Người do thái là gì 385

Kinh Thánh và sự thông minh của người Do Thái

 

Về chỉ số IQ – chỉ số thông minh cũng vậy, theo sự khảo sát gần đây, nếu chỉ số thông minh IQ trung bình của thế giới là 100, thì IQ của người Do thái gần đến 118. Người ta cũng nói rằng nếu chỉ số thông minh IQ tối thiểu cho một thiên tài là 140, thì trong nhân loại trung bình cứ 1000 có được 4 người, còn với người Do thái, cứ 1000 người, có được suýt soát 29 người.

Trên mọi lĩnh vực từ khoa học, kỹ thuật, chính trị, kinh tế, tài chính, giáo dục, y học, triết học, văn học, mỹ thuật, kịch nghệ, âm nhạc, … đều có những nhân vật đầu bảng. Chỉ nói riêng phương diện tin học thì cũng đã có hai nhân vật mà mỗi bạn trẻ đều biết: Người sáng lập ra công cụ tìm kiếm Google, Sergey Brin, và người sáng lập ra mạng xã hội Facebook, Mark Zuckerberg, cũng đều là người Do thái….

Chắc hẳn có rất nhiều câu hỏi xoay quanh sự thông minh của người Do Thái như: liệu người Do Thái có “gen” thông minh hơn hẳn không? Tại sao người Do Thái lại có truyền thống hiếu học và tỷ lệ biết chữ rất cao? Tại sao người Do Thái lại đi tiên phong trong rất nhiều lĩnh vực như khoa học tự nhiên, luật, khoa học chính trị…?

 src=

Một giả thuyết phổ biến trong một bài luận một vài năm trước đây gọi là Thiên Tài người Do Thái của tác giả Charles Murray, người tạo ra ý tưởng về siêu gen. Ông viết rằng “một cái gì đó trong gen giải thích chỉ số IQ rất cao của người Do Thái. Nhưng một lý thuyết mới đã nổi lên của Robert Aumann, một người Do Thái đoạt giải Nobel Kinh tế (Lý thuyết trò chơi) vào năm 2005. Ông cho rằng điều tạo ra các thiên tài người Do Thái là do truyền thống đọc sách nói chung và cụ thể là học Kinh Thánh Do Thái.

Để tìm hiểu truyền thống văn hóa của dân tộc này có lẽ ta cần tìm hiểu các nguyên tắc chính của đạo Do Thái (Judaism), tôn giáo lâu đời nhất thế giới còn tồn tại tới ngày nay và là chất keo bền chắc gắn bó cộng đồng, khiến dân tộc này giữ gìn được nguyên vẹn nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa mặc dù phải sống phân tán, lưu vong và bị kỳ thị, xua đuổi, tàn sát dã man suốt 2000 năm qua. Đạo Do Thái là tôn giáo duy nhất thành công trên cả hai mặt: giữ được sự tồn tại của dân tộc và hơn nữa đưa họ vươn lên hàng đầu thế giới trên hầu hết các lĩnh vực trí tuệ.

Cùng xem qua vài nét về Kinh thánh của người Do Thái (Hebrew Bible) – kinh điển này hơn 10 thế kỷ sau được đạo Ki-tô lấy nguyên văn làm phần đầu Kinh Thánh của họ và gọi là Cựu Ước, nhằm phân biệt với Tân Ước do các nhà sáng lập Ki-tô giáo viết. Ta cũng cần xem xét một kinh điển nữa của đạo Do Thái gọi là Kinh Talmud, quan trọng hơn cả Cựu Ước, có đưa ra nhiều nguyên tắc cụ thể cho tới thời nay vẫn còn giá trị về kinh doanh, buôn bán.

 src=

Trước hết người Do Thái có truyền thống coi kiến thức trí tuệ là thứ quý nhất của con người. Kinh Talmud viết: Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được. Các bậc cha mẹ Do Thái dạy con: Của cải, tiền bạc của chúng ta đều có thể bị kẻ khác tước đoạt nhưng kiến thức, trí tuệ trong đầu óc ta thì không ai có thể cướp nổi. Với phương châm đó, họ đặc biệt coi trọng việc giáo dục, dù khó khăn đến đâu cũng tìm cách cho con học hành; ngoài ra họ chú trọng truyền đạt cho nhau các kinh nghiệm làm ăn, không bao giờ giấu nghề. Người Do Thái có trình độ giáo dục tốt nhất trong các cộng đồng thiểu số ở Mỹ, thể hiện ở chỗ họ chiếm tỷ lệ cao nhất trong sinh viên các trường đại học hàng đầu cũng như trong giới khoa học kỹ thuật và văn hóa nghệ thuật.

Thứ hai, đạo Do Thái đặc biệt coi trọng tài sản và tiền bạc. Đây là một điểm độc đáo khác hẳn đạo Ki-tô, đạo Phật, đạo Nho. Có lẽ sở hữu tài sản là một trong các vấn đề quan trọng nhất của đời sống loài người, là nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa con người với nhau (đấu tranh giai cấp) và chiến tranh giữa các quốc gia. Heghel, đại diện nổi tiếng nhất của triết học cổ điển Đức từng nói: “Nhân quyền nói cho tới cùng là quyền (sở hữu) về tài sản.” Chính Marx cũng nói: Chủ nghĩa cộng sản “là sự phục hồi chế độ sở hữu của cá nhân trên một hình thức cao hơn”. Rõ ràng, chỉ khi nào mọi người đều có tài sản, đều giàu có thì khi ấy mới có sự bình đẳng đích thực, người người mới có nhân quyền. Một xã hội có phân hóa giàu nghèo thì chưa thể có bình đẳng thực sự. Đạo Do Thái rất chú trọng nguyên tắc làm cho mọi người cùng có tài sản, tiền bạc, cùng giàu có.

Triết gia Max Weber viết: “Đạo Ki-tô không làm tốt bằng đạo Do Thái, vì họ kết tội sự giàu có.” Quả vậy, Chúa Jesus từng nói: “Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Chúa” (Tân Ước, Mathew 19:24), ý nói ai giàu thì khó lên thiên đường, ai nghèo thì dễ lên thiên đường hơn – qua đó có thể suy ra đạo Ki-tô thân cận với người nghèo khổ. Nho giáo và đạo Phật lại càng khinh thường tài sản, tiền bạc, coi nghèo là trong sạch, giàu là bẩn thỉu.

Ngược lại Cựu Ước ngay từ đầu đã viết: “Vàng ở xứ này rất quý” (Genesis 2:12). Ý tưởng quý vàng bạc, coi trọng tài sản vật chất đã ảnh hưởng lớn tới người Do Thái, họ đều muốn giàu có. Khái niệm tài sản xuất hiện ngay từ cách đây hơn 3000 năm khi vua Ai Cập bồi thường cho vị tổ phụ của bộ lạc Do Thái là Abraham, khiến ông này “có rất nhiều súc vật, vàng bạc” (Genesis 13:2). Thượng Đế Jehovah yêu cầu Abraham phải giàu để có cái mà thờ cúng Ngài. Thượng Đế cho rằng sự giàu có sẽ giúp chấm dứt nạn chém giết nhau. Khi Moses dẫn dân Do Thái đi khỏi Ai Cập cũng mang theo rất nhiều súc vật. Những người xuất thân gia đình giàu có hồi ấy như Jacob, Saul, David … đều được Cựu Ước ca ngợi là có nhiều phẩm chất tốt, lắm tài năng, lập được công trạng lớn cho cộng đồng dân tộc và đều trở thành lãnh đạo, vua chúa. Ngược lại, văn hóa phương Đông thường ca ngợi phẩm chất của những người nghèo.

Trọng tiền bạc là đặc điểm nổi bật ở người Do Thái. Họ coi đó là phương tiện tốt nhất để bảo vệ mình và bảo vệ dân tộc họ. Quả vậy, không có tiền thì họ làm sao tồn tại nổi ở những quốc gia và địa phương họ sống nhờ ở đợ, nơi chính quyền và dân bản địa luôn chèn ép, gây khó khăn. Hoàn cảnh ấy khiến họ sáng tạo ra nhiều biện pháp làm giàu rất khôn ngoan. Thí dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ đại – về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Buôn bán cũng là một biện pháp tồn tại khi trong tay không có tài sản cố định nào. Người ta nói dân Do Thái có hai bản năng: thứ nhất là bản năng kiếm tiền; thứ hai là bản năng làm cho tiền đẻ ra tiền – họ là cha đẻ của thuyết lưu thông tiền tệ ngày nay chúng ta đều áp dụng với quy mô lớn (ngành ngân hàng).

Tuy vậy, sự quá gắn bó với tiền bạc là một lý do khiến người Do Thái bị chê bai. Tập quán cho vay lãi của người Do Thái bị nhiều nơi lên án. Hệ thống cửa hiệu của người Do Thái ở Đức là đối tượng bị bọn Quốc Xã Hitler đập phá đầu tiên hồi thập niên 30. Người Đức có câu ngạn ngữ “Chẳng con dê nào không có râu, chẳng người Do Thái nào không có tiền để dành.” Karl Marx từng viết: Tiền bạc là vị thần gắn bó với người Do Thái; xóa bỏ chủ nghĩa tư bản sẽ kéo theo sự xóa bỏ chủ nghĩa Do Thái. Marx nói như vậy nghĩa là đã thừa nhận người Do Thái tham dự sáng lập ra chủ nghĩa tư bản, một chế độ xã hội mới thay thế chế độ phong kiến và làm nên phần chủ yếu trong cộng đồng quốc tế hiện nay. Quả thật, người Do Thái có đóng góp rất lớn về lý thuyết và thực hành trong việc xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Kinh Talmud viết: Mọi người phải yêu Thượng Đế với toàn bộ trái tim, cuộc đời và của cải của mình; mỗi người đều phải quan tâm tới tài sản; không ai được phép dùng tài sản của mình để làm hại kẻ khác và không ai được trộm cắp tài sản người khác; tài sản của một người nhưng không phải chỉ là của người đó mà phải dùng nó để giúp kẻ khác… Có thể hiểu “Yêu Thượng Đế với toàn bộ tài sản của mình” nghĩa là phải sử dụng tài sản riêng của mình theo lệnh Thượng Đế, nghĩa là phải chia bớt cho người nghèo. Quy ước này đã đặt nền móng cho tư tưởng nhân ái, bình đẳng của văn minh phương Tây. Từ đó ta dễ hiểu vì sao cộng đồng Do Thái ở đâu cũng giúp đỡ nhau để tất cả cùng giàu lên, không có ai nghèo khổ.

Đạo Do Thái coi làm giàu là bổn phận nặng nề của con người; nói “nặng nề” vì người giàu có trách nhiệm to lớn đối với xã hội: họ không được bóc lột người nghèo mà phải chia một phần tài sản của mình để làm từ thiện. Những người Do Thái giàu có luôn sống rất giản dị, tiết kiệm và năng làm từ thiện. Không một nhà giàu Do Thái nào không có quỹ từ thiện của mình. Từ đây có thể hiểu được tại sao cộng đồng Do Thái lại cùng giàu có như thế.

Người Do Thái luôn nghĩ rằng Thượng Đế giao cho họ nghĩa vụ và quyền làm giàu. Đây là động lực chủ yếu khiến họ ở đâu cũng lo làm giàu, không bao giờ chịu nghèo khổ. Hai nghìn năm qua, dù sống lưu vong ăn nhờ ở đợ các quốc gia khác và ở đâu cũng bị cấm sở hữu mọi tài sản cố định nhưng dân tộc này vẫn nghĩ ra nhiều cách kinh doanh hữu hiệu bằng các dịch vụ như buôn bán, dành dụm tiền để cho vay lãi …

Muốn làm giàu, điều cơ bản là xã hội phải thừa nhận quyền tư hữu tài sản. Kinh Talmud viết: ai nói “Của tôi là của tôi, của anh là của anh” (mine is mine and yours is yours) thì là người bình thường (average); nói “Của tôi là của anh, của anh là của tôi” thì là kẻ ngu ngốc; nói “Của tôi là của anh và của anh là của anh” thì là ngoan đạo (godly); ai nói “Của anh là của tôi và của tôi là của tôi” là kẻ xấu (evil). Nghĩa là họ thừa nhận quyền tư hữu tài sản là chính đáng, không ai được xâm phạm tài sản của người khác.

Tuy thừa nhận quyền sở hữu tài sản và luật pháp bảo vệ quyền đó, nhưng đạo Do Thái không thừa nhận quyền sở hữu tài sản tuyệt đối và vô hạn, cho rằng tất cả của cải đều không thuộc về cá nhân mà thuộc về Thượng Đế, mọi người đều chỉ là kẻ quản lý hoặc kẻ được ủy thác của cải đó. Tài nguyên thiên nhiên do Thượng Đế tạo ra là để ban cho tất cả mọi người, không ai có quyền coi là của riêng mình. Đây là một quan niệm cực kỳ tiến bộ và có giá trị hiện thực cho tới ngày nay: tài nguyên thiên nhiên, sự giàu có của đất nước là tài sản của toàn dân, tuyệt đối không được coi là của một số nhóm lợi ích hoặc cá nhân.

Kinh Talmud viết nhiều quy tắc hữu dụng về kinh doanh, ví dụ như:

– Vay một quả trứng, biến thành một trại ấp gà;

– Bán nhiều lãi ít tức là bán 3 cái (lãi) chỉ bằng bán 1 cái;

– Mất tiền chỉ là mất nửa đời người, mất lòng tin (tín dụng) là mất tất cả;

– Nghèo thì đáng sợ hơn 50 loại tai nạn;

– Giúp người thì sẽ làm tăng tài sản; ki bo chỉ làm nghèo đi;

– Chỉ lấy đi thứ gì đã trả đủ tiền cho người ta;

– Biết kiếm tiền thì phải biết tiêu tiền; v.v…

Từ sự phân tích sơ qua về quan điểm đối với tài sản và tiền bạc nói trên, có thể thấy hệ thống tư tưởng của đạo Do Thái rất phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và chính vì thế nó tạo dựng nên truyền thống văn hóa bất hủ của dân tộc Do Thái – nền móng vững chắc làm cho dân tộc này dù phải sống lưu vong không tổ quốc hàng nghìn năm nhưng cuối cùng vẫn là dân tộc thành công nhất trên hầu hết các hoạt động của loài người.

Cuối cùng, nhờ có những điểm độc đáo nói trên, văn minh Hebrew của phương Đông trong quá trình giao lưu kết hợp với văn minh Hy-lạp của phương Tây đã sinh ra một nền văn minh mới – văn minh Ki-tô giáo, sau rốt trở thành nền văn minh phương Tây rực rỡ mấy nghìn năm nay. Có lẽ đây là thành tựu đáng kể nhất mà nền văn minh Hebrew đã đóng góp cho nhân loại. Điều đáng nói là, do các nguyên nhân lịch sử cực kỳ phức tạp, lâu nay người ta đã coi nhẹ nền văn minh Hebrew.

* (Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả, Trang Thông tin điện tử Ban Tôn giáo Chính phủ trân trọng giới thiệu để bạn đọc tham khảo).

Nguồn:

Giải mã sự thành công của Israel và người Do Thái

Tìm hiểu Israel và dân tộc Do Thái

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Do_Th%C3%A1i

http://www.jns.org/latest-articles/2013/9/12/how-jewish-education-can-make-us-the-choosing-people#.VvotvtJ97IU

https://www.youtube.com/watch?v=PgsiqHsoLNA (Tạp chí kinh tế: phẳng hay không phẳng)

TP

Đức khẳng định cam kết bảo vệ người Do Thái sinh sống tại nước này

 

Phát biểu sau cuộc gặp với các nhà lãnh đạo Do Thái tại thành phố Halle – nơi vừa xảy ra vụ tấn công bài Do Thái khiến 2 người thiệt mạng, ông Steinmeier nhấn mạnh: “Phải nói rõ rằng nhà nước phải chịu trách nhiệm về cuộc sống của người Do Thái, về sự an toàn trong cuộc sống của người Do Thái ở Đức”.

Chú thích ảnh
Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeier phát biểu tại Berlin. Ảnh: AFP/TTXVN

Tổng thống Steinmeier khẳng định người Đức không thể lặng thinh khi chứng kiến sự kích động và bạo lực cực đoan. Ông nêu rõ: “Lịch sử cảnh báo chúng tôi và hiện tại đòi hỏi điều này từ chúng tôi”. Ông Steinmeier cho biết “đại đa số người Đức” tin tưởng rằng cộng đồng người Do Thái chiếm một vị trí quan trọng tại nước Đức.

Cũng trong ngày 10/10, Thủ tướng Angela Merkel nhấn mạnh nước Đức luôn tự hào vì đã góp phần tái sinh của cuộc sống của cộng đồng người Do Thái kể từ sau cuộc thảm sát của Đức quốc xã đối với 6 triệu người Do Thái trên khắp châu Âu trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Bà đồng thời nêu rõ các tội ác với động cơ thù hận là “không thể dung thứ” ở Đức.

Một tay súng khoảng 27 tuổi, quốc tịch Đức – được xác định là Stephan B, ngày 9/10 đã nổ súng nhằm vào một giáo đường Do Thái ở thành phố Halle và một cửa hàng bánh mỳ gần đó khiến hai người thiệt mạng và hai người khác bị thương. Vụ việc xảy ra đúng ngày Lễ đền tội (Yom Kippur), ngày lễ thiêng liêng nhất trong năm của người Do Thái.

Vụ việc khiến cộng đồng người Do Thái tại Đức lo ngại tình trạng bạo lực bài Do Thái gia tăng tại quốc gia này cùng với sự lớn mạnh của đảng cực hữu Lựa chọn vì nước Đức (AfD). Đảng này bắt đầu có ghế trong Quốc hội Đức 2 năm trước và từ đó đã dẫn đầu phong trào bài người di cư, phản đối chính sách “mở cửa” với người di cư của Thủ tướng Merkel.

Vụ tấn công đã được truyền trực tiếp trên trang chia sẻ video trực tuyến chuyên về game Twitch trong suốt 35 phút, và có 2.200 người đã xem được những hình ảnh kinh khủng này trước khi video bị đánh dấu và gỡ bỏ.

Nuôi dạy con của người Do Thái – Trường Quốc Tế Nhật Bản

 

Tóm tắt:

Do Thái là một trong những dân tộc ưu tú và xuất sắc trên thế giới, đã sản sinh ra những danh nhân vĩ đại cho nhân loại, rất nhiều doanh nhân thành đạt và là dân tộc thông thạo nhiều ngoại ngữ. Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng người Do Thái rất coi trọng giáo dục gia đình, rất quan tâm đến thuyết Thai giáo học và Giáo dục sớm. Điều đặc biệt hơn là nó đã được lưu truyền lại trong kinh Torahn và kinh Talmudh của người Do Thái từ lâu đời. Theo nhà giáo dục người Do Thái – Bawe “Trong cuộc đời con người không có gì quan trọng hơn là giáo dục trẻ từ nhỏ, chúng ta nên tìm mọi cách để trí tuệ, khả năng của trẻ được phát huy tối đa”. Vì vậy, cha mẹ người Do Thái qua nhiều thế hệ luôn coi trọng sự phát triển tiềm năng, bồi dưỡng khả năng thiên phú cho con và cho rằng trẻ từ 0-6 tuổi là thời kỳ đại não phát triển nhanh nhất, trẻ tiếp thu kiến thức nhanh nhất, giáo dục sớm là phát triển tiềm năng cho con, đặt nền tảng vững chắc cho con sau này. Họ luôn dạy con: “Người có trí tuệ là người hạnh phúc”, “Địa vị của học thức còn cao hơn địa vị của Quốc vương”, “Khi nhà cháy con nên đem theo trí tuệ”… Với người Do Thái sách vở không chỉ là “kho báu” mà còn có nhiều điều bổ ích, nên nó luôn ngọt ngào với tất cả các gia đình. Họ luôn quan tâm giáo dục ngôn ngữ, nhiều ngoại ngữ, rèn luyện khả năng ghi nhớ cho trẻ từ nhỏ, giải đáp mọi thắc mắc, kích thích trẻ hứng thú học tập và tìm hiểu kiến thức, thế giới xung quanh trẻ. Gần đây một số nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng chính việc sử dụng nhiều ngôn ngữ cùng một lúc, nói ngôn ngữ đan xen đã, kích hoạt sự kết nối các nơ-ron thần kinh trong não bộ của trẻ.
Nội dung:

I. Tôn thờ trí tuệ

Cha mẹ người Do Thái luôn dạy con từ khi còn nhỏ ; “Người có trí tuệ là người hạnh phúc”, “Địa vị của học thức còn cao hơn địa vị của Quốc vương”…Họ không chỉ coi trọng trí tuệ, mà còn có nhiều phương pháp để tích luỹ trí tuệ, bồi dưỡng trí tuệ cho trẻ, vận dung nhiều biện pháp giúp trẻ học tập hiệu quả.

1. Khi nhà bị cháy, con cần mang theo trí tuệ. Người Do Thái luôn sùng bái trí tuệ và tôn trọng kiến thức. Họ luôn dạy con cái “Nếu nhà mình bị cháy, con cần mang theo trí tuệ của mình, vì trí tuệ sẽ mãi mãi ở bên cạnh con, không ai có thể lấy trí tuệ của con ”, dạy con cái biết quý trong sách vở, chăm chỉ học hành để có kiến thức uyên bác. Họ không chỉ cổ vũ, động viên mà còn bồi dưỡng, hướng dẫn con khả năng tự học và tiếp nhận kiến thức thông qua nhiều hình thức như thu thập tài liệu, lựa chọn tài liệu hợp lí, giao lưu với nhiều người để học hỏi, kiến thức không phải chỉ có trong sách mà còn ở trong cuộc sống hàng ngày.

2. Từ nhỏ con đã học thuộc Kinh Thánh. Dựa vào trạng thái ý thức ghi nhớ khác nhau, người Do Thái chú ý và áp dụng hai loại: Một là ghi nhớ vô thức, hai là ghi nhớ có ý thức, trẻ càng nhỏ khả năng ghi nhớ vô thức càng cao (Điều này đã có trong bài “Giáo dục sớm” và “Đợi đến mẫu giáo thì đã muộn”). Cha mẹ người Do Thái đã và luôn biết cách vận dụng hai loại ghi nhớ này để dạy trẻ nhỏ. Họ cho trẻ nhỏ học thuộc “Kinh thánh Cựu Ước”, họ không chỉ muốn trẻ hiểu biết về văn hoá của dân tộc mình, mà còn giúp chúng bồi dưỡng “hệ thống trí nhớ thiên tài”. Ngoài việc nâng cao trí nhớ cho trẻ, họ còn quan tâm đến việc kết hợp suy nghĩ và ghi nhớ để kích thích sự sáng tạo của trẻ và dạy chúng chỉ nên nhớ những điều quan trọng.

3. Con cần học ngoại ngữ từ nhỏ. Là dân tộc có rất nhiều thương gia tài giỏi, ngoài khả năng phi thường trong kinh doanh, họ đều có một điểm chung là rất giỏi ngoại ngữ. Người Do Thái rất coi trọng ngoại ngữ và thường nói “Có thể nói được vài thứ tiếng, giá trị của bạn bằng mấy người cộng lại”. Vì vậy, họ luôn tận dụng mọi điều kiện thuận lợi nhất để trẻ học và nắm vững ngoại ngữ một cách hiệu quả như kích thích hứng thú học ngoại ngữ thông qua trò chơi, học ngoại ngữ thông qua những vật dụng hàng ngày và tạo không khí, môi trường học ngoại ngữ trong gia đình.

Các nhà nghiên cứu về người Do Thái kết luận rằng: Người Do Thái trộn tiếng mẹ đẻ vào những ngôn ngữ mới muốn học, ngôn ngữ mới đó sẽ trở nên thân thuộc. Thay vì cảm giác chán nản, người học luôn có cảm giác chủ động, bộ não được kích thích bởi nhiều thách thức thú vị.

Việc học ngôn ngữ mới theo cách lồng ghép này sẽ trở thành một cuộc đua đầy trí tuệ và hấp dẫn, khi họ luôn thách thức bản thân phải nhớ được nhiều hơn, nói được dài hơn và nhuần nhuyễn hơn những câu trong ngôn ngữ mà họ đang học, đồng thời thể hiện được sự kiên nhẫn cao hơn trong học tập.

Sau cùng phần thưởng cho những lần tập luyện hào hứng và kiên trì này sẽ là việc tận hưởng cảm giác tự do và độc lập trong việc giao tiếp bằng ngoại ngữ một cách dễ dàng. Như vậy, chỉ với phương pháp học ngoại ngữ hiệu quả được áp dụng hàng ngàn năm nay mà người Do Thái đã luôn làm chủ mọi ngôn ngữ mà họ muốn chinh phục. Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng, việc học nhiều ngôn ngữ ngay từ khi còn nhỏ đã tạo sự kích thích, tăng khả năng kết nối các nơ-ron thần kinh là một trong những nguyên nhân tạo cho người Do Thái được nằm trong những chủng tộc thông minh và ưu tú trên thế giới.

4. Sách vở luôn ngọt ngào. Người Do Thái cho rằng, trong sách không chỉ có “kho vàng” mà còn có rất nhiều điều bổ ích nên họ rất yêu sách. Đặt tủ sách ở đầu giường là truyền thống, là thái độ sùng kính đối với sách và cũng để đọc sách thường xuyên hơn. Họ luôn muốn con cái ham đọc sách từ nhỏ và muốn trẻ giữ được đam mê này. Vì vậy vào mỗi buổi tối, cả gia đình thường ngồi đọc sách; đặt mua định kì tạp chí hoặc báo, đồng thời giám sát việc đọc của trẻ; hàng tuần đưa trẻ đến thư viện, bảo tàng, triển lãm làm tăng kiến thức và hứng thú học tập cho trẻ; cha mẹ người Do Thái luôn là tấm gương tốt để truyền đạt kiến thức và hứng thú đọc sách cho con cái.

5. Học bất cứ lúc nào cũng không muộn. Người Do Thái thích câu nói của Labi “Trong vườn cây giáo dục, không có cây kết quả sớm, cũng không có cây kết quả muộn, chỉ có cây không ngừng mở rộng trí tuệ và tư tưởng” và họ luôn coi danh ngôn của Seqier làm lời răn dạy bản thân và cổ vũ người khác học tập “Lúc này không học, bao giờ mới học”. Vì vậy với họ, việc học tập không phụ thuộc vào tuổi tác, không phụ thuộc vào thân phận giàu nghèo, ai có ý chí đều nên đọc sách để học hỏi kiến thức. Bất cứ ở đâu, lúc nào, người Do Thái đều coi kiến thức và trí tuệ là mục đích hướng tới, với họ, sách vở là nguồn dinh dưỡng của tiền bạc và sự sống.

6. Thói quen đặt câu hỏi trong khi học. Đặt câu hỏi trong quá trình học tập chứng tỏ trẻ có suy nghĩ, nếu bản thân trẻ tự tìm ra đáp án đúng sẽ kích thích sự say mê học tập, kích thích sự phát triển tư duy của trẻ. Tất nhiên, muốn trẻ có thói quen đặt câu hỏi, cha mẹ cần tích cực trả lời các câu hỏi của trẻ một cách kiên nhẫn; hướng dẫn trẻ đặt câu hỏi, kích thích sự tò mò và quan sát cuộc sống xung quanh và thường ngày cha mẹ cần đặt ra nhiều câu hỏi cho trẻ.

7. Trí tuệ của con bắt đầu từ sự chú ý. Người Do Thái rất đồng tình với câu nói của Labi “Thiên tài bắt nguồn từ khả năng chú ý. Đây là cánh cửa dẫn đến thế giới tri thức, không có cánh cửa này nhiều tri thức khó có thể được trẻ nắm bắt”. Chú ý là một hiện tương tâm lí, trẻ sẽ phát triển dần từ chú ý vô thức (sau khi sinh) thành khả năng chú ý có ý thức. Nếu trẻ thiếu khả năng tập trung chú ý, việc học tập, kết quả công việc của trẻ bị ảnh hưởng và ngược lại nếu trẻ làm việc tập trung và chuyên tâm, kiến thức và trí tuệ của trẻ sẽ được nâng cao. Cha mẹ người Do Thái luôn căn cứ vào các quy luật phát triển tâm lí để bồi dưỡng khả năng chú ý có ý thức và giúp trẻ tập trung chú ý hơn. Để làm việc đó họ chú ý loại bỏ các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài, tạo ra một môi trường học tập tốt; không để trẻ quá mệt mỏi bằng cách thay đổi cách thức học tập; kịp thời làm tăng sự tự tin cho trẻ bằng những lời cổ vũ hoặc quà tặng; bổ sung dinh dưỡng hợp lý cho trí não; và quan tâm đảm bảo thời gian và chất lượng giấc ngủ cho trẻ.

8. Suy nghĩ mang lại kiến thức và trí tuệ cho con. Người dân Do Thái có câu “Không là con lừa cõng trên lưng nhiều sách”, vì vậy họ luôn dạy trẻ không bắt chước máy móc, không ỷ lại những kiến thức đã có mà phải thường xuyên rèn luyện, trau dồi để biến kiến thức thành trí tuệ và năng lực của mình. Để thực hiện được điều đó họ luôn khuyến khích con hoài nghi, đặt câu hỏi và suy nghĩ, tra cứu tìm câu trả lời; làm cho cuộc sống của con thêm phong phú như cùng đọc sách, cùng thảo luận, tăng giao lưu, tiếp xúc… nhằm kích thích trí tò mò và khám phá ; hạn chế tính ỷ lại của trẻ.

9. Khuyến khích bé trải nghiệm. Việc để trẻ trải nghiệm có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức cho trẻ, giúp trẻ phát huy năng lực và trí tuệ của bản thân. Hộp bút màu là món quà hay được người mẹ Do Thái tặng con, nó giúp trẻ phân biệt, sử dụng màu sắc và thường tổ chức các cuộc thi hội hoạ. Đồ chơi không chỉ để chơi mà còn có thể tháo lắp để tìm tòi, đó là cách người Do Thái khuyến khích trẻ tìm tòi nghiên cứu từ khi còn nhỏ.

II. Tự lập tự cường

1. Tin vào bản thân mới có thể sớm tự lập. Tin tưởng và dựa vào bản thân là biểu hiện cao nhất của sự tự lập, nó giúp trẻ không lùi bước trước khó khăn và dũng cảm tiến về phía trước; tự lập giúp trẻ mạnh dạn, nỗ lực vươn tới thành công và để đạt được ước mơ. Vì vậy họ luôn rất yêu con nhưng không nuông chiều con và luôn có nguyên tắctôn trọng quyết định của con và bồi dưỡng ý thức độc lập cho con; rất quan tâm giáo dục kĩ năng sống tự lập và coi đó là tiền đề giúp trẻ nhận thức ý nghĩa sống dựa vào năng lực bản thân mà không dựa dẫm vào bố mẹ.

2. Bí quyết để có khả năng sinh tồn mạnh mẽ. Một dân tộc sinh tồn trong khó khăn, gian khổ, ngoài trí tuệ tuyệt vời, họ đều nhận thức rõ về điều kiện sống và địa vị sinh tồn của dân tộc mình. Họ tồn tại được đến ngày nay là bởi phẩm chất kiên cường, ý chí bất khuất, không chịu bỏ cuộc để từng bước vươn lên. Người Do Thái thường nói “Học cách sinh tồn từ việc nhỏ, học khả năng khác từ việc lớn”. Họ luôn quan tâm bồi dưỡng khả năng kiên trì, bền bỉ và có trách nhiệm cho con cái từ những việc nhỏ; luôn kiên quyết từ chối những yêu cầu không hợp lý của con; giúp con đặt kế hoạch và mục tiêu học tập hợp lí và khoa học; tạo cơ hội khuyến khích trẻ làm một việc gì đó lâu dài.

3. Con bắt đầu lao động từ lúc 2 tuổi. Trong quan niệm của người Do Thái, một người muốn thành đạt cần thông minh và chăm chỉ. Vì vậy họ luôn quan tâm bồi dường tình yêu lao động cho con, nhiều trẻ em ngay từ nhỏ đã được hướng dẫn làm những công việc nhà một cách phù hợp. Họ sắp xếp công việc cho trẻ, quan tâm giao những việc trẻ có năng lực, thích làm để tăng khả năng và làm những việc trẻ hay mắc lỗi, sợ sệt để rèn luyện. Tất nhiên không thể kỳ vọng vào kết quả hoàn hảo từ trẻ nhỏ, họ không bao giờ trách mắng con, luôn khích lệ và khen ngợi con cái.

4. Niềm tin. Người Do Thái thường dạy con “Tự tin giúp con người cố gắng khắc phục khó khăn, chiến thắng thất bại, đạt được thành công. Nếu con có đủ tự tin và luôn cố gắng, con sẽ làm được mọi việc”. Để bồi dưỡng sự tự tin cho trẻ, họ quan tâm loại trừ tâm lí tự ti , thông qua việc tôn trọng con cái, đứa con biết rằng bản thân mình rất quan trọng; cha mẹ luôn cổ vũ động viên trẻ thông qua những tấm gương người thành đạt; khen ngợi và cổ vũ thích hợp; không làm giúp trẻ; và giúp trẻ thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm của mình, phân tích nguyên nhân tạo ra khuyết điểm đó và tìm cách khắc phục. Sự tự tin trong trẻ không những giúp trẻ miễn dịch với cái xấu mà nó giúp cho trí tuệ của trẻ được phát ra giống như mạch nước ngầm trong lòng đất sẽ phát lộ và phun trào như dòng suối.

5. Trừng phạt con hợp lí sẽ mang lại hiệu quả đối với con. Trẻ còn nhỏ không tránh khỏi những sai xót, việc nhắc nhở và trừng phạt là cần thiết. Tuy nhiên không được thiếu tôn trọng trẻ, không được trách mắng mù quáng và trừng phạt không đúng cách sẽ ảnh hưởng đến sự trưởng thành của trẻ. Chỉ có những biện pháp trừng phạt hợp lí, khoa học trách phạt nhưng vẫn tôn trọng trẻ, mới giúp trẻ giảm bớt những hành vi không đúng. Cha mẹ người Do Thái được hướng dẫn đặt và trả lời 10 câu hỏi trước khi trừng phạt trẻ: 1. Mục đích của sự trùng phạt này là gì?; 2. Cách phạt này có ngăn chặn được hành vi không đúng của trẻ không? 3. Cách phạt này có giúp trẻ hiểu được hành vi sai trái của mình không? 4. Tại sao mình lại trừng phạt con, có phải vì mình đang tức giận không? 5. Có phải xuất phát từ sự kích động mà mình trừng phạt con không? 6. Khi không tức giận, mình có trừng phạt con như vậy không? 7. Cách phạt này có làm con cảm thấy xấu hổ hoặc tủi thân không? 8. Không còn cách nào khác ư? 9. Cách trừng phạt này là một phần của kế hoạch ư? 10. Có phải mình luôn trừng phạt con như vậy?

6. Con là một đứa trẻ dũng cảm. Các bậc cha mẹ đều mong muốn con mình dũng cảm, mạnh dạn, không nhút nhát, sợ bóng tối, sợ “ma quỷ”, dám đương đầu với khó khăn, không ỷ lại vào người khác, bình tĩnh tự tin và suy nghĩ tìm cách giải quyết khó khăn để đạt mục tiêu. Để đạt được mong muốn đó, cha mẹ người Do Thái luôn tự mình xây dựng tấm gương tốt cho trẻ noi theo; luôn tôn trọng trẻ, tìm nguyên nhân để giải thích và lựa chon cách thích hợp giúp trẻ không sợ hãi và loại bỏ tâm lý sợ hãi; quan tâm bồi dưỡng tính tự lập, độc lập giải quyết vấn đề cho trẻ.

7. Dũng cảm thể hiện bản thân. Rèn luyện cho trẻ thói quen dũng cảm thể hiện khả năng của bản thân, không chỉ giúp trẻ nhanh chóng hoà nhập với tập thể, thích ứng với xã hội, mà còn tăng tỉ lệ thành công trong tương lai. Tất nhiên cùng với nó cần dạy trẻ nhận thức đúng đắn chính mình, điểm mạnh, hạn chế và khả năng của bản thân để thể hiện sở trường, điểm mạnh và khắc phục những hạn chế. Họ luôn hiểu và đồng cảm với những trẻ nhút nhát, cổ vũ động viên trẻ và rèn luyện khả năng thể hiện bản thân ở nơi đông người.

8. Thất bại chẳng là gì đối với con. Trong cuộc đời con người, không ai không có lần thất bại và vấp ngã, nhưng điều đó không đáng sợ, điều đáng sợ là sau khi vấp ngã không có đủ dũng khí để đứng lên, không rút được những bài học kinh nghiệm bổ ích để vững vàng đi tiếp. Mỗi khi con cái thất bại, cha mẹ người Do Thái luôn chú ý tới thái độ của mình, không chỉ trích mắng mỏ , mà luôn luôn cổ vũ, an ủi con. Để giáo dục con, họ chủ động đặt ra một số khó khăn cho trẻ để rèn luyện, thử thách. Nếu con thất bại, họ sẽ hướng dẫn trẻ tìm cách vượt qua những chướng ngại và thử thách để đạt được thành công, từ đó tăng thêm dũng khí cho trẻ.

9. Chăm chỉ luôn là phẩm chất tốt đẹp của con. Chăm chỉ là một phẩm chất cần có của người Do Thái, vì vậy họ bồi dưỡng thói quen lao động cho trẻ từ nhỏ để rèn luyện đức tính chăm chỉ và kỹ năng sống cho trẻ. Họ khen ngợi kịp thời sự chăm chỉ của trẻ, những việc có thể làm được thì giao cho trẻ và họ đặc biệt quan tâm đến bồi dưỡng thói quen học tập chăm chỉ cho trẻ từ nhỏ.

III. Quản lý tài chính

1. 3 tuổi, con bắt đầu học nhận biết đồng tiền. Người Do Thái cho rằng, người có khả năng quản lí tài chính và ý thức đầu tư giỏi sẽ biết kiếm tiền và quản lý tiền. Do vậy họ cho rằng dạy trẻ những kiến thức về tài chính là rất quan trọng. Từ lúc 3-4 tuổi, đa số trẻ em Do Thái đều đã được học cách nhận biết đồng tiền, được giảng giải để hiểu về giá trị và công dụng của đồng tiền, được giáo dục cách chi tiêu và được dạy cách lập dự toán kế hoạch chi tiêu trong gia đình.

2. 5 tuổi con đã bắt đầu làm thêm kiếm tiền. Trong gia đình người Do Thái, cha mẹ không chỉ dạy con độc lập về kinh tế, mà còn để trẻ thông qua cách “làm thêm” kiếm tiền tự nuôi bản thân và học được kĩ năng sống tự lập. Với họ 5 tuổi là giai đoạn thích hợp nhất để trẻ “làm thêm” việc nhà để kiếm tiền, họ có bảng phân công việc nhà hàng ngày cho trẻ, sau mỗi công việc có ghi số tiền thưởng. Tất nhiên không phải tất cả việc nhà đều được nhận tiền thưởng vì một số công việc thuộc về trách nhiệm của trẻ như giặt quần áo nhỏ của mình, thu dọn, sắp xếp sách vở…

3. Con biết tiết kiệm, nhưng tuyệt đối không keo kiệt. Chăm chỉ và tiết kiệm là là hai yếu tố quan trong và là phẩm chất tốt đẹp của người Do Thái, nhưng họ không keo kiệt vì với họ, những người keo kiệt là những người ngu ngốc và nghèo khó. Họ giảng giải cho con biết chăm chỉ và tiết kiệm là một phẩm chất đạo đức tốt đẹp; thông qua những việc nhỏ để trẻ biết ý nghĩa của chăm chỉ, tiết kiệm; dùng hành động của bản thân để làm gương và cảm hoá trẻ; hướng dẫn trẻ chi tiêu hợp lý, không hoang toàng và cũng không keo kiệt.

4. 1 đô la con cũng muốn làm. Cha mẹ người Do Thái thường dạy con rằng: Không nên phân biệt tiền nhiều hay ít, món tiền nhiều cũng được tạo nên bởi những món tiền nhỏ, chỉ cần kiếm tiền một cách hợp pháp thì 1 đô la cũng cần kiếm; “Thương trường là chiến trường, trên chiến trường đó, luôn dùng thành bại để luận anh hùng”. Còn thành bại lại được quyết định bởi bạn có thông minh hơn không và biết dùng trí thông minh đó hay không.

5. Giá trị của một kg đồng. Qua câu chuyện nhỏ về giá trị của một kg đồng, người Do Thái giáo dục con cái từ nhỏ rằng, tài sản đích thực là trí tuệ, chỉ có trí tuệ mới không bị ai tranh giành. Nhưng thực ra, sự thông minh nhạy bén của người Do Thái bắt nguồn từ thái độ của họ, họ không coi sự thông minh nhạy bén là mục đích duy nhất, mà chỉ là điều cần thiết để áp dụng trong cuộc sống. Còn đạo đức và thái độ đối với công việc mới là tiền đề để dẫn đến thành công.

6. Con hiểu, nguy hiểm và thành công tỉ lệ thuận với nhau. Người Do Thái luôn thích mạo hiểm trong kinh doanh, vì chỉ có kinh doanh mạo hiểm, mới dễ đạt lợi nhuận cao. Do đó họ luôn giáo dục con cái coi trọng tinh thần mạo hiểm, dũng cảm vượt qua thách thức. Phương pháp của họ là truyền dạy cho trẻ quan niệm mạo hiểm đúng đắn như, không vi phạm pháp luật, không tổn hại đến đạo đức xã hội, không làm hại đến bản thân và người khác; sắp xếp các tình huống trong cuộc sống thường ngày để kích thích, hướng dẫn và rèn luyện tinh thần mạo hiểm cho trẻ.

7. Thành tín, nguyên tắc kinh doanh của con. Người Do Thái đều rất thành tín, điều này liên quan rất lớn đến tín ngưỡng tôn giáo của họ. Họ không chỉ giữ tín ngưỡng trong kinh doanh mà trong bất cứ mối quan hệ nào. Bồi dưỡng phẩm chất thành tín cho trẻ được đặc biệt coi trọng, thông qua việc xây dựng tấm gương thành tín để con noi theo; đáp ứng nhu cầu hợp lí cho trẻ, những nhu cầu không hợp lí của trẻ cần được giảng giải; và cần tin tưởng trẻ, không nên nghi ngờ trẻ.

IV. Đối xử thân thiện với người khác.

1. Con sẽ đối xử với mọi người như với chính bản thân mình. Cha mẹ người Do Thái thường dạy con cần yêu thương người khác như yêu bản thân mình, biết yêu thương người khác chân thành mới nhận được sự tôn trọng và yêu mến của mọi người, đồng thời cuộc sống của con sẽ trở nên phong phú và thiết thực hơn. Họ bồi dưỡng cho con phẩm chất biết yêu thương thông qua việc tăng cơ hội cho trẻ giao lưu với những người xung quanh; đối xử khoan dung với người khác và ai cũng là người quan trọng, giúp trẻ học cách quan sát và cảm nhận niềm vui, nỗi buồn của người khác, biết cổ vũ động viên và an ủi kịp thời.

2. Khi hàng xóm gặp khó khăn, chúng ta nên giúp đỡ họ. Truyền thống giúp đỡ lẫn nhau đã tồn tại từ rất lâu ở dân tộc Do Thái. Họ luôn dạy con cái biết yêu thương dân tộc mình, quan tâm tới mọi người; giúp đỡ người khác theo khả năng và không nên chờ đợi sự đền đáp ; khi giúp đỡ người khác, không được làm tổn thương đến lòng tự trọng của người ấy.

3. Con là một đứa trẻ lễ phép. Lễ phép là phẩm chất cần có trong quan hệ giao tiếp, giúp giảm những xung đột, mâu thuẫn và tạo mối quan hệ hài hoà giữa người với người. Người Do Thái quan niệm, phẩm chất con người tốt hay xấu sẽ quyết định sự thành công của người ấy. Họ giáo dục con trẻ thông qua việc xây dựng tấm gương tốt; dạy trẻ các phép tắc lịch sự, lễ phép với khách, mọi người xung quanh và bồi dưỡng lòng tự tôn cho trẻ.

4. Con không bao giờ được coi thường người khác. Không coi thường, đối xử bình đẳng, khoan dung và chân thành với mọi người là tiền đề để bản thân chúng ta được tôn trọng và có mối quan hệ tốt. Trong xã hội dân chủ, quan hệ rộng rãi là điều kiện cần thiết cho sự thành công của mỗi người, sự thành công của mỗi người không thể tách rời sự ủng hộ của những người xung quanh. Để giáo dục phẩm chất đó cho con trẻ, cha mẹ người Do Thái xoá bỏ các quan niệm cổ hủ, tăng cơ hội cho con cái trong tiếp xúc với người khác, nâng cao trình độ văn hoá cho trẻ để đánh giá con người và sự vật một cách toàn diện và sâu sắc hơn, từ đó hình thành thói quen tôn trọng người khác.

5. Mặc dù còn nhỏ nhưng con đã biết đoàn kết. Chính bởi ý thức hợp tác, đoàn kết, tương thân tương ái, thận trọng trong lời nói, việc làm mà trải qua bao khó khăn, bị truy sát bức hại, người Do Thái vẫn ngoan cường sống, chiến đấu, sinh tồn và phát triển huy hoàng như ngày nay. Cha mẹ người Do Thái chú ý bồi dưỡng cho con trẻ tinh thần đoàn kết thông qua bồi dưỡng tình yêu thương, tinh thần trách nhiệm, ý thức tập thể, hoà nhập với mọi người, rèn luyện trẻ thông qua các trò chơi giúp trẻ thấy được lợi ích của sự đoàn kết.

6. Con biết hai cái tai luôn nhiều hơn một cái miệng. “Thượng đế tạo cho con người hai cái tai, một cái miệng, là để chúng ta nói ít, nghe nhiều”…lời nói đúng mực như liều thuốc tốt, nhưng nói quá nhiều thì tác dụng ngược lại, không có ích mà còn làm hại bản thân; không có ai bình luận về cuộc sống của người khác cuộc sống sẽ bớt mâu thuẫn và tranh chấp; “Im lặng là vàng, hùng biện là bạc”. Đó là câu ngạn ngữ và những điều cha mẹ người Do Thái thường dạy con cái, họ còn dạy con không tùy tiện đánh giá người khác và dạy con ý nghĩa và cách thức lắng nghe để được người khác tin cậy.

7. Sáng suốt khi kết bạn. Người Do Thái thường nói “Bạn bè chân chính giống như cái lều vững chãi, có thể che nắng che mưa cho con người, là vật báu vô giá trong cuộc sống”, “Chơi với chó sẽ có bọ chét bám vào người” và “Nếu con kết giao với người thông thái, con cũng trở thành người thông thái…” để dạy con cái thận trọng khi kết giao bạn bè. Họ dạy con lựa chọn bạn phải là người tôn trọng con vì người biết tôn trọng người khác sẽ biết cư xử đúng mực, có phẩm chất nhân cách cao quý; Là người hiểu con, họ có thể góp vui, chia buồn, an ủi và nhắc nhở con khi cần thiết; và là người giúp đỡ con những lúc khó khăn trong cuộc sống.

8. Dù có ích thế nào con cũng không nên ép buộc người khác. Tôn trọng ý kiến và lựa chọn của người khác giúp trẻ cải thiện mối quan hệ, từ đó tạo mối quan hệ giao lưu gắn bó. Họ dạy con cần hiểu người khác khi giao lưu, cần học cách đặt mình vào vị trí người khác để suy nghĩ vấn đề, để có thể hiểu được người khác, tôn trọng ý kiến, quyết định của họ và việc hình thành thái độ khiêm tốn, hài hoà là điều không thể thiếu trong giao tiếp. Ngược lại ép buộc người khác làm theo ý mình là tự cô lập bản thân, gây phản cảm cho người khác và làm hỏng mối quan hệ giao tiếp.

V. Quan niệm giáo dục có sức ảnh hưởng rất lớn.

1. Chúng ta rất tự hào về con. Mỗi đứa trẻ đều có thiên phú riêng và đều rất đặc biệt, yêu trẻ chính là bạn cần chấp nhận trẻ, chấp nhận cả những thất bại và khuyết điểm của trẻ. Điều này sẽ đem lại cảm giác an toàn và tự tin , nhờ vậy trẻ sẽ có được sức mạnh phát huy được những năng lực tiềm ẩn. Ngoài ra, sự khẳng định của cha mẹ sẽ giúp trẻ học cách chấp nhận người khác, từ đó giúp trẻ học được sự khoan dung và độ lượng.

2. Tất cả sự giáo dục đều là vì tương lai của con. Người Do Thái không chỉ chú trọng đến kiến thức đã học, mà còn chú trọng đến tài năng thiên bẩm của con và tạo điều kiện để tài năng đó phát triển, họ cho rằng thiếu tài năng thì khó phát huy được giá trị đích thực, họ rất coi trọng giáo dục, thông qua giáo dục để bồi dưỡng, phát huy tài năng cho trẻ. Ngoài ra họ rất quan tâm rèn luyện tính độc lập, tự suy nghĩ, không ngừng học hỏi, để chuẩn bị cho tương lai sau này.

3. Phát triển tiềm năng cho trẻ càng sớm, càng tốt. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, người Do Thái thông minh, đạt được nhiều giải Nobel một phần do hiệu quả của phương pháp giáo dục trẻ từ nhỏ mang lại. Người Do Thái quan tâm đến thuyết Thai giáo học “Thai nhi là thiên tài” và phương pháp giáo dục sớm 0-6 tuổi. Đặc biệt hơn điều này đã được lưu truyền lại trong kinh Toranh và kinh Talmudh của người Do Thái từ lâu đời. Vì vậy họ luôn coi trọng sự phát triển tiềm năng, bồi dưỡng khả năng thiên phú cho con và cho rằng trẻ từ 0-6 tuổi là thời kỳ đại não phát triển nhanh nhất, trẻ tiếp thu kiến thức nhanh nhất, giáo dục sớm chính là phát triển tiềm năng cho con, đặt nền tảng vững chắc cho con sau này. Theo nhà giáo dục người Do Thái- Bawe thì “Trong cuộc đời con người không có gì quan trọng hơn là giáo dục trẻ từ nhỏ, chúng ta nên tìm mọi cách để trí tuệ, khả năng của trẻ được phát huy tối đa” (mời xem bài “Giáo dục sớm” và bài “Đợi đến mẫu giáo thì đã muộn”). Hầu hết cha mẹ người Do Thái đều đồng ý với ý kiến của nhà bác học vĩ đại Albert Einstein, nhà giáo dục nổi tiếng Lozanov rằng “Hầu hết trẻ em sinh ra đều tiểm ẩn những thiên tài…” phương pháp giáo dục đúng đắn sẽ giúp trẻ phát huy hết tiềm năng của mình. Vì vậy quan tâm giáo dục ngôn ngữ, ngoại ngữ, rèn luyện khả năng ghi nhớ cho trẻ từ nhỏ, giải đáp mọi thắc mắc, kích thích trẻ hứng thú học tập và tìm hiểu kiến thức, thế giới xung quanh trẻ là điều vô cùng quan trọng để phát huy năng lực tiềm ẩn trong trẻ.

4. Quan niệm lui lại thời gian hưởng thụ. Điều này như là một trong những bí quyết nuôi dạy con của người Do Thái. Những thứ mà con người muốn, không phải là cứ với tay là có được, mà đều cần có sự cố gắng, chăm chỉ và kiên trì trong một thời gian dài. Kéo dài thời gian chờ đợi hưởng thụ nhằm giúp trẻ rèn luyện tính kiên nhẫn và khả năng chịu áp lực tâm lý, từ đó tôi luyện phẩm chất kiên cường, ý chí và nghị lực vượt khó khăn trong cuộc sống để đạt được thành công.

5. Con có thế mạnh cần tiếp tục phát huy. Không ai là người hoàn hảo, mức độ thiên phú thế mạnh và nhược điểm của mỗi người cũng khác nhau. Nếu cha mẹ không để ý, trách mắng trẻ, ép trẻ học tập làm việc để bù đắp những nhược điểm sẽ gây cho trẻ bị tổn thương. Mỗi vĩ nhân đều có những niềm đam mê riêng , mỗi đứa trẻ đều có sở trường riêng. Sự hứng thú sẽ kích thích trẻ học tập, nhưng đối với trẻ sự hứng thú thường không kéo dài vì vậy cần sự trợ giúp của cha mẹ để những hứng thú, đam mê của trẻ được duy trì và phát triển. Người làm cha mẹ giỏi là người phát hiện được những thiên hướng của con trẻ và tạo cơ hội để nó duy trì phát triển. Hãy luôn nhớ rằng “Trên đời không có phế thải, chỉ có để nhầm chỗ mà thôi”.

6. Tài ăn nói chiếm một nửa của thành công. Người Do Thái cho rằng, muốn đạt được thành công, ngoài tư duy nhạy bén, ăn nói lưu loát là điều vô cùng quan trọng. Vì vậy họ rất quan tâm đến bồi dường khả năng ăn nói của con thông qua việc cổ vũ trẻ suy nghĩ, đặt và trả lời các câu hỏi, cổ vũ trẻ thể hiện bản thân trước đông người.

7. Con nên biết thế nào là khả năng thưởng thức cái đẹp. Bồi dưỡng cảm quan thẩm mỹ không chỉ làm phong phú cuộc sống tinh thần, bồi dưỡng tình cảm cho trẻ, mà còn kích thích trí tuệ trẻ phát triển và bồi dưỡng thái độ sống lạc quan, tích cực. Để làm được việc đó họ bồi dưỡng cho trẻ nhận biết vẻ đẹp bên ngoài như sự hài hoà của màu sắc, vẻ đẹp của thiên nhiên và để trẻ cảm nhận cả vẻ đẹp bên trong của sự vật. Đó là lý do dân tộc Do Thái đã sinh ra nhiều hoạ sĩ, nhà điêu khắc, nghệ sĩ nổi tiếng.

8. Lễ Vượt Qua, cùng nhau nhớ lại nào! Lễ Vượt Qua là để kỷ niệm Moses đã đưa dân tộc Do Thái thoát khỏi Ai Cập trong giai đoạn gian khổ. Đây là dịp cha mẹ kể cho con cái nghe những trải nghiệm khó khăn, gian khổ của tổ tiên, cùng ăn những món ăn đặc biệt như: Bánh không men, đùi cừu nướng, trứng gà nướng, rau đắng, rau cần, bốn cốc rượu để nếm trải những khó khăn, vất vả mà cha ông đã từng vượt qua. Trong lịch sử, người Do Thái đã trải qua muôn vàn khó khăn, gian khổ: Sống cuộc dời lang bạt, bị kỳ thị, nhân cách bị làm nhục, tính mạng bị dồn đẩy vào diệt vong… Những điều đó đã luôn nhắc nhở họ rằng, chỉ có trải qua những thử thách khó khăn, cuộc sống mới phát triển, dân tộc mới hưng thịnh. Với họ khó khăn là điều cần thiết cho cuộc đời của trẻ, họ quan tâm giúp trẻ hiểu được và cảm nhận sự khó khăn, vất vả, thậm chí còn tạo ra những trở ngại thích hợp cho trẻ, nhằm nâng cao khả năng chịu khó, chịu khổ từ đó giúp trẻ tự tin chiến thắng trong mọi hoàn cảnh.

9. Giỏi lắm, chiếc ghế con làm rất đẹp. Kinh thánh Do Thái nói rằng: “Là cha mẹ thì bất cứ lúc nào cũng không mất đi niềm tin và hy vọng vào con cái, đặc biệt khi con cái gặp khó khăn”. Vì vậy cha mẹ cần quan tâm phát hiện thiên hướng tài năng của con trẻ, khích lệ động viên con phát huy những tài năng đó, bồi dưỡng sự tự tin, khích lệ sự tìm tòi, sáng tạo của trẻ. Mỗi lần không thành công, hãy giúp con rút được bài học kinh nghiệm và vượt qua khó khăn để bước tiếp một cách tự tin.

VI. Giáo dục đạo đức cho con cái

1. Con ơi, con nên biết hiếu kính với cha mẹ. Mỗi gia đình là một chỉnh thể, cần có sự đoàn kết, thương yêu lẫn nhau, tất cả mọi người đều tham gia vào công việc gia đình, vun đắp hạnh phúc gia đình, cha mẹ là trụ cột, giúp gia đình ổn định. Kính hiếu với ông bà, cha mẹ, người lớn là một phẩm chất đạo đức cơ bản cao quý nhất và ai cũng mong muốn điều đó ở con cái mình. Để làm được điều này chắc chắn các bậc cha mẹ phải là những tấm gương tốt cho con trong việc đối xử với ông bà, quan tâm xây dựng mối quan hệ gia đình hợp lý, có tôn ti trật tự, nhưng bình đẳng, lắng nghe, tôn trọng suy nghĩ của con, không dùng uy quyền và quyết định thay con, và tạo cơ hội cho trẻ thể hiện lòng hiếu thảo, tôn trọng cha mẹ.

2. Con ơi, kính trọng cha mẹ là vô cùng quan trọng. Kinh thánh của người Do Thái có câu “Kính trọng cha mẹ làm bạn hạnh phúc và trường thọ”. Người Do Thái rất coi trọng gia đình, họ luôn quan niệm gia đình là tế bào của xã hôi, chỉ khi gia đình hoà thuận, cả dân tộc mới thịnh vượng, phát triển và sự đoàn kết và tình thương yêu là nguyên nhân quan trọng giúp dân tộc Do Thái phát triển và lớn mạnh. Để có một gia đình hoà thuận họ quan tâm điều chỉnh lời nói, ngữ khí không đúng cho trẻ, bồi dưỡng hành vi và cách diễn đạt, luôn kiên trì giải quyết các mâu thuẫn của trẻ.

3. Gặp thầy cô giáo, con nên cúi chào. Người Do Thái thường nói: “Giáo dục trẻ là một công việc kỳ diệu, mỗi người đều cần tôn trọng thầy cô giống như tôn trọng Thượng Đế”. Trong quá trình trưởng thành, ngoài sự giáo dục của cha mẹ, phần nhiều trẻ được giáo dục, dạy dỗ bởi thầy cô giáo, sự thành công của trẻ không tách rời sự dạy dỗ của thầy cô. Vì thế, thầy cô giáo chính là cha mẹ thứ hai của trẻ. Để trẻ biết ơn và tôn trọng thầy cô, các bậc cha mẹ cần hướng dẫn có có thái độ nghiêm túc khi giao tiếp với thầy cô, có tình cảm chân thành và tin tưởng ở thầy cô.

4. Con sẽ dành dụm tiền để cho người ăn xin. Cha mẹ người Do Thái thường nới, đối xử thân thiện với người khác chính là đối xử tốt với bản thân. Giáo dục lòng bao dung cho con như đối xử thân thiện với người khác, k

Ai là người Do Thái? – Wikipedia tiếng Việt

 

 src=

Người Do Thái thuộc phái Hasidic.

 src=

Người Do Thái cõng con gái nhảy múa trong Lễ Đốt Lửa Lag BaOmer.

“Ai là người Do Thái?” (tiếng Hebrew: מיהו יהודי‎, tiếng Anh: Who is a Jew?, tiếng Nga: Негалахические евреи) là một câu hỏi cơ bản về bản sắc Do Thái và sự xem xét tự xác định căn tính Do Thái. Câu hỏi “Ai là người Do Thái?” cơ bản là dựa trên ý tưởng để xác định ai là người Do Thái liên quan đến văn hóa, tôn giáo, gia phả học, và gia đình.
Các tiêu chuẩn hay định nghĩa để xác định ai là người Do Thái thay đổi dựa theo nhiều yếu tố như:

  • Luật pháp tôn giáo
  • Tự xác định bản sắc dân tộc của cá nhân.
  • Tiêu chuẩn và định nghĩa để xác định ai là người Do Thái dựa vào quan điểm của người dân ngoại (người ngoại đạo, người không phải do thái) hay nền văn hóa khác và những lý do khác.

Bản sắc Do Thái bao gồm các đặc điểm của một dân tộc, một tôn giáo, và việc cải đạo chuyển đổi tôn giáo.[1] Bản sắc của người Do Thái cũng thường được xác định qua sắc tộc. Các cuộc thăm dò khảo sát dư luận gần đây đã cho thấy phần lớn đa số người Do Thái coi bản sắc Do Thái chủ yếu là liên quan đến dòng dõi gốc gác tổ tiên, dòng máu huyết thống, và văn hoá chứ không phải là tôn giáo.[2][3] Người Do Thái Ashkenazi là nhóm dân tộc Do Thái phổ biến nhất. Dân tộc Ashkenazi đã từng là chủ đề của nhiều viện nghiên cứu về gia phả và đã được phát hiện thấy là người Ashkenazi là một nhóm dân tộc khác biệt và đồng nhất.[4]

Dựa vào định nghĩa đơn giản nhất để xác định ai là người Do Thái được sử dụng bởi chính người Do Thái, một người sinh ra là người Do Thái, hoặc một người cải đạo sang Do Thái giáo.

Xác định ai là người Do Thái dựa trên nền tảng luật pháp Do Thái giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Theo luật pháp Do Thái giáo:

  • Một người Do Thái là bất cứ ai được sinh ra bởi một người mẹ Do Thái.
  • Một người Do Thái là người chuyển đổi tôn giáo để theo Do Thái giáo.[5][6][7][8][9]

Mặc dù đất nước Israel được thành lập như là một Quốc gia Do Thái, tuy nhiên không phải tất cả người Israel là người Do Thái. Theo thống kê dân số của nhà nước Israel năm 2004, thì khoảng 23.7 % tổng dân số người Israel không phải là người Do Thái.[10]

Cách để nhận biết Người Do Thái qua vẻ bề ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Người Do Thái không phải là một chủng tộc cho nên không có đặc điểm chung nào để nhận dạng.[11][12][13][14]

Chỉ có thể nhận dạng ra người Do Thái thông qua trang phục tôn giáo như: Mũ Sợ Chúa, Mũ Nồi Lông, và Tóc Do Thái.


Câu chuyện dạy con đúng đắn đến ám ảnh của người Do Thái, bất kỳ bậc cha mẹ nào cũng nên ghi nhớ

 

Tin tức, bài viết mới nhất về

    • Gia đình sư tử: Câu chuyện dạy con đúng đắn đến ám ảnh của người Do Thái, bất kỳ bậc cha mẹ nào cũng nên ghi nhớ
    • Sau 30, tuổi càng nhiều, càng ít người thông cảm cho "cái sự nghèo" của bạn: Thất bại nhất là không có được sự tôn trọng cần thiết
    • Thay đổi vận mệnh không khó: Hiểu rõ 5 đạo lý thiết thân này, chắc chắn đời bạn sang trang
    • Chuyện 3 con ếch "cứu rỗi" người Do Thái từ đời này sang đời khác: Ai cũng nên đọc!
    • Dính bẫy của thợ săn, con sói thoát ra theo cách không ai ngờ: Đáng ngẫm!
    • 8 định luật thành công của người Do Thái: Người có tư duy sẽ hoan hỉ áp dụng, kẻ lười biếng chắc chắn tỉnh ngộ!
    • Nguyên mẫu phim Bản danh sách của Schindler: Từ thành viên phát xít Đức đến vị anh hùng dùng cả sản nghiệp để giải cứu 1200 người Do Thái khỏi trại tập trung
    • Phụ nữ và Cái miệng - Người Do Thái cho rằng nắm được 2 nhân tố này, bất kỳ ai cũng dễ dàng kiếm tiền, thậm chí rất nhiều tiền
    • Thà làm người nghèo của giới nhà giàu, chứ không làm người giàu giới nhà nghèo: Đừng vì nhất thời nghèo khó mà nản lòng thoái chí, có chí tiến thủ cứ một lòng tiến lên!
    • Muốn tư duy nhạy bén, đừng ỷ lại: Có kiến thức mà không chịu thực hành, cả đời sáo rỗng!

      23/07/2019 03:51

      Nhạy bén, là khả năng nắm bắt, phát hiện và thích ứng, xử lý nhanh đối với những yếu tố mới, những yêu cầu mới. Nhạy bén đòi hỏi một quá trình tập luyện, và đòi hỏi thái độ luôn sẵn…

      Tags: thay đổi thế giới, kỹ năng sinh tồn, người do thái

       

    • "Mẹ hổ" Trung Quốc có nhiều đứa con ưu tú nhưng mẹ Do Thái mới tạo nên 20% số người đoạt giải Nobel
    • 2 câu chuyện thể hiện 2 kiểu tư duy "thần sầu" của Người Do Thái trong làm ăn kinh doanh: Lợi nhuận tăng gấp 10.000 lần
    • 6 quy tắc vàng về tiền bạc của Người Do Thái: Nắm vững trí tuệ của việc kiếm tiền không khó, tiêu tiền mới thật sự khó
    • Bí mật kiếm tiền của người Do Thái: Quy tắc 78:22, "nhắm" vào phụ nữ là cách làm giàu nhanh nhất của dân tộc chiếm 11,6% tỷ phú khắp hành tinh
    • Khi được hỏi "làm sao để tìm được mục tiêu của cuộc đời", nhà thông thái kể một câu chuyện rất đơn giản khiến ai cũng bất ngờ: Rất đáng đọc và suy ngẫm!
    • "Máu liều" kinh doanh làm nên câu chuyện thành công cho người Do Thái: Hãy kiên trì đúng lúc, chơi lớn đúng chỗ!
    • 10 bí kíp kiếm tiền mà người Do Thái tôn sùng: Học hỏi ngay nếu bạn muốn thoát nghèo
    • 3 tuyệt chiêu kiếm tiền của người Do Thái, hơn 2.000 năm sau vẫn là đỉnh cao bí kíp!
    • Do Thái là dân tộc thông minh nhất thế giới: 99% thông minh đến mấy cũng không trả lời được câu hỏi oái oăm trong câu chuyện số 2

      06/06/2019 14:10

      Chắc chắn bạn sẽ bất ngờ khi nghe được đáp án của câu hỏi này: “Hai người đàn ông cùng leo ra khỏi một ống khói, một người mặt mũi sạch sẽ còn một người lại nhem nhuốc, dính đầy muội…

      Tags: người do thái, hoàn cảnh khó khăn

       

    • Giả khổ mượn tiền 8 người bạn thân, tôi nhận lại kết quả shock: Ngày thường tưởng nhiều bạn bè, hóa ra thực sự có thể nhờ cậy chỉ có vài người mà thôi

      28/05/2019 18:33

      “Người đã từng giúp đỡ bạn thì mãi mãi sẽ giúp đỡ bạn, nhưng người bạn từng giúp đỡ thì chưa chắc”, câu này chưa bao giờ sai!

      Tags: bạn thân, người do thái

       

 

Thai giáo của người Do Thái: 11 điều mẹ Việt nên học hỏi – Mamibabi

 

Trong bài viết này, Mamibabi sẽ giới thiệu 11 điểm đặc trưng trong phương pháp thai giáo của người Do Thái. Từ đó, các mẹ có thể chọn lọc và áp dụng những phương pháp phù hợp nhất với mình.

Tin Chúa và nguyện cầu

Người Do Thái tin Chúa. Khi mang bầu, niềm tin ấy trong người mẹ càng vững chãi hơn. Họ tin rằng em bé chính là món quà quý giá, và là sứ mệnh tuyệt diệu Chúa đã trao vào tay mình. Một trong những điểm nổi bật trong cách thai giáo của người Do Thái là cầu nguyện khi mang thai. Việc này được thực hiện hàng ngày một ngày đều đặn và nghiêm túc. Không chỉ cầu nguyện cho em bé trong bụng ở bên mình một cách khỏe mạnh, các bà mẹ Do Thái còn cầu nguyện an lành cho đất và yêu thương cho muôn người.

Đọc nhiều loại sách khác nhau

Nhắc đến phương pháp thai giáo của người Do Thái, không thể bỏ qua việc đọc sách. Nếu các bà mẹ ở những nước khác thường chỉ chú trọng tới truyện thiếu nhi hay các cuốn sách giàu tính nhân văn, thì loại sách mà các bà mẹ Do Thái đọc đa dạng hơn nhiều. Không chỉ đọc Kinh Thánh, họ đọc sách về toán học, thiên văn, địa lý, kinh doanh… Tủ sách là điều không thể thiếu trong nhà của người Do Thái. Đây chính là điểm nổi bật giúp trẻ em Do Thái thông minh ngay từ khi còn trong bụng mẹ.

Làm toán

Các bà mẹ Do Thái rất chăm học hỏi. Toán học là một trong những bộ môn được họ chú trọng khi mang thai. Phương pháp thai giáo của người Do Thái khuyến khích các bà mẹ không chỉ đọc sách Toán mà còn chơi các trò chơi Toán học. Việc “vừa học vừa chơi” giúp mẹ không bị nhàm chán và giúp thai nhi thông minh hơn. Sodoku là một trong các trò chơi con số phổ biến nhất đối với mẹ Do Thái.

Thường xuyên tiếp xúc với âm nhạc

Giống như nhiều phương pháp khác, phương pháp thai giáo của người Do Thái rất chú trọng âm nhạc. Với trí thông minh của mình, các mẹ Do Thái có thể đưa âm nhạc đến với con yêu bằng nhiều cách như bật nhạc, ca hát hay chơi đàn. Mẹ Do Thái tin rằng cho con tiếp xúc với âm nhạc ngay từ khi còn trong bụng sẽ giúp em bé đạt được nhiều thành tựu lớn trong lĩnh vực này khi trưởng thành.

Chú trọng việc học ngoại ngữ

Với truyền thống chăm chỉ, ham học hỏi, các bà mẹ Do Thái chú trọng việc học ngoại ngữ. Nhiều mẹ Do Thái có thể sử dụng ba thứ tiếng là Do Thái, Ả Rập và tiếng Anh. Trong thời gian mang thai, người mẹ sẽ dành thời gian củng cố ngoại ngữ cũ hoặc học thêm ngoại ngữ mới. Đây là điểm đặc trưng trong cách thai giáo của người Do Thái. Việc này giúp mẹ có thêm kiến thức, và em bé được làm quen với ngoại ngữ ngay từ khi còn trong bụng mẹ.

Coi trọng thương nhân và kinh doanh

Sự thông minh của người Do Thái đã làm nên nhiều thành tựu ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Nổi bật trong đó là kinh doanh. Người Do Thái có hai cuốn Kinh nổi tiếng nói về cách đối nhân xử thế và tâm thế kinh doanh. Sự kết hợp giữa hai yếu tố này làm nên sự thành công của họ trên thương trường.

Những người mẹ Do Thái khi mang thai có thể đọc các cuốn sách về kinh doanh. Đồng thời, họ luôn dành một sự tôn trọng đặc biệt đối với các thương nhân. Đây cũng là một trong những điểm khác biệt trong cách thai giáo của người Do Thái.

Chú trọng IQ, AQ và EQ

Khi nói tới cách thai giáo của người Do Thái, chỉ số thông minh IQ thường được nhắc đến. Tuy nhiên, ngoài IQ, người Do Thái còn quan tâm tới hai chỉ số khác là chỉ số vượt khó AQ và chỉ số cảm xúc EQ. Người Do Thái cho rằng thành công của một con người phụ thuộc phần nhiều vào AQ và EQ. IQ là yếu tố bổ trợ, giúp mỗi người đạt được thành công nhanh chóng hơn. Vì vậy, trong suốt quá trình mang thai và nuôi dạy con, các mẹ Do Thái luôn chú trọng tới cả IQ, AQ và EQ.

Tự soạn giáo án thai giáo

Đây là điểm khác biệt lớn trong cách thai giáo của người Do Thái so với cách thai giáo ở nhiều nước khác. Nhờ sự thông minh và hiểu biết, một số mẹ Do Thái thuộc dòng dõi danh giá có thể tự tạo nên một “giáo án” thai giáo riêng cho con yêu của mình. Ví dụ: Cách vượt qua sự khó chịu khi bị thai nghén, thai giáo ánh sáng, thai giáo âm nhạc, cách trò chuyện với bé theo từng thời kỳ… Đây cũng là yếu tố giúp trẻ em Do Thái thông minh từ trong bụng mẹ, đồng thời đạt được nhiều thành tự lớn khi trưởng thành.

Làm lành lánh dữ

Đây là điểm giống nhau nổi bật giữa cách thai giáo của người Do Thái và người Trung Quốc. Trên thực tế, bất cứ phương pháp thai giáo của quốc gia nào cũng đề cao việc người mẹ có cảm xúc tốt, lời nói tốt, hành động tốt. Nhưng thai giáo Trung Quốc đặc biệt đề cao điều này hơn. Và thai giáo Do Thái cũng vậy. Nếu người mẹ Trung Quốc dành nhiều thời gian đọc sách Thánh hiền, thì người mẹ Do Thái đọc Kinh Thánh và cầu nguyện mỗi ngày. Họ tránh làm việc ác, làm thêm nhiều việc lành không chỉ cho bản thân, cho gia đình mà còn cho xã hội.

Ăn nhiều cá và các loại hạt

Dinh dưỡng hợp lý là một phần không thể thiếu trong cách thai giáo của người Do Thái. Có 2 thực phẩm nổi bật trong chế độ ăn của họ là các sản phẩm từ cá và các loại hạt. Các bà mẹ Do Thái thường ăn nhiều cá và uống dầu gan cá. Họ tin rằng điều này không chỉ tốt cho sức khỏe mẹ và bé mà còn giúp em bé thông minh từ trong bụng mẹ.

Ngoài ra, mẹ Do Thái cũng rất chú trọng các loại hạt và ngũ cốc. Hạnh nhân là một trong những loại hạt thông dụng nhất. Hạnh nhân được chế biến theo nhiều cách khác nhau như rang thô, trộn salad, nấu kèm nhiều món ăn khác…

Bên cạnh đó, mẹ Do Thái cũng ăn phong phú thực phẩm như bánh mỳ, hoa quả, các loại sữa…

Không hút thuốc

Không hút thuốc và hít khói thuốc lá là điều được khuyến cáo đối với mẹ bầu ở nhiều quốc gia. Nhưng với mẹ Do Thái, điều này được coi là việc tối quan trọng trong thai kỳ. Họ biết rằng chất nicotine trong thuốc lá sẽ phá hủy các tế bào cơ bản trong cơ thể, ảnh hưởng đến gen, tế bào di truyền, làm suy giảm chức năng não bộ… của thai nhi. Tránh xa thuốc lá là một trong những điểm đặc trưng trong phương pháp thai giáo của người Do Thái.

Sách nuôi dạy con theo cách của người Do Thái

Trên đây là 11 điểm nổi bật trong cách thai giáo của người Do Thái. Thai giáo và nuôi dạy sau sinh là hai phần không thể thiếu trong việc tạo nên những em bé thông minh và hạnh phúc. Bố mẹ có thể tham khảo một số cuốn sách dưới đây để hiểu thêm về phong cách nuôi dạy con của người Do Thái:

Phương pháp giáo dục con của người Do Thái

Bí mật Do Thái khơi dậy tài năng trẻ

Cha mẹ Do Thái nuôi dạy con – Nghệ thuật nuôi dạy con trẻ

Mẹ Do Thái dạy con tư duy

Vì sao người Do Thái thông minh nhất thế giới?

 

Trong lịch sử, người Do Thái được biết đến là một sắc tộc tôn giáo có nguồn gốc từ Israel. Dù hiện nay người Do Thái sống rải rác tại nhiều quốc gia khác nhau, nhưng chỉ có Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái.

Dân số người gốc Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng gần 13,8 triệu người (khoảng hơn 0,19% dân số thế giới – số liệu năm 2013), tức là cứ khoảng 517 người thì có 1 người Do Thái. Thế nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy, có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài người chỉ do 0,19% dân số đảm nhiệm. Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch… đều là người Do Thái.

Vậy tại sao các thế hệ người Do Thái lại có được trí tuệ như vậy (chỉ số IQ trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới)? Trong cuốn “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu” có đưa ra lời giải thích cụ thể cho vấn đề này.

Vai trò của bà mẹ Do Thái

Bà mẹ Do Thái dạy con từ khi mang thai. Các bà mẹ thường nghe nhạc, chơi đàn, hát và… làm toán cho đến khi sinh con ra. Các thai phụ làm vậy vì tin rằng cách đó sẽ làm đứa bé sau này trở nên thông minh. Người mẹ chọn ăn hạnh nhân, chà là, uống dầu cá và ăn cá nhưng tránh ăn đầu cá vì tin rằng tất cả điều đó sẽ giúp cho con trở nên thông thái.

 title=

Từ lúc còn ẵm ngửa đứa bé, bà mẹ đã tạo cho con thói quen thích sách bằng cách dùng mẹo nhỏ vài giọt mật lên cuốn sách và cho bé liếm. Khi đó, trong nhận thức non nớt của đứa trẻ, sách là cái gì đó rất ngọt ngào, hấp dẫn.

Ủy ban công nghiệp thành phố New York (Mỹ) có cuộc điều tra nguồn nhân lực vào năm 1950 và nhận thấy có sự khác biệt lớn về việc đi làm công nhân giữa phụ nữ Ý với phụ nữ Do Thái. Phụ nữ Ý thường phải đi làm và còn bắt con nghỉ học để đi làm phụ cha mẹ, các bà mẹ Do Thái thì ngược lại. Dù kinh tế khó khăn, họ vẫn ở nhà để nuôi dạy con, dồn hết trách nhiệm kiếm sống cho chồng – người ban ngày đi làm nhưng tối về có nghĩa vụ học và dạy cho con học.

Nhờ sự chăm sóc, động viên của cha mẹ mà học sinh Do Thái nổi tiếng trong trường về thành tích học tập và tính chuyên cần, khác hẳn với học sinh nhiều dân tộc khác. Vào năm 1954, hệ thống trường công của thành phố New York thống kê được 28 học sinh có chỉ số IQ cực cao lên tới 170 điểm, thì trong đó 24 là học sinh Do Thái. Ngoài ra, những người này còn quan niệm điểm không quan trọng bằng cách học, mà đã học thì phải hỏi. Chính vì vậy, học sinh Do Thái được khuyến khích đặt thật nhiều câu hỏi cho giáo viên.

Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái…

Hệ thống giáo dục phổ thông

Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em gồm kinh doanh, toán học, khoa học. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn súng, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác.

Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biệt nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học.

Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD. Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái.

Xã hội Do Thái từ rất sớm đã coi trọng việc xóa mù chữ, sách và người có học thức

Dân tộc Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới – từ năm 64 đầu Công nguyên – mà nhà thờ quy định tất cả nam giới phải biết đọc viết và tính toán; sang thế kỷ thứ 2 thì bắt buộc mọi đàn ông phải có nghĩa vụ dạy con trai mình đọc, viết, tính toán. Như vậy họ đã thực hiện phổ cập giáo dục cho nam giới trước các dân tộc khác mười mấy thế kỷ.

Israel cũng là nước đứng đầu thế giới về dân số từ 14 tuổi đọc sách, đứng đầu về số đầu sách xuất bản theo đầu dân. Không một người Do Thái thành đạt nào lại không tranh thủ thời gian để đọc, để học, để làm giàu hiểu biết.

Như vậy, từ ngàn xưa người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được. Và đây nhân tố quan trọng giúp người Do Thái đạt được trí thông minh vượt bậc so với phần còn lại của thế giới.

Do Thái giáo – Wikiquote

 

 src=

Các con sẽ thành một vương quốc tư tế và là một dân tộc thánh cho Ta. Ðó là những lời con hãy nói lại với dân tộc Israel. ~ Xuất Hành

Do Thái giáo không đơn thuần chỉ là một tôn giáo, mà còn là một tư tưởng triết học và lối sống của người Do Thái. Một tôn giáo độc thần có nguồn gốc từ Kinh thánh Hebrew (còn được gọi là Tanakh) và được khám phá sâu hơn qua các văn bản sau này là Kinh Talmud. Đạo Do Thái giáo trong quan điểm của những người Do Thái sùng đạo thì tôn giáo này là mối quan hệ giao ước giữa người Israel cổ đại và sau này là người Do Thái với Thiên Chúa. Người Do Thái là một nhóm sắc tộc tôn giáo hay còn là một dân tộc, họ có nguồn gốc từ người Israel hay người Hebrew và có xuất xừ từ vùng Cận Đông. Các đặc tính của người Do Thái như là dân tộc, quốc tịch, và tôn giáo là có mối quan hệ liên quan chặt chẽ với nhau, vì Do Thái giáo là đức tin truyền thống của dân tộc Do Thái. Những người cải đạo chuyển đổi sang Do thái giáo thì những người ấy có địa vị bình đẳng với những người Do Thái bị sinh ra trong dân Do Thái, các người cải đạo cũng đã bị nuốt vào hay bị đồng hóa trong dân tộc Do Thái qua nhiều thiên niên kỷ.

 src=

Và Thiên Chúa bảo ông rằng, Ta là Đức Chúa Trời Toàn năng: hãy sinh đẻ thật nhiều, một dân tộc và một tập đoàn của nhiều dân tộc sẽ thuộc về con. Và các vua sẽ đến từ bộ phận sinh dục của con. ~ Sáng Thế

 src=

Các ngươi chớ cắt mái tóc xung quanh thái dương mình hoặc xén bộ râu mình.~ Lêvi

 src=

Tất cả mọi thứ đều đã chết, nhưng người Do Thái thì không. Tất cả các quyền lực khác đã biến mất, nhưng người Do Thái vẫn tồn tại. Bí mật trong sự bất tử của người Do Thái là gì? ~ Mark Twain

 src=

Ðức Chúa Trời ban phúc cho họ, và Thiên Chúa phán với họ, Hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều, hãy lấp đầy khắp trái đất, và hãy chế ngự nó: và hãy thống trị những con cá của biển cả, và cai trị những con chim của bầu trời, và mọi sinh vật di động trên mặt đất.~ Sáng Thế

 src=

Ngươi sẽ bú sữa của các dân ngoại, và sẽ bú sữa từ vú của các ông Vua: và ngươi sẽ biết rằng Ta là Thiên Chúa là Đấng Cứu Thế và là Đấng Cứu Rỗi, Đấng Toàn Năng duy nhất của Jacob. ~ Isaiah

 src=

Con cháu của các dân ngoại sẽ xây dựng lại các bức tường thành cho con; các vua dân ngoại sẽ phục vụ con.~ Isaiah

 src=

Con sẽ được gọi là thầy tư tế của Thiên Chúa; là đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta. Con sẽ hưởng vinh hoa giàu sang phú quý của các dân tộc trên thế giới, và con sẽ kiêu hãnh vì các của cải giàu sang đó.~ Isaiah
  • Người Do Thái đã bắt đầu tất cả chuyện ấy – và bởi “chuyện ấy” tôi muốn nói đến rất nhiều điều mà chúng ta quan tâm, những giá trị cơ bản tạo nên tất cả chúng ta, người Do Thái và dân ngoại, người có đức tin và người vô thần, chút lát. Không có người Do Thái thì chúng ta sẽ nhìn thế giới qua đôi mắt khác, nghe bằng tai khác, thậm chí cảm nhận với cảm xúc khác … chúng ta sẽ suy nghĩ với một tư duy khác, giải thích tất cả trải nghiệm của chúng ta một cách khác, rút ra những kết luận khác từ những điều xảy ra với chúng ta. Và chúng ta sẽ sống một lối sống khác cho cuộc đời của chúng ta.
    • The Jews started it all — and by “it” I mean so many of the things we care about, the underlying values that make all of us, Jew and Gentile, believer and atheist, tick. Without the Jews, we would see the world through different eyes, hear with different ears, even feel with different feelings … we would think with a different mind, interpret all our experience differently, draw different conclusions from the things that befall us. And we would set a different course for our lives.
      • Thomas Cahill, The Gifts of the Jews : How a Tribe of Desert Nomads Changed the Way Everyone Thinks and Feels (1998).
  • Xét cho cùng, người Do Thái đã phát minh ra tâm thần học để giúp cho những người Do Thái khác trở thành người dân ngoại.
    • After all, Jews invented psychiatry to help other Jews become Gentiles.
      • Morton Feldman, Give My Regards to Eighth Street: Collected Writings of Morton Feldman (2000).
  • Tôi sẽ nhấn mạnh rằng người Do thái đã đóng góp nhiều hơn để khai hóa văn minh nhân loại hơn bất kỳ dân tộc nào khác. Nếu tôi là một người theo chủ nghĩa vô thần, và tin một cách mù quáng vào số mệnh vĩnh cửu, tôi vẫn nên tin rằng số phận đã chỉ định người Do Thái thành công cụ thiết yếu nhất cho việc khai sáng văn minh cho các dân tộc. Nếu tôi là một người vô thần của trường phái khác, là người tin tưởng, hoặc giả vờ tin rằng tất cả mọi sự đều được sắp đặt theo sự may rủi, tôi nên tin rằng sự may rủi này đã dàn xếp cho người Do Thái phải bảo toàn và truyền bá cho tất cả nhân loại học thuyết của một đấng tối thượng, thông minh, khôn ngoan, chúa tể toàn năng của vũ trụ, mà tôi tin rằng đó là nguyên lý thiết yếu của mọi luân lý, và là hệ quả của tất cả nền văn minh.
    • I will insist that the Hebrews have done more to civilize men than any other nation. If I were an atheist, and believed in blind eternal fate, I should still believe that fate had ordained the Jews to be the most essential instrument for civilizing the nations. If I were an atheist of the other sect, who believe, or pretend to believe that all is ordered by chance, I should believe that chance had ordered the Jews to preserve and propagate to all mankind the doctrine of a supreme, intelligent, wise, almighty sovereign of the universe, which I believe to be the great essential principle of all morality, and consequently of all civilization.
      • John Adams, in a letter to F. A. Vanderkemp (16 February 1809), as quoted in The Roots of American Order (1974) by Russel Kirk.
      • Paraphrased variant: The Hebrews have done more to civilize men than any other nation. If I were an atheist, and believed blind eternal fate, I should still believe that fate had ordained the Jews to be the most essential instrument for civilizing the nations.
  • “Fucking người Do Thái … Người Do Thái chịu trách nhiệm cho tất cả các cuộc chiến tranh trên thế giới.”
    • “Fucking Jews… Jews are responsible for all wars in the world.”
  • Không có bất cứ một dân tộc cổ xưa nào mà có một lịch sử kỳ lạ hơn người Do Thái. … Lịch sử của những dân tộc không cổ đại nên được đánh giá cao, nếu chúng ta chỉ có thể phục hồi nó và hiểu nó. … Vẫn còn lạ kỳ, tôn giáo của người Do Thái vẫn tồn tại, khi tất cả các tôn giáo của tất cả các chủng tộc cổ đại của thế giới trước thời đại Kitô giáo đã biến mất … Một sự khác thường nữa là các tôn giáo đang tồn tại trên thế giới đều dựa trên những ý tưởng tôn giáo bắt nguồn từ người Do Thái. …. Vấn đề lớn không phải là “Chuyện gì đã xảy ra?” Nhưng “Tại sao điều ấy lại xảy ra?” Tại sao Do Thái Giáo tồn tại?
    • No ancient people have had a stranger history than the Jews. … The history of no ancient people should be so valuable, if we could only recover it and understand it. … Stranger still, the ancient religion of the Jews survives, when all the religions of every ancient race of the pre-Christian world have disappeared … Again it is strange that the living religions of the world all build on religious ideas derived from the Jews. …. The great matter is not “What happened?” but “Why did it happen?” Why does Judaism live?
      • T.R. Glover, The Ancient World, p. 184-191.
  • Nhân loại, phương Đông và phương Tây, Cơ đốc giáo và Hồi giáo, đã chấp nhận sự tin chắc của người Do Thái rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất. Ngày nay, Thuyết đa thần rất là khó hiểu, điều đó không thể nào mà tưởng tượng nổi.
    • Mankind, East and West, Christian and Muslim, accepted the Jewish conviction that there is only one G-d. Today it is polytheism that is so difficult to understand, that is so unthinkable.
      • T. R. Grover, The Ancient World, p. 186.
  • Nguyên tắc cơ bản của khối thịnh vượng chung Hy Bá Lai là có những đạo luật luân lý vĩ đại không phụ thuộc vào ý muốn của Vua chúa, chế độ quyền lực tập trung, tầng lớp quý tộc hay hội đồng đoàn thể công chúng.
    • The fundamental principle of the Hebraic commonwealth was that there are great moral laws not dependent on the will of monarch, oligarchy, aristocracy or public assembly.
      • Lyman Abbott, Life and Literature of Ancient Hebrews (1910).
  • Tôi không phải là một công dân Đức, và tôi cũng không tin vào bất cứ điều gì có thể được miêu tả là “đức tin Do Thái”. Nhưng tôi là một người Do Thái và tui vui mừng vì thuộc về dân tộc Do Thái, mặc dù tôi không xem điều đó theo bất cứ cách nào mà được tuyển chọn.
    • I am neither a German citizen, nor do I believe in anything that can be described as a “Jewish faith.” But I am a Jew and glad to belong to the Jewish people, though I do not regard it in any way as chosen.
      • Albert Einstein, in a letter to Central Association of German Citizens of the Jewish Faith, 3 April 1920, as quoted in Alice Calaprice, The Ultimate Quotable Einstein (2010), p. 195.
  • Tôi là người Do Thái, mang quốc tịch Thụy Sĩ, và được tạo ra là loài người, và cũng chỉ là con người, không có bất kỳ một sự gắn bó đặc biệt nào với bất kỳ quốc gia hay bất cứ dân tộc thực thể nào cả.
    • I am by heritage a Jew, by citizenship a Swiss, and by makeup a human being, and only a human being, without any special attachment to any state or national entity whatsoever.
      • Albert Einstein, in a letter to Alfred Kneser (7 June 1918); Doc. 560 in The Collected Papers of Albert Einstein Vol. 8.
  • Bằng cách áp dụng lý thuyết tương đối theo khẩu vị của người đọc, ngày nay ở Đức tôi được gọi là một người Đức của khoa học, và ở Anh tôi được đại diện là một người Do Thái Thụy Sĩ. Nếu tôi đến để được đại diện như là một người bête noire, những mô tả này sẽ bị đảo ngược lại, và tôi sẽ trở thành một người Do Thái Thụy Sĩ đối với người Đức và một người Đức của khoa học đối với người Anh!
    • By an application of the theory of relativity to the taste of readers, today in Germany I am called a German man of science, and in England I am represented as a Swiss Jew. If I come to be represented as a bête noire, the descriptions will be reversed, and I shall become a Swiss Jew for the Germans and a German man of science for the English!
  • Người Ai Cập, người Babylon, và Hoa Hồng Ba Tư (người Ba Tư), phát triển sinh sôi nảy nở trên mặt đất với danh tiếng vang dội lẫy lừng và ánh sáng huy hoàng, nhưng sau đó đã trở nên phai mờ nhạt nhòa như những giấc mơ và rồi đã biến mất; người Hy Lạp và người La Mã chạy theo bánh xe đổ đó, và họ tạo ra tiếng tăm lẫy lừng thật lớn, và rồi thời đại huy hoàng của họ cũng đã trôi qua; những dân tộc khác cũng đã nổi lên và giơ cao ngọn đuốc vinh quang của họ trong một thời gian, nhưng ngọn đuốc đó đã đốt cháy hết, và họ ngồi trong ánh hoàng hôn, hoặc họ đã biến mất. Người Do Thái đã chạm trán tất cả, đánh bại tất cả họ, và bây giờ người Do Thái mãi mãi không bị suy đồi, không có sự yếu đuối của tuổi tác, không có sự suy yếu của các bộ phận cơ thể, nguồn năng lượng của người Do Thái không bị chậm chạp, tâm trí của người Do Thái không bị lưu mờ và ý chí rất hung hăng. Tất cả mọi thứ đều đã chết, nhưng người Do Thái thì không. Tất cả các quyền lực khác đã biến mất, nhưng người Do Thái vẫn tồn tại. Bí mật trong sự bất tử của người Do Thái là gì?
    • The Egyptian, the Babylonian, and the Persian rose, filled the planet with sound and splendor, then faded to dream-stuff and passed away; the Greek and the Roman followed, and made a vast noise, and they are gone; other peoples have sprung up and held their torch high for a time, but it burned out, and they sit in twilight now, or have vanished. The Jew saw them all, beat them all, and is now what he always was, exhibiting no decadence, no infirmities of age, no weakening of his parts, no slowing of his energies, no dulling of his alert and aggressive mind. All things are mortal but the Jew; all other forces pass, but he remains. What is the secret of his immortality?
  • Trong số những người Do Thái, có một sự thiếu vắng của người say rượu, luôn luôn là một nguồn gốc sinh hoa kết trái của sự xung đột nội bộ và các hành vi sai trái.
    • Among Jews, there is an absence of drunkenness, always a fruitful source of domestic strife and misconduct.
      • Hermann Adler, quoted in Joseph H. Hertz, The Pentateuch and Haftorahs (One-volume edition) p. 933
  • Tôi ghét chính bản thân mình, nhưng chuyện ấy không liên quan gì đến việc tôi đang là người Do Thái.
    • Well I do hate myself, but it has nothing to do with being Jewish.
      • Larry David, in response to being called a “self-loathing Jew”, in Curb Your Enthusiasm.
  • [Người Do Thái] vẫn là những gì mà họ đã luôn luôn là như vậy: đó là để nói rằng một giống người ưu tú, tự tin và thống trị.
    • [Jews] remained what they had always been: that is to say an elite people, sure of itself and dominating.
      • Charles de Gaulle, November 1967.[1].
  • Nếu nhà nước Do Thái trở thành một thực tế, và điều này được ý thức rõ ràng bởi các dân tộc Ả Rập, họ sẽ đánh đuổi những người Do Thái đang sống giữa họ xuống dưới biển.
    • If the Jewish state becomes a fact, and this is realized by the Arab peoples, they will drive the Jews who live in their midst into the sea.
  • Không có vấn đề gì khi thế giới nói về Israel; những gì mà họ nói về chúng ta ở bất cứ nơi nào trên toàn cầu thì đều không quan trọng. Điều quan trọng duy nhất là chúng ta có thể sống sót tồn tại ngay trên chính mảnh đất của tổ tiên chúng ta. Và nếu chúng ta không cho người Ảrập thấy cái giá đắt đỏ để phải trả giá cho những hành động tàn sát giết người Do Thái của họ, chúng ta sẽ không tồn tại.
    • It doesn’t matter what the world says about Israel; it doesn’t matter what they say about us anywhere else. The only thing that matters is that we can exist here on the land of our forefathers. And unless we show the Arabs that there is a high price to pay for murdering Jews, we won’t survive.
      • David Ben-Gurion, as quoted by Ariel Sharon, in the documentary The 50 Years War : Israel & The Arabs (1999).
  • Từ chủ nghĩa khủng bố của người Do Thái để chống lại người Ả Rập, thì đây cũng là một bước ngắn ngủi hậu thuẫn cho chủ nghĩa khủng bố Do Thái để chống lại người Do Thái.
    • From Jewish terrorism against Arabs it is a short step to Jewish terrorism against Jews.
      • David Ben-Gurion, in “On Three Fronts” (3 August 1938) as quoted in Rebirth and Destiny of Israel (1954), p. 91.


Leave your Comment