cây tích lũy được ở giai đoạn đầu có thể chuyển hóa để sử dụng cho giai đoạn sau một phần. Do vậy, thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng cây thường có nhu cầu đạm cao.

Cây hút đạm từ đất chủ yếu dưới dạng nitrat (NO3-) và amôn (NH4+), ngoài ra cây cũng có thể hút một lượng nhỏ đạm hữu cơ dễ thủy phân, phân tử lượng nhỏ. Vì vậy, trong phân bón nếu tồn tại cả 2 gốc đạm thì việc hấp thu và đồng hóa đạm của cây sẽ được thuận lợi hơn.

Được bón đủ đạm lá cây có màu xanh tươi, sinh trưởng khỏe mạnh, chồi búp phát triển nhanh, cành quả phát triển nhiều, lúa đẻ nhánh khỏe.

Bón thừa đạm, tỷ lệ nước trong thân lá cao, thân lá vươn dài, mềm yếu, rợp bóng ảnh hưởng đến quang hợp (lúa dễ bị lốp đổ). Bón thừa đạm làm cho đạm hữu cơ hòa tan (amin, amit) trong cây nhiều, cây dễ mắc bệnh. Bón thừa đạm tỷ lệ diệp lục trong lá cao, lá có màu xanh tối hấp dẫn côn trùng nên thường bị sâu phá hoại mạnh. Bón thừa đạm quá trình sinh trưởng sinh dưỡng (phát triển thân lá) kéo dài, quá trình sinh trưởng sinh thực (hình thành hoa, quả, hạt) bị chậm lại. Bón thừa đạm làm hàm lượng đạm (NO3-) trong nông sản dễ vượt quá ngưỡng cho phép, rau có vị nhạt, thậm chí đắng, tỷ lệ nước trong nông sản cao khó bảo quản, mẫu mã xấu, giá trị sinh học thấp làm thấp đi giá trị nông sản.

Trong cây đạm rất linh động, khi bị thiếu đạm có thể chuyển từ lá già về nuôi các lá non nên lá già bị rụng sớm. Do vậy, triệu chứng thiếu đạm thường biểu hiện ở các lá già trước.

Biểu hiện khi thiếu đạm (N) điển hình

Thiếu đạm, cây sinh trưởng còi cọc, rễ ít phát triển, chồi búp bị thui chột (cây chè phát sinh búp mù nhiều), lá non nhỏ, các lá già xuất hiện màu xanh sáng đến vàng nhạt vị trí bắt đầu từ đỉnh lá xuống cuống lá và từ gân lá lan dần ra mép lá, tiếp đó các lá già bị chết rồi rụng tùy theo mức độ thiếu. Thiếu trầm trọng tỷ lệ ra hoa bị giảm nhiều, khó đậu quả, quả nhỏ, hàm lượng protein thấp, chất lượng nông sản giảm. Cây thiếu đạm buộc phải hoàn thành chu kì sống nhanh, thời gian tích lũy ngắn dẫn đến năng suất và chất lượng thấp.

Biểu hiện thiếu đạm: 1- trên cây bắp cải; 2- trên cây đậu tương; 3- trên cây cam; 4-trên cây lúa; 5-trên cây ngô; 6- trên cây cà phê

Biểu hiện thiếu đạm: 1- trên cây bắp cải; 2- trên cây đậu tương; 3- trên cây cam; 4-trên cây lúa; 5-trên cây ngô; 6- trên cây cà phê

2. Vai trò của lân (P)

Lân trong cây tồn tại chủ yếu ở dạng các hợp chất hữu cơ đóng vai trò quan trọng và là trung tâm trong quá trình trao đổi năng lượng của cây. Lân là thành phần chính của các men và các hợp chất cao năng (ATP, ADP, NADP …), cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của cây và chi phối việc vận chuyển H+ trong quá trình khử NO3- thành NH4+,  thúc đẩy việc tổng hợp chất béo và protein trong cây. Cây bộ đậu, cây lấy dầu cần được cung cấp đủ lân “không lân, không vôi thì thôi trồng lạc” là tổng kết của nông dân ta về vai trò của lân đối với cây bộ đậu và cây lấy dầu.

Lân cần cho sự phân chia tế bào, sự phát triển của mô phân sinh, thúc đẩy việc ra rễ, sự hình thành mầm hoa và phát triển quả non. Do vậy, lân đặc biệt quan trọng trong thời gian sinh trưởng đầu (trong qui trình bón phân, lân thường được bón lót nhiều) và người ta cũng xem lân là yếu tố kích thích quá trình chín.

Quá trình dinh dưỡng lân liên quan mật thiết đến quá trình dinh dưỡng đạm. Do vậy, cây được bón cân đối đạm – lân sẽ phát triển xanh tốt, khỏe mạnh (ít sâu bệnh), nhiều hoa, sai quả và phẩm chất nông sản tốt.

Cũng như đạm, trong các cơ quan non đang phát triển luôn có tỷ lệ lân cao. Lân có thể được vận chuyển từ các lá già về các cơ quan non, cơ quan đang phát triển để dùng vào việc tổng hợp chất hữu cơ mới. Do vậy, triệu chứng thiếu lân cũng xuất hiện ở các lá già trước.

Biểu hiện khi thiếu lân (P) điển hình

Thiếu lân ảnh hưởng đến quá trình tích trữ năng lượng của cây, cây phát triển còi cọc, rễ cây kém phát triển, lá non mỏng, lá già thu hẹp, ngắn, cứng, không có độ bóng sáng, xỉn màu, nhiều cây lá có màu tím, huyết dụ, thân thon mảnh, chồi non kém phát triển, quá trình đẻ nhánh và phân cành kém, hoa quả ít, quả thường chậm chín và không có hạt, vỏ quả dày và xốp, dễ hư, khó bảo quản. Thiếu lân vừa phải các lá non có vẻ bình thường song các lá già hơn chuyển sang màu nâu rồi chết.

Nếu dư rất khó phát hiện, tuy nhiên dễ  làm cho cây thiếu kẽm (Zn), thiếu sắt (Fe) và thiếu đồng (Cu). Do vậy, các triệu chứng thiếu Zn, Fe, Cu đôi khi cũng cần phải xem xét đến yếu tố lân.

Biểu hiện thiếu lân: 1- trên cây lúa; 2- trên quả cam; 3- trên lá cây ngô; 4- trên cây hòa thảo; 5- trên cà phê 6- so với đủ lân lúa thiếu lân trầm trọng không thể đẻ nhánh và trổ bông

Biểu hiện thiếu lân: 1- trên cây lúa; 2- trên quả cam; 3- trên lá cây ngô; 4- trên cây hòa thảo; 5- trên cà phê; 6- so với đủ lân lúa thiếu lân trầm trọng không thể đẻ nhánh và trổ bông

3. Vai trò của kali (K)

Khác với đạm và lân, kali trong cây không nằm trong thành phần cấu tạo của bất kỳ hợp chất hữu cơ nào, mà nằm chủ yếu dưới dạng ion trong dịch bào. Kali xúc tiến quá trình quang hợp, tổng hợp hydrat cacbon và gluxit của cây, tạo đường và tinh bột nhờ tăng cường sự vận chuyển các sản phẩm quang hợp về các cơ quan dự trữ. Do vậy, khi cây được cung cấp đủ kali quá trình quang hợp được diễn ra liên tục, hiệu suất quang hợp tăng cao. Thiếu kali, tốc độ vẩn chuyển đưởng từ lá xuống thân cây mía giảm. Cây lấy đường, cây lấy củ, lấy quả cần được cung cấp nhiều kali.

Kali còn có vai trò làm tăng áp suất thẩm thấu, giúp tăng khả năng hút nước của bộ rễ và  điều khiển hoạt động đóng mở của khí khổng, khiến cho nước không bị mất quá mức ngay cả trong lúc thời tiết khô hạn. Nhờ vậy, kali được xem là yếu tố tăng cường khả năng chống hạn cho cây.

Kali cũng ảnh hưởng tích cực đến việc trao đổi đạm và tổng hợp protein, thiếu kali  hiện tượng tích lũy thừa đạm trong cây diễn ra: nếu thừa đạm ở dạng hữu cơ hòa tan thì là nguồn thức ăn dồi dào cho nấm và làm cây dễ mắc bệnh, nếu thừa đạm ở dạng NH4+ dễ gây độc cho cây và nếu thừa đạm ở dạng NO3- lại làm giảm chất lượng nông sản. Vì thế, được cung cấp cân đối đạm – kali cây trồng phát triển tươi tốt, ít bệnh và cho phẩm chất nông sản tốt.

Bón đủ kali các bó mạch, mô chống đỡ phát triển đầy đủ khiến cho cây cứng cáp, cây ngũ cốc đỡ bị đổ ngả, cây lấy sợi được cung cấp đủ kali chất lượng sợi được bảo đảm.

Biểu hiện khi thiếu kali (K) điển hình

Khi thiếu: cây phát triển chậm và còi cọc, thân yếu, cây dễ bị đổ, mép lá bị khô, đỉnh lá già bị sém nâu sau đó các triệu chứng này phát triển dần vào phía trong và nếu thiếu nặng phần lớn lá bị cháy và rụng đi (cây lâu năm: cà phê, cam..). Thiếu kali làm tăng tỷ lệ hạt lép với nhóm cây lấy hạt – cây ăn trái quả nhỏ, qủa dễ bị nứt, vỏ quả dày và dễ bị rỗng ruột. Cây lúa thiếu kali lá có màu lục tối trong khi mép lá có màu nâu hơi vàng. Thiếu kali nghiêm trọng trên đỉnh lá có vết hoại tử màu nâu tối trong khi các lá già phía dưới thường có vết bệnh tiêm lửa. Ngô thiếu kali lá bị mềm đi, uốn cong, gợn sóng và có màu vàng sáng hoặc hơi nâu xuất hiện bắt đầu từ đỉnh lá lan xuống phía dưới và lan từ mép lá vào trong gân lá. Khoai tây thiếu kali lá quăn xuống, quanh gân lá có màu xanh lục, sau đó mép lá chuyển sang màu nâu. Cây có múi, thiếu kali mép lá hoặc cả lá bị quan lại.

Nếu dư: khó nhận biết, tuy nhiên trên cây có múi khi bón kali quá nhiều, quả trở nên sần sùi và ảnh hưởng đến quá trình hút canxi (Ca) của cây.

Thông thường khi nhu cầu kali bị giảm đến trên 50% thì biểu hiện thiếu kali mới thấy xuất hiện trên lá. Do vậy, khi có biểu hiện thiếu kali trên lá thì năng suất đã bị giảm và việc bón kali sau này khó có thể thể bù đắp được.

Biểu hiện thiếu kali: 1- trên quả; 2- trên lá cây khoai tây; 3- trên lá cây đậu tương; 4- trên lá cây ngô, lá cây lúa; 5- trên lá cây bầu bí; 6- trên lá cây có múi; 7- trên cây cà phê

Biểu hiện thiếu kali: 1- trên quả; 2- trên lá cây khoai tây; 3- trên lá cây đậu tương; 4- trên lá cây ngô, lá cây lúa; 5- trên lá cây bầu bí; 6- trên lá cây có múi; 7- trên cây cà phê

4. Vai trò của canxi (Ca)

Canxi ảnh hưởng đến việc hình thành màng tế bao và luôn giữ cho thành tế bào được vững chắc, duy trì cân bằng điện tích (anion-cation) trong tế bào nhờ quá trình kết tủa của canxi và axit pectic tạo thành pectat canxi, thành phần quan trọng trong vách tế bào.

Trong sinh lý dinh dưỡng, Ca2+ đối kháng với nhiều cation khác (Mg2+, K+, Na+, NH4+), nên canxi hạn chế sự xâm nhập quá đáng các cation này vào tế bào. Trong trường hợp thiếu canxi cây dễ bị ngộ độc các nguyên tố vi lượng. Do vậy, canxi được xem là yếu tố chống độc cho cây và thường được sử dụng để khắc phục hiện tượng ngộ độc của cây trồng.

Thiếu Ca2+ chức năng sinh lý của rễ không bình thường, cây không đồng hóa được nitrat (NO3-) và có hiện tượng tích lũy gluxit, đồng thời các quá trình trao đổi chất trong cây bị rối loạn. Lúa thiếu Ca2+ cây mẫn cảm hơn với ngộ độc sắt (A. Dobermann và T. Fairhurst, 2000).

Ngược lại với kali, canxi làm giảm tính thấm nước của màng tế bào và giảm việc hút nước của cây, nhưng lại tăng cường việc thoát hơi nước qua lá. Đất giàu canxi, cây thường dễ bị hạn.

Canxi thường không di chuyển trong cây nên triệu chứng thiếu canxi thường xuất hiện ở các cơ quan dự trữ và quả. Thiếu canxi chồi tận cùng và đầu chóp của rễ ngừng phát triển. Rốn quả cà chua bị đen cũng là do thiếu canxi.

Biểu hiện khi thiếu canxi (Ca) điển hình

Khi thiếu: lá non và ngọn dễ bị cong queo, lá nhỏ và có màu xanh lục sẫm hoặc các vùng vàng nhạt không bình thường, mép lá không đều, vặn vẹo, gợn sóng, mặt sau lá gân nổi cao, các chồi tận cùng (đỉnh sinh trưởng) bị suy thoái, cuống lá có vài vết gãy, rễ bị suy yếu và xuất hiện sự ra rễ mới, chồi hoa thường bị rụng sớm, quả bị thối, nứt, củ dễ bị rỗng ruột, cấu trúc thân mềm yếu.

Không có triệu chứng dư, tuy nhiên khi dư canxi thường gây thiếu: bo (B), sắt (Fe), kẽm (Zn), đồng (Cu)…

Biểu hiện thiếu Canxi: 1- trên lá lúa; 2- trên lá ngô; 3- trên lá cây đậu tương; 4- trên quả cam; 5- trên cây rau diếp; 6- trên cây cà phê; 7- trên quả cà chua

Biểu hiện thiếu Canxi: 1- trên lá lúa; 2- trên lá ngô; 3- trên lá cây đậu tương; 4- trên quả cam; 5- trên cây rau diếp; 6- trên cây cà phê; 7- trên quả cà chua

5. Vai trò của magiê (Mg)

Là thành phần cấu tạo của diệp lục tố, có vai trò quan trọng trong quang hợp và gắn liền với sự chuyển hóa hydratcacbon, tổng hợp axit nucleic. Do vậy, magiê liên quan đến việc đồng hóa CO2 và tổng hợp protein. Magiê cũng tham gia điều chỉnh pH và cân bằng cation nội bào, đồng thời magiê còn có khả năng thúc đẩy việc hấp thụ và vận chuyển lân của cây. Khác với canxi, magiê lại có thể dễ dàng di chuyển từ các lá già đến các lá non, nên triệu chứng thiếu magiê có khuynh hướng xuất hiện ở các lá già trước.

Đối với cây trồng, khi lượng magiê trao đổi trong đất đạt 0,28 – 0,40 lđl/100gam đất, cây trồng không phản ứng với việc bón magiê nữa (Lombin và Fayemi, 1975).

Biểu hiện khi thiếu magiê (Mg) điển hình

Khi thiếu: lá mất màu xanh, úa vàng giữa các gân lá và lan dần từ ngoài mép lá vào trong. Khi thiếu trầm trọng mô bị ảnh hưởng có thể bị khô và chết, lá thường nhỏ, giòn và cong lên ở mép, hoa ra ít, rễ kém phát triển. Ở một số cây lá rộng, các đốm úa vàng giữa các gân lá lại có thể là màu da cam, đỏ và tía. Thiếu magiê cây có cành nhánh yếu, dễ bị nấm tấn công và thường bị rụng lá sớm.

Khi thừa: lá bị đổi dạng thường cuốn theo hình xoắn ốc và rụng.

Biểu hiện thiếu Magiê: 1- trên cây lúa; 2- trên lá cà phê; 3- trên lá cam; 4- trên lá ngô; 5- trên lá tiêu 6- trên lá đậu tương; 7- trên lá nho; 8- trên lá cây bông; 9- trên lá cà chua

Biểu hiện thiếu Magiê: 1- trên cây lúa; 2- trên lá cà phê; 3- trên lá cam; 4- trên lá ngô; 5- trên lá tiêu; 6- trên lá đậu tương; 7- trên lá nho; 8- trên lá cây bông; 9- trên lá cà chua

6. Vai trò của lưu huỳnh (S)

Lưu huỳnh là thành phần của các axit amin quan trọng (xystin, xystein và metionin) và có vai trò tích cực trong việc tổng hợp chất diệp lục cho cây. Trong thành phần protein có lưu huỳnh, nên không thể thiếu lưu huỳnh khi cây tổng hợp protein. Lưu huỳnh cũng có trong thành phần của tiamin và biotin (kích thích tố thực vật) cần cho việc trao đổi hydrat cacbon. Ngoài ra lưu huỳnh cũng tham gia một số phản ứng oxyhóa-khử trong tế bào.

Các cây họ đậu, cây lấy dầu, cây họ thập tự, cây gia vị là những cây có nhu cầu lưu huỳnh cao. Đất cát, đất bạc màu nghèo chất hữu cơ thường nghèo lưu huỳnh. Đất nghèo lưu huỳnh cà phê dễ bị bạc lá (Tôn Nữ Tuấn Nam, 2000).

Biểu hiện khi thiếu lưu huỳnh (S) điển hình

Thiếu lưu huỳnh biểu hiện giống như thiếu đạm: làm giảm chiều cao cây, sinh trưởng còi cọc, ít hoa, lá nhỏ, lá vàng đều và rụng sớm, sinh trưởng của chồi bị hạn chế, chồi ngọn có thể chết, ra hoa thường không rộ, cây chậm trưởng thành, thân cứng, gỗ hóa và đường kính nhỏ. Tuy nhiên, khác với biểu hiện thiếu đạm, biểu hiện thiếu lưu huỳnh xuất hiện từ các lá non trong khi biểu hiện thiếu đạm lại xuất hiện từ các lá già.

Biểu hiện thiếu lưu huỳnh: 1- trên cây đậu tương; 2- trên cây ngô; 3- trên cây cam quýt; 4- trên cây lúa; 5- trên cây cà phê

Biểu hiện thiếu lưu huỳnh: 1- trên cây đậu tương; 2- trên cây ngô; 3- trên cây cam quýt; 4- trên cây lúa; 5- trên cây cà phê

7. Vai trò của các nguyên tố vi lượng

Các nguyên tố vi lượng (Zn, Cu, Fe, Mn, B, Mo) là các nguyên tố về mặt hàm lượng chỉ chiếm từ phần triệu đến phần vạn so với khối lượng khô của cây (cây trồng có nhu cầu bón không nhiều). Song trong hoạt động sống của cây, các nguyên tố này có vai trò xác định không thể thiếu và không thể thay thế bằng các nguyên tố khác được. Thiếu nguyên tố vi lượng cây mắc bệnh và phát triển không bình thường.

Cây thiếu vi lượng là do đất thiếu vi lượng (thiếu tuyệt đối), hoặc do môi trường không thuận lợi cho việc hấp thụ của cây như : bón nhiều vôi, pH tăng làm nhiều nguyên tố vi lượng (Fe, Cu, Zn, B, Mn) bị cố định lại trong đất cây không đồng hóa được, hoặc cây bị thiếu vi lượng còn do đối kháng về mặt dinh dưỡng. Bón nhiều kali quá mức có thể gây hiện tượng thiếu bo và magiê gây nên hiện tượng thối nõn, hoặc hiện tượng nẫu lá (luộc lá) của cây dứa (khóm, thơm)…

7.1. Vai trò của kẽm (Zn)

Kẽm cần cho nhiều chức năng hóa sinh cơ bản trong cây như: tổng hợp xytochrom và nucleotid, protein, tạo diệp lục, hoạt hóa men, duy trì độ bền vững của màng tế bào. Kẽm liên quan mật thiết đến việc hình thành các chất điều hòa sinh trưởng trong cây. Kẽm giúp tăng cường quá trình hấp thu đạm và lân của cây. Trong rễ cây kẽm khá linh động nên có thể di chuyển từ rễ đến các bộ phận đang phát triển khác trong cây. Trong tán lá cây, kẽm lại di chuyển rất ít, đặc biệt là khi cây thiếu đạm. Do vậy, triệu chứng thiếu kẽm thường thấy trên lá non và lá bánh tẻ. Đất liên tục được bón nhiều lân dễ gây hiện tượng thiếu kẽm.

Biểu hiện khi thiếu kẽm (Zn) điển hình

Thiếu kẽm ảnh hưởng đến quá trình sinh hóa của cây, do đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng của cây. Thiếu kẽm kích thước cành lá giảm, lá rễ bị rụng, xuất hiện các đốm nâu hoặc vết vằn màu vàng cam trên lá, chủ yếu xuất hiện trên các lá đã trưởng thành hoàn toàn (lá thứ ba, thứ tư tính từ ngọn cây). Ở cây ngô, thiếu kẽm trên lá xuất hiện một sọc vàng nhạt đến một dải các mô màu trắng, hoặc vàng với các đường màu đỏ tía nằm giữa gân chính và hai mép của lá, xuất hiện chủ yếu ở phần thấp hơn của lá. Ở cây lúa, trên lá xuất hiện một dải theo chiều dọc các mô lá, màu trắng hoặc vàng, tiếp theo là đốm vàng úa giữa các gân lá và các tổn thương hoại tử màu trắng đến nâu ở giữa phiến lá. Ở cây có múi, cây lá rộng, lá úa vàng giữa các gân lá không đều, các lá cuối cùng trở nên nhỏ và hẹp, sự hình thành nụ, hoa và quả bị giảm mạnh, cây có cành bị chết. Biểu hiện thiếu kẽm cũng thường liên quan đến lưu huỳnh.

Biểu hiện thiếu kẽm: 1- trên cây cam; 2- trên cây bông; 3- trên lá lúa; 4- trên cây ngô; 5- trên lá mía

Biểu hiện thiếu kẽm: 1- trên cây cam; 2- trên cây bông; 3- trên lá lúa; 4- trên cây ngô; 5- trên lá mía

7.2. Vai trò của đồng (Cu).

Đồng cần cho việc tổng hợp lignin (đóng góp việc bảo vệ màng tế bào), nên cũng có tác dụng chống đổ cho cây. Đồng xúc tiến việc oxy hóa axit ascorbic (Vitamin C), hoạt hóa các men và là chất xúc tác cho các phản ứng oxyhóa-khử trong cây. Đồng cũng đóng vai trò then chốt trong các quá trình trao đổi đạm, protein và hocmon. Đồng giúp quá trình quang hợp, hô hấp và hình thành hạt phấn, thụ tinh được thuận lợi.

Thiếu đồng lá có biểu hiện héo rũ và đỉnh lá có màu trắng sau đó khô héo và hoại tử, trên thân và cành cây lâu năm xuất hiện hiện tượng chảy gôm, xì mủ tại các vị trí đốt mắt, thiếu đồng vỏ quả dày, bề mặt quả xuất hiện các vùng hoại tử.

Biểu hiện khi thiếu Đồng (Cu) điển hình

Trên đất than bùn, đất lầy thụt hiện tượng thiếu đồng dễ xảy ra và cây thường có phản ứng tốt với việc bón đồng.

Biểu hiện thiếu đồng: 1- trên cây lúa; 2- trên cây hòa thảo; 3- trên lá mía; 4- trên cành cam; 5- trên quả cây có múi

Biểu hiện thiếu đồng: 1- trên cây lúa; 2- trên cây hòa thảo; 3- trên lá mía; 4- trên cành cam; 5- trên quả cây có múi

7.3 Vai trò của sắt (Fe)

Sắt cần cho việc vận chuyển các điện tử (electron) trong quá trình quang hợp và các phản ứng oxyhóa – khử trong tế bào. Sắt nằm trong thành phần của Fe-porphyrin và Ferrodoxin, rất cần cho pha sáng của quá trình quang hợp… Sắt hoạt hóa nhiều enzim như catalaz, sucxinic dehydrogenaz và aconitaz. Do vậy, thiếu sắt cũng làm giảm hiệu suất quang hợp và hạn chế quá trình tổng hợp, trao đổi chất trong cây.

Biểu hiện khi thiếu sắt (Fe) điển hình

Thiếu sắt việc hút kali bị hạn chế và toàn bộ phiến lá mất màu xanh chuyển trắng hoặc vàng nhạt để lộ rõ các đường gân lá màu xanh. Trường hợp thiếu nặng, toàn bộ lá (cả gân lá) chuyển màu vàng và cuối cùng có thể trở thành trắng nhợt. Thiếu sắt xuất hiện trước tiên trên các lá non.

Ở các chân đất kiềm, đất hình thành trên đá vôi, đất đồi quá trình oxy hóa mạnh cây thường hay thiếu sắt.

Ngộ độc sắt thường xuất hiện trên các chân đất trũng, chua, phèn. Cây trồng bị ngộ độc sắt trên lá xuất hiện nhiều đốm nâu như rỉ sắt, bộ rễ kém phát triển, nhiều rễ đen.

Biểu hiện thiếu sắt: 1- trên lá cam, quýt; 2- trên lá, ngọn cây táo; 3- trên lá cây bông; 4- trên lá đậu tương; 5- trên lá lúa; 6- hiện tượng ngộ độc sắt trên cây lúa

Biểu hiện thiếu sắt: 1- trên lá cam, quýt; 2- trên lá, ngọn cây táo; 3- trên lá cây bông;  4- trên lá đậu tương; 5- trên lá lúa; 6- hiện tượng ngộ độc sắt trên cây lúa

7.4 Vai trò của mangan (Mn)

Mangan tham gia các phản ứng oxyhóa-khử trong hệ thống vận chuyển điển tử (electron) và thải O2 trong quá trình quang hợp. Như vậy, mangan giúp quá trình quang hợp được diễn ra liên tục và thúc đẩy quá trình quang hợp của cây trồng. Mangan cũng hoạt hóa nhiều enzim như oxidaz, peroxidaz, dehydrogenaz, decarboxilaz và kinaz cần thiết cho quá trình hình thành, ổn định lục lạp (nơi chứa đựng chất diệp lục) và tổng hợp protein, khử nitrat (NO3-) thành amôn (NH4+) trong tế bào. Mn 2+ xúc tác việc hình thành axit photphatid trong việc tổng hợp photpholipid để hình thành màng tế bào và Mn 2+ còn giúp làm dịu độc của Fe đối với cây trồng.

Thiếu mangan ảnh hưởng đến sự phân bổ diệp lục trên lá làm giảm hiệu suất quang hợp và giảm quá trình tổng hợp protein, tăng khả năng tích lũy (NO3-) ảnh hưởng tới chất lượng nông sản.

Nhu cầu Mn 2+ của cây thường xuất hiện ở đất có pH > 6, những vùng đất pH<6 thường đất đã đáp ứng đủ nhu cầu Mn 2+ của cây (Katalymov M.V. 1965).

Biểu hiện khi thiếu manga

Chất khoáng là gì và vai trò của nó với cơ thể?

 

Chất khoáng là gì và vai trò của của chất khoáng với cơ thể? Cùng tìm hiểu trong bài viết này nhé.

Chất khoáng rất quan trọng cho sự phát triển của cơ thể, cần thiết cho mọi hoạt động. Nếu cơ thể chúng ta thiếu chất khoáng sẽ gây ra nhiều bệnh rất nguy hiểm. Vậy chất khoáng là gì? Vai trò của chất khoáng đối với cơ thể như thế nào? Sẽ được giải đáp ngay sau đây.

1Chất khoáng là gì

Chất khoáng

Chất khoáng hay khoáng chất là 1 nhóm các chất không sinh năng lượng nhưng giữ nhiều vai trò và chức năng quan trọng trong cơ thể. Có gần 60 nguyên tố, các chất có hàm lượng lớn được xếp vào các yếu tố đa lượng (macroelements) như Ca, P, Mg, K, Na; các chất có hàm lượng nhỏ xếp vào nhóm yếu tố vi lượng (microelements) như I, F, Cu, Co, Mn, Zn…

2Vai trò của các chất khoáng với cơ thể

Chất khoáng liên hệ tới nhiều chức phận trong cơ thể

Chất khoáng có một vai trò quan trọng với cơ thể:

– Giúp quá trình tăng trưởng và vững chắc của xương. Canxi, Magie, Phospho là thành phần cấu tạo của xương và răng. Ngoài ra, Canxi còn liên kết chặt chẽ tới chuyển hóa Phospho, là thành phần tham gia các cấu tạo cơ não.

– Là chất xúc tác cho các hoạt động của enzyme.

– Điều hòa hệ tim mạch, tuần hoàn máu, tiêu hóa.

– Góp mặt trong các phản ứng hóa học quan trọng của cơ thể. Sắt giúp tổng hợp hemoglobin và tham gia vào thành phần của nhiều men oxy hóa trong hô hấp tế bào, thiếu sắt gây thiếu máu; I-ốt tham gia tạo thirocin là hormone của tuyến giáp trạng, thiếu I-ốt là nguyên nhân bệnh bướu cổ địa phương; Cu, Co là các chất tham gia vào quá trình tạo máu…

– Là thành phần cấu tạo nên chất đạm, chất béo trong cơ thể. Phospho là thành phần chính của 1 số men quan trọng tham gia chuyển hóa protid, lipid, glucid, hô hấp tế bào mô, các chức phận của cơ và thần kinh. Để đốt cháy các chất hữu cơ, mọi phần tử hữu cơ đều phải qua liên kết với phospho.

– Giữ thăng bằng các thể dịch lỏng trong cơ thể. Sự tham gia của khoáng chất giúp cân bằng áp lực thẩm thấu giữa khu vực trong và ngoài tế bào, đặc biệt Natri tham gia vào điều hòa chuyển hóa nước, ảnh hưởng tới khả năng giữ nước và cân bằng nước của cơ thể.

Với phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ

Khoáng chất đặc biệt quan trọng với phụ nữ mang thai, nuôi con bằng sữa mẹ và trẻ nhỏ.

Với phụ nữ mang thai, cần cung cấp đầy đủ khoáng chất cho cơ thể để đảm bảo sức khỏe của cả mẹ và bé, đặc biệt với 14 loại khoáng chất sau: Calci, crom, đồng, flo, iot, sắt, magie, mangan, molypden, phosphor, kali, selenium, natri và kẽm.

Khoáng chất đặc biệt quan trọng với phụ nữ mang thai, nuôi con bằng sữa mẹ

Với trẻ nhỏ

Khoáng chất là nguồn dinh dưỡng thiết yếu cho sự phát triển của thai nhi, trẻ nhỏ.

Khoáng chất là nguồn dinh dưỡng thiết yếu cho sự phát triển của thai nhi, trẻ nhỏ

– Iot đóng góp vào sự phát triển hệ thần kinh của thai nhi.

– Calci, phospho là thành phần quan trọng trong cấu tạo xương và răng. Thiếu calci xương và răng trở nên xốp, mô liên kết biến đổi, quá trình này xảy ra ở trẻ em khiến xương bị mềm, biến dạng (còi xương), nghiêm trọng hơn khi thiếu vitamin D.

– Selenium giúp bé tăng cường miễn dịch.

– Thiếu chất khoáng, thai phụ, thai nhi và trẻ nhỏ đều phải đối diện với những nguy cơ về sức khỏe và sự phát triển hoàn thiện; đặc biệt nguy hiểm với thai nhi và trẻ nhỏ.

Tham khảo thêm:

>> Khoáng chất trong cơ thể con người và tầm quan trọng của nó

>> Những khoáng chất cần bổ sung cho cơ thể khỏe mạnh

>> Khi nào cần bổ sung vitamin và khoáng chất cho trẻ?

3Bổ sung chất khoáng cho cơ thể

Chúng ta có thể bổ sung chất khoáng bằng các thực phẩm chức năng, nhưng thực phẩm tự nhiên là nguồn bổ sung khoáng chất đầy đủ, đa dạng, cân bằng và an toàn nhất cho cơ thể. Vì vậy, cân bằng chế độ dinh dưỡng là cách tốt nhất để đảm bảo chất khoáng cần thiết cho cơ thể.

có thể bổ sung chất khoáng bằng các thực phẩm chức năng

Nguồn thực phẩm cung cấp chất khoáng cho cơ thể:

– Thực phẩm giàu các khoáng chất đa lượng chứa trong phần lớn rau lá, rau củ, quả tươi, sữa và chế phẩm từ sữa.

– Thực phẩm giàu nguyên tố vi lượng như thịt, cá, trứng, đậu, ngũ cốc.

thực phẩm tự nhiên là nguồn bổ sung khoáng chất đầy đủ, đa dạng, cân bằng và an toàn nhất

4Cơ thể thiếu khoáng chất sẽ thế nào?

Thiếu khoáng chất, cơ thể sẽ đối diện với nhiều nguy cơ sức khỏe và bệnh tật như:

– Gia tăng khả năng mắc bệnh cảm cúm, nhiễm trùng.

– Cao huyết áp, trầm cảm, lo âu.

– Không tăng trưởng hoặc xương yếu.

– Đau nhức bắp thịt, khớp xương.

– Rối loạn tiêu hóa.

5Bổ sung chất khoáng dư thừa có sao không?

bổ sung dư thừa có thể gây ngộ độc khoáng chất

Nhu cầu hàng ngày của một số khoáng chất ở người lớn tuổi:

– Calci (Ca) 800mg

– Phospho (P) 800mg

– Magnesium (Mg) 350mg

– Sắt (Fe) 10mg

– Kẽm (zinc) 15mg

– Iot (I) 150mcg

– Selen (Se) 70mcg.

Việc bổ sung dư thừa có thể gây ngộ độc khoáng chất, gây ra nhiều trạng thái bệnh tật như: Rụng tóc, chứng mất trí nhớ và bệnh Alzheimer, trầm cảm, mệt mỏi, không dung nạp glucose hay tiền đái tháo đường, rối loạn tiêu hóa và suy dinh dưỡng, bệnh Parkinson, giảm testosterone máu, giảm thị lực…Cần làm các xét nghiệm để xác định tình trạng ngộ độc chất khoáng trong cơ thể và hướng điều trị.

Tóm lại, chất khoáng là không thể thiếu với cơ thể. Mặc dù cơ thể chỉ cần 1 lượng rất nhỏ trên từng nguyên tố, nhưng nếu thiếu hụt hay dư thừa bất kỳ đều có thể khiến cơ thể suy yếu và kém hoạt động. Hy vọng qua bài viết này giúp bạn hiểu được khoáng chất là gì và có vai trò như thế nào đối với cơ thể. Vì vậy, cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý để cân bằng khoáng chất nhé.

Bạn sẽ quan tâm:

Kinh nghiệm hay Bách Hóa XANH

Các nguyên tố vi lượng

 

Cơ thể con người có chứa khoảng 25-27 nguyên tố hóa học thường gặp, trong cơ thể có khoảng 4% trọng lượng cơ thể là các chất hóa học vô cơ một số nguyên tố là thiết yếu và cần thiết cho cơ thể sống nhưng chúng lại chỉ chiếm lượng nhỏ trong cơ thể, chúng thường hay được gọi là các nguyên tố vi lượng.
Nguyên tố vi lượng, còn gọi là vi lượng tố (vi khoáng), là những nguyên tố hóa học cần thiết cho cơ thể ở lượng rất nhỏ, cần dùng trong các chức năng trao đổi chất quan trọng cho cuộc sống.
Các nguyên tố vi lượng có thành phần dưới 0.01% khối lượng cơ thể.
Chúng phải được đưa vào cơ thể một cách đều đặn.
Lượng cần dùng mỗi ngày của một người trưởng thành là vài trăm μg (selen,asen) cho đến một vài μg (sắt, iod).

pptx31 trang | Chia sẻ: superlens | Ngày: 21/09/2015 | Lượt xem: 6759 | Lượt tải: 8download

Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Các nguyên tố vi lượng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

VI LƯỢNGChủ đề thuyết trình:NHÓM 8:1.Nguyễn Thị Minh Thùy 131161382.Lương Thị Minh Thủy 131161393.Phạm Thị Ánh Hồng 13116143CÁC NGUYÊN TỐKhái lược các nguyên tố vi lượng.Vai trò của nguyên tố vi lượng.Các nguyên tố vi lượng thường gặp.Kết luậnNguyên tố vi lượngKhái lược các nguyên tố vi lượng Cơ thể con người có chứa khoảng 25-27 nguyên tố hóa học thường gặp, trong cơ thể có khoảng 4% trọng lượng cơ thể là các chất hóa học vô cơ một số nguyên tố là thiết yếu và cần thiết cho cơ thể sống nhưng chúng lại chỉ chiếm lượng nhỏ trong cơ thể, chúng thường hay được gọi là các nguyên tố vi lượng.Nguyên tố vi lượng, còn gọi là vi lượng tố (vi khoáng), là những nguyên tố hóa học cần thiết cho cơ thể ở lượng rất nhỏ, cần dùng trong các chức năng trao đổi chất quan trọng cho cuộc sống. Các nguyên tố vi lượng có thành phần dưới 0.01% khối lượng cơ thể. Chúng phải được đưa vào cơ thể một cách đều đặn.Lượng cần dùng mỗi ngày của một người trưởng thành là vài trăm μg (selen,asen) cho đến một vài μg (sắt, iod).Các vi lượng tố là một thành phần quan trọng của các enzyme, vitamin và hoóc môn hay tham gia vào một số các phản ứng trao đổi chất nhất định có vai trò như là coenzym xúc tác hay hoạt hóa.Hỗ trợ các phản ứng hóa học trong cơ thể. Có trong thành phần của rất nhiều enzyme cần thiết.Giúp cơ thể sử dụng chất đạm, mỡ và đường,Giúp làm vững chắc xương và điều khiển thần kinh, cơ.Nguyên tố vi lượng còn điều hòa hoạt động của cơ thể, tương tác với các chất khác như các vitamin,..Một số nguyên tố vi lượng như Sắt, Kẽm, có tác dụng chống stress rất hiệu quảVai trò của nguyên tố vi lượng Các loại thực phẩm tự nhiên chứa nhiều Vi lượng tố.Các loại thực phẩm tự nhiên chứa nhiều Vi Lượng tố.Coban-(Co)Kẽm-(Zn)Asen-(As)Sắt-(Fe)Mangan-(Mn)Selen-(Se)Bo-(B)Đồng-(Cu)Molypden (Mo), Vanadium (V), Niken (Ni), Crom(Cr), Bạc (Ag), Iot(i), Thiếc (Sn), Silic (Si).MỘT SỐ NGUYÊN TỐ VI LƯỢNGSắt (Fe) Vai trò:Hô hấp: hình thành hemoglobin để vận chuyển oxy từ phổi về tất cả các cơ quan.Tham dự vào quá trình tạo thành myoglobin, sắc tố hô hấp của cơ, tạo thành đặc tính dự trữ oxy của cơ.Sắt là thành phần quan trọng của nhiều enzyme. Trong chuỗi hô hấp, sắt đóng vai trò vận chuyển điện tích (do bị oxy hóa và khử dễ dàng). Nhu cầu hàng ngày về Sắt của cơ thể như sau:Thanh niên 10mg/ngày. Phụ nữ 16-18mg/ngày. Các bệnh lý về sắt: Thiếu sắt:Thiếu máu, giảm năng lượng.Suy nhược, mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, da, niêm mạc xanh xao.Hồi hộp, đôi khi tim có tiếng thổi nhưng chúng không cố định.Chậm phát triển thể chất, hay buồn ngủ.Sức đề kháng với nhiễm trùng rất kém.Ảnh hưởng đến sự phát triển của da, lông, tóc và móng.Có thai mà thiếu Sắt dễ bị sinh non, trẻ sinh ra sẽ thiếu máu, thậm chí hư thai. Sắt (Fe) Thừa sắt: Sắt tham gia vào kênh năng lượng của hiện tượng oxy hóa. Từ oxy, sắt mang “gốc tự do” tác động lên tất cả những gì mà nó gặp, gây tổn hại trung tâm năng lượng của tế bào, men cùng các bộ phận thụ cảm và các nhóm thiols của chúng cũng như các acid béo của màng tế bào. Dẫn đến các bệnh lí:Gia tăng quá trình lão hóa (bệnh thoái hóa).Bệnh tim mạch.Ung thư.Đục nhân mắt.Thoái hóa nãoSắt (Fe)Thức ăn chứa nhiều sắt: gan, tim, lòng đỏ trứng, cá, tôm, cua, sò, hến, vừng, bột mỳ, rau xanh, thịt bò, bồ câuCác nguồn thức ăn chứa nhiều sắt: Gan, tim, lòng đỏ trứng, cá, tôm, cua, sò, hến, vừng, bột mỳ, rau xanh, thịt bò, bồ câu..Đồng: là nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho các loài động thực vật bậc cao, nó được tìm thấy trong 1 số loại enzyme. Tiêu chuẩn RDA của Mỹ về Đồng đối với người lớn khỏe mạnh là 0.9mg/ngày. Vai trò: Đồng cần thiết cho chuyển hóa Sắt và Lipid, có tác dụng bảo trì cơ tim.Cần cho hoạt động của hệ thần kinh và hệ miễn dịch, góp phần bảo trì màng tế bào hồng cầu.Góp phần tạo xương và biến năng Cholesterol thành vô hại. Trong cơ thể người có khoảng từ 80mg đến 99,4 mg Đồng.Đồng (Cu) Các bệnh lý về Đồng: Bệnh thiếu máu, thiếu số lượng hay kích thước của hồng cầu hay thiếu số lượng huyết đạm trong hồng cầu.Rối loạn tiêu hoá, suy dinh dưỡng.Thiếu chất Đồng do di truyền: trẻ sinh ra chậm lớn, kém thông minh, da, tóc bị mất sắc tố (bạch tạng), tóc thưa, mềm, mạch máu bị giãn, xương không nảy nở bình thường, thân nhiệt thấp, hay bị bất tỉnh.Bệnh Wilson là bệnh di truyền do sự tích lũy đồng trong cơ thể, chủ yếu là ở gan và não. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, sự tích lũy đồng có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng, và có thể dẫn đến tử vong. Đồng (Cu)Hàng ngày cơ thể chúng ta cần khoảng 1 – 1,5 mg đồng. Hầu hết các thực phẩm đều có chứa đồng: từ rau cải, ngũ cốc cho đến các loại thịt, cá. Các nguồn thực phẩm giàu đồng nhất bao gồm: thịt bò, hải sản, tạng động vật, các loại đậu, đậu phộng, sô cô la…Các nguồn thức ăn chứa nhiều đồng: Có khoảng 100 loại enzyme cần có Kẽm để hình thành cácphản ứng hóa học trong tế bào.Trong cơ thể có khoảng 2 – 3 gam Kẽm, hiện diện trong hầu hết các loại tế bào và các bộ phận của cơ thể, nhưng nhiều nhất tại gan, thận, lá lách, xương,da, tóc, móng.Vai trò:Kẽm cần thiết cho thị lực, còn giúp cơ thể chống lại bệnh tật.Kích thích tổng hợp protein, giúp tế bào hấp thu chất đạm để tổng hợp tế báo mới, tăng liền sẹo.Bạch cầu cần có Kẽm để chống lại nhiễm trùng và ung thư.Nhu cầu về Kẽm hàng ngày khoảng 10 -15 mg.Kẽm (Zn)Các bệnh lý về kẽm:Mất đi 1 lượng nhỏ Kẽm có thể gây sụt cân,mắc bệnh vô sinh,Thiếu chất Kẽm đưa đến chậm lớn, dễ bị các bệnh ngoài da, giảm khả năng đề kháng, Vị giác hay khứu giác bất thường.Kẽm (Zn)Các nguồn thức ăn giàu kẽm: Sò huyết, các loại thịt màu đỏ và thịt gia cầm, đậu, các loại quả có nhân, ngũ cốc nguyên vẹn, hạt bí hay hạt hướng dương. Vai trò: Mangan có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát lượng insulin trong cơ thể, ngoài ra còn góp phần quan trọng vào sự vững chắc của xươngCác bệnh lý về mangan:Khi mang thai mà thiếu Mangan thì con sinh ra sẽ bị ảnh hưởng đến sự phát triển không đều của bộ xương, thần kinh bị mắc chứng bệnh không phối hợp cử động điều hòa được, một bên màng nhĩ trong tai bị hóa xương, biến đổi di truyền màu, da lợt màu, lá lách teo nhỏ.Nhu cầu mỗi ngày khoảng 2,5 – 5 mgMangan (Mg) Các nguồn thức ăn giàu mangan: Gạo, rau cải xanh, trái cây, trà, thịt, trứng, sữa, Vai trò: Iot là thành phần của hormone tuyến giáp (thyroxine) và (Triiodothyronine ) có vai trò cơ bản trong sinh học, tác động lên phiên mã gene để điều chỉnh cơ sở tỉ lệ trao đổi chất.Nếu lượng iốt được cung cấp quá nhiều do cung nhiều hơn cầu hoặc uống thuốc chứa iốt thường xuyên… sẽ gây nên hội chứng cường giáp, hay gặp nhất là bệnh Grave (Basedow), ngoài ra còn có u tuyến độc giáp (Toxic Adenoma), viêm tuyến giáp (Thyroiditis). Các bệnh lý về Iod:Thiếu Iot gây ra các triệu chứng mệt mỏi,chậm phát triển trí não, trầm cảm, nhiệt độ cơ thể thấp.Nhu cầu về Iot là 150 (μg / ngày) Các nguồn thức ăn giàu Iod:Iod có nhiều trong thực phẩm có nguồn gốc từ biển : cá, hải sản, các loài rau tảo biển.Iot (I)Flour (F)Vai trò: Làm chắc răng và bền men răng, Ngoài ra còn cần thiết cho xương của người già, giúp vết thương mau lành, ngăn ngừa thiếu máu.Các bệnh lý về fluor:Thiếu Flour gây các bệnh tổn thương răng.Các nguồn thức ăn giàu fluor: Nguồn Flour rất phong phú trong nước chè, ngoài ra còn có nước khoáng hay trong kem đánh răng Hàm lượng flour từ 0,5 – 1mg/l là an toàn, nếu hàm lượng này được sử dụng trên mức quy định thì sẽ dẫn đến hội chứng giòn, gãy xương.Coban (Co)Vai trò: Coban được sử dụng trong y học với liệu pháp xạ trị điều trị ung thư,Coban là một thành phần trung tâm của vitamin cobalamin hoặc vitamin B12.Các bệnh lý về coban:Cơ thể thiếu Coban có những biểu hiện đầu tiên là cảm giác mệt mỏi, thiếu tập trung và thiếu máu. Coban có trong sôcôla, tôm, cua, 1 số quả khô.Các nguồn thức ăn giàu coban: Vanadium: được phân bố nhiều hơn ở thận và xương, cần thiết cho 1 số enzyme. Vai trò: Tạo sắc tố của máu cùng với sắt.Điều hòa việc bơm Na+ và K+ trong tế bào, giúp cân bằng điện tích trong và ngoài tế bào, Giúp cải thiện khả năng kiểm soát Glucose ở người tiểu đường tuýp II, do nó có tác động giống như insulin và làm giảm được lượng insulin cơ thể đòi hỏiLàm gia tăng nồng độ Glutathione, chất có vai trò quan trọng trong việc khử các gốc tự do thừa, đồng thời Vanadium cũng đóng vai trò thiết yếu trong cơ chế khử độc bằng cation.Vanadium ngăn không cho sản xuất quá nhiều Cholesterol, giảm sự lắng đọng Cholesterol trong động mạch.Các nguồn thức ăn giàu vanadium: cà rốt, củ cải đỏ, củ cải tím, măng, sen, hạt dẻ, cây bách hợp, măng tây, bắp cải…Vanadium (V)Bo (B)Bo tồn tại trong nước, phần nhiều ở dạng axit boricVai trò: Chữa đau dạ dày mạn tính và bệnh viêm ống mật.Điều hòa các kích thích tố gây nên bệnh loãng xương, giúp làm giảm loãng xương và phòng ngừa loãng xương, do Bo có khả năng làm giảm sự bài tiết Canxi và Magné ra nước tiểu. Làm giảm tỷ lệ u xơ tiền liệt tuyến.Bo có mặt trong nhiều thực phẩm : trái cây chứa khoảng 5-30 ppm, rau củ chứa từ 0,5-2 ppm, ngũ cốc 0,5-3ppm, trứng 0,1 ppm, sữa 0,1-0,2 ppm. Lượng Bo đưa vào cơ thể có thể thay đổi từ 1.3-4,3 mg/ngày.Thực phẩm giàu BoThực phẩm giàu selen Là đậu nành, tiểu mạch, ngô, thịt gà, trứng gà, thịt lợn, thịt bò, rau cải, bí đỏ, tỏi, các loại hải sản.Selen giữ vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của tim. Selen cũng được sử dụng rộng rãi trong các chế phẩm thuốc với vai trò như một chất chống oxy hóa cùng với vài loại vitamin, ngoài ra nó được sử dụng trong một số thuốc bổ mắt.Crom (Cr)Thiếu Crom sẽ liên quan đến sự hạ đường huyết, làm cho bệnh nhân chóng mặt, cồn cào, loạn nhịp tim. Các nguồn thức ăn giàu Crom:Lúa, thịt, men bia, phomat có nhiều Crom.Crôm còn liên kết với sự chuyển hoá lipid, bổ sung crôm làm gia tăng hàm lượng cholesterol tốt (HDL) làm giảm cac glycerid và từ đó góp phần ngăn ngừa sự tích tụ  mỡ bên trong các mạch máu, chống xơ vữa động mạch, điều hoà và giảm huyết áp ở người  có tuổi. Nhu cầu hàng ngày của chúng ta từ 60-65mcgLà một khoáng chất có nhiều trong cơ thể sống, có tác dụng như insulin mà không cần đến các chức năng của thận.As có vai trò diệt khuẩn và lưu thông máu.Các thí nghiệm cho thấy, As có tác dụng kích thích quá trình sinh trưởng ở gà chuột và dê. Nó cũng có liên quan đến quá trình chuyển hóa methionine . Vai trò: Thực phẩm chủ yếu –chủ yếu là cá – mang đến từ 20-30 µg As/ngày.Các nguồn thức ăn giàu asen:Nhu cầu As của cơ thể là khoảng 12-25 µg/ngày.Vai trò: Cần thiết trong quá trình cố định đạm của cơ thể, do vai trò của nó đối với các enzyme. Nó có vai trò quan trọng với Xanthin, giúp biến đổi Xanthin thành acid uric và đào thải ra nước tiểu thành urê.1 người cân nặng khoảng 55 kg sẽ có chừng 5.5mg Molypden trong cơ thểNhu cầu hàng ngày khoảng 0,15 – 0,5 mgMolypden (Mo) Niken có tác dụng kích thích hệ gan – tụy, rất có ích cho người đái tháo đường. Giúp làm tăng hấp thu sắt. Niken có thể thay thế cho các yếu tố vi lượng trong việc đảm bảo hoạt tính của nhiều enzyme như alkaline phosphatase , oxaloacetate decarboxylase. Nó cũng có khả năng tăng cường hoạt tính của insulin.Nguồn Ni từ thực phẩm hằng ngày cung cấp khoảng 150-700 µg, trong khi nhu cầu Ni là 35-500 µg/ngày.Khoáng vi lượng với các thành phần cấu tạo là các nguyên tố kim loại cũng là các thành phần mang ion hoá dương và âm dồi dào để hoạt hoá dòng điện trong cơ thể con người, để duy trì sự sống và phát triển của tế bào. Vì thế, việc bổ sung khoáng vi lượng chứa các thành phần ion hoá tự nhiên sẽ giúp tế bào hoạt động tốt hơn, cụ thể như thúc đẩy hệ tuần hoàn, tốt cho tim mạch và thúc đẩy các quá trình trao đổi chất diễn ra hiệu quả hơn. Việc bổ sung khoáng vi lượng giúp ích rất nhiều cho những đối tượng có hoạt động thể chất từ nhẹ đến nặng và giúp cơ thể khoẻ mạnh hơn.Kết luậnCÁM ƠN THẦY CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ CHÚ Ý LẮNG NGHE !

Vai trò của chất khoáng vi lượng

 

Nguyên tố vi lượng còn được gọi là “ánh sáng của cuộc sống”. Mỗi thành viên trong dòng họ nguyên tố vi lượng đều có chức năng và tác dụng riêng của mình.

Ví dụ crôm có tác dụng cải thiện, phòng ngừa và chữa trị bệnh xơ cứng động mạch vành, làm giảm chất cholesterol, còn iod thì có tác dụng rõ rệt đối với hệ thống tuần hoàn và hoạt động cơ bắp… Danh sách các vi khoáng quan trọng trong cơ thể gồm : sắt, kẽm, đồng, iod, selen, mangan, molybden, cobal, crom

http://suckhoedoisong.vn/

1. Sắt

Sắt có vai trò rất cần thiết đối với mọi cơ thể sống, ngoại trừ một số vi khuẩn. Nó chủ yếu liên kết ổn định bên trong các protein kim loại, vì trong dạng tự do nó sinh ra các gốc tự do nói chung là độc với các tế bào. Nói rằng sắt tự do không có nghĩa là nó tự do di chuyển trong các chất lỏng trong cơ thể. Sắt liên kết chặt chẽ với mọi phân tử sinh học vì thế nó sẽ gắn với các màng tế bào, acid nucleic, protein…

Sắt là yếu tố vi lượng cổ xưa nhất được nghiên cứu. Mặc dù hiện diện trong cơ thể với một lượng rất nhỏ nhưng nó rất cần thiết cho sự sống: chức năng hô hấp: tạo nên hemoglobin để vận chuyển oxy từ phổi về tất cả các cơ quan; tham dự vào quá trình tạo thành myoglobin, sắc tố hô hấp của cơ cũng như tạo thành đặc tính dự trữ oxy của cơ; sắt bị oxy hóa và khử dễ dàng, nó tham gia vào cấu tạo của nhiều enzyme. Đặc biệt trong chuỗi hô hấp, sắt đóng vai trò vận chuyển điện tích; tạo tế bào hồng cầu.

Thức ăn chứa nhiều sắt và dễ hấp thu là các loại như : gan, tiết, tim, bầu dục, các loại thịt màu đỏ. Thức ăn giàu sắt nhưng khó hấp thu hơn như lòng đỏ trứng, cá, tôm, cua, sò, hến, vừng, bột mỳ, rau xanh, các loại đậu, mộc nhĩ đen, men…

2. Iod

Là một vi chất có mặt trong cơ thể với một lượng rất nhỏ, khoảng 0,00004% trọng lượng cơ thể (15 – 23mg), trong đó 75% tập trung ở tuyến giáp để tổng hợp hoóc-môn giáp trạng. Chức năng quan trọng nhất của iod là tham gia tạo hoóc-môn tuyến giáp T3 và T4. Hoóc-môn này có vai trò quan trọng trong việc điều hòa phát triển cơ thể. Nó kích thích quá trình chuyển hóa tới 30%, tăng sử dụng oxy và làm tăng nhịp tim. Hoạt động của hoóc-môn tuyến giáp là tối cần thiết cho sự phát triển bình thường của não. Ngoài ra nó còn có vai trò quan trọng trong việc chuyển beta-caroten thành vitamin A, tổng hợp protein, hấp thu chất bột đường trong ruột non, điều hòa lượng cholesterol trong máu và tham gia vào quá trình sinh sản.

Nguồn thức ăn có nhiều kẽm như các món hải sản, cá biển, tôm biển, các động vật nhuyễn thể, các loại rau tảo biển… đặc biệt hiện nay là vai trò của muối iod.

3. Đồng

Là nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho các loài động thực vật bậc cao, nó được tìm thấy trong 1 số loại enzyme. Đồng hấp thu vào máu tại dạ dày và phần trên của ruột non. Khoảng 90% đồng trong máu kết hợp với chất đạm Ceruloplasmin và được vận chuyển vào trong tế bào dưới hình thức thẩm thấu và một phần nhỏ dưới hình thức vận chuyển mang theo chất đạm đồng được vận chuyển chủ yếu trong máu bởi protein trong huyết tương gọi là ceruloplasmin. Đồng được hấp thụ trong ruột non và được vận chuyển tới gan bằng liên kết với albumin.

Đồng cần thiết cho cơ thể nhưng chỉ với liều rất nhỏ, dư thừa đồng thường hay gặp hơn thiếu và rất nguy hiểm. Đồng có vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa sắt và lipid, có tác dụng bảo trì cơ tim, cần cho hoạt động của hệ thần kinh và hệ miễn dịch, góp phần bảo trì màng tế bào hồng cầu, góp phần tạo xương và biến năng cholesterol thành vô hại. Trong cơ thể người có khoảng từ 80 – 99,4mg đồng. Hiện diện trong bắp thịt, da, tủy xương, xương, gan và não bộ. Trẻ em mới sinh có khoảng 15 – 17mg đồng.

Nguồn thực phẩm giàu đồng là đậu nành, quả hồng, gan, thận, thịt lợn, vừng, gạo xay, tôm, ốc, nghêu sò, nước hoa quả, đường đỏ.

 

 

4. Selen

Cũng là một nguyên tố vi lượng quan trọng trong cơ thể con người mặc dù với một hàm lượng rất nhỏ. Selen có trong enzyme glutathion peroxydase có vai trò loại bỏ gốc tự do, bảo vệ màng tế bào và ADN. Enzyme này có nhiều ở gan để hóa giải chất độc, ở cơ tim để bảo vệ các tế bào có cường độ hoạt động lớn. Selen cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hô hấp vì liên quan đến sinh tổng hợp Coenzym-Q. Tuy chỉ cần với số lượng rất nhỏ nhưng nếu thiếu hụt selen trong dinh dưỡng có nguy cơ dẫn đến hàng loạt bệnh tật nguy hiểm như: ung thư, bệnh tim mạch và lão hóa sớm. Hiện nay nhiều thuốc phối hợp vitamin và khoáng chất có bổ sung selen có tác dụng chống lão hóa, kéo dài tuổi thanh xuân là do đặc điểm sinh học nói trên của selen. Tuy nhiên cũng như các nguyên tố vi lượng khác, tác dụng sinh học của selen phụ thuộc vào liều lượng. Nếu dùng liều cao quá mức cho phép, selen có thể gây độc cho cơ thể.

Thực phẩm giàu selen là đậu nành, tiểu mạch, ngô, thịt gà, trứng gà, thịt lợn, thịt bò, rau cải, bí đỏ, tỏi, các loại hải sản.

5. Kẽm

Có khoảng 100 loại enzyme cần có kẽm để hình thành các phản ứng hóa học trong tế bào. Trong cơ thể có khoảng 2 – 3g kẽm, hiện diện trong hầu hết các loại tế bào và các bộ phận của cơ thể, nhưng nhiều nhất tại gan, thận, lá lách, xương, ngọc hành, tinh hoàn, da, tóc móng. Mất đi một lượng nhỏ kẽm có thể làm đàn ông sụt cân, giảm khả năng tình dục và có thể mắc bệnh vô sinh. Đàn ông khỏe mạnh mỗi lần xuất tinh chứa khoảng 1mg chất này. Phụ nữ có thai thiếu kẽm sẽ giảm trọng lượng trẻ sơ sinh, thậm chí có thể bị lưu thai. Thiếu chất kẽm đưa đến chậm lớn, bộ phận sinh dục teo nhỏ, dễ bị các bệnh ngoài da, giảm khả năng đề kháng…

Hải sản là nguồn thức ăn có nhiều kẽm

Hải sản là nguồn thức ăn có nhiều kẽm

Một số người có vị giác hay khứu giác bất thường do thiếu kẽm, điều này giải thích tại sao một số các loại thuốc chống kém ăn, điều trị biếng ăn có thành phần chứa kẽm. Kẽm cần thiết cho thị lực, còn giúp cơ thể chống lại bệnh tật. Kích thích tổng hợp protein, giúp tế bào hấp thu chất đạm để tổng hợp tế báo mới, tăng liền sẹo. Bạch cầu cần có kẽm để chống lại nhiễm trùng và ung thư. Ở đàn ông, kẽm rất quan trọng trong việc sản xuất tinh dịch. Tới 5mg kẽm bị mất đi trong quá trình xuất tinh. Thiếu hụt kẽm ở đàn ông có thể dẫn tới giảm lượng tinh trùng và tần suất tình dục. Sự xuất tinh thường xuyên có thể dẫn tới thiếu hụt kẽm. Nhu cầu về kẽm hàng ngày khoảng 10 – 15mg.

Nguồn thức ăn nhiều kẽm là từ động vật như: sò, hàu, thịt bò, cừu, gà và lợn nạc, sữa, trứng, cá, tôm, cua, mầm lúa mì, hạt bí ngô, ca cao và sô cô la, các loại hạt (nhất là hạt điều), nấm, đậu, hoa anh đào, hạnh nhân, táo, lá chè xanh…

6. Mangan

Góp phần quan trọng vào sự vững chắc của xương. Phụ nữ lớn tuổi bị loãng xương có lượng mangan trong máu thấp hơn so với phụ nữ cùng tuổi không bị loãng xương. Mangan còn có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát lượng insulin trong cơ thể, hoạt hóa một vài enzyme và có thể can thiệp vào sự ức chế trong một vài tế bào. Ngoài ra, còn có vai trò trong quá trình tổng hợp ure và trung hòa các anion superoxyd của gốc tự do, trong trung tâm năng lượng của tế bào cũng như trong ty lạp thể. Nghiên cứu trên súc vật cho thấy, nếu khi mang thai mà thiếu mangan thì đẻ con ra sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển không đều của bộ xương, thần kinh bị mắc chứng bệnh không phối hợp cử động điều hòa được, một bên màng nhĩ trong tai bị hóa xương, biến đổi di truyền màu, da lợt màu, lá lách teo nhỏ.

Các loại thực phẩm giàu mangan bao gồm: gạo xay, đậu nành, đậu phụ, tiểu mạch, vừng, rau cải xanh, lá chè xanh, trái cây, trà, gan bò, thịt, trứng, sữa…

7. Các chất khoáng vi lượng khác

Đó là coban có vai trò là thành phần trung tâm của vitamin cobalamin hoặc vitamin B12, có trong sôcôla, tôm, cua, 1 số quả khô và hạt có dầu; molypden có vai trò cần thiết trong quá trình cố định đạm của cơ thể, do vai trò của nó đối với các enzyme và giúp biến đổi xanthin thành acid uric và đào thải ra nước tiểu thành urê; niken có tác dụng kích thích hệ gan – tụy, rất có ích cho người đái tháo đường. Giúp làm tăng hấp thu sắt. Niken có thể thay thế cho các yếu tố vi lượng trong việc đảm bảo hoạt tính của nhiều enzyme; bo giúp điều hòa các kích thích tố gây nên bệnh loãng xương, giúp làm giảm loãng xương và phòng ngừa loãng xương, do bo có khả năng làm giảm sự bài tiết canxi và magné ra nước tiểu; asen có vai trò diệt khuẩn và lưu thông máu; brom giúp trấn tĩnh, điều tiết tác dụng và hoạt động của thần kinh trung ương; salen giữ vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của tim và hoạt động của võng mạc; flour có tác dụng làm chắc răng và bền men răng, giúp vết thương mau lành, ngăn ngừa thiếu máu; crom có liên quan đến sự hạ đường huyết, làm cho bệnh nhân chóng mặt, cồn cào, loạn nhịp tim; bạc có khả năng tiêu diệt nhiều loại vi khuẩn.

ThS. HOÀNG KHÁNH TOÀN

 

Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng: Nguyên tố vi lượng

 

Các nguyên tố vi lượng đều đóng vai trò quan trọng như là thành phần của các enzim hoặc diệp lục tố, kích thích và điều hòa sự chuyển hóa, vận chuyển chất trong cây.

Sắt (Fe):

Là chất cần để tổng hợp và duy trì diệp lục tố trong cây.

Thiếu sắt: lá non úa vàng, đỉnh và mép lá có màu xanh lâu nhất. Trường hợp thiếu nhiều sắt: toàn bộ thịt và gân lá chuyển vàng và cuối cùng trở thành trắng nhợt.

Kẽm (Zn):

Kẽm có vai trò quan trọng trong việc tổng hợp đạm, hình thành các chất điều hòa sinh trưởng trong cây…

Thiếu kẽm: Các lá non nhỏ, biến dạng, mọc xít nhau, chuyển thành màu vàng trắng và xù ra. Ít hoa, quả, năng suất, chất lượng giảm.

Mangan (Mn):

Là chất cần thiết cho quá trình hô hấp của cây. Hoạt hoá các enzim chuyển hoá đạm và tổng hợp diệp lục tố. Kiểm soát các quá trình xảy ra trong tế bào ở các pha sáng và tối.

Thiếu mangan: Gân lá non úa vàng, xuất hiện các đốm vàng và hoại tử và các vùng xám vàng gần cuống lá non.

Đồng (Cu):

Xúc tiến quá trình hình thành vitamin A. Giúp cây tăng khả năng chịu hạn, chịu nóng, chịu lạnh…

Thiếu đồng: ở cây ngũ cốc xuất hiện lá màu vàng và quăn, ít hoa, hạt kém phát triển, ở cây có múi chết đen ở phần mới sinh trưởng, quả có những đốm nâu, khả năng chống chịu sâu bệnh ở cây kém.

Bo (B):

Tăng khả năng thấm ở màng tế bào, giúp dễ dàng vận chuyển hydrát carbon. Cần cho quá trình tổng hợp và phân chia tế bào. Giúp điều chỉnh tỷ lệ K/Ca trong cây. Thiết yếu với sự tổng hợp protein trong cây.

Đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phấn hoa

Thiếu Bo: Lá biến dạng, dày, đôi khi giòn, hoa kém phát triển, dễ bị rụng, hạt bị lép, ít đậu quả, quả non hay rụng, dễ bị sâu bệnh phá hại, khả năng chống chịu điều kiện bất lợi kém.. Vỏ quả dày, lõi thường bị thâm đen, rỗng ruột, lệch tâm, Năng suất, chất lượng kém.

Molypđen (Mo):

Là chất xúc tác cho quá trình cố định và sử dụng đạm của cây, là thành phần của men khử nitrat và men nitrogense.

Tham gia các quá trình trao đổi chất, tổng hợp chất diệp lục…

Thiếu molypden: xuất hiện đốm vàng ở gân giữa của các lá dưới, hoại tử mép lá và lá bị gập nếp lại. ở rau, các mô lá bị héo, chỉ còn lại gân giữa của lá và một vài miếng phiến lá nhỏ. Các hiện tượng này thấy rõ ở các cây họ đậu: nếu thiếu molypden cây phát triển kém, ít nốt sần, giảm cố định đạm tự do

Clo (Cl):

Clo ảnh hưởng đến sự chuyển hoá hydrat carbon và khả năng giữ nước của mô thực vật.

Thiếu Clo: chóp lá non bị héo, úa vàng, sau đó chuyển sang màu đồng thau và chết khô.

Việt Linh © biên soạn

www.vietlinh.vn

Vai trò của 6 nguyên tố vi lượng trong dung dịch thủy canh

 

Nhóm nguyên tố vi lượng trong dung dịch thủy canh thường gồm: đồng (Cu), Bo (B), Sắt (Fe), Mangan (Mn), Kẽm (Zn), Clo (Cl)… Những dưỡng chất này cây trồng cần với số lượng ít nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của rau trồng.

1. Vai trò của Đồng (Cu)

Đồng đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành diệp lục và làm xúc tác cho một số phản ứng khác trong cây. Khi thiếu đồng cây rũ xuống thiếu sức sống, lá cây thường chuyển sang quầng màu da trời tối rồi bạc dần, quăn lá, có các vết hoại tử trên lá hay quả;  cây khó ra hoa tạo quả.

2. Vai trò của Bo (B)

Bo cũng là một trong những vi chất quan trọng trong dung dịch dinh dưỡng thủy canh. Bo cần thiết cho sự nảy mầm của hạt phấn, sự tăng trưởng của ống phấn, sự hình thành của thành tế bào, protein và hạt giống. B tác động trực tiếp đến quá trình phân hóa tế bào, trao đổi hoocmon, trao đổi N, các chất khoáng và nước.

Vai trò quan trọng của 6 nguyên tố vi lượng trong dung dịch thủy canh

Nếu cây không được cung cấp đủ B có thể bị cháy và héo chồi non, chồi nhánh của cây, hoa không thể hình thành, tỷ lệ đậu quả kém. Tham khảo nồng độ dành cho rau cải tại đây.

3. Vai trò của Mangan (Mn)

Mangan là thành phần của các hệ thống enzyme trong cây. Mn hoạt hóa một số phản ứng trao đổi chất trong cây, hỗ trợ sự tổng hợp diệp lục, có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp. Mangan giúp tăng cường sự nảy mầm của hạt.

Khi thiếu đi Mn sẽ dẫn đến hiện tượng mất cân bằng các dinh dưỡng khác như Canxi, Magie và Sắt, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của cây trồng.

4. Vai trò của Sắt (Fe)

Sắt là chất xúc tác để hình thành nên diệp lục và một số hệ thống men hô hấp. Khi cây thiếu Sắt, lá cây sẽ có màu nhợt nhạt thậm chí chuyển từ màu xanh sang vàng hay trắng ở phần thịt lá, với biểu hiện trước tiên xuất hiện ở các lá non của cây.

Vai trò quan trọng của 6 nguyên tố vi lượng trong dung dịch thủy canh

Nguyên nhân dẫn đến thiếu sắt có thể do thiếu cân bằng với các kim loại khác như Đồng hay Mangan, quá thừa Lân; hàm lượng chất hữu cơ trong đất thấp…

5. Vai trò của Molipden (Mo)

Molipden là vi chất rất cần thiết cho sự tổng hợp và hoạt động của men khử Nitrat. Molipden giúp tổng hợp đạm cộng sinh và chuyển hóa Lân từ dạng vô cơ sang hữu cơ cho cây.

6. Vai trò của Clo (Cl)

Clo tham gia vào các phản ứng năng lượng trong cây và các quá trình vận chuyển một số cation như Canxi, Magie, Kali…  Bên cạnh đó, Clo còn giúp kiểm soát được sự thoát hơi nước.  Vì thế, Clo là dưỡng chất vi lượng không thể thiếu trong dung dịch thủy canh.

7. Vai trò của Kẽm (Zn)

Kẽm tham gia hoạt hóa enzym của nhiều hoạt động sinh lý, sinh hóa của cây,  hỗ trợ tổng hợp các chất sinh trưởng và các hệ thống men. Theo đó, kẽm là vi chất rất cần thiết cho sự tăng cường một số phản ứng trao đổi chất trong cây. Kẽm đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất ra các chất diệp lục và các Hydratcarbon.

Khi cây trồng bị thiếu kẽm sẽ gây ra rối loạn trao đổi auxin, ức chế sinh trưởng, cây phát triển chậm, lá cây bị biến dạng, ngắn, nhỏ và xoăn, đốt ngắn.

Trên đây là vai trò của các nguyên tố vi lượng đối với cây trồng. Đây đều là những dưỡng chất rất cần thiết cho sự phát triển của cây. Vì thế nó đều được tích hợp đầy đủ trong dung dịch thủy canh với hàm lượng vừa đủ, cân đối giữa các chất, cung cấp nguồn dưỡng chất tốt nhất cho cây trồng, giúp cây phát triển nhanh, khỏe mạnh, cho năng suất cao.

Bài viết về dung dịch thủy canh bạn có thể tham khảo thêm:

Leave your Comment