Minh thai to là gì 39

Chuyện tình thủy chung rơi lệ của ông vua chăn trâu nổi tiếng lịch sử

 

một cậu bé mồ côi không một tấc đất dung thân, phải chăn trâu, ăn mày để kiếm sống ông đã trở thành vị Hoàng đế sáng lập triều Minh. Nổi tiếng còn là vì ông là vị Hoàng đế giành giải quán quân trong việc giết hại công thần, mà giết một cách rất tàn bạo.

Trong lịch sử Trung Quốc, cái tên Chu Nguyên Chương nổi tiếng vì nhiều lẽ. Nổi tiếng vì từ một cậu bé mồ côi không một tấc đất dung thân, phải chăn trâu, ăn mày để kiếm sống ông đã trở thành vị Hoàng đế sáng lập triều Minh. Nổi tiếng còn là vì ông là vị Hoàng đế giành giải quán quân trong việc giết hại công thần, mà giết một cách rất tàn bạo. Nhưng có lẽ nổi tiếng nhất lại là ở chỗ, vị Hoàng đế đầy tham vọng, quyền lực và cực kỳ tàn bạo ấy cả đời chỉ chung thủy với 1 người phụ nữ.

Cuộc hôn nhân chính trị của cậu bé chăn trâu

Chu Nguyên Chương vốn quê ở huyện Bái, Từ Châu, tỉnh Giang Tô, về sau dời về Tứ Châu, rồi lại dời về Hào Châu tức Phụng Dương, tỉnh An Huy ngày nay. Gia đình Chu Nguyên Chương gian nan trôi nổi nhiều nơi là do sinh kế thúc bách. Cha mẹ ông có 8 người con, nhưng hai người đã chết yểu, còn lại sáu người, bốn trai hai gái. Chu Nguyên Chương là con út, thuở nhỏ ông không có tên gọi chính thức, bố mẹ thường gọi ông là Trùng Bát. Mãi đến sau khi gia nhập nghĩa quân của Quách Tử Hưng, mới lấy tên là Chu Nguyên Chương, tên chữ là Quốc Thụy.

 src=

Xuất thân từ tầng lớp bần cố nông, từ nhỏ Chu Nguyên Chương đã phải giữ dê chăn bò thuê cho địa chủ để kiếm cơm ăn. Đến năm Chí Chính thứ 4, đời Nguyên (1344), vùng đất Hoài Bắc phát sinh nạn hạn hán và châu chấu cùng với dịch bệnh nên cha mẹ, các anh chị em của Chu Nguyên Chương đều lần lượt chết cả. Bị bỏ rơi từ khi còn rất nhỏ, Chu Nguyên Chương không biết lấy gì để sống nên đành tới chùa Hoàng Giác làm hòa thượng.

Việc Chu Nguyên Chương vào chùa cạo đầu đi tu thực tế là vì miếng ăn chứ không phải vì mộ đạo. Dù là trẻ chăn trâu nhưng từ nhỏ Chu Nguyên Chương đã quật cường hơn người, chí khí không hề tầm thường. Chính vì thế, chỉ mới vào chùa 15 ngày, Chu Nguyên Chương đã xin đi khất thực khắp nơi nhằm ngao du thiên hạ, kết giao bằng hữu. Đến năm Chí Chính thứ 12 (1352), khi mới 24 tuổi, Chu Nguyên Chương đã bỏ chùa, xin tham gia quân chống nhà Nguyên của Quách Tử Hưng, bắt đầu sự nghiệp chính trị của mình. Và cũng chính ở đây, cậu bé chăn trâu đầy tham vọng thuở nào đã gặp được người phụ nữ duy nhất trong cuộc đời mình.

Quách Tử Hưng có một cô con gái nuôi họ Mã, tên gọi là Tú Anh thông minh xinh đẹp hơn người. Tú Anh vốn là con một người bạn của Quách Tử Hưng, vì giết một tên các bá trong vùng, sợ bị trả thù nên phải bỏ đi vùng khác. Trước khi đi, cha của Tú Anh đã gửi cô cho Quách Tử Hưng nhờ ông nuôi dạy. Quách Tử Hưng vốn là người trượng nghĩa, sau khi nhận lời bạn đã coi Tú Anh như con ruột, nuôi nấng dạy dỗ cô nên người. Tú Anh càng lớn càng xinh đẹp, nết na, từ dung mạo đến trí thông minh khó tìm được người con gái nào trong vùng bì kịp. Một người bạn có tài xem tướng từng nói với Quách Tử Hưng rằng: “Cô gái này có thiên tướng, sau này sẽ phú quý lắm đây!”. Quách Tử Hưng cũng bán tín bán nghi, nhưng khi lự chọn người làm rể vẫn “bớt một thêm hai”, lựa chọn cân nhắc rất kỹ càng thành ra mãi vẫn chưa chọn được người xứng đáng với Tú Anh.

 src=

Mã Tú Anh

Phía Chu Nguyên Chương, từ khi gia nhập nghĩa quân của Quách Tử Hưng, bằng sự mưu lược và dũng cảm của mình đã lập nhiều công lớn, được binh sĩ lấn Quách rất tin tưởng. Một lần, sau một trận đại thắng, Quách mở hội khao quân linh đình. Những tướng lĩnh lập công lớn đều được mời đến nhà Quách dự tiệc. Chu Nguyên Chương khi đó chỉ làm chức rất nhỏ nhưng vì trong trận đánh lập được công lớn nên cũng được mời đến nhà Quách dự tiệc.

Thực tế, bữa tiệc hôm ấy, Quách Tử Hưng muốn nhân cơ hội lựa chọn một trong số những tướng lĩnh tài ba của mình một người để kết đôi với cô con gái nuôi Tú Anh mà từ ngày khởi binh, ông quên bẵng mất chuyện chồng con của cô.

Bữa tiệc bắt đầu, Quách phu nhân kéo Tú Anh đứng nấp trong rèm âm thầm quan sát lựa chọn quân phu tương lai của mình. Tú Anh đưa mắt nhìn thấy các tướng lĩnh vị nào cũng râu ria xồm xoàm, tinh thần phấn chấn, rượu vào lời ra, thao thao bất tuyệt về thắng lợi vừa qua. Nhìn khắp một lượt, Tú Anh đột ngột dừng lại ở một vị tướng trẻ ngồi ở bàn ngoài. Vị tướng này không phải khôi ngô tuấn tú, thậm chí mặt còn có chút xấu xí. Tuy nhiên, thân hình vạm vỡ, nhanh nhẹn, đôi mắt thì luôn toát ánh sáng thể hiện một con người đang làm việc lớn. Trong khi các vị tướng khác vẫn đang vung tay múa chân thì anh ta là người duy nhất trầm tư mặc tưởng. Có lẽ vì điểm khác người ấy mà vị tướng trẻ thu hút cô gái vốn thông minh và kén chọn Tú Anh. Và người tướng trẻ ấy, không ai khác chính là cậu bé chăn trâu Chu Nguyên Chương thuở nào.

Đám cưới được tổ chức một cách linh đình dưới sự chủ trì của vị chủ soái nghĩa quân. Chu Nguyên Chương từ một kẻ vô danh tiểu tốt đã có được một chức quan nhỏ trong nghĩa quân. Nay lại được Tú Anh lựa chọn làm đấng phu quân, thật là một bước lên trời. Chẳng bao lâu sau đó, từ chức quan “Thập phu trưởng” (quản lý 10 binh sỹ), Chu Nguyên Chương đã trở thành một Phó nguyên soái, quyền lực chỉ dưới Quách Tử Hưng.

Nhiều người nói rằng, sự kết hợp của Chu Nguyên Chương với Tú Anh thực tế chỉ là một cuộc hôn nhân chính trị. Chu Nguyên Chương thì muốn thăng tiến trong nghĩa quân, còn Quách Tử Hưng thì muốn nhanh chóng tìm cho cô con gái nuôi muộn chồng một đấng lang quân như ý. Mặc dù vậy, các sử gia vẫn một mực quả quyết rằng, Mã Tú Anh là người phụ nữ có ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc đời ông vua tham vọng và tàn bạo này.

Và vị Hoàng hậu chân to quyền uy nhất vương triều Minh

Kết hôn chưa được bao lâu, Chu Nguyên Chương xảy ra xích mích với ông nhạc Quách Tử Hưng. Từ khi anh chàng chăn trâu leo lên chức phó nguyên soái, nhiều người trong nghĩa quân đã thấy ghen ghét, nay nhân cơ hội dèm pha. Quách là người trượng nghĩa, nhưng cũng rất đa nghi, khi nghe nói Chu Nguyên Chương có ý làm phản, đã sợ hãi, tìm cách nhốt Chu Nguyên Chương vào biệt lao, không cho ăn uống gì cho đến chết.

 src=

Mã hoàng hậu

Tú Anh thương chồng nhưng quân lệnh như sơn, không dám tự ý đến xin cha. Loay hoay mãi, Tú Anh phát hiện ra rằng, biệt lao nơi nhốt Chu Nguyên Chương thông với một mật đạo. Theo mật đạo đó đi vào sẽ đến gần cửa sổ của phòng giam nhốt Chu Nguyên Chương. Thế là hàng ngày, Tú Anh giả bệnh để người hầu mang thức ăn vào giường rồi cất đi, đến tối mới mang đến đưa cho Chu Nguyên Chương qua chiếc cửa sổ. Nhưng phần ăn của một người phụ nữ như Tú Anh làm sao đủ cho một vị tướng lĩnh sức dài vai rộng. Lo chồng mình đói, cô tiểu thư cành vàng lá ngọc lần đầu tiên đã đánh liều, xuống bếp ăn trộm đồ ăn để mang cho Chu Nguyên Chương.

Một lần, Tú Anh đang lúi húi từ bếp đi ra thì gặp mẹ mình. Không còn cách nào khác, Tú Anh chỉ còn biết khóc lớn kể lể với mẹ hết mọi chuyện. Đến khi Quách phu nhân nói lại với Quách Tử Hưng, vị chủ tướng già mới cảm động mà quyết định tha cho Chu Nguyên Chương. Có thể nói, lần ấy, Chu Nguyên Chương đã được Tú Anh cứu sống. Cũng có lẽ vì thế mà về sau này, khi đã trở thành Minh Thái Tổ, một Hoàng đế quyền lực và nổi tiếng tàn bạo nhưng Chu Nguyên Chương vẫn một mực yêu chiều và tôn trọng vị hoàng hậu họ Mã của mình.

Cũng giống như Chu Nguyên Chương, Mã Tú Anh dù trở thành Hoàng hậu, bậc mẫu nghi thiên hạ đứng đầu tam cung lục viện nhưng vẫn không thể chối bỏ xuất thân bần hàn của mình. Một bằng chứng rõ nhất chính là đôi bàn chân “phá cách” không tuân theo truyền thống “gót sen ba tấc” đặt ra từ ngàn đời trước của vị Hoàng hậu này. Tú Anh từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ, lại sống trong thời chiến loạn liên miên, nên dù rất xinh đẹp nhưng cô không có thời gian để thực hiện việc bó chân. Chính vì thế, trong dân gian người ta vẫn gọi Mã Hoàng hậu là bà hậu chân to như một cách mỉa mai nguồn gốc xuất thân nghèo khó của bà. Tuy nhiên, có lẽ Mã Hoàng hậu là bà hậu chân to duy nhất được một ông vua quyền lực say mê đến thế.

Sử chép rằng, một lần, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đi chơi lễ hội hoa đăng trong tết Nguyên tiêu cùng mưu thần Chu Bá Ôn. Hai người xuống đến phố thì thấy một đám đông đang túm tụm lại chơi trò đoán chữ trên đèn lồng. Chu Nguyên Chương cũng tiến đến gần tham gia. Ngẫu nhiên, ông nhìn thấy một bức tranh rất bí hiểm. Trong bức tranh vẽ một người phụ nữ với một đôi chân tự nhiên rất to và đang ôm một quả dưa hấu, mắt cười tít có vẻ như rất thỏa mãn. Chu Nguyên Chương suy nghĩ mãi nhưng không biết đoán bức tranh này là chữ gì, bèn quay sang hỏi Lưu Bá Ôn: “Câu đố này là ý gì?”. Lưu Bá Ôn suy nghĩ một lát rồi nói: “Bức tranh này nghĩa là ‘Những người phụ nữ chân to Hoài Tây’”. Chu Nguyên Chương vẫn không hiểu, “Người phụ nữ chân to Hoài Tây” là nhằm chỉ ai nên tiếp tục hỏi. Lưu Bá Ôn cười nói: “Hoàng thượng có thể về cung hỏi Hoàng hậu nương nương”.

Đêm hôm đó, khi nghe Chu Nguyên Chương kể chuyện, Mã Hoàng hậu cười nói: “Người Hoài Tây, chân lại to, đương nhiên là bức tranh này ám chỉ tiện thiếp”. Chu Nguyên Chương nghe thấy thế nổi giận đùng đùng, đập bàn quát: “Một kẻ dân đen quê mùa mà dám dùng câu đố để chế nhạo Hoàng hậu đương triều, làm sao có cái lý ấy được?”. Ngay lập tức, Chu Nguyên Chương cho gọi thái giám truyền lệnh bắt giam kẻ làm ra câu đố trên đèn lồng. Mã Hoàng hậu thấy vậy, vội ngăn lại nói: “Hôm này là ngày tốt lành, không nên động chuyện sát sinh. Huống hồ tiện thiếp quả thực xuất thân bần hàn, chân to, họ nói có gì sai đâu?”. Chu Nguyên Chương cũng vì thế mới chịu bỏ qua, không truy cứu việc đó nữa.

Chỉ một việc rất nhỏ nhưng có thể thấy, Chu Nguyên Chương coi trọng Mã Tú Anh, Mã Hoàng hậu đến mức nào. Nhiều sử gia đều khẳng định, một người thô lỗ và ít học như Chu Nguyên Chương có thể sáng lập nên thời thịnh trị Hồng Vũ đầu nhà Minh phần lớn là nhờ trí tuệ của Mã Hoàng hậu. Với phẩm hạnh và trí tuệ của mình, Mã Tú Anh đã ảnh hưởng rất lớn đến những quyết sách cai trị đất nước của Chu Nguyên Chương. Có lẽ đây cũng là lý do vì sao, trong lịch sử tình ái của ông chủ tam cung lục viện hơn 3000 mỹ nữ như Chu Nguyên Chương, người ta lại chỉ nhắc đến tên một người phụ nữ duy nhất.

Nguồn: Phong Nguyệt
Dangyeu

Minh Thái Tổ dùng pháp luật cứu suy sụp – Kipkis

 

Minh Thái Tổ dùng pháp luật cứu suy sụp

Một hôm vào lúc canh năm của tháng sáu, năm Minh Hồng võ thứ 30, Hoàng đế Chu Nguyên Chương tuổi xâp xỉ “cổ lai hi” đột nhiên lâm triều. Bách quan văn võ trong triều cảm thấy có việc lớn hệ trọng sắp xảy ra, đều vô cùng hoảng sợ. Từ sau khi Thái tử Chu Tiêu bị ốm chết, Chu Nguyên Chương đã phải chịu nỗi bắt hạnh lớn nhất của “Cảnh già mất con.” Ông cảm thấy thương tâm vạn phần, không còn lòng dạ để quản lý đối với cả thiên hạ nữa, đem tất cả mọi việc đều giao cho các bộ xử lí.

Quả nhiên không vượt ngoài dự đoán của nhiều người, Chu Nguyên Chương vừa ngồi xuống liền truyền Âu Dương Luân lên điện.

Âu Dương Luân là chồng của công chúa An Khánh, con gái thứ ba của Chu Nguyên Chương Xuất thân là Tiến sĩ, quan được phong chức Phò mã Đô úy. Ông là người thông minh, thông kim bác cổ, rất được Chu Nguyên Chương coi trọng.

Hoàng đế truyền gọi Âu Dương Luân có việc gì lớn?

“Buôn chè tư nên phạm tội gì?” Chu Nguyên Chương hỏi một cách nghiêm nghị.

Âu Dương Luân lập tức hiểu sắp xảy ra việc gì, liên vội vàng quỳ xuống, dập đầu xin tộí với bố vợ.

Vốn là, thời kì đầu triều Minh vì kinh tế tiêu điều, để tăng thêm tài chính quốc gia quy định chè là là vật tư xuất khẩu quan trọng, còn định riêng luật về chè, buôn bán và vận chuyển chè tư là có tội. Mà Âu Dương Luân lại dựa vào quyền thế “hoàng thân quốc thích” buôn bán chè tư mưu lợi riêng lớn. Kết quả là bị các quan địa phương mật tâu tố cáo đến chỗ Chu Nguyên Chương.

“Đem ra Ngọ môn chờ chém!” Chu Nguyên Chương nói xong, đứng dậy bãi triều.

Tất cả các đại thần còn chưa rõ câu chuyện ra sao thì Chu Nguyên Chương đã không thấy ở đó nữa.

Sau khi nàng công chúa thứ ba biết tin, khóc lóc chạy đến chỗ cha mình xin tha thứ.

Phụ vương nói một cách vô cùng cảm khái: “Luật Đại Minh” sau khi đặt ra, lại ban bố “Luật lệ Đại Minh” còn phát ra “Đại lệnh”, dân chúng trong thiên hạ mỗi nhà đều có một quyển, các quan địa phương dẫn đầu đi giảng giải trong dân ở địa phương để cho người trong thiên hạ tôn trọng và giữ gìn pháp luật. Nếu ta không giết nó thì làm sao thu giết phục nổi người trong thiên hạ?

Ba khắc sau giờ ngọ, một tiêng pháo nổ, đầu Âu Dương Lân rơi xuống đất

Ở thời kì suy sụp của nền kinh tế quốc gia tiêu điều, dùng thủ đoạn kinh tế cứu vãn là một phương diện, điều quan trọng hơn là phải lập pháp. Dùng pháp luật để duy trì sự phát triển bình thường của kinh tế. Việc này Chu Nguyên Chương làm được rất giỏii.

Có pháp luật có thể dựa, chấp hành pháp luật phải nghiêm, chấp pháp là bảo đảm của lập pháp. Chu Nguyên Chương đã xứ tử hình con rể là vì đã buộn chè tư, đây chính là vì để làm được chấp pháp phải nghiêm.

Là một đế vương khai quốc, Chu Nguyên Chương rất hiểu tác dụng của pháp luật. Từ sự việc dưới đây, cũng có thể thể hiện tư tưởng pháp quyền của ông.

Từ khi hoạn quan tồn tại ở hoàng cung đến nay, luôn luôn tồn tại như là một con mọt của tập đòan thống trị cao nhất. Nhiều đế vương bị họn hoạn quan thao túng trở thành bù nhìn, thậm chí họ trực tiếp tham dự vào cuộc tranh chấp việc nhà của nội bộ hoàng tộc.

Minh Thái tổ biết tác dụng xấu của hoạn quan, cho nên không cho họ tham chính. Có một lần, một hoạn quan hầu hạ ông rất lâu, ngẫu nhiên bàn chuyện chính sự với người khác, sau khi Minh Thái tổ biết được, lập tức đuổi ông ta ra khỏi cung và ra lệnh nguời này suốt đời không được vào cung nữa.

Ông lẩy việc đó căn dặn các đại thần thân cận: “Những người bị thiến làm hoạn quan, sớm khuya hầu hạ hai bên. Một lời khuyên thành thật dù nhỏ của họ, cũng đủ giành được lòng hân hoan của bậc quân vương. Cho nên thời gian mà dài thì sẽ “cáo mượn oai hùm” chiếm lấy quyền bính, trở thành thế lớn điều khiển không nổi. Ta đặt ra phép tắc hễ là hoạn quan không được tham dự chính sự. Hôm nay ta đuổi ông ta di, chính là để răn tương lai”.

Vì thế, ông ra lệnh cấm nội thị không được học và đọc sách, hoạn quan sau này cũng đều là người mù chữ.

Hạn chế đối với thế lực không có lợi cho việc thống trị của mình, không nghi ngờ gì nữa có thể tránh được nhiều điều phiền phức. Bởi vì những thế lực này khi bạn xuất hiện suy sụp, sẽ có thể chỗn vùi bạn.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Thiên thời
  • Tác giả: Bạch Huyết
  • Dịch giả: Nguyên An
  • Nhà xuất bản Hà Nội 2008
  • Nguồn: tusachcuaban.com

Có thể bạn muốn xem

Vì sao Chu Nguyên Chương giết nhiều công thần nhất lịch sử?

 

Theo Minh sử, năm Hồng Vũ thứ 13 (1380), Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương dùng tội danh “tự quyền xây dựng phe phái” đã giết Thừa tướng Hồ Duy Dung. Sau khi giết Hồ Duy Dung rồi, Chu Nguyên Chương cũng bãi bỏ luôn cơ quan Trung thư tỉnh và đề cao vai trò của 6 bộ. Từ đó công việc chính trị trong nước do 6 bộ phân chia nhau thực hiện và trực tiếp nghe lệnh hoàng đế. Việc làm đó đã thâu tóm quyền lực vào tay một mình hoàng đế và xóa bỏ chế độ tể tướng vốn tồn tại 1500 năm ở Trung Quốc. Ảnh: Hoàng đế Chu Nguyên Chương.

Triều đại nhà Minh – Nghệ thuật Biểu diễn Shen Yun

 

Triều đại nhà Minh (1368 – 1644 SCN) là vương triều tại Trung Nguyên cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc do người Hán kiến lập. Sau khi Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương trục xuất người Mông Cổ khỏi Trung Nguyên, sức mạnh quốc gia nhanh chóng khôi phục, đến thời Minh Thành Tổ đã đạt tới thời kỳ cực thịnh. Minh Thành Tổ vốn là con thứ tư của Chu Nguyên Chương, là nhà quân sự đã tung hoành chiến trường, không ai có thể ngăn cản. Ông đã dời đô từ Nam Kinh đến Bắc Kinh, hạ lệnh cho soạn cuốn “Vĩnh Nhạc Đại Điển”. Đây là một bộ bách khoa toàn thư về thiên văn, địa lý, âm dương, y học, bói toán, chiêm tinh, văn học, nghệ thuật, v.v. Lúc hoàn thành ước tính bao gồm 370 triệu chữ, đối với những cuốn sách đã thu thập không hề chỉnh sửa gì, nên đã bảo trì được vô số tài liệu nguyên gốc quý giá. Sau đó do chiến tranh nó bị hủy mất, hiện tại những phần sót lại ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Anh, Đức và Mỹ. Trong các bản ở hải ngoại thì bản sót lại ở thư viện Quốc hội Mỹ là lớn nhất.

Minh Thành Tổ đã phái Trịnh Hòa bảy lần sang các nước phương Tây, trong suốt 28 năm, không những xúc tiến được buôn bán với thế giới, mà còn truyền bá được văn hóa Trung Quốc. Đoàn tàu của Trịnh Hòa đã tới hơn 30 quốc gia, xa nhất đã đến phía Đông châu Phi, biển đỏ, và cũng từng đến châu Mỹ, Úc và New Zealand.

Minh Thành Tổ lấy niên hiệu là Vĩnh Lạc, lịch sử gọi là thời thịnh trị Vĩnh Lạc, sự phát triển văn hóa và quân sự của nó có thể sánh với thời thịnh thế Hán, Đường.

Thời nhà Minh các tiểu thuyết rất phát triển, trong tứ đại danh tác thì Tam Quốc diễn nghĩa, Thủy Hử truyện, và Tây Du Ký đều xuất hiện vào thời Minh, ngoài ra còn có Đông Chu Liệt Quốc chí, và các tập truyện ngắn Tam Ngôn, Nhị Phách.

Thời nhà Minh Đạo giáo rất hưng thịnh, hoàng đế Gia Tĩnh rất kính ngưỡng Đạo giáo. Vương Dương Minh cũng đã phát dương quang đại “tâm học” của Nho gia, đây cũng là một nhánh quan trọng của triết học Nho gia. Ngoài ra có Lý Thời Trân và cuốn “Bản thảo cương mục”.

Năm Vạn Lịch 25 và 26 của Minh Thần Tông, nước chư hầu Triều Tiên bị chính quyền của Toyotomi Hideyoshi, Nhật Bản xâm lược, Đại Minh đã phái quân giúp Triều Tiên đánh bại quân Nhật.

Thời cuối nhà Minh xuất hiện loạn do hoạn quan, đến năm 1644 bị lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân là Lý Tự Thành tiêu diệt.

Hoàng đế Chu Nguyên Chương và “độc chiêu“ khét tiếng lịch sử

 

Sách “Minh Hội Điển” có chép rõ ràng: “Minh Thái Tổ” (tức Chu Nguyên Chương) có 40 phi tần.

Đại Minh Thái Tổ Cao Hoàng đế (chữ Hán: 大明太祖高皇帝, 21.10.1328 – 24.6.1398), tên thật là Chu Nguyên Chương (朱元璋), còn gọi là Hồng Vũ Đế (洪武帝), Hồng Vũ Quân (洪武君), hay Chu Hồng Vũ (朱洪武), thuở nhỏ tên là Trùng Bát (重八), về sau đổi tên thành Hưng Tông (興宗), tên chữ là Quốc Thụy (國瑞). Ông là vị hoàng đế khai quốc của vương triều nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc, cai trị từ năm 1368 đến 1398. Các sử gia gọi thời kỳ cai trị của ông là “Hồng Vũ chi trị” (洪武之治). Ông được xem như là một trong các hoàng đế vĩ đại nhất của Trung Quốc nhờ các công trạng của mình với đất nước.

Vào giữa thế kỷ 14, cùng với nạn đói, bệnh dịch và các cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra khắp nơi, Chu Nguyên Chương trở thành nhà lãnh đạo của một lực lượng đã chinh phục Trung Hoa và chấm dứt nhà Nguyên, buộc người Mông Cổ phải rút vào thảo nguyên Trung Á. Với việc chiếm được Đại Đô của nhà Nguyên, ông tuyên bố thiên mệnh thuộc về mình và lập ra nhà Minh vào năm 1368. Chỉ tin vào gia đình, ông phân phong đất đai cho các con trai thành các phiên quốc trấn thủ các vùng đầm lầy phía bắc và thung lũng sông Dương Tử. Người con cả của ông, thái tử Chu Tiêu chết sớm, việc này đã khiến ông chọn người cháu nội là Chu Doãn Văn làm người kế vị cùng với việc ban bố Hoàng Minh Tổ Huấn. Nhưng những việc này đều thất bại, khi Chu Doãn Văn quyết định ra tay với các ông chú đã dẫn đến cuộc nổi loạn thành công của Yên Vương Chu Đệ.

" "hoang de chu nguyen chuong va "doc chieu" khet tieng lich su hinh anh 1

Hoàng đế Chu Nguyên Chương

Chu Nguyên Chương đặt niên hiệu là Hồng Vũ (洪武). Khi qua đời, ông được truy tôn miếu hiệu là Thái Tổ (太祖) và thụy hiệu là Cao Hoàng đế (高皇帝). Tiểu sử của ông được ghi tại Minh sử, quyển 1-3, Thái Tổ bản kỷ. Ông được táng ở Hiếu lăng, Nam Kinh.

Sống cuộc sống cực kỳ phóng túng và dâm loạn, song Chu Nguyên Chương lại quản lý những người phụ nữ của mình cực kỳ nghiêm khắc, thậm chí có thể nói là tàn khốc. Nếu như một ngày Chu Nguyên Chương phát hiện hoặc thậm chí chỉ là nghi ngờ người phụ nữ bên cạnh mình “bất trung” thì lập tức người đó chỉ có một con đường chết, dù trước đó có được sùng ái đến đâu…

Người ta thường nói, đã là hoàng đế không ai là không háo sắc. Điều này không sai. Khi quyền lực trong tay đã tới mức tột đỉnh, sở hữu cả thiên hạ thì việc các bậc “con giời” này sở hữu hậu cung bạt ngàn mỹ nữ đâu cũng là lẽ thường tình. Chẳng hạn như trường hợp Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, người lập nên triều đại nhà Minh, nổi tiếng là một hoàng đế cai trị nghiêm khắc cũng có một đời sống tình dục chốn hậu cung vô cùng phong phú.

Sách “Minh Hội Điển” có chép rõ ràng: “Minh Thái Tổ (tức Chu Nguyên Chương) có 40 phi tần. Trong đó có 2 phi được chôn cất ở phía Đông và Tây của lăng (lăng mộ của Chu Nguyên Chương). Những người còn lại đều bị bức phải chết rồi tùy táng (chôn theo hoàng đế)”. Một số cuốn sử khác lại nói rằng, số lượng phi tần của Chu Nguyên Chương là 46 người chứ không phải 40 như sách “Minh Hội Điền” nói. Như vậy, bất chấp con số nào là chính xác cũng có thể khẳng định chắc chắn rằng số lượng phi tần mà Chu Nguyên Chương có trong hậu cung không dưới 40 người.

Sách “Quốc Xác” cũng ghi rõ tên tuổi của các phi tần của Chu Nguyên Chương gồm có Chiêu Kính Doãn Phi Hồ Thị, Thành Mục Quý Phi Tôn Thị, Thục Phi Lý Thị, An Phi Trịnh Thị, Huệ Phi Thôi Thị, Lệ Phi Vạn Thị… Đó còn là chưa kể hàng ngàn người không được cưới hỏi một cách chính thức, không có bất cứ sử sách nào ghi chép được. Nói cách khác, Chu Nguyên Chương mặc dù khi còn sống không hề có tiếng xấu là “dâm loạn”, song các mỹ nhân trong chốn hậu cung của ông vua này là không kém bất cứ hoàng đế nào trong lịch sử.

Thực tế, họ Chu cũng là đàn ông, cũng thích người đẹp và chuyện có nhiều phi tần là rất bình thường. Nhiều dã sử còn chép rõ rằng, chính Chu Nguyên Chương không chỉ là người sáng lập triều Minh mà còn là người mở đầu cho “truyền thống” tìm gái lầu xanh của các ông vua triều Minh sau này. Chuyện kể rằng, trước khi Chu Nguyên Chương trở thành hoàng đế, từng có một thời gian qua lại với một kỹ nữ ở chốn thanh lâu. Trong một lần cao hứng, Chu Nguyên Chương còn viết tặng cô kỹ nữ này một bài thơ, coi như lời thề hẹn của mình.

Sau đó ít lâu, cô kỹ nữ này có mang. Cái thai nhi trong bụng cô kỹ nữ liệu có phải là của Chu Nguyên Chương hay không thì không ai có thể khẳng định được. Tuy nhiên, sau khi đứa con được sinh ra, cô kỹ nữ này biết rằng Chu Nguyên Chương đã trở thành hoàng đế mới mang cả đứa con lẫn bài thơ khi xưa tới gặp vị hoàng đế họ Chu. Chu Nguyên Chương đương nhiên vẫn nhớ chuyện khi xưa nhưng bản thân giờ đã là một hoàng đế, làm sao có thể gặp một cô kỳ nữ thân phận thấp hèn lại còn thừa nhận mình đã từng có mối quan hệ với cô ta. Vì vậy, lúc bấy giờ Chu Nguyên Chương đã đuổi cổ cô kỹ nữ đã có con với mình ra khỏi hoàng cung.

Nhiều người cũng kể về chuyện tránh mặt người kỹ nữ khi xưa nhưng điều đó không hoàn toàn có nghĩa rằng ông vua khai quốc triều Minh không bao giờ dính líu tới kỹ nữ nữa. Mặc dù trong hậu cung mỹ nữ bạt ngàn nhưng thú vui được vụng trộm với những cô kỹ nữ ở chốn lầu xanh thì Chu Nguyên Chương không thể nào bỏ được. Vì thế, mỗi khi có nhã hứng, Chu Nguyên Chương lại sai người chuẩn bị xe ngựa, đang đêm một mình bỏ ra ngoài cung tìm tới các chốn thanh lâu kỹ viện để tìm người đẹp.

Sống cuộc sống cực kỳ phóng túng và dâm loạn, song Chu Nguyên Chương lại quản lý những người phụ nữ của mình cực kỳ nghiêm khắc, thậm chí có thể nói là cực kỳ tàn khốc. Nếu như một ngày Chu Nguyên Chương phát hiện hoặc thậm chí chỉ là nghi ngờ người phụ nữ bên cạnh mình “bất trung” thì lập tức người đó chỉ có một con đường chết, dù trước đó được sủng ái đến đâu. Chuyện Chu Nguyên Chương xử chết Ngạc Phi, người được cho là mẹ ruột của Minh Thành Tổ Chu Đệ, là ví dụ điển hình.

Sách “Minh Thái Tổ Thực Lục” (ghi chép về cuộc đời Chu Nguyên Chương) do Minh Thành Tổ Chu Đệ sau khi lên ngôi chủ trì biên soạn cũng như các sử liệu chứng thích từ “Minh Sử” (Sử nhà Minh) đều nói rằng, Chu Đệ là do Mã Hoàng hậu sinh ra. Đệ có 3 người anh, tức Thái tử Chu Tiêu, Tần Vương Chu Sảng, Tấn Vương Chu Cương. Chu Đệ là con trai thứ 4 và bên dưới còn một người em cũng do Mã Hoàng hậu sinh ra là Chu Thu. Tuy nhiên, các văn nhân thời Minh và Thanh thì đều cho rằng, chính sử đã “bịa chuyện”, và mẹ ruột của Chu Đệ là Ngạc Phi.

Theo đó, những ghi chép về Ngạc Phi không còn nhiều, song nhiều người cho rằng, bà có thể là một hậu phi trong hậu cung nhà Nguyên được Chu Nguyên Chương giữ lại làm chiến lợi phẩm sau khi đuổi được nhà Nguyên ra khỏi Trung Quốc. Ngạc Phi có thể là người Mông Cổ, cũng có thể là người Cao Ly (Triều Tiên ngày nay). Tuy nhiên, có một điều chắc chắn rằng, Ngạc Phi chính là mẹ ruột của Chu Đệ chứ không phải Mã Hoàng hậu. Bằng chứng là trong gian thờ chính của Minh Hiếu Lăng có sắp xếp bài vị của Chu Nguyên Chương và các phi tần thì ở chính giữa là Chu Nguyên Chương và Mã Hoàng hậu, phía phải là Lý Thục Phi và hơn 20 người khác, trong khi phía bên trái chỉ có một mình Ngạc Phi.

Trong thời đại phong kiến, các hoàng đế chỉ truyền ngôi cho dòng đích (con trai vợ cả), chính vì thế, là con một thứ phi như Chu Đệ mà ngồi trên ngai hoàng đế là không chính danh. Chính vì vậy, sau khi Chu Đệ lên ngôi hoàng đế, có ý định sửa lại sử sách để mình trở thành con chính cung hoàng hậu nên không dám công khai nhận mẹ ruột của mình là Ngạc Phi nữa. Tuy nhiên, khi tế lễ, Chu Đệ vẫn muốn mẹ mình được hưởng đặc thù riêng nên mới để bài vị của mẹ ruột mình xếp ở bên trái bài vị của Chu Nguyên Chương. Bên cạnh đó, Chu Đệ còn tìm cách xóa tất cả các dấu tích về mẹ ruột của mình. Đây cũng là lý do mà người đời sau không biết gì nhiều về Ngạc Phi.

Điều đáng buồn là chỉ vì sinh Chu Đệ sớm hơn 2 tháng, Ngạc Phi đã bị Chu Nguyên Chương nghi ngờ là vụng trộm với người bên ngoài nên đã có thai trước khi được sủng hạnh. Chuyện kể rằng, khi đó, Ngạc phi mang thai Đệ được 7 tháng thì lâm bồn, sớm hơn gần 2 tháng so với tính toán thông thường. Đứa trẻ được sinh ra chính là Chu Đệ. Cho rằng Ngạc Phi đã tư thông với người ngoài, Chu Nguyên Chương không thương tiếc ra lệnh xử chết Ngạc Phi.

Tàn bạo là khi vị hoàng đế có tới hơn 40 bà vợ và không ít mối tình với kỹ nữ lầu xanh lại dùng một hình phạt vô cùng tàn khốc với người phi đã từng một thời đầu gối tay ấp. Sử sách chép rằng, Chu Nguyên Chương đã ra lệnh dùng hình phạt có tên là “thiết quần” để giết chết Ngạc Phi. “Thiết quần” (cái váy bằng sắt) là một loại hình phạt tàn bạo dùng để trị tội những phụ nữ ngoại tình thời phong kiến ở Trung Quốc. Để thực hiện hình phạt này, người ta dùng sắt đúc thành một chiếc váy rồi cho váy bằng sắt sẽ được nung cháy đỏ khiến da thịt phạm nhân bị nướng chín, đau đớn đến chết.

Nhiều người nói rằng, câu chuyện về mẹ ruột của Chu Đệ thực chất chỉ là một truyền thuyết trong dân gian, hoàn toàn không có thực. Tuy vậy, người ta vẫn nói, thái độ của ông vua này đối với những người phụ nữ “bất trung” với mình tàn bạo như thế nào

Từ Hoàng đế xuất thân ăn mày tới bạo quân tàn độc

 

Minh Thái Tổ (21/10/1328 – 24/6/1398), tên thật là Chu Nguyên Chương, còn gọi là Hồng Vũ Đế, Hồng Vũ Quân hay Chu Hồng Vũ. Ông là vị hoàng đế khai quốc của vương triều nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc, trị vì từ năm 1368 đến 1398. Các sử gia gọi thời kỳ cai trị của ông là “Hồng Vũ chi trị” và ông được xem như là một trong các hoàng đế vĩ đại nhất của Trung Quốc nhờ các công trạng của mình với đất nước.

Chu Nguyên Chương: Vị Hoàng đế xuất thân từ ăn mày

Chu Nguyên Chương được coi là một trong những vị Hoàng đế có xuất thân khiêm nhường nhất trong lịch sử Trung Hoa. Ông sinh ra trong một gia đình bần nông ở Tứ Châu (nay là huyện Hu Dị, tỉnh Giang Tô). Do kế sinh nhai thúc bách nên cả gia đình ông phải trôi nổi nhiều nơi. Bố mẹ ông có 8 người con nhưng 2 người không may chết yểu, còn 4 nam 2 nữ. Chu Nguyên Chương là con út, thuở nhỏ gọi là Trùng Bát, ngay cả tên họ chính thức cũng không có.

Hoàng đế Chu Nguyên Chương, người khai quốc của vương triều nhà Minh trong lịch sử Trung  Hoa.Hoàng đế Chu Nguyên Chương, người khai quốc của vương triều nhà Minh trong lịch sử Trung  Hoa.

Năm 16 tuổi, Chu Nguyên Chương đi chăn súc thuê nhưng không lâu sau đã bị chủ đuổi vì dám lén  thui một con gia súc trong đàn để ăn. Cũng cùng năm đó, một bệnh dịch đã cướp đi sinh mạng của cha mẹ và anh chị của ông, khiến ông phải tá túc làm sư trong một ngôi chùa. Tuy nhiên, do chùa cũng không thể nuôi hết các sư nên ông phải rời chùa, đi ăn mày kiếm miếng cơm lót dạ trong vòng 3 năm. Sau đó, ông lại trở về chùa làm sư trong 3 năm nữa và trong thời gian này ông mới bắt đầu học đọc và viết.

Năm 1352, khi khí vận triều Nguyên sắp tận, Chu Nguyên Chương gia nhập Hồng Cân quân (quân khăn đỏ) của Quách Tử Hưng, được Tử Hưng tin cậy, nhậm chức Tả phó Nguyên soái nghĩa quân. Sau đó, từ một kẻ vô danh tiểu tốt, Chu Nguyên Chương đã trở thành người đứng đầu quân doanh, xuất quân Bắc phạt.

Tạo hình Chu Nguyên Chương trên phim.Tạo hình Chu Nguyên Chương trên phim.

Tháng giêng năm 1368, Chu Nguyên Chương xưng đế, khai quốc vương triều nhà Minh. Cùng năm  đó, ông công phá Đại Đô (Bắc Kinh), lật đổ ách thống trị của nhà Nguyên, từng bước thực hiện thống nhất đất nước. Năm 1398, Minh Thái Tổ bệnh mất, hưởng thọ 70 tuổi.

Chu Nguyên Chương: Bạo quân đối xử tàn độc với phi tần cung nữ

Những công lao của Chu Nguyên Chương đối với lịch sử và xã tắc thời bấy giờ là không thể phủ nhận được, nhưng nếu lấy tố chất đạo đức ra để bàn thì ông thực sự là một…. vị vua hạ đẳng. Cho tới ngày nay, bên cạnh những công trạng của ông, sử sách Trung Quốc vẫn còn lưu lại những ghi chép cho thấy Chu Nguyên Chương là một ông vua tàn bạo, máu lạnh, giết người không ghê tay kể cả với những người từng đầu ấp tay gối với mình.

Theo các sử liệu ghi lại, Chu Nguyên Chương và Mã Hoàng hậu có tình cảm rất sâu đậm, cả hai đều dành cho nhau sự tôn trọng. Tuy nhiên, vị Hoàng đế khai sáng nhà Minh này vẫn có tam cung lục viện với 42 phi tần, chưa kể đến các Quý nhân, Chiêu nghi, Tiệp dư khác. Mặc dù vậy, chỉ có 2 trong số 42 phi tần của Chu Nguyên Chương được an táng tử tế, số còn lại bị bức tới chết rồi tùy táng (chôn theo Hoàng đế).

Chu Nguyên Chương nổi tiếng là một vị vua tàn bạo, đối xử tàn nhẫn với phi tần.Chu Nguyên Chương nổi tiếng là một vị vua tàn bạo, đối xử tàn nhẫn với phi tần.

Trong thời phong kiến ngày xưa, tính mạng của người phụ nữ thật rẻ rúng và trong mắt Chu Nguyên Chương điều đó còn được thấy rõ nét hơn. Ông ta cho rằng đàn bà bị đàn ông chà đạp là lẽ thường tình và chính vì lẽ đó mà ông đối xử rất tàn nhẫn với phụ nữ.

Một khi Chu Nguyên Chương nghi ngờ vị phi tần nào không chung thủy dù chẳng có bất kỳ chứng cứ, bằng chứng nào, thì vị phi tần đó sẽ có kết cục vô cùng thảm khốc. Theo quy định của Chu Nguyên Chương đề ra, những phi tần một lòng hai dạ sẽ bị dùng hình phạt thiết quần (một cái váy bằng sắt hay đai trinh tiết thời xưa). Để thực hiện hình phạt này, các phi tần được coi là bất trung sẽ phải mặc một cái váy bằng sắt rồi nung cháy đỏ trên lửa, khiến da thịt phạm nhân bị nướng chín, đau đớn đến chết.

Một khi Chu Nguyên Chương nghi ngờ vị phi tần nào ngoại tình dù không có chứng cứ, vị phi tần đó chỉ có con đường chết.Một khi Chu Nguyên Chương nghi ngờ vị phi tần nào ngoại tình dù không có chứng cứ, vị phi tần đó chỉ có con đường chết.

Không chỉ vậy, ngay cả những người có thai với Chu Nguyên Chương nhưng nếu không sinh đủ ngày đủ tháng cũng bị ông kết tội tư thông với kẻ khác và ban chết. Năm Hồng Vũ 14 (1381), người ta phát hiện trên con sông chạy ngang qua hậu cung Minh Triều có một thi thể  trẻ con. Sau khi nghe tin này, Chu Nguyên Chương nổi giận lôi đình, nhất quyết cho rằng một phi tần nào đó đã vụng trộm sau lưng ông.

Suy đi tính lại vài ngày, Chu Nguyên Chương một mực cho rằng Hồ Xung Phi chính là “tác giả” của thi thể trẻ con trôi trên sông nên đã sai người giết bà. Tuy nhiên, điều đáng buồn cười là khi đó vị phi tần này đã ngoài 50 tuổi, về cơ bản rất khó có con.

Ghê gớm cả với vợ của bề tôi

Không chỉ đối xử tàn ác với những người phụ nữ của mình, vị vua họ Chu cũng xử tệ với cả những người không thuộc về mình. Theo sử sách ghi lại, vào một năm Chu Nguyên Chương đích thân cầm quân ra trận,  trong dòng tộc có một người cháu trai muốn lấy lòng vua nên liền dâng tặng cho ông một mỹ nữ.

Lúc này, Chu Nguyên Chương nói rằng thiên hạ còn chưa bình định, không nên gần đàn bà. Bởi theo quan điểm thời xưa, nếu trong doanh trại có đàn bà hay quan hệ với đàn bà trước khi xuất chinh thì trận chiến đó chắc chắn sẽ đại bại.

Mộc Lư - ngồi ngựa gỗ - một trong những hình phạt tra tấn phụ nữ ngoại tình thời nhà Minh.Mộc Lư – ngồi ngựa gỗ – một trong những hình phạt tra tấn phụ nữ ngoại tình thời nhà Minh.

Thông thường, nếu không có nhu cầu, Chu Nguyên Chương có thể trả lại hoặc để cô gái kia đi nhưng ông ta không “nỡ lòng” xử đơn giản như vậy. Khi đó, Chu Nguyên Chương đã sai người đưa mỹ nữ đi xử tử.

Dưới trướng Chu Nguyên Chương có một vị tướng tên là Thường Ngộ Xuân, không có con trai nối dõi. Như một cách ban thưởng cho người có công, Chu nguyên Chương đã tặng cho bề tôi vài cung nữ. Vợ của vị công thần ghen tức nên tìm cách đưa người trả về cung. Biết chuyện, Chu Nguyên Chương đã khiến bà chết không toàn thây.

Vợ của danh tướng Từ Đạt cũng có kết cục bi thảm không kém. Trong một lần nói chuyện với Mã Hoàng hậu, vì lỡ oán than, khen Hoàng hậu sung sướng hơn mình, người phụ nữ đó cũng mất mạng vì bị vua cho rằng “có dã tâm”.

Cái chết bí ẩn của Hoàng đế TQ nối nghiệp Chu Nguyên Chương

 

Trong lịch sử các triều đại phong kiến Trung Quốc, nguyên nhân dẫn tới cái chết của một vị hoàng đế thì nhiều vô kể. Có người sống thọ rồi băng hà theo đúng quy luật sinh lão bệnh tử. Có người bị chết bởi ám sát. Có người vì chìm đắm trong tử sắc mà chết yểu. Nhưng trong tất cả, có một Hoàng đế Trung Quốc, vào đời nhà Minh, thậm chí cho tới tận ngày nay, các sử gia cũng không thể xác định ông qua đời vào thời điểm nào và chết như thế nào.

Minh Huệ Đế (sinh 5.12.1377) là vị hoàng đế thứ hai của nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Tên húy của ông là Chu Doãn Văn, còn gọi là Kiến Văn Đế. Minh Huệ Đế kế vị vua Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương và cai trị nhà Minh từ năm 1398–1402.

Chính sách triệt phiên – cội nguồn cuộc lật đổ

Huệ Đế là con trai thứ hai của Ý Văn thái tử Chu Tiêu (1355 – 1382) với Lã Phi, tức cháu nội của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Ông là người hiếu học, thông tuệ. Do cha và anh trai trưởng mất trước khi Minh Thái Tổ qua đời nên ông được lập làm người kế vị vào tháng 9 năm 1392.

Cai chet bi an cua vi Hoang de Trung Quoc noi nghiep Chu Nguyen Chuong
Minh Huệ Đế Chu Doãn Văn.

Tháng 5 nhuận năm 1398, Minh Thái Tổ bệnh mất, Doãn Văn lên ngôi, lấy hiệu Minh Huệ Đế, đóng đô ở Nam Kinh. Huệ Đế sau đó thay đổi hàng loạt chính sách của ông nội như giảm bớt hình phạt nghiêm khắc, tha nhiều tù nhân và áp dụng chính sách triệt phiên nhằm tập trung quyền lực về trung ương.

Thời kỳ Minh Thái Tổ trị vì, để củng cố hoàng thất, ông đã phong cho con cháu làm phiên vương, nắm giữ binh quyền tại đất phong và đều có quân đội riêng để tự vệ. Do chính sách này, thế lực của các phiên vương rất lớn. Sau khi lên ngôi, Huệ Đế cho triệu các phiên vương về kinh để tiến hành bãi bỏ phiên vương.

Tháng 4 âm lịch năm 1399, Huệ Đế ép toàn bộ gia tộc Tương vương Bách phải tự thiêu chết, còn Tề vương Phù, Đại vương Quế bị giáng làm thứ nhân. Tháng 6 âm lịch giáng Mân vương Biền làm thứ nhân nhưng chưa động tới Yên vương Đệ – thế lực phiên vương mạnh nhất.

Cai chet bi an cua vi Hoang de Trung Quoc noi nghiep Chu Nguyen Chuong-Hinh-2
 Minh Thành Tổ Chu Đệ.

Tuy nhiên, điều này đã làm cho Yên vương Chu Đệ lo sợ cho số phận của mình từ đó ủ mưu làm phản. Vì một số người con (Chu Cao Sí, Chu Cao Hú, Chu Cao Toại) còn ở Nam Kinh (một dạng giam lỏng) nên ngoài mặt Yên vương vẫn tỏ ra một lòng quy thuận Huệ Đế, mặt khác chờ cơ hội phát binh.

Qua một thời gian, Huệ Đế cho rằng Chu Đệ đã hoàn toàn thần phục nên cho phép các con Chu Đệ rời Nam Kinh. Tháng 7 âm lịch 1399, tại Bắc Kinh, Chu Đệ khởi binh làm phản. Do Huệ Đế lạm sát công thần khiến triều đình không còn nhiều người tướng tài đối địch với Chu Đệ, một người dày dạn kinh nghiệm chiến trường nên cán cân chiến sự chênh lệch thấy rõ.

Tháng 4 năm 1402, quân triều đình thua to tại Hoài Bắc, quân của Chu Đệ thừa thắng vượt qua sông Hoài Hà tiến về Trường Giang. Trong chiến sự, vai trò của Chu Cao Hú – một người con của Yên vương được Huệ Đế thả về – có đóng góp khá nhiều.

Minh Huệ đế có thực chết cháy tại Nam Kinh?

Cai chet bi an cua vi Hoang de Trung Quoc noi nghiep Chu Nguyen Chuong-Hinh-3
 Minh Huệ đế có thực chết cháy tại Nam Kinh vẫn còn là bí ẩn.

Ngày 13 tháng 6 âm lịch năm 1402, quân Yên vương Chu Đệ tiến vào Nam Kinh, qua cửa Kim Xuyên tiến vào phủ Ứng Thiên nhưng không bắt sống được Huệ Đế. Kinh thành bốc cháy ngùn ngụt trong cuộc tấn công của Yên vương.

Sau khi chiếm được toàn bộ Nam Kinh và dập tắt hỏa hoạn. Yên vương trưng ra 3 thi thể bỏng nặng không thể định rõ nhân dạng từ đống tro tàn và tuyên bố đây là xác của Huệ Đế, Hoàng hậu và thái tử.

Huệ Đế và người nối dõi mặc nhiên “được” coi là đã chết nên Yên Vương Chu đệ tự phong Đế cho mình, lấy hiệu Minh Thành Tổ, hay còn gọi là Vĩnh Lạc Đế. Sau khi lên ngôi, Lạc Đế ra lệnh phá hủy toàn bộ hồ sơ, văn tự, ghi chép liên quan đến Huệ đế, tiến hành một cuộc thanh trừng tòa bộ những người liên quan đến vị vua tiền nhiệm, nhằm mục đích xóa sạch những vết tích liên quan đến triều đại của Huệ đế.

Nhưng Huệ đế có thực sự chết cháy trong trận chiến tháng 6.1402 hay không thì ngay cả các sử gia danh tiếng nhất sau này cũng không ai dám khẳng định. Có thuyết nói rằng Kiến Văn Đế tự thiêu trong cung cấm. Lại có thuyết nói rằng ông bỏ trốn, cạo đầu làm sư, đi tu mai danh ẩn tích.

Lật lại những ghi chép còn lưu giữ, thì trước khi quân Yên vương tràn vào Nam Kinh, một Hoạn quan thân tín đã khuyên Huệ Đế nhanh chóng thu xếp rời kinh thành thay vì nghe lời ở lại cố thủ chờ viện binh của Đại thần Hà lâm viện thị Phương Hiếu Nhụ.

Rất có thể, Huệ Đế đã nghe theo lời của người này mà cao chạy xa bay, tới ẩn náu ở tận Vân Nam trước khi cung Ứng Thiên bị quân Yên vương phóng hỏa. Theo đó, 3 thi thể chết cháy mà Yên vương khẳng định là Huệ đế, Hoàng hậu và Thái tử, là một tay do người sau này trở thành Vĩnh Lạc Đế ngụy tạo.

Các sử gia dương đại đa phần ủng hộ giả thuyết trên và tin rằng Huệ Đế không hề chết cháy trong vụ hỏa hoạn cung Ứng Thiên. Bên cạnh đó, cũng tồn tại truyền thuyết cho rằng Huệ Đế lưu lạc qua nhiều nước lân cận nuôi chí lớn giành lại ngôi vị.

Huệ Đế, được cho là từng trở về Nam Kinh thì tuổi đã lục tuần, chí lớn giành lại thiên hạ cũng đã nguội, nên quyết định trở thành một nhà tu hành chu du thiên hạ.

Chuyện về Hoàng Đế Chu Nguyên Chương

 

Tôi chỉ dựa trên chút cốt sử liệu để viết chuyện này ( học cách như Tư Mã Thiên đã từng thế ). Là tích Trung Quốc, nhưng nếu có điều hay từ các Nước khác thì ta cũng nên học cho tinh thần dùng người trị Quốc cho bây giờ…

….

 data-src=

Minh Thái Tổ (tên thật là Chu Nguyên Chương) sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo khó hồi thế kỷ 14. Ông là một trong những nhà lãnh đạo lừng danh xuất thân nghèo khó, đã từng bước đạt đến đỉnh cao quyền lực tối thượng.

Chu Nguyên Chương, sao bao năm lận đận rừng xanh núi thẳm sống chết trên chiến trường, được những tướng sĩ anh dũng một lòng phò tá, đánh trận, thu về Thiên hạ, xưng làm Đế khởi đầu nên triều đại nhà Minh.

Lên ngôi ‘Thiên Tử’ nhưng thực là một con người, dù ưu trội thì mới chỉ là quen đánh nhau, mưu đồ chinh phục lớn dần cùng chiến quả. Nay vị thế tuyệt đỉnh, Đất nước thái bình nên hàng ngày phải thiết triều bàn định trị Quốc an Dân, chưa từng có kinh nghiệm, tự biết tố chất chỉ bình thường, nhìn quanh thì các quan được ông bổ nhiệm đứng đầu các lĩnh vực cũng toàn là chiến tướng khi xưa có công trạng hiển hách, nay cũng ngô nghê vào đảm việc mới!

Ông nhận thức: mình là Đế nhưng không hơn người , quân thần chắc cũng không hơn ta, trong muôn dân ai có thể tự xem họ hơn được những kẻ mũ cao áo dài long trọng ngự ở Triều Đình cho được ( nhất là họ bị mặc cảm chẳng có thành tích gì trong quá khứ ) ! Vậy nên : cai trị dựa cơ bản vào việc khiến ai ai cũng bình thường được mà sống mà làm, miễn lòng người yên ổn tất sẽ hanh thông. Nhưng thời nào cũng có hiền kiệt thời đó! Vấn đề là phải tìm được họ, quan trọng hơn là ‘có ghế’ cho họ ngồi mà nghị sự, đảm việc!

Mỗi sáng thiết Triều, quan Bộ Lễ dâng tấu sớ trình. Vua xem rồi tuyên hỏi các quan. Chỉ thấy đầu mọi người cúi thấp xuông ngực không nói gì! Ngài phán cách, rồi tha thiết với họ hãy góp ý! Họ đồng thanh hô : Thánh Thượng anh minh ! Thánh Thượng vạn tuế !

Ngài đành bãi Triều, ngồi nán lại nhìn theo họ nhah nhẩu bước ra, rúc rích rỉ tai rủ rê nhau đến chỗ nọ chỗ kia hưởng thụ…. Trong lòng ngao ngán, lo lắng, suy tư….

Ngài rời khỏi ngai vàng, một mình chậm rãi bách bộ vườn thượng uyển, thấy Mẫu Hậu cúi đầu chấm khăn lau nước mắt. Vốn là người con hiếu đễ, Ngài lạy hỏi: cớ sao Mẹ lại buồn thương thế ? Mẫu Hậu đáp : hàng ngày ta chứng kiến con ngự Triều bàn việc Nước, mà bọn quan tướng cứ kiểu cách thế mà trỗi lo sợ Nước tàn Triều lụi mà thôi. Chính ta cũng hiểu con và bọn họ vốn chỉ tự tinh trong loạn lạc, dũng cảm trong binh đao giành từng mảnh đất mà thôi, nay mênh mông Thiên Hạ thống nhất trong tay thì mưu sự không nổi, ra ngoài hợm hĩnh thói xưa, thì phải chăng sinh ra tai hoạ mới cho Quốc gia, nguy cơ nội chiến đâu có hết ! Khi là tướng sĩ mạng sống còn thấy chẳng quí, sẵn lòng mà chết bỏ, nay là Vua quan có lộc muôn vàn nhưng không thể làm tốt nổi chức phận của mình, chẳng bỏ được tham hưởng ! Xã tắc có thực an thái được không ?

Vua cảm kích đáp rằng : xin Mẫu Hậu yên tâm, con đã có cách, trước hết chính con phải dũng cảm đối mặt với bọn họ, hơn cả khi đầu gươm ngọn giáo của kẻ địch hung bạo nhất ! Con phải mạnh mẽ với khí chất Hoàng Đế thay vì chỉ đứng đầu diễn trò Triều Đình cùng bọn tướng hùng khi xưa

……

Sáng sau nghi lễ chuẩn chỉ thiết Triều! Kiểu cũ lại diễn ra! Vua nói : ta biết ta không anh minh sao các ngươi lại biết thay ta ? Trong khi hỏi về quốc kế thuộc lĩnh vực mình đảm mà các ngươi lại luôn cố tỏ ra không biết hơn ta? Cái gì cũng chỉ mình ta nghĩ và quyết vì ta hơn thì các ngươi giữ chức hưởng bổng lộc vì gì ? Trong các ngươi có ý hay mà không nói thì lòng trung Vua vị Quốc mồm miệng vẫn hô hoán thì nó ở đâu ? Chi bằng để những ghế các ngươi đang ngồi dành cho Hiền kiệt cùng ta phụng sự việc Nước chẳng hơn ư ? Ta làm Vua mà chỉ cốt thiết Triều cho ra vẻ, mong xin ý kiến các ngươi về đại sự không xong, rồi khoái khẩu ôn chuyện binh đao thôi sao ? Xưa yêu cầu các ngươi xả thân lại dễ, nay xin ý kiến các ngươi khó thế?! Hẳn do các ngươi không sinh ra để đảm việc thời bình mà thôi nên ta cũng không nỡ trách phạt.

Vài quan đầu Triều nghe thế , ỷ vào công trạng xưa, dám lên tiếng lại : – Bẩm Thánh Thượng ! Dù sao chúng thần đây đều lẫm mình dùng xương máu của mình phò tá Ngài lên ngôi báu ạ! Nên dù thế nào, phải chăng cũng đáng được hưởng một phần lộc cùng Ngài ?!

Vua đáp : – Nói những lời đến thế mà các ngươi không ngại, bàn việc hữu sự ích Nước mà ta và muôn dân tha thiết muốn được nghe, các ngươi lại không có nửa lời! Ta làm Vua chỉ để trả nghĩa cho bài các ngươi hay sao ? Các người đem xương máu mồ hôi của kẻ bề tôi mà kể lể hòng tống tình ta – người mà các ngươi luôn tung hô ‘Thánh Thượng, Thiên Tử’ được chăng ?! Vậy ta hiểu thấu rồi ! Các ngươi nói thế không sai cho bản thân, nhưng muôn dân muốn được lẽ phải điều hay từ Triều Đình cho họ hàng ngày mà chờ ta cùng các ngươi điều hành khai phát thời đại mới cho xã tắc sau điêu linh bao lâu ! Xưa kia các ngươi cùng ta thắng trận ( bằng sự kiên cường , hơn là đã báo đáp được bách tính ) , thực là nhờ dân nuôi cấp đấy thôi ! Nay không còn binh đao, lại vẫn muốn sống trên sức dân, chẳng tận hiến trả được gì ngoài nói xương máu xưa của mình là quý để hưởng mãi được chăng ? Nhưng thôi ! Về tranh cãi điều đó ngươi có lý hơn ta rồi đó, ta thấy thua lý luận kiểu ấy của các ngươi rồi, thì hôm nay ta tự nguyện nhường ngai vàng cho tuỳ ai trong đám các ngươi để ta đưa mẹ già về quê làm người bình thường ! Xưa trong sa trường cũng chỉ mong thế!

Ngài quay đầu, mạnh mẽ giơ tay hô dõng dạc : – Quan Bộ lễ đâu! Đến đây cất vương miện , đỡ phương trượng ấn kiếm cho ta rồi đặt trên ngai này nhường lại cho đám họ! Đưa cho ta bộ áo quần thuờng dân để cùng mẹ già rời bỏ cung điện, khỏi đắc tội với xã tắc !

Nói xong tự ngài quả quyết thực hành !

 data-src=

.
Bá quan văn võ thấy thế thất kinh , đồng loạt quỳ rạp đập đầu xuống nền điện : – Thánh Thượng vạn tuế! Ngài không thể thế ! Không ai dám thế ! Một ngày quốc gia không thể thiếu Vua ! Nếu thế xã tắc đại loạn ngay mất thôi, nói gì chúng thần còn có thể được ở đây chăng !

Vua đáp: – Ở âu được thì mỗi người tự lo tự đảm! Chứ ta không thể ở đây tiếp cùng các ngươi nữa , cho dù ta hàng ngày có thể thức khuya dậy sớm lao tâm việc Nước, cho các ngươi được an nhàn hưu trí, nhường nhịn muôn phần để các ngươi được hưởng phúc trạch truyền đời. Nếu cứ muốn ta làm Vua thì ta phải nhường lại chức quyền cho những hiền kiệt mới . Các ngươi vốn từng là thần tướng mà còn đố kỵ việc đó mà không thể, thì núi xương sông máu của triệu binh lính đã đổ sẽ thành biển trời u uất ảm muội tương lai thôi ! Nếu còn giữ được là tôi trung thì đừng cố giữ ghế mà cản cách ta chấn hưng Thiên Hạ ! Ta còn làm Vua thì nguyện ngày đêm lo nghĩ bàn cách với nhân tài kiến quốc cho muôn dân hạnh phúc, đảm bảo cho các ngươi cùng con cháu đời đời được hưởng bổng lộc xứng với công lao lập quốc !

….

Bá quan nghe thấu ý Vua, biết không thể làm khác, cũng sáng thoát được tâm tư vị kỷ nên thấy nhẹ lòng vui vẻ, hôm sau nhất loạt dâng đơn từ chức. Vua cảm kích đáp từ :

Ta không hề ‘vô ơn’ ! Nếu dám thế với các công thần thì muôn dân sẽ không chịu hết mình kiến quốc ! Nay ta hậu đãi, cấp đất, phong tước cho các ngươi thật hậu hĩnh, xin chân đất đi bộ cùng mẹ già chục dặm tiễn các ngươi về quê, ôn nghĩa bạn bè chết cũng vì nhau, rồi trở về thực đảm Quân Vương sống vì bách tính !

……

Trong đám quan đó cũng còn người chưa hết bất mãn, u sầu, nên đã đến nước này, nhân cảnh thân tình, mạo khí rằng : bẩm Bệ Hạ! Nếu Ngài ở lại mà không làm tốt việc Đế Vương thì sao ạ?

Chu Nguyên Chương nắm tay ông ấy cười thân thiện nhưng mạch lạc : chính ta tự thấy thường lo về điều ấy từ hôm đầu ngồi trên ngai vàng! Biết mình không vốn xuất sắc nên cần Hiền kiệt phò trợ đấy thôi! Ta mà làm không tốt ắt xã tắc lại rơi vào hoạ tương tàn , chính điều đó sẽ giày xéo lên ta, hậu duệ bằng tất cả sự khốc liệt, phũ phàng nhất ! Đâu có được như các ngươi hôm nay ! Ta chỉ biết chắc rằng : ‘dùng chính học, thiết kỉ cương, xử công tâm, vì dân sinh, đâu cũng thế, luôn mọi lúc’ thì mọi sự bình thường, ai cũng sống bình thường thì đều phát sinh hữu ích, ta mới được bình thường, rồi ‘hiền kiệt’ thường ở mọi người, cứ kế tục, tuần tự mà đảm trách tốt từng việc của mình dù cương vị nào….muôn đời mà tươi tốt phúc ấm trong Thiên Hạ! Các ngươi xưa trẻ khoẻ xung phong xả thân sa trường! Nay hẳn chẳng ai còn muốn thế! Xưa sẵn lòng hy sinh cả gia đình để chiến thắng, mong từ nay đừng phải vì một kẻ vị kỷ nào trong gia đình mà làm thua thiệt Quốc gia !!!

Tất thảy mọi người đều nghe, cảm khái vô cùng, thấy thật thánh thoát tư tưởng, quỳ lạy bái biệt Đức Vua :

– Thánh Thượng vạn tuế ! Xã tắc Vạn tuế ! Chúng thần về quê quyết hữu ích không thua nắm đất đã vì cây cỏ !!!

Vua cười vui : Tốt hơn khi đó không phải là cỏ dại, cỏ độc nghe chưa ?! Ta lạy tạ các ngươi trở về ngôi vị để không còn ai phải buồn thương mình là ‘Thảo Dân’ nữa !!!

Leave your Comment