Lịch sử Nhật Bản là gì 256

Lịch sử và văn minh Nhật Bản

 

17/05/2014 16:45 1528

Điểm: 0/5 (0 đánh giá)

( Catalogue của Bảo tàng Quốc gia Lịch sử Nhật Bản ) Tác giả: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Nhật Bản, khổ sách: 21x 29,5 cm, 67 trang, xuất bản năm 1993.

Trong những năm gần đây, lịch sử và văn hóa Nhật Bản không ngừng có mặt khắp nơi trên thế giới. Được xây dựng trong thời kỳ tăng cường các mối quan hệ quốc tế, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Nhật Bản là bảo tàng Lịch sử đầu tiên của Nhật bản, cũng là một thết chế quốc gia. Tòa nhà lớn màu trắng được xây dựng trên di chỉ của cung điện Sakuara, trong tỉnh Chiba, gần sân bay quốc tế Narita, đã mở cửa đón khách vào tháng 3 năm 1983 .

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Nhật Bản khác với những bảo tàng Nhật Bản khác, nó được trưng bày như một trung tâm nghiên cứu trên bốn lĩnh vực: Bảo tàng học, lịch sử, khảo cổ học và văn hóa dân gian. Các nhà nghiên cứu về những lĩnh vực này cũng như các lĩnh vực nghiên cứu hàn lâm khác đã phối hợp để gây dựng Viện Nghiên cứu liên ngành quốc gia tại đây, một cơ quan khoa học nghiên cứu sâu rộng về lịch sử và văn hóa Nhật Bản.

Cuốn sách: «Lịch sử và văn minh Nhật Bản» do Bảo tàng Lịch sử Quốc gia xuất bản đã mang đến một cách tiếp cận lịch sử thú vị về lịch sử và văn minh của Nhật Bản, trong những thời kỳ khác nhau của lịch sử Nhật Bản. Qua những hình ảnh, tư liệu trong 16 chủ đề được đề cập trong 5 gian trưng bày đều phản ánh sự tồn tại của người Nhật từ buổi bình minh của nền văn minh Nhật bản đến thời kỳ cận đại (bao gồm cả thời kỳ Edo).

Cuốn sách sẽ giúp độc giả hiểu thêm về mọi mặt trong đời sống của người Nhật Bản, nền văn hóa, buổi đầu của nền văn hóa lúa nước, chính trị, văn hóa cung đình, đời sống và văn hóa của người dân, văn hóa dân gian của Nhật Bản…

Thư viện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (số 25, phố Tông Đản, Hoàn Kiếm, Hà Nội) xin trận trọng giới thiệu cùng bạn đọc !

Nguyễn Thúy

Truyền thuyết và lịch sử về Nhật Bản

 

Truyền thuyết về Nhật Bản
Theo thần thoại Nhật Bản trong Cổ Sự Kí (Kojiki- 古事記) viết vào đầu thế kỷ thứ 8, thuở ban sơ, vũ trụ chưa có hình thù. Có tới tám trăm vạn thần linh, sống ở trên Cánh Đồng Trời, từ đó nhìn xuống chỉ thấy bóng tối, sương mù và nước. Hai vị thần trong tuổi thanh xuân là chàng Izanagi và nàng Izanami nhận nhiệm vụ “làm cho mặt đất đi theo đời sống mà sinh sôi nẩy nở”. Họ bước qua Thiên Phù Kiều, là chiếc cầu nối trời và đất, “quậy sóng” cho kết đọng lại thành đảo Onogoro và xuống đó, đây là sáng tạo đầu tiên của họ. Họ bắt tay dựng trụ trời và xây nhà trên quê hương mới.

Rồi hai vị thần trẻ quên mình là thần linh, sống như con người, kết hôn với nhau sinh “con” đầy đàn… Trong lúc Izanagi đang rửa mặt, thì bỗng nhiên từ mắt trái sinh ra Thiên Chiếu Đại Thần (Amaterasu Omikami -天照大神), nữ thần của nhan sắc và ánh sáng tượng trưng cho phụ nữ Nhật Bản) và từ mắt phải sinh ra Thần Mặt Trăng (Tsukiyom -月読命). Sau đó là Thần Bão (Susanoo- 素戔嗚尊) từ mũi của mình.

Sau đó, nữ thần Mặt Trời phái cháu trai của mình là Ninigi giáng thế, chinh phục vùng Izumo. Ninigi gặp và lấy con gái xinh đẹp của thần Oyamatsumi, sinh ra hai con trai là Hoderi và Hoori. Hoori sau lấy công chúa Thủy cung Toyotama sinh được một con trai. Người con trai này lấy em gái của Toyotama sinh ra bốn hoàng tử, họ chinh phục xứ Đại Hòa (Yamato -大和). Sau khi các anh chết, hoàng tử út lên ngôi xưng là Thiên Hoàng Thần Vũ (Jinmu- 神武), đó là Thiên Hoàng đầu tiên gọi là Hoàng Kỷ (kỷ nguyên Thiên Hoàng), cai trị xứ Yamato, tức Nhật Bản, từ năm 660 TCN và truyền tới nay là 125 đời.

Nước Nhật Bản được hình thành từ rất lâu đời, muộn nhất vào khoảng 660 năm TCN. Thế kỉ 7 – 8 SCN, nhà nước phong kiến được thiết lập. Từ cuối thế kỉ 12 đến giữa thế kỉ 19, nhóm quân phiệt Sôgun (Shōgun) nắm giữ chính quyền. Cuộc Duy Tân dưới thời vua Minh Trị (Meiji Tennô) từ 1867 -68 đã tạo điều kiện phát triển theo chiều hướng tư bản chủ nghĩa và đế quốc chủ nghĩa, NB bắt đầu bành trướng. Từ 1894 – 95, đã tấn công cướp bóc Trung Quốc (cuối đời nhà Thanh). Năm 1904 – 05, chiến tranh với Nga. Năm 1910, sáp nhập Triều Tiên vào đế quốc Nhật Bản. Năm 1931, chiếm Mãn Châu (Manchuria). Năm 1937, đánh Trung Quốc (Trung Hoa dân quốc). Từ 7.12.1941, sau trận đánh Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), mở rộng chiến tranh ra Đông Nam á và Thái Bình Dương. Năm 1943, bị Mĩ và đồng minh phản công. Ngày 6.8.1945, Mỹ ném quả bom nguyên tử đầu tiên xuống Hirôsima, ngày 9.8.1945, Mỹ ném quả bom thứ hai xuống Nagaxaki (Nagasaki). Ngày 8.8.1945, Liên Xô tham chiến, đánh tan đội quân Quan Đông của NB. Nhật Bản tuyên bố đầu hàng vào ngày 14.8.1945 và ngày 2.9.1945, kí văn bản đầu hàng vô điều kiện, Mỹ đưa quân vào chiếm đóng. Ngày 8.9.1951, kí Hoà ước Xan Franxixcô (San Francisco), sau đó Mỹ rút quân (trừ một số căn cứ còn lại cho đến ngày nay).

Lịch sử Nhật Bản được phân chia thành các thời kì chính sau đây :

*Thời đồ đá cũ :15.000 năm đến 5.000 năm trước CN

*Thằng Văn Thời đại (Jomon -縄文時代): thời đồ gốm – 5.000 năm đến 200 năm trước CN

*Di Sinh Thời đại (Yayoi 弥生時代) : 200 năm trước CN đến năm 200 CN
Cổ Phần Thời đại (Kofun 古墳時代), thời văn hoá “Gò mộ cổ” – cuối thế kỷ thứ 3 đến cuối thế kỷ thứ 6

*Phi Điểu Thời đại (Asuka 飛鳥時代) : Cuối thế kỷ thứ 6 đến đầu thế kỷ thứ 8

*Nại Lương Thời đại (Nara 奈良時代) : Đầu thế kỷ thứ 8 đến cuối thế kỷ thứ 8

*Nhật Bản thời trung cổ:

Thời kì này, kinh đô được chuyển đến Heian và kéo dài gần 4 thế kỉ. Sau đó, chế độ Mạc Phủ (shogun) hình thành rồi dẫn tới các cuộc cát cứ của các Sứ Quân và Võ sĩ (samurai), gọi là thời Chiến Quốc. Các thời kì chính bao gồm:

*Bình An Thời đại (Heian -平安時代)

Đầu Heian – Cuối thế kỷ thứ 8 đến cuối thế kỷ thứ 9

Giữa Heian – Cuối thế kỷ thứ 9 đến cuối thế kỷ 11

Cuối Heian – Cuối thế kỷ 11 đến cuối thế kỷ 12

*Liêm Thương Thời đại (Kamakura -鎌倉時代) : Cuối thế kỷ 12 đến cuối thế kỷ 14

*Thất Đinh Thời đại (Muromachi- 室町時代) : Đầu thế kỷ 14 đến cuối thế kỷ 15

*Nhật Bản thời đụng độ với Phương Tây:

Thời kì này, Nhật Bản đã phải bắt đầu đụng độ với các thế lực Phương Tây và đạo Cơ Đốc. Năm 1603, Tokugawa lập Mạc Phủ, thống nhất đất nước. Các thời kì chính trong khoảng thời gian này gồm có:

An Thổ-Đào Sơn Thời đại (Azuchi-Momoyama 安土桃山時代) Cuối thế kỷ 15 đến hết thế kỷ 16

Giang Hộ Thời đại (Edo -江戸時代)

Đầu Edo – Đầu thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 18
Giữa Edo – Đầu thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19
Cuối Edo – Đầu thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 19

Nhật Bản thời cải cách Minh Trị
Đây là thời Cận Đại của Nhật Bản gồm các niên đại sau:

Minh Trị Thời đại (Meiji 明治時代)
Đầu Minh Trị – Cuối thế kỷ 19
Cuối Minh Trị – Đầu thế kỷ 20

Nhật Bản thời chiến tranh

Hiệu quả của cuộc cải cách Minh Trị đã vô tình dẫn Nhật tới sự bành trướng về chủ nghĩa đế quốc thực dân. Cho tới trước khi chiến tranh kết thúc, thuộc địa của Nhật tại vùng Đông Á đã tăng gấp gần 5 lần diện tích quốc gia. Các thời kì chính bao gồm:

Đại Chính Thời đại (Taisho 大正時代) – Đầu thế kỷ 20
Chiêu Hòa Thời đại (Showa 昭和時代)
Đầu Showa – Đầu thế kỷ 20 đến giữa thế kỷ 20

Nhật Bản sau chiến tranh

Ngày 14 tháng 8 năm 1945, lần đầu tiên Nhật Hoàng lên tiếng kêu gọi đầu hàng vô điều kiện trên đài phát thanh. Chấm dứt một cuộc chiến làm cho hơn 50 triệu người thương vong trên toàn thế giới. Có hai niên đại trong thời kì này.

Cuối thời Showa – Giữa thế kỷ 20
Bình Thành Thời đại (Heisei 平成時代) – Cuối thế kỷ 20

nguồn vuson.vn

Like this:

Like Loading…

 

Related

Mạc phủ Muromachi và Edo) [18]

 

 src=

Hình ảnh người chônin

Trước tiên, hãy thử đề cập tới cuộc cải cách năm Kyôhô. Dĩ nhiên, nếu mọi việc thực sự êm đẹp thì chẳng ai đi cải cách làm gì. Tình thế đưa đến cuộc cải cách đã diễn ra như sau:

Khi Nhật Bản vừa bước vào thế kỷ 18, trong số các phiên trấn, những phiên bị gánh nặng kinh phí của những lần sankin kôtai để lên kinh đô chầu phủ Chúa làm cho kiệt quệ không phải là ít. Đã xảy ra nhiều sự cố như cảnh hanchi (bán tri = bán phân tri hành), nôm na là việc các lãnh chúa vì thiếu tiền phải cắt bớt phân nửa bổng lộc của gia thần. Hoặc tệ hơn nữa, lãnh chúa đành muối mặt đi vay tiền gia thần, số tiền này chính là trích ra từ lương bổng của họ. Chế độ vừa nói mang tên kariage (tá thượng = cho bề trên vay). Đó là chưa kể việc các lãnh chúa phải ngữa tay trước những nhà buôn – cũng là thần dân sống trong trong khu vực kiểm soát của mình – hình thức ấy gọi là daimyôgashi (cho lãnh chúa vay).  Tình trạng tài chánh bi đát của các phiên trấn đã được ghi lại trong tác phẩm mang tên Seji kenbunroku (Thế sự kiến văn lục), hay “những điều nghe thấy trên đời”.

Thế nhưng chuyên lâm vào cảnh túng bấn không chỉ xảy ra riêng cho các daimyô thôi đâu. Cả tầng lớp hatamoto, go-kenin, thủ hạ thân tín của nhà chúa cũng lâm vào cảnh ngộ ấy. Những người này phải vay tiền trước từ các tay fudasashi chuyên môi giới bán gạo (cho họ) hay phải tự mình đi làm thêm chút việc phụ (naishoku) để có đủ phương tiện đắp đổi qua ngày. Có nhà thơ senryuu (xuyên liễu) làm thơ trào phúng “Samurai ga kite wa katte ku takayôji” ý nói “người samurai tuy bụng có đói nhưng lúc nào cũng phải ngâm tăm xỉa răng (yôji) làm bộ thung dung (taka) như thể mình vừa mới ăn uống no nê”. Như thế, người thường dân tỏ ra cười cợt cái sĩ diện hão của giới võ sĩ đang suy tàn.Thậm chí có những gia đình con nhà kẻ chợ (chônin) giàu có đã điều đình kết thân dưỡng phụ dưỡng tử với các gia đình go-kenin. Những người sau thì đem tước vị của tổ tiên biến thành cổ phần (kabu) để bán lấy tiền.

Ngược lại, trước cảnh sa sút của giai cấp võ sĩ, trong giới con buôn giàu có ở vùng tam đô hay các jôka-machi đã thấy xuất hiện những kẻ đem tiền bạc cho họ vay đánh đổi thực quyền chỉ huy kinh tế trong vùng. Trong khi ấy ở nông thôn, kinh tế hoá tệ đã thẩm thấu, việc chế tạo thương phẩm hoặc làm nghề phụ tại gia để tăng thu nhập cũng đã phát triển. Dần dà, mọi lớp thường dân đều tích tụ được tiền của.

Mạc phủ nhất định không thể nào vui được trước sự thay bậc đổi ngôi như thế. Cứ tiếp tục lối sống đó thì thương nhân sẽ mặc sức tung hoành. Nếu nông thôn, nơi quyền cai trị của mạc phủ đặt được nền móng, lại rơi vào trong vòng kinh tế hoá tệ thì vườn ruộng có nguy cơ trở thành hoang phế và nguồn tài nguyên của mạc phủ bị tiêu hao. Vì lo lắng như vậy cho nên vị Shôgun đời thứ 8 là Tokugawa Yoshimune (Đức Xuyên Cát Tông, tại chức 1716-1745, 1684-1751) đã phải làm cuộc cải cách năm Kyôhô (Hưởng Bảo) để ngăn chặn việc tình huống có thể đi đến chỗ xấu hơn.

Thực ra, vào năm 1716 (Kyôhô nguyên niên), Shôgun đời thứ 7 là Ietsugu (Gia Kế, tại chức 1713-1716, 1709-1716) qua đời lúc hãy còn quá trẻ (8 tuổi) và dĩ nhiên không người nối dõi, mạc phủ đã phải đi tìm trong vòng go-sanke ( ngự tam gia) tức 3 chi phụ của dòng họ Tokugawa, xem có một nhân vật nào xứng đáng bổ nhiệm vào chức Shôgun để cứu vãn tình hình không. Lúc đó, phiên chủ vùng Kii là Yoshimune vốn được đánh giá là người chính chắn và từng thành công trong việc cải cách tài chánh nơi mình trấn nhậm, đã được chọn để điền vào chức vụ quan trọng đó. Yoshimune ở ngôi gần 30 năm, với chủ trương phục cổ, đặt mục tiêu đưa nước Nhật trở lại thời cụ tổ mình là Ieyasu, lúc kinh tế còn lành mạnh. Ông đã thi hành cuộc cải cách Kyôhô với mục đích tái thiết nền tài chánh mạc phủ, củng cố uy quyền chức Shôgun và tỏ ra khắt khe với dân chúng hòng phục hồi uy tín cho giới samurai đang trên đà tuột dốc.

 src=

Shôgun thứ 8 Yoshimune chủ trương khuyến nông

1.2 Chính sách của Shôgun Yoshimune nhằm xây dựng lại nền tài chánh:

Cải cách của Yoshimune có thể tóm tắt trong một số điểm:

Trước tiên, trung tâm của cuộc cải cách là việc xây dựng lại nền tài chánh. Yoshimune đã cho thi hành những phương pháp như sau:

    1. Thu gạo tiến cúng (Agemai):

 

Qui định rằng các địa phương, cứ nơi nào có sức sản xuất gạo đánh giá là 1 vạn thạch (hộc, koku) thì lãnh chúa phiên đó phải trích riêng ra 100 thạch nạp cho phủ chúa. Để gia ân cho những lãnh chúa làm nghĩa vụ tiến cúng như thế, nhà chúa giảm phân nửa số thời gian mà ông ta đáng lý ra phải có mặt ở Edo để làm việc cho mạc phủ theo như chính sách sankin kôtai (tham cần giao đại, tham cần giao thế) đã qui định. Mạc phủ tỏ ra rất khổ tâm và nhục nhã khi lên tiếng đòi hỏi lũ thần hạ điều này. Trong bức furegaki tức công văn truyền đạt lệnh, nhà chúa đã dùng chữ “ta không khỏi cảm thấy xấu hổ”. Chế độ này bắt đầu từ năm 1722 (Kyôhô 7). Thực ra, vào thời điểm này thì tình hình kinh tế đã xấu đến nổi chẳng còn có chỗ cho sự hổ thẹn. Kho riêng của nhà chúa ở Asakusa không còn đủ thóc để trả các loại ân cấp như fuchimai (phù trì mễ = lương bổng) và kirimai (thiết mễ = lộc đặc biệt trả theo kỳ hạn 3 lần xuân, hạ, đông cho một năm) cho hatamoto và go-kenin là các bộ hạ thân tín. Thế nhưng vừa lên được quỹ đạo thì chính sách này đã bị bãi bỏ vào năm 1731 (Kyôhô 16) và các lãnh chúa phải quay lại thi hành chế độ sankin kôtai như cũ. Gạo tiến (agemai = thượng mễ) tổng số lên đến 18 vạn 7 nghìn thạch, tương đương với trên 10% số gạo tuế cống (thuế) mà mạc phủ nhận được hàng năm. Cũng nên mở dấu ngoặc ở đây để nói thêm là trong các sử liệu Nhật Bản, chữ mễ (mai) như trong agemai chẳng hạn thường được viết bằng chữ “bát mộc” nghĩa là chữ mễ theo phương pháp chiết tự.

    1. Bỏ việc mỗi năm mỗi đổi mức tuế cống (Jômenhô):

 

Jômenhô, chữ Hán là “định miễn pháp”. Đó là một phương pháp trưng thu tuế cống mới, hơi khác với chế độ Kemihô (kiểm kiến pháp, cũng viết là mao kiến pháp, cùng cách đọc) đã có từ trước. Nếu theo Kemihô thì mỗi năm mạc phủ trước khi thu tuế cống đều xét xem (kemi = kiểm kiến, mao kiến) năm ấy được mùa hay mất mùa rồi mới ấn định mức thu nạp. Trong quá trình ấn định như vậy đã có nhiều hành vi bất chính xảy ra. Do đó, phương pháp mới (jômen = định miễn) thôi không ấn định tùy tiện hàng năm nữa mà cố định hóa mức tuế cống cho một khoảng thời gian nào đó. Mục đích của mạc phủ khi thi hành chính sách này là nhằm ổn định tài chánh.

    1. Nâng cao bổng lộc cho đủ tiêu chuẩn (Tashidaka no sei):

 

Chữ Hán viết là “Túc cao chế”. Đây cũng là một phương pháp mà qua sự tuyển dụng nhân tài để quản lý việc nước, ổn định được tài chánh. Yoshimune muốn tuyển chọn những người có thực tài vào guồng máy của mạc phủ nhưng cho đến lúc đó, việc bổ dụng chỉ dựa trên nguyên tắc gia thế (kakaku = gia cách) và mức bổng lộc (rokudaka =lộc cao) người được đề cử đang có. Tóm lại, nguyên tắc là người nào có lộc tính theo thạch thóc và cũng là mức định tuế cống (kokudaka = thạch, hộc cao) cao thì sẽ được bổ vào chức cao.

Thế nhưng Shôgun Yoshimune nghĩ rằng nếu cứ làm như thế thì làm gì tìm được nhân tài, nhất là để đưa vào những chức vụ trọng yếu, cho nên ông đã cho định lại tiêu chuẩn mức bổng lộc khi xét về việc bổ nhiệm người ra làm quan. Những kẻ có bổng lộc thấp nghĩa là dưới mức ấn định của mạc phủ dành cho một chức vụ nào đó thì trong thời gian giữ nhiệm vụ sẽ được tăng bổng lộc cho đủ (túc), xứng đáng với chức danh. Khi phải giã từ chức vụ, đương sự chỉ còn nhận được bổng lộc lúc ở vị trí cũ. Như thế, Yoshimune đã tạo cơ hội cho nhần tài xuất đầu lộ diện mà vẫn không đi ngược lại qui định đã có.

Nhờ vậy mà một người chỉ là nanushi (danh chủ) – chức quan nhỏ ở hương thôn – như Tanaka Kyuugu (Điền Trung, Khâu Ngung, còn viết là Hưu Ngu, 1662-1729), tác giả Minkan Seiyou (Dân Gian Tỉnh Yếu, 1721), quyển sách về chế độ điền địa (jikatasho) và cũng là môn sinh của học giả Nho học Ôgyuu Sorai (Địch Sinh, Tồ Lai, 1666-1728), đã được Yoshimune vời ra làm quan. Kyuugu đã đóng góp nhiều cho chính sách quản lý địa phương. Ông phê bình sự khai khẩn ruộng đất một cách vô tổ chức dưới thời đó và cho biết rằng trong đám nông dân cũng có những người đáng gọi là nhân tài. Chính ông  đánh giá tốt phép định miễn (jômenhô) ở nông thôn, xem nó như giải pháp ổn định được tình hình tài chánh. Ngoài ra, đám quan lại chỉ xuất thân từ giai cấp hatamoto còn có Ôoka Tadasuke (Đại Cương, Trung Tướng, 1677-1751), một machi-bugyô, trông coi hành chánh đô thị, nổi tiếng là quan cai trị tốt của vùng Edo. Ngược lại, cũng có những người như Kan.o Haruhide (Thần Vĩ, Xuân Ương, 1687-1753) – vốn là một hatamoto hạng thấp – tác giả của câu nói bất hủ “phải vắt sức dân cũng như vắt dầu mè…” – nhưng đã được bổ làm kanjô-bugyô, trông coi tài chánh. Một nhân tài cất nhắc từ hàng hatamoto, nếu lãnh chức daibantô (chỉ huy lực lượng an ninh) sẽ hưởng lộc 5.000 thạch, còn chức ômetsuki (kiểm soát hành vi các lãnh chúa), machi-bugyô (như Ôoka), kanjô-bugyô (như Kan.o) thì được 3.000 thạch, nghĩa là tương đối cao đối với một người chỉ là công chức nhà nước.

    1. Khai khẩn ruộng mới (Shinden kaihatsu):

 

Trong thời kỳ này, việc khai khẩn ruộng mới (tân điền khai phát) đã được phát triển nhờ có thêm vốn của người dân thành thị (dân kẻ chợ, chônin) bỏ ra. Chế độ mới này có tên là chônin ukeoi shinden (đinh nhân thỉnh phụ tân điền, ruộng mới do người thành phố tham gia khai thác). Mạc phủ đã công khai bố cáo, kêu gọi sự hiệp lực của các thương nhân giàu có để mở mang vùng Edo Nihonbashi. Nhờ chính sách này mà có thêm nhiều ruộng mới khai khẩn từ đất hoang mà ví dụ rõ ràng nhất là khu vực ruộng mới Musashino shinden (thuộc Saitama bây giờ).

    1. Tổ chức lại cơ cấu nha sở quản lý vụ việc (Kanjôsho kikô no saihen):

 

Cho đến lúc đó, trong thành phố Edo, việc quản lý hành chánh, tài chánh, tư pháp được tổ chức theo ty (tsukasa) nhưng đặt chung dưới sự quản lý một sở gọi là Kanjôsho (Khám định sở). Nay Yoshimune cho tổ chức lại. Việc tố tụng sẽ do Kujikata (Công sự phương) đảm đương còn tài chánh thì do Kattekata (Thắng thủ phương) lo liệu, nghĩa là ông tách hai nhiệm vụ ấy ra và trao cho hai cơ quan độc lập. Nhờ đó, mỗi công việc đều được các chuyên gia phụ trách.

Những chính sách nói trên làm cho thu hoạch từ ruộng đất do mạc phủ trực tiếp cai quản (bakuryô = mạc lãnh) tăng lên cỡ 10% và tuế cống cũng ở trên chiều hướng gia tăng. Nhờ đó mà tài chánh mạc phủ đỡ hơn xưa. Đến năm 1735 (Kyôhô 20) thì tài chánh đã hết thâm thủng và sang năm 1744 (Enkyô nguyên niên), số tuế cống đạt đến mức chưa từng thấy.

1.3 Các chính sách khác:

Ngoài những chính sách nói trên, Shôgun Yoshimune đã khuyến khích dân chúng trồng những loại cây cỏ có giá trị như khoai lang (kansho, cam thự, sweet potato), mía (satokibi), cây hoàng lô (haze, Japanese wax tree) cho thuốc nhuộm vàng, nhân sâm Triều tiên (Chôsen ninjin). Ông cũng nâng đỡ những ngành học có thực dụng trong đời sống, các lãnh vực sản xuất mới. Ông lại nương tay trong việc kiểm soát các sách vở tây phương được dịch ra Hán văn nhập từ nước ngoài vào.

Nói về thực học hay ngành học có ích lợi thực tiễn, phải nhắc đến 2 nhân vật: Aoki

Konyô (Thanh Mộc, Côn Dương, 1698-1769) và Noro Genjô (Dã Lữ Nguyên Trượng, 1693-1761). Người đầu tiên trồng khoai lang (Satsuma imo) [1] – một món thực phẩm thích hợp cho những năm lúa gạo mất mùa và nguy cơ đói kém xảy ra – chính là Aoki.

Ông đã trước tác Hanshokô (Phiên thự khảo = Bàn về khoai lang) [2] vì hansho là một tên khác của Satsuma-imo. Phần Noro Genjô, ông là thầy thuốc. Thời trẻ, Noro đã theo học Inou Jakusui (Đạo Sinh Nhược Thủy, 1655-1715), học giả và y sư đã tập đại thành quyển sách về bản thảo học (honzôgaku = khoa nghiên cứu cây thuốc) nhan đề Shobutsu ruisan (Thứ vật loại toán) phân chia và chỉnh lý 3590 thứ cây thuốc trong sách vở Trung Quốc làm 26 loại (loại toán). Noro được lệnh của Yoshimune nghiên cứu dược học Hà Lan và đã để lại tác phẩm Aranda Honzô wakai (A-lan-đà bản thảo Hòa giải) tức sách “Dược thảo Hà Lan giải thích bằng tiếng Nhật”. Ngoài ra, vì nhu cầu nhân sâm Triều tiên nhập khẩu để làm thuốc rất lớn nên vào thời ấy, người Nhật đã cho trồng ở Nikkô để giảm bớt kim ngạch phải xuất ra cho nó trong mậu dịch.

Việc Yoshimune tỏ ra chú ý đến cái học thực dụng và y học xảy ra vào giai đoạn cuối của cuộc cải cách Kyôhô nhưng vẫn đem đến kết quả tốt vì nối kết được với những người về sau như Maeno Ryôtaku (Tiền Dã, Lương Trạch, 1723-1803) và Sugita Genpaku (Sam Điền Huyền Bạch, 1733-1817). Hai ông đã dịch cuốn sách thuốc cũ có nhiều bản vẽ giải phẩu của y sư người Đức tên là Johan Adams Kulmus nhan đề Anatomische Tabellen (Bản vẽ các bộ phận cơ thể, 1722) từ bản tiếng Hà Lan là Tafel Anatomia (1734) ra Hán văn (Kanbun). Ngày nay, nó tác phẩm đầu tiên trong loại sách phiên dịch về cơ thể học mà người Nhật ngày nay biết dưới cái tên Kaitai Shinsho (Giải thể tân thư) hay “Sách mới về giải phẩu”, trong đó bên cạnh hình vẽ các bộ phận con người được mổ xẻ, còn kèm thêm cả lời giải thích. Nhân đây cũng nói thêm rằng người vẽ các ảnh trong bản dịch là Odano Naotake (Tiểu Điền Dã, Trực Vũ, 1749-1780), từng theo học kỹ thuật hội họa tây phương với nhà phát minh Hiraga Gennai (Bình Hạ Nguyên Nội, 1728-1779). Và như ta cũng có thể biết, Gennai là một bác học đa tài, đã tự làm ra điện bằng cách ứng dụng nguyên tắc năng lượng sinh ra từ vật ma sát và chế được loại vải kakanpu (vải “lông chuột hỏa sơn”) khó bốc cháy vì tơ sợi đã nhúng trong thạch cẩm (ishiwata, asbestos), một chất hoá học chống cháy. Còn Odano Naotake một họa sĩ tên tuổi, cũng là tác giả bức Shinobazu Ike no zu (Bất nhẫn trì đồ), vẽ cảnh hồ sen nổi tiếng ở Ueno (Tôkyô).

 src=

Nhà bác học đa tài Hiraga Gennai

Cái học Tây phương của thời đại Edo thực ra đã dần dần biên thiên cùng với thời đại. Buổi đầu, nó có tên là Bangaku (Man học) hay Nanban gakumon (Nam man học vấn). Nam man là tên người Nhật gọi người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha vì tàu thuyền của họ từ phương nam đến. Chỉ đến thời Edo trung kỳ mới xuất hiện cái tên Rangaku (Lan học) vì nó đến từ người Hà Lan, người ngoại quốc duy nhất về phía Âu Tây được Nhật cho thông thương.Vì chánh sách ngoại giao của mạc phủ đã thay đổi như thế nên ảnh hưởng Tây-Bồ phải nhường bước cho ảnh hưởng Hà Lan. Đến cuối thời Edo khi sự có mặt của Pháp và Mỹ cũng như Đức nhiều hơn cả Hà Lan thì Nhật lại gọi cái học Tây phương là Dương học. Chính vì thế, khi nói đến Lan học thì e rằng phải giới hạn nó trong giai đoạn Edo trung kỳ.

Sugita Kanpaku đã trình bày những khó khăn mà ông gặp phải khi dịch Kaitai shinsho (Giải phẩu tân thư) trong Rangaku kotohajime (Lan học sự thủy) hay “Truyện về nguồn gốc của học vấn Hà-Lan”. Tiếp nối ông là hai học giả Ôtsuki Gentaku (Đại Quy Huyền Trạch, 1757-1827) và Udagawa Genzui (Vũ Điền Xuyên, Huyền Tùy, 1755-1797). Ôtsuki Gentaku theo học Sugita Genpaku và Maeno Ryôtaku cho nên ghép tên hai thầy thành tên mình.Gentaku sau khi đã xuống Nagasaki du học, về lại Edo mở trường tên là Shirandô (Chi lan đường) dạy Lan học. Chi lan cũng có nghĩa là “bạn bè”. Ông viết một tập sách nhập môn về Lan học nhan đề Rangaku kaitei (Lan học giai đề) hay “Những bậc thang của Lan học”. Udagawa Genzui thì theo học y khoa Hà Lan với một người trong nhóm dịch giả của Kaitai shinsho tên là Katsuragawa Hoshuu (Quế Xuyên Phủ Chu, 1751-1809) và đã phát hành một quyển sách dịch về nội khoa Há Lan tên là Seisetsu naika senyô (Tây thuyết nội khoa soạn yếu). Thế nhưng người đóng góp nhiều nhất cho cái học Hà Lan có lẽ là Inamura Sanpaku (Đạo Thôn, Tam Bá, 1758-1811). Ông là người đầu tiên soạn cuốn từ điển Hà Lan- Nhật Bản Haruma Wage (Halma Hòa giải). (Halma có lẽ là tên của nhà từ điển học Hà Lan Francois Halma, 1653-1722 mà Inamura đã phiên âm ra thành Pháp Nhĩ Mạt = Ha ru ma). Sau đó lại có một học trò của Maeno Ryôtaku tên là Shiba Kôkan (Tư Mã Giang Hán, 1747-1818), một họa sĩ họa phong Tây phương nhưng chuộng khoa học tự nhiên, người đã giới thiệu thuyết địa động (trái đất xoay quanh mặt trời, the Corpenian heliocentric theory) ở Nhật. Trước đây người Nhật chỉ tin một cách sai lầm thiên động thuyết tức thuyết cho rằng trái đất đứng yên và mặt trời xoay quanh nó (the Ptolemaic theory). Như Odano Naotake nhắc đến bên trên, Kônan cũng đã vẽ hồ sen Shinobazu nhưng trên bản khắc bằng đồng.                          src=

Học giả y học Hà Lan Ôtsuki Gentaku

Mặt khác, để đối phó với trào lưu y học Hà Lan, y học đông phương truyền thống (gọi là Tôyô igaku hay Đông dương y học) ở Nhật lúc đó có phong trào phục cổ gọi là Koihô (Cổ y phương) muốn bỏ cả y lý Nguyên Minh mà trở về với một nền y học còn cổ xưa hơn nữa tức y học đời Hán vốn trọng nguyên tắc lâm sàng và thực chứng.Một người trong phong trào ấy là Yamawaki Tôyô (Sơn Hiếp, Đông Dương, 1705-17629 vào năm 1759 (Hôreki 9) đã quan sát bên trong thi thể một người tù bị tử hình để ghi lại tất cả bằng hình ảnh trong cuốn tranh về cơ thể học đầu tiên của Nhật Bản, nhan đề Zôshi (Tạng chí) “Sao chép về nội tạng con người”. Xin nhờ rõ cho là sách đầu tiên về giải phẫu được dịch ra tiếng Nhật là Kaitai shinsho (1774) nhưng sách đầu tiên về giải phẫu do người Nhật viết ra là Zôshi (1759). Theo đó thì Zôshi đã ra đời trước Kaitai Shinsho những 15 năm.

Hệ thống của các học giả Dương học có thể tóm tắt trong đồ biểu sau đây:

Hệ thống học giả Dương học

(Thời gian xuất hiện của các nhân vật trong đồ biểu ước tính là lúc họ trên dưới 40 tuổi)

 

 

Giai đoạn

 

 

Học giả

 

 

Chú thích

 

 

1760

 

 

Maeno Ryôtaku

 

 

 

 

 

1780

 

 

Sugita Genpaku

 

 

 

 

 

1800

 

 

    1. Ôtsuki Gentaku  àInamura Sanbaku à Udagawa Genshin.

 

 

 

 

    1. Katsuragawa Hoshuu  à Udagawa Genzui.

 

 

 

Ôtsuki Gentaku là học trò của cả hai ông Maeno Ryôtaku và Sugita Genpaku.

 

Udagawa Genshin là con nuôi của Udagawa Genzui.

 

 

1820

 

 

    1. Udagawa Yôan, Mitsukuri Genbo, Tsuboi Shindô.

 

    1. Yoshida Nagayoshi (học trò Katsuragawa Hoshuu) à Kozeki San.ei.

 

 

 

Yôan, Genbo và Shindô đều từng theo học Genshin.

 

Yoshida Nagayoshi là học trò Katsuragawa Hoshuu.

 

 

1840

 

 

à Ôgata Kôan

 

à Takano Chôei

 

 

Ôgata Kôan là học trò Tsuboi Shindô.

 

Takano Chôei cũng theo học Yoshida Nagayoshi như Kozeki San.ei.

 

 

1860

 

 

 

 

 

 

 

Bàn thêm về việc tiếp thu ảnh hưởng Tây Phương của người Nhật thời Edo[3]

Tuy Lan học tức cái học của người Hà Lan hay sự tìm hiểu Tây phương qua tiếng Hà Lan có ảnh hưởng hơn cả trong việc hình thành nhà nước Nhật Bản tân tiến nhưng không nên xem thường Nam Man học (cái học Tây Bồ), vì nội dung của nó và cũng vì tiêu chuẩn thời gian. Nó đã đặt chân lần đầu tiên lên đất Nhật vào năm 1543.

Cống hiến to lớn hơn cả của Nanban bunka (Văn hoá Nam man) nằm trong lãnh vực quân sự, y học, thiên văn học, hàng hải và tạo thuyền….Ví dụ về y học, các giáo sĩ dòng Jesuit đã xây bệnh viện và cô nhi viện, truyền bá kiến thức y khoa cho các thầy thuốc Nhật. Thiên văn học lúc đó, tuy có tính giáo lý thần học hơn là khoa học thuần túy, cũng được người Nhật tiếp thu. Kỹ thuật hàng hải, tạo thuyền và khai khoáng của phương Tây đã mở rộng tầm mắt họ. Chỉ đến năm Kan.ei (1624-1643), khi chế độ bế quan tỏa quốc được ban hành thì ảnh hưởng của nó mới mờ nhạt đi.

Sau Văn hoá Nam Man là Kômô bunka hay Văn hóa Hồng Mao (Văn hoá Hà Lan). Văn hoá ấy đã đến Nhật năm 1600 theo chân chiếc tàu Liefde khi nó trôi giạt vào hải phận Nhật Bản. Công ty Hà Lan-Đông Ấn Độ được mạc phủ cấp phép, đã bắt đầu cạnh tranh mậu dịch với người Anh và người Bồ trên đất Nhật. Tuy cũng bị ảnh hưởng của chính sách toả quốc trong giai đoạn 1633-1639, Hà-Lan là nước Tây Phương duy nhất cùng với Trung Quốc được tiếp tục mậu dịch với Nhật Bản và dựng thương xá ở Nagasaki-Dejima. Một liên hệ này kéo dài cả 200 năm (đến 1853), cho đến gần ngày chung cuộc của Mạc phủ Tokugawa.

Về y học, trước tiên chúng ta biết Nanban igaku (Nam man y học) đã song hành với Kanpô igaku (Hán phương y học) từ giữa thế kỷ 16 với những người tùy tùng trong đoàn của giáo sĩ Jesuits Francesco Xavier (đến Nhật năm 1549). Vai trò của Luis de Almedia (1525-1584), một thương nhân người Lisbon có giấy phép hành nghề y sĩ ở Funai còn được nhắc nhở dù ông ta ghé lại đó không lâu. Sau người Jesuits đến lượt các giáo sĩ Franciscans cũng tiếp nối chương trình ở Tôhoku, Kinki, Nagasaki đặc biệt là chữa trị người cùi.Còn như y học Hà Lan (Kômô igaku) thì ta biết có Kasper Schamburger, từng sống vào khoảng 1649-51 ở Nhật và đã truyền vào nước này nhiều kỹ thuật giải phẫu.Sau ông còn có các thầy thuốc tiếng tăm như Daniel Busch, người đã 3 lần đến Nhật (1622, 1644, 1665) hay Willem Hoffman (ở thương quán Hà Lan từ 1671 đến 1675). Tuy nhiên, nổi tiếng hơn cả có lẽ là Willem ten Rhijine (ở Nhật khoảng 1674-76) và nhất là Englebert Kaempfer (1690-92), người thông thạo cả về văn hoá, phong tục, lịch sử, địa lý Nhật Bản. Về sau, hãy còn có Philipp Franz von Siebold (đến Nhật năm 1823) và Pompe van Meerdervoort (đến Nhật năm 1857), một quân y là những nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc. Phải nói là những người Nhật làm việc với các ông sau này đều đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến y học phương Tây ở Nhật.

Về khoa địa lý, chính người Tây Ban Nha đã đem đến những kiến thức đầu tiên. Oda Nobunaga (1524-1582) đã hỏi chuyện Luis Frois (1532-1597) và Organtino (1530-1609) về địa lý thế giới (trước đây, người Nhật nghĩ rằng trên thế giới chỉ có họ, Trung Quốc và Ấn Độ). Dưới thời Hideyoshi, phái bộ các tiểu công tử do Giáo sĩ Alessandro Valignano đưa sang thăm Roma trở về đã tặng Hideyoshi một bản đồ thế giới để làm quà. Ieyasu, người kế vị Hideyoshi cũng nghiên cứu bản đồ thế giới và thường xuyên bàn bạc với các giáo sĩ. Ông có một cố vấn người Anh tên William Adams (1564-1620), hoa tiêu một chiếc tàu trôi dạt đến Nhật năm 1600, sau đó đã trở thành dân Nhật.Chính nhờ có kiến thức địa lý mà Ieyasu đã gửi sứ giả Tanaka Katsusuke sang Mexico (New Spain) thương thảo về mậu dịch.Bản đồ toàn thế giới đầu tiên in ở Nhật là Bankoku Sôzu (Vạn quốc tổng đồ) in ở Nagasaki năm 1645. Nó dựa trên bản đồ in bên Trung Quốc của giáo sĩ người Ý Matteo Ricci (tức Lợi Mã Đậu, 1552-1610), rộng 59,2 cm và dài 173 cm. Tuy nhiên, người đã dạy khoa địa lý Tây phương cho người Nhật có lẽ là giáo sĩ dòng Jesuits người Ý, môn đệ của Ricci, tên là Giulio Aleni (1582-1649). Tác phẩm 5 tập viết bằng tiếng Trung nhan đề Chức phương ngoại kỷ (Chih fang wai-chi) của ông xuất bản năm 1623, giải thích hầu như về tất cả các quốc gia trên thế giới.Một môn đệ khác của Ricci, Ferdinand Verbiest (1623-1688) cũng đã viết nhiều sách về địa lý bằng tiếng Trung, trong đó Khôn dự ngoại kỷ (K’un-yu wai-chi) là ảnh hưởng đến người Nhật hơn cả. Một vị quan đầu triều, Arai Hakuseki (1657-1725) cũng thích thú việc tìm hiểu thế giới và đã chép lại kiến thức của nhà truyền đạo người Ý Giovanni Battista Sidotti (1668-1715) khi hai người gặp nhau vào năm 1709 trong hai tập Johann Battista Monogatari (Truyện ký về ông Johann Battista) và Seiyô kibun (Tây dương kỷ văn).Kiến thức địa lý mới khiến cho các thành phần bảo thụ co cụm vì lo sợ hiểm họa xâm lược đến từ bên ngoài, nhưng ngược lại đã giúp cho những người cấp tiến nhìn thấy sự cần thiết của việc mở cửa để bắt kịp trào lưu thế giới.

Về quân sự, ngoài việc đem đến những khẩu súng tay đầu tiên, người Bồ Đào Nha đã đưa vào Nhật Bản kỹ thuật hàng hải. Người Nhật Ikeda Kôun (Trì Điền, Hảo Vận) chẳng hạn đã viết Gen.na Kôkaisho (Nguyên Hòa hàng hải thư) chép những kiến thức mà ông đã thu lượm được khi tháp tùng thuyền trưởng người Bồ, Manoel Goncalvez, sang Manila năm 1609. Tuy nhiên, tên tuổi người Anh William Adams  (1564-1620) là kẻ đã đem tặng Tokugawa Ieyasu 18 khẩu súng và đạn dược còn đáng chú ý hơn. Việc những khẩu súng ấy có được đem dùng vào năm 1600 trong trận Sekigahara hay không hãy còn là một nghi vấn nhưng kỹ thuật lái tàu mà ông hấp thụ được từ thời trẻ là một món quà quí giá khác mà ông đã đem đến tặng người Nhật. Hình như chiếc tàu đầu tiên của Nhật trọng tải 150 tấn mang tên Santa Buenaventura cũng được đóng theo sự chỉ dẫn của Adams ở cảng Itô. Ít nhất đó là chi tiết Adams đã viết trong một bức th

Danh sách các trận đánh trong lịch sử Nhật Bản – Wikipedia tiếng Việt

 

 src=
Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.
Lịch sử Nhật Bản
The Siege of Osaka Castle.jpg
  • Thời kỳ đồ đá cũ 35000–14000 TCN
  • Thời kỳ Jōmon 14000–400 TCN
  • Thời kỳ Yayoi 400 TCN–250 SCN
  • Thời kỳ Kofun 250–538
  • Thời kỳ Asuka 592–710
  • Thời kỳ Nara 710–794
  • Thời kỳ Heian 794–1185
  • Thời kỳ Kamakura 1185–1333
    • Tân chính Kemmu 1333–1336
  • Thời kỳ Muromachi 1336–1573
    • Thời kỳ Nam-Bắc triều 1336–1392
    • Thời kỳ Chiến Quốc
  • Thời kỳ Azuchi-Momoyama 1568–1603
  • Thời kỳ Edo 1603–1868
    • Sakoku
    • Bakumatsu
  • Đế quốc Nhật Bản 1868–1945
    • Thời kỳ Minh Trị 1868–1912
    • Thời kỳ Đại Chính 1912–1926
    • Thời kỳ Chiêu Hòa 1927–1989
  • Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai 1945–hiện tại
    • Nhật Bản trong Chiến tranh Lạnh 1945–1989
    • Thời kỳ Bình Thành 1989–2019
    • Thời kỳ Lệnh Hòa 2019-hiện tại
  • Lịch sử kinh tế
  • Lịch sử giáo dục
  • Lịch sử quân sự
  • Lịch sử hải quân
Thuật ngữ
  • x
  • t
  • s

Danh sách các trận đánh Nhật Bản là danh sách được sắp xếp ra theo từng năm, từng thời kỳ trong lịch sử Nhật Bản.

Mục lục

 

  • 1 Thời kỳ Yayoi
  • 2 Thời kỳ Kofun
  • 3 Thời kỳ Asuka
  • 4 Thời kỳ Nara
  • 5 Thời kỳ Heian
  • 6 Thời kỳ Kamakura
  • 7 Thời kỳ Nam – Bắc triều
  • 8 Thời kỳ Muromachi
  • 9 Thời kỳ Chiến Quốc
  • 10 Thời kỳ Azuchi – Momoyama
  • 11 Thời kỳ Edo
  • 12 Thời kỳ Minh Trị
  • 13 Thời kỳ Đại Chính
  • 14 Thời kỳ Chiêu Hòa (tiền chiến)
  • 15 Thời kỳ Chiêu Hòa (hậu chiến)
  • 16 Thời kỳ Bình Thành
  • 17 Xem thêm
  • Hậu kỳ Thế kỷ 2: Đại loạn nước Wa
  • Năm 527 – 528: Loạn Iwai
  • Năm 534: Loạn Musashikokusou
  • Năm 587: Loạn Teibi
  • Năm 645 -: Loạn Isshin
  • Năm 663: Trận Hakusukinoe
  • Năm 672: Loạn Jinshin
  • Năm 720 – 721: Phản loạn Hayato
  • Năm 740: Loạn Fujiwara no Hirotsugu
  • Năm 764: Loạn Fujiwara no Nakamaro (Loạn Emi no Oshikatsu)
  • Năm 780: Loạn Houki
  • Năm 789: Trận Subuse
  • Năm 780 – 802: Chinh phạt Emi
  • Năm 810 -: Loạn Kusuko
  • Năm 813 -: Chiến dịch xâm lược Triều Tiên của Kounin
  • Năm 820 -: Chiến dịch xâm lược Tân La của Kounin
  • Năm 869 -: Chiến dịch xâm lược Triều Tiên của Trinh Quán
  • Năm 878 -: Loạn Gangyou
  • Năm 893 -: Xâm lược Triều Tiên của Kanpyou
  • Năm 936 – 941: Loạn Jyouhei, Tengyou
  • Năm 939: Loạn Tengyou
  • Năm 947: Loạn Fujiwara no Koresuke
  • Năm 997 -: Chiến dịch xâm lược Triều Tiên của Choutoku
  • Năm 1019: Xâm lược Toino
  • Năm 1028 – 1030: Loạn Taira no Tadatsune
  • Năm 1051 – 1062: Chiến dịch Zenkunen
    • Năm 1151: Trận Onikirube
    • Năm 1156: Trận Akutogawa
    • Năm 1156: Trận Kinominosaku
    • Năm 1062: Trận Komatsusaku
  • Khoảng Năm 1070: Trận Enkyuuezo
  • Năm 1083 – 1087: Chiến dịch Gosannen
    • Năm 1087: Trận Numatana
    • Năm 1156: Trận Kanazawasaku
  • Năm 1107 – 1108: Loạn Minamoto no Yoshichika
  • Năm 1156: Loạn Hougen
  • Năm 1159: Loạn Heiji
  • Năm 1179: Trận Tsubokamiyama
  • Năm 1180 – 1185: Loạn Jishou, Jyuuei
    • Năm 1180: Trận Ishibashiyama
    • Năm 1180: Trận chiến Ichihara
    • Năm 1180: Trận Fujigawa
    • Năm 1181: Trận Sunomatagawa
    • Năm 1181: Trận Yokotagawara
    • Năm 1183: Trận Hiuchijyou
    • Năm 1183: Trận Nogimiya
    • Năm 1183: Trận Kurikaratouge
    • Năm 1183: Trận Shinohara
    • Năm 1183: Trận Mizushima
    • Năm 1183: Trận Muroyama
    • Năm 1183: Trận Houjyuuji
    • Năm 1184: Trận Ujigawa
    • Năm 1184: Trận Awatsu
    • Năm 1184: Trận Ichinotani
    • Năm 1185: Trận Yashima
    • Năm 1185: Trận Dannoura
  • Năm 1185: Trận Kawaharatsu
  • Năm 1189: Trận Oushuu
    • Trận Ishinazaka
    • Trận Atsukashiyama
  • Năm 1190: Loạn Ookawakanetou
  • Năm 1213: Trận Wada
  • Năm 1221: Loạn Jyoukyuu
  • Năm 1247: Trận Houji
  • Năm 1274 – 1281: Chiến dịch Bunei, Kouan
  • Năm 1326 – 1328: Đại loạn Ezo
  • Năm 1331 – 1333: Loạn Genkou
    • Năm 1331: Trận Kasagiyama
    • Năm 1331: Trận Akasakajyou
    • Năm 1333: Trận Segawa
    • Năm 1333: Trận Chihayajyou
    • Năm 1333: Trận Kotesashigahara
    • Năm 1333: Trận Kumegawa
    • Năm 1333: Trận Bubaigawara
    • Năm 1333: Trận Sekido
    • Năm 1333: Trận Kamakura
    • Năm 1333: Trận Toushouji

 src=

Trận Minatogawa

  • Năm 1335: Loạn Nakasendai
  • Năm 1335: Trận Yahagigawa
  • Năm 1335: Trận Tegoshigawara
  • Năm 1335: Trận Hakone, Takenoshita
  • Năm 1335: Trận Sendashou
  • Năm 1336: Trận Teshimagawara
  • Năm 1336: Trận Tatarahama
  • Năm 1336: Trận Minatogawa
  • Năm 1337: Trận Kanegasaki (Thời kỳ Nam – Bắc triều)
  • Năm 1338: Trận Aonogahara
  • Năm 1338: Trận Ishitsu
  • Năm 1338: Trận Fujishima
  • Năm 1338 – Năm 1343: Trận Hitachi (Thời kỳ Nam – Bắc triều)
  • Năm 1348: Trận Shijyounawate
  • Năm 1350 – Năm 1352: Nhiễu loạn Kannou
    • Năm 1351: Trận Koumyouji
    • Năm 1351: Trận Uchidehama
    • Năm 1351: Trận Sattatouge
    • Năm 1352: Trận Hachiman
    • Năm 1352: Trận Musashino
      • Năm 1352: Trận Kotesashigawara
      • Năm 1352: Trận Fuefukitouge
  • Năm 1359: Trận Chikugogawa
  • Năm 1368: Loạn Musashiheiikki
  • Năm 1391: Loạn Meitoku
  • Năm 1399: Loạn Ouei
  • Năm 1400: Trận Ootou
  • Năm 1416: Loạn Uesugizenshuu
  • Năm 1418: Sự kiện Kazusahonikki
  • Năm 1419: Trận Ouei
  • Năm 1429: Loạn Yamatoeikyou
  • Năm 1437: Loạn Eikyou
  • Năm 1440: Trận Yuuki
  • Năm 1441: Loạn Kakitsu
  • Năm 1454 – 1482: Loạn Kyoutoku
  • Năm 1455: Trận thành Tsutsui lần 1
  • Năm 1455: Loạn Kyoutoku lần 2 Trận thành Kannonji lần 1
  • Năm 1457: Trận Koshamain
  • Năm 1458 – 1459: Trận Chouroku
  • Năm 1466: Trận thành Tsutsui lần 2
  • Năm 1467 – 1477: Loạn Ounin
    • Năm 1468: Trận thành Kannonji lần 1
    • Năm 1468: Trận thành Kannonji lần 2
    • Năm 1469: Trận thành Kannonji lần 3
  • Năm 1476 – 1480: Loạn Nagaokageharu
    • Năm 1477: Trận Ekoda, Numabukurohara
  • Năm 1477: Trận thành Tsutsui lần 3
  • Năm 1478: Trận Sakainehara
  • Năm 1479 – 1480: Loạn Mourijirou Lần 1
  • Năm 1483: Trận Kawachijyuushichikasho
  • Năm 1485:Sự kiện Ikki ở Yamashiro no Kuni
  • Năm 1487 – 1505: Loạn Choukyou
  • Năm 1473 – 1580: Sự kiện Ikkou Ikki ở Kaga
  • Năm 1483: Trận thành Tsutsui lần 4
  • Năm 1485 – 1493: Sự kiện Ikki ở Yamashiro Kuni
  • Năm 1487 – 1491: Loạn Choukyuu, Entoku
  • Năm 1487 – 1489: Loạn Mourijirou lần 2
  • Năm 1504: Trận thành Yodoko lần 1
  • Năm 1504: Trận Tachikawa no Hara
  • Năm 1506: Trận Kuzuryuugawa
  • Năm 1509: Trận Nyougatake
  • Năm 1510: Loạn Sanpo
  • Năm 1511: Trận Fukai
  • Năm 1511: Trận Ashiyakawara
  • Năm 1511: Trận Funaokayama
  • Năm 1516: Trận thành Tsutsui lần 5
  • Năm 1517: Trận Aritanakaite
  • Năm 1519 – 1520: Trận thành Koshimizu
  • Năm 1521: Trận Gyoujindai
  • Năm 1523: Loạn Ninpoo
  • Năm 1524: Trận Takanawahara
  • Năm 1526: Trận tấn công Rokuura
  • Năm 1527: Trận Karrakawara
  • Năm 1530: Trận Tatenawate
  • Năm 1530: Trận thành Yorifuji
  • Năm 1531: Loạn Kyouroku
  • Năm 1531: Trận Nakajima
  • Năm 1531: Sự kiện Daimotsukuzure
  • Năm 1532: Trận thành Iimoriyama
  • Năm 1532: Trận chùa Yamashinahonganji
  • Năm 1533: Sự biến Inamura
  • Năm 1533: Loạn Tenbun
  • Năm 1536: Loạn Hanakura
  • Năm 1536: Loạn Tenbunhokke Trận thành Gasantoda lần 1
  • Năm 1538: Trận Kounodai lần 1
  • Năm 1539: Trận thành Edayoshi lần 1
  • Năm 1540 – 1549: Trận Anjyou
  • Năm 1540 – 1541: Trận thành Yoshidakooriyama
  • Năm 1541: Trận thành Hitokura
  • Năm 1542 – 1543: Trận thành Gasantodajyou lần 1
  • Năm 1542 – 1548: Loạn Tenbun
  • Năm 1542: Trận Taiheiji
  • Năm 1542: Trận Azukizaka lần 1
  • Năm 1546: Trận thành Kawagoe
  • Năm 1546: Trận Hashizugawa
  • Năm 1547: Trận Odaibara
  • Năm 1547: Trận chùa Shariji
  • Năm 1548: Trận Azukizaka lần 2
  • Năm 1548: Trận Uedahara
  • Năm 1549: Trận Eguchi
  • Năm 1550: Trận thành Toishi
  • Năm 1551: Sự biến chùa Daineiji
  • Năm 1553 – 1564: Trận Kawanakashima
  • Năm 1554: Trận thành Kuroi
  • Năm 1554: Trận Oshikibata
  • Năm 1554: Trận Murakitoride
  • Năm 1554 – 1555: Trận thành Edayoshi lần 2
  • Năm 1555: Trận Itsukushima
  • Năm 1555 – 1557: Kinh lược Bouchou
  • Năm 1556: Trận Nagaragawa
  • Năm 1556: Trận Inou
  • Năm 1558: Trận Ishigasegawa
  • Năm 1558: Trận Ukino
  • Năm 1560: Trận Nagahama
  • Năm 1560: Trận Okehazama
  • Năm 1560: Trận Norada
  • Năm 1561: Trận núi Shogunjizou
  • Năm 1562: Trận Kumeda
  • Năm 1562: Trận chùa Kyoukouji
  • Năm 1562 – 1565: Trận thành Gassantoda lần 2
  • Năm 1563: Trận Yutokoroguchi
  • Năm 1563: Sự kiện Ikkou, Ikki ở Mikawa
  • Năm 1564: Trận Kounodai lần 2
  • Năm 1565: Trận thành Tsutsui lần 6
  • Năm 1565: Trận thành Tsutsui lần 7
  • Năm 1566: Trận thành Takiyama
  • Năm 1567: Trận Yasumimatsu
  • Năm 1567 – 1574: Sự kiện Ikkou, Ikki ở Nagashima
  • Năm 1567: Trận Toudaiji Daibutsuden
  • Năm 1567: Trận Mifuneyama
  • Năm 1567 – 1568: Can thiệp xứ Iyo của gia tộc Mouri
  • Năm 1568: Trận thành Shigisan
  • Năm 1568: Trận thành Kanonji
  • Năm 1569: Loạn Oouchiteruhiro
  • Năm 1569: Trận Tatarahama lần 1
  • Năm 1568: Trận thành Shouryuuji
  • Năm 1568: Trận thành Tsutsui lần 8
  • Năm 1568 – 1570: Xâm chiếm vùng Suruga của Takeda Shingen
  • Năm 1569: Trận Yaru
  • Năm 1569: Trận đèo Mimase
  • Năm 1569: Trận Tatarahama lần 2
  • Năm 1570: Trận Imayama
  • Năm 1570: Trận Fubeyama
  • Năm 1570 – 1580: Trận Ishiyama
  • Năm 1570: Trận Kanegasaki
  • Năm 1570: Trận Anegawa
  • Năm 1570: Trận thành Noda, Fukushima
  • Năm 1570: Trận Shiga
    • Năm 1570: Trận thành Usayama
  • Năm 1571: Trận Shiraikawara
  • Năm 1571: Trận thành Nirengi
  • Năm 1571: Trận thành Tatsuichi
  • Năm 1571: Sự kiện phóng hỏa núi Hieizan
  • Năm 1572: Trận thành Uezakura
  • Năm 1572: Chiến dịch Saijyou
  • Năm 1572: Trận thành Iwamura
  • Năm 1572: Trận thành Futamata
  • Năm 1572: Trận Mikatagahara
  • Năm 1572: Trận Kizakibaru
  • Năm 1573: Trận thành Noda
  • Năm 1573: Trận thành Makishima
  • Năm 1573: Trận thành Yodoko lần 2
  • Năm 1573: Trận thành Ichijyoudani
  • Năm 1573: Trận thành Wakae
  • Năm 1574 – Năm 1575: Sự kiện Ikkou, Ikki ở Echizen
  • Năm 1574: Trận thành Takatenjin lần 1
  • Năm 1575: Trận thành Takaya
  • Năm 1575: Trận Nagashino
  • Năm 1575: Trận thành Iwamura
  • Năm 1575: Trận Shimantogawa
  • Năm 1575 – Năm 1576: Trận thành Kuroi lần 1
  • Năm 1576: Trận thành Nanao
  • Năm 1576: Trận Kizugawaguchi lần 1
  • Năm 1577: Trận Saika
  • Năm 1577: Trận Tedorigawa
  • Năm 1577: Trận thành Shigisan
  • Năm 1577 – Năm 1582: Chinh phạt Chugoku
  • Năm 1577: Trận thành Takeda
  • Năm 1578: Trận thành Oota lần 1
  • Năm 1578: Trận Kizugawaguchi lần 2
  • Năm 1578 – Năm 1579: Trận thành Arioka
  • Năm 1578: Trận Mimigawa
  • Năm 1578: Trận thành Kouzuki
  • Năm 1578 – Năm 1580: Trận Miki
  • Năm 1578 – Năm 1579: Loạn Otate
  • Năm 1578: Trận Tsukiokano
  • Năm 1579: Trận thành Kuroi lần 2
  • Năm 1579: Trận thành Yagi
  • Năm 1580: Trận thành Hanakuma
  • Năm 1580: Trận Nagouta, Nagasegawa
  • Năm 1581: Trận thành Takatenjin lần 2
  • Năm 1581: Loạn Tenshouiga
  • Năm 1582: Chinh phạt Takeda
  • Năm 1582: Trận thành Uozu
  • Năm 1582: Sự kiện Honnouji
  • Năm 1582: Trận Yamazaki
  • Năm 1582: Trận Kannagawa
  • Năm 1582: Trận thành Sogou lần 1
  • Năm 1582: Trận Nakatomigawa
  • Năm 1582: Loạn Tenshoujingo
  • Năm 1583: Trận Shizugatake
  • Năm 1584: Trận Komaki, Nagakute
    • Năm 1584: Trận thành Iwasaki
    • Năm 1584: Trận thành Sogou lần 2
  • Năm 1584: Trận Okitanawate
  • Năm 1584: Trận Aso
  • Năm 1585: Chinh phạt Kishu của Toyotomi Hideyoshi
    • 1585: Trận thành Sengokubori
    • Năm 1585: Trận thành Oota lần 2
  • Năm 1585: Viễn chinh Shikoku của Toyotomi Hideyoshi
  • Năm 1585: Chiến dịch Toyama
  • Năm 1585: Trận Ueda
  • Năm 1585: Trận Hitotoribashi
  • Năm 1585: Trận thành Kawarayama
  • Năm 1586: Trận thành Iwaya
  • Năm 1587: Trận Hetsugigawa
  • Năm 1587: Chiến dịch Kyuushu
    • Năm 1587: Trận Nejirozaka
  • Năm 1587: Sự kiện Ikki ở Higokoku
  • Năm 1588: Trận Oosaki
  • Năm 1589: Trận Suriagehara
  • Năm 1590: Chiến dịch Odawara
  • Năm 1590: Trừng phạt Oushu
  • Năm 1590: Sự kiện Ikki ở Kasai Oosaki
  • Năm 1591: Loạn Kunohe Masazane
  • Năm 1592: Sự kiện Ikki ở Umekita
  • Năm 1592 – 1598: Chiến tranh Nhật Bản-Triều Tiên
    • Năm 1592: Hải chiến đảo Hansan (Triều Tiên)
    • Năm 1592 – 1593: Trận thành Jinju (Triều Tiên)
    • Năm 1593: Trận Byeokjegwan (Triều Tiên)
    • Năm 1597: Trận Chilcheollyang (Triều Tiên)
    • Năm 1597: Trận Myeongnyang (Triều Tiên)
    • Năm 1597 – 1598: Trận thành Ulsan (Triều Tiên)
    • Năm 1598: Trận thành Suncheon (Triều Tiên)
    • Năm 1598: Trận Sacheon (Triều Tiên)
  • Năm 1599: Loạn Shounai
  • Năm 1600: Chiến dịch Sekigahara
    • Chinh phạt Aizu
    • Trận thành Fushimi
    • Trận thành Shiraishi
    • Trận sông Kisogawa, Goutogawa
    • Trận Kuzegawa
    • Trận Sekigahara
    • Trận Ueda
    • Trận Asainawate
    • Trận thành Tanabe
    • Trận thành Hasedou
    • Trận thành Ōtsu
    • Trận thành Toba
    • Trận thành Sawayama
    • Trận thành Ōgaki
    • Trận Matsukawa
  • Năm 1602: Loạn Inazu
  • Năm 1608 : Sự kiện Ikki năm Keichou ở Yamashiro
  • Năm 1614 – 1615: Trận vây hãm Osaka
    • Năm 1614: Trận Noda, Fukushima
    • Năm 1615: Trận thành Kōriyama
  • Năm 1637 – 1638: Loạn Shimabara
  • Năm 1669: Trận Shakushain
  • Năm 1677 : Sự kiện Ikki ở Gujyou
  • Năm 1686 : Náo động Jyoukyou
  • Năm 1739 : Sự kiện Ikki năm Genbun
  • Năm 1761 : Náo động Ueda
  • Năm 1764 : Náo động Tenma
  • Năm 1768 : Náo động Niigata Meiwa
  • Năm 1771 : Sự kiện Ikki ở Nijinomatsubara
  • Năm 1786 : Sự kiện Ikki ở Sukumo
  • Năm 1789: Trận Menashi-Kunashir
  • Năm 1793 : Sự kiện Ikki ở Takeshi Zaemon
  • Năm 1814 : Náo động Hokuetsu
  • Năm 1825 : Náo động Akamino
  • Năm 1831 : Sự kiện Ikki Tenbou ở phiên Chōshū
  • Năm 1836 : Náo động Tenbou
  • Năm 1837: Loạn Ooshiohei Hachirou
  • Năm 1838 : Sự kiện Ikki ở Sadokuni
  • Năm 1847 : Sự kiện Ikki ở Sanhei
  • Năm 1856 : Sự kiện Ikki ở Shibuzome
  • Năm 1863: Sự biến Tenchūgumi
  • Năm 1863: Chính biến ngày 18 tháng 8
  • Năm 1863: Sự biến Ikuno
  • Năm 1863: Loạn Mito
  • Năm 1863: Trận oanh tạc Kagoshima
  • Năm 1864: Sự biến Cấm Môn
  • Năm 1864: Trận Shimonoseki
  • Năm 1864: Viễn chinh Chōshū
  • Năm 1868: Trận Matsuyama
  • Năm 1868 – 1869: Chiến tranh Boshin
    • Trận Toba-Fushimi
      • Trận Yodosen Ryoumatsu
    • Hải chiến Awa
    • Trận Kōshū-Katsunuma
    • Trận thành Utsunomiya
    • Trận Ichikawa, Funabashi
    • Trận Goi
    • Trận Ueno
    • Trận Hokuetsu
    • Trận Aizu
      • Trận cửa sông Shirakawa
      • Trận đèo Bonari
      • Trận Nihonmatsu
      • Trận Nikkouguchi
      • Trận Iwaki
    • Trận Hakodate
      • Hải chiến vịnh Miyako
      • Trận Futamataguchi
      • Hải chiến vịnh Hakodate
  • Năm 1869: Náo động Bandori
  • Năm 1872: Náo động Teisuke
  • Năm 1873: Sự kiện Ikki ở Chikuzen Takeyari
  • Năm 1874: Loạn Saga
  • Năm 1876: Loạn Shinpūren
  • Năm 1876: Loạn Akizuki
  • Năm 1876: Loạn Hagi
  • Năm 1877: Chiến tranh Tây Nam
    • Cuộc vây hãm thành Kumamoto
      • Trận Tabaruzaka
  • Năm 1884: Sự kiện Chichibu
  • Năm 1894 – 1895: Chiến tranh Thanh-Nhật
    • Trận P’ungto
    • Hải chiến Hoàng Hải
  • Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn (Trung Quốc)
  • Năm 1904 – 1905: Chiến tranh Nga-Nhật
    • Hải chiến vịnh Chemulpo
    • Hải chiến cảng Lữ Thuận
    • Trận sông Áp Lục
    • Hải chiến Hoàng Hải
    • Hải chiến Ulsan
    • Trận vây hãm cảng Lữ Thuận
    • Trận Liêu Dương
    • Trận Sa Hà
    • Trận Hắc Câu Đài
    • Trận Phụng Thiên
    • Hải chiến Tsushima
  • Năm 1914: Chiến tranh thế giới thứ nhất (toàn thế giới)
    • Trận Thanh Đảo (Trung Quốc)
  • Năm 1918: Can thiệp Siberia (Nga)
  • Năm 1918: Náo động gạo năm 1918 bắt đầu từ tỉnh Toyama, sau lan ra toàn quốc
  • Năm 1920: Sự kiện Nikolayevsk (Nga)
  • Năm 1922: Cuộc bãi công của tá điền làng Kizaki (Trung Quốc)
  • Năm 1923: Sự kiện Trường Sa (Trung Quốc)
  • Năm 1927: Sự kiện Nam Kinh (Trung Quốc)
  • Năm 1927: Sự kiện Hán Khẩu (Trung Quốc)
  • Năm 1927: Can thiệp Sơn Đông (Trung Quốc)
  • Năm 1928: Sự kiện Tế Nam (Trung Quốc)

Thời kỳ Chiêu Hòa (tiền chiến)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1931: Sự biến Mãn Châu (Trung Quốc)
  • Năm 1931: Sự kiện đại úy Nakamura (Trung Quốc)
  • Năm 1932: Sự biến Thượng Hải (Trung Quốc)
  • Năm 1932: Sự kiện Vạn Bảo Sơn (Trung Quốc)
  • Năm 1932: Sự kiện Bình Đỉnh Sơn (Trung Quốc)
  • Năm 1936: Sự kiện Thành Đô (Trung Quốc)
  • Năm 1936: Sự kiện Bắc Hải (Trung Quốc)
  • Năm 1937: Chiến tranh Trung – Nhật/Sự biến Nhật Hoa, Sự biến Chi Na
    • Sự kiện Lư Câu Kiều
      • Sự kiện Đại Hồng Môn (Trung Quốc)
      • Sự kiện Lang Phường (Trung Quốc)
      • Sự kiện Quảng An Môn (Trung Quốc)
      • Sự kiện Thông Châu (Trung Quốc)
      • Chiến dịch Chahar
    • Trận Thượng Hải
      • Sự kiện sát hại trung úy Ooyama (Trung Quốc)
  • Tháng 9 – tháng 5 Năm 1939: Chiến dịch Khalkhyn Gol
  • Năm 1939: Chiến tranh thế giới thứ hai
    • Chiến tranh Đại Đông Á 、Chiến tranh Thái Bình Dương
      • Trận Trân Châu Cảng
      • Trận Philippines (1941-1942)
      • Trận Burma
        • Trận Admin Box
        • Trận Ramou, Touetsu
      • Đánh chìm Prince of Wales và Repulse
      • Không kích Ấn Độ Dương (1942)
      • Trận chiến biển Coral
      • Trận Midway
      • Chiến dịch Guadalcanal
      • Chiến dịch quần đảo Solomon
        • Trận chiến đảo Savo
        • Trận chiến Đông Solomon
        • Trận mũi Esperance
        • Trận chiến quần đảo Santa Cruz
        • Trận hải chiến Guadalcanal
        • Trận Tassafaronga
        • Trận đảo Rennell
        • Chiến dịch Ke
        • Trận hải chiến biển Bismarck
        • Trận eo biển Blackett
      • Chiến dịch đảo Aleutian
        • Chiến dịch I-Go
        • Trận vịnh Kula
        • Trận Kolombangara
        • Trận vịnh Vella
        • Trận Horaniu
        • Trận hải chiến Vella Lavella
        • Trận vịnh Nữ hoàng Augusta
        • Chiến dịch Rogou
        • Trận mũi St. George
      • Trận Imphal
      • Chiến dịch Ichi-Go
      • Trận Peleliu
      • Trận chiến biển Philippines
      • Trận Leyte
      • Trận chiến vịnh Leyte
      • Chiến dịch Philippines (1944-1945)
        • Chiến dịch Reigou
        • Trận Luzon
      • Trận Irrawaddy
      • Chiến dịch Hokugou
      • Không kích lãnh thổ Nhật Bản
      • Trận Iwo Jima
      • Trận Okinawa
      • Chiến dịch Kikusui
      • Cuộc hành quân Ten-Go
      • Trận eo biển Malacca
      • Chiến dịch Mãn Châu
      • Sự đầu hàng của Nhật Bản
  • Năm 1946: Sự kiện Tsuuka
  • Năm 1946: Sự kiện tập kích đồn cảnh sát Nagasaki
  • Năm 1946: Sự kiện tập kích đồn cảnh sát địa phương trước ga Toyama
  • Năm 1946: Sự kiện tập kích đồn cảnh sát Shichijyou
  • Năm 1946: Sự kiện tập kích đồn cảnh sát Tomisaka
  • Năm 1947: Sự kiện tập kích đồn cảnh sát địa phương Obanazawa
  • Năm 1948: Tranh chấp lớn ở Hamamatsu
  • Năm 1948: Sự kiện Shimonoseki
  • Năm 1950: Sự kiện tập kích công sở quận Nagata
  • Năm 1952-Hiện nay: Tranh chấp đảo Takeshima (tỉnh Shimane)
  • Năm 1952: Sự kiện tập kích nhà viên cảnh sát Nara
  • Năm 1952: Sự kiện tập kích phòng thuế vụ Goshogawara
  • Năm 1953: Sự kiện hiệu Razuezunoi (nằm ngoài khơi bờ biển Okhotsk)
  • Năm 1960: Bạo động Yamatani (Tokyo)
  • Năm 1960: Hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ 60 năm
  • Năm 1961: Bạo động Nishinari lần 1, là vụ bạo động xảy ra 21 lần trong thời gian 13 năm từ năm 1961 đến năm 1973 tại khu Airin quận Nishinari, thành phố Osaka
  • Năm 1961: Sự kiện Sanyuu (Tỉnh Chiba)
  • Năm 1966-Hiện nay:Đấu tranh Narita
  • Năm 1968-1969: Tranh chấp Toudai (Tokyo), Tranh chấp Nichidai (Tokyo)
    • Sự kiện giảng đường Toudai Yasuda (Tokyo)
  • Năm 1970: Sự kiện Mishima
  • Niên đại 1970: Mặt trận vũ trang chống Nhật ở Đông Á
    • Năm 1974: Sự kiện đập phá cơ sở công nghiệp nặng của Mitsubishi (Tokyo)
  • Năm 1971-1985: Đấu tranh Sanrizuka
    • Năm 1971: Sự kiện ngã tư Touhou
    • Năm 1978: Sự kiện chiếm cứ đài kiểm soát sân bay Narita
    • Năm 1985: Đấu tranh địa phương Narita 20.10
  • Năm 1971-2001: Hồng quân Nhật Bản
    • Năm 1972: Sự kiện thảm sát sân bay Lod (Israel)
    • Năm 1972: Sự kiện sơn trang Asama (Tỉnh Nagano)
    • Năm 1973: Sự kiện cướp máy bay hãng hàng không Nhật Bản ở Dubai (Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất)
    • Năm 1977: Sự kiện cướp máy bay hãng hàng không Nhật Bản ở Dhaka (Bangladesh)
    • Năm 1986: Sự kiện Jakarta (Indonesia)
  • Năm 1973: Sự kiện Ageo (Tỉnh Saitama)
  • Năm 1973:

Bạo động đường sắt thủ đô quốc gia (gồm các tỉnh Saitama, Tokyo, Chiba, Kanagawa)

  • Năm 1980: Bạo động Koza (Tỉnh Okinawa)
  • Năm 1985: Sự kiện tàu khả nghi trên biển Hyūganada
  • Niên đại 1980-Niên đại 1990: Sự kiện giáo phái Aum (Tokyo), (Tỉnh Yamanashi)
  • Năm 1990: Bạo động Nishinari lần 22, (vụ bạo động Nishinari phát sinh cách đây khoảng 17 năm tại Osaka)
  • Năm 1992: Bạo động Nishinari lần 23 (Osaka)
  • Năm 1996: Sự kiện chiếm cứ công sứ quán Nhật Bản tại Peru
  • Năm 1999: Sự kiện tàu khả nghi ngoài khơi bán đảo Noto (ngoài khơi bán đảo Noto biển Nhật Bản)
  • Năm 2001: Trận Amami Ōshima (vùng biển tây nam Kyuushu, biển đông Trung Quốc)
  • Năm 2002: Sự kiện tàu khả nghi vùng biển Trung bộ biển Nhật Bản
  • Năm 2008: Bạo động Nishinari lần 24 (vụ bạo động Nishinari phát sinh cách đây khoảng 16 năm tại Osaka)
  • Năm 2010: Sự kiện đảo Senkaku
  • Lịch sử quân sự Nhật Bản


Lễ hội tái hiện lịch sử Nhật Bản một cách chân thực

 

Du lịch Nhật Bản dừng chân khám phá cố đô Kyoto, du khách sẽ có cơ hội hiểu hơn về văn hóa cổ kính nghìn năm tuổi ở nơi đây. Một trong những nét thu hút nhất ở đây chính là các lễ hội truyền thống hết sức độc đáo và thú vị.

Khi bước sang tháng thứ 10, người dân Kyoto được thư thái trong không khí mát mẻ của mùa thu, ngắm nhìn những rừng cây đổi màu và bận rộn với một lễ hội Nhật Bản truyền thống diễn ra trong tuần cuối cùng của tháng – lễ hội Jidai.

Jidai là một trong ba lễ hội lớn nhất ở Kyoto nói riêng cũng như cả nước Nhật Bản nói chung. Mỗi một lễ hội đều mang đến một sắc màu riêng, tuy nhiên trong bài viết hôm nay hãy cùng chúng tôi khám phá lễ hội Jian.

Lễ hội tái hiện lịch sử chân thực và nghiêm túc

 width=

Kyoto từng được biết đến là thủ đô của Nhật Bản trong suốt 1.000 năm với tên gọi Heian-kyo. Đối với người dân bản địa, mặc dù Kyoto không còn là thủ đô của đất nước, nhưng nó giống như một minh chứng sống, chứng kiến các thời kỳ lịch sử, thay đổi của đất nước. Từ giai đoạn Thiên hoàng Kanmu dời đô từ Nagaoka đến Heian-kyo cho đến thời kỳ triều đình Minh trị dời đô về Edo – Tokyo hiện nay.

Jian Matsuri có nghĩa là Lễ hội Thời đại, được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1895, kỷ niệm sự kiện dời đô của Thiên hoàng Kanmu từ Nagaoka đến Heian-kyo. Vì vậy mà ý nghĩa ban đầu của lễ hội chính là tôn vinh công lao của Thiên hoàng Kanmu. Ngoài ra, lễ hội này còn nhằm tôn vinh Thiên hoàng Komei, người có công trong việc khẳng định vai trò của Heian-kyo trong thời kỳ nội chiến giữa các lãnh chúa.

 width=

Lễ hội bắt đầu vào 7h30 sáng tại đến Heian, sau khi các nghi lễ tại đền kết thúc người ta sẽ rước linh hồn của hai vị Thiên hoàng kể trên lên kiệu Mikoshi. Đoàn diễu hành sẽ di chuyển đến cung điện Kyoto – nơi sinh sống trước đây của Thiên hoàng. Cuối cùng đúng vào 12 giờ người ta sẽ rước kiệu về lại đền Heian.

Màn trình diễn các phong tục tập quán đặc sắc của cố đô

 width=

Nếu như Aoi Matsuri và Gion Matsuri mang ý nghĩa cầu mong thần linh xua đuổi dịch bệnh, thiên tai và cầu mong sức khỏe thì Jian Matsuri giống như một bức tranh cuộn tái hiện lại hoàn hảo phong tục tập quán, trang phục cũng như các nhân vật lịch sử của triều đại cách đây 1000 năm lịch sử.

 width=

Tham gia vào lễ hội người ta sẽ mặc những bộ trang phục, phong tục, nhân vật lịch sử qua chín thời đại, lần lượt là: Meiji, Edo, Azuchi Momoyama, Yoshino, Muromachi, Kamakura, Fujiwara, Heian, Enryaku.

Nếu muốn hiểu hơn về lễ hội truyền thống này hãy sở hữu ngay cho mình một chiếc vé máy bay du lịch Nhật Bản để khám phá nhé!

>>> Xem thêm: Du lịch Nhật Bản khám phá lễ hội hoa thục quỳ

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2

 

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2

Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai là lịch sử Nhật Bản mà các thực thể chính trị là “Nhật Bản Quốc” (日本国). Tên thường gặp là “Thời hậu chiến Nhật Bản” (戦後日本) hay “Sau WW2 Nhật Bản” (二戦後日本). Giai đoạn này là từ ngày 2 tháng 9 1945 cho hiện tại, nó đã bắt đầu với việc ký kết Tuyên bố Potsdam.

a- Sự phát triển kinh tế:

* Tình hình phát triển:

_ Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật là nước bại trận, đất nước bị chiến tranh tàn phá, kinh tế khó khăn, mất hết thuộc địa, nghèo tài nguyên, thất nghiệp, thiếu nguyên liệu, lương thực và lạm phát. Sản xuất công nghiệp năm 1946 chỉ bằng 1/4 so với trước chiến tranh. Nhật phải dựa vào “viện trợ” kinh tế của Mỹ dưới hình thức vay nợ để phục hồi kinh tế.

_ Quá trình phát triển kinh tế Nhật trải qua các giai đoạn:

+ 1945 – 1950: Thời kỳ phục hồi kinh tế: kinh tế phát triển chậm chạp và phụ thuộc chặt chẽ vào kinh tế Mỹ.

+ Từ tháng 6-1950, sau khi Mỹ phát động chiến tranh xâm lược Triều Tiên, kinh tế Nhật phát triển nhanh chóng nhờ những đơn đặt hàng quân sự của Mỹ.

+ Từ những năm 60: do Mỹ sa lầy trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, kinh tế Nhật có cơ hội phát triển “thần kỳ”, đuổi kịp rồi vượt các nước Tây Âu, vươn lên đứng hàng thứ 2 sau Mỹ trong thế giới TBCN.

+ Từ những năm 70 trở đi: Nhật trở thành một trong ba trung tâm kinh tế – tài chính của thế giới, trở thành một siêu cường kinh tế. Nhiều người gọi là “Thần kỳ Nhật Bản”.

* Nguyên nhân của sự phát triển:

_ Biết lợi dụng và thu hút nguồn vốn của nước ngoài, để tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp then chốt: cơ khí, luyện kim, hóa chất, điện tử …

_ Biết sử dụng có hiệu quả các thành tựu KH – KT để tăng năng suất, cải tiến kỷ thuật và hạ giá thành hàng hóa.

_ Biết “len lách” xâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế.

_ Lợi dụng sự bảo hộ của Mỹ, ít phải chi tiêu về quân sự, tập trung phát triển công nghiệp dân dụng, xây dựng kinh tế. Biên chế Nhà nước gọn nhẹ.

_ Những cải cách dân chủ sau chiến tranh tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển.

_ Truyền thống “tự lực, tự cường” của nhân dân vươn lên xây dựng đất nước, cộng với tài điều hành kinh tế của giới kinh doanh và vai trò điều tiết của nhà nước.

* Nguyên nhân quan trọng nhất: Tận dụng thành tựu KHKT.

b- Về KH – KT:

_ Nhật rất coi trọng phát triển KH -KT:

+ Có hàng trăm viện KH – KT, đi sâu vào công nghiệp dân dụng, ít chú ý đến công nghiệp quân sự và vũ trụ.

+ Nhật vừa chú ý đến phát triển các cơ sở nghiên cứu trong nước vừa chú ý mua các phát minh của nước ngoài. (tìm cách xâm nhập kỷ thuật hiện đại và phương pháp sản xuất tiên tiến).

+ Hiện nay Nhật được xếp vào một số quốc gia đứng hàng đầu về trình độ phát triển KH – KT, đặc biệt trong các ngành công nghiệp dân dụng.

_ Nhật rất quan tâm đến việc cải cách nền giáo dục quốc dân, quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo những con người có ý chí vươn lên trong mọi hoàn cảnh, có năng lực, giữ vững bản sắc dân tộc của mình.

c- Tình hình chính trị – chính sách đối nội:

_ Chính trị: Là nhà nước quân chủ lập hiến về hình thức, thực chất là dân chủ đại nghị (mọi quyền lực nằm trong tay 6 tập đoàn tài phiệt khổng lồ: Mitsubisi, Mitxưi, Sumitômô, Phugi, Đaichi, Sanma).

_ Đối nội:

+ Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật tiến hành những cải cách dân chủ: cải cách ruộng đất, ban hành Hiến pháp (1946), xóa bỏ triệt để các tàn tích phong kiến, xử tội phạm chiến tranh. Nhờ đó đã phá vỡ những cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của chủ nghĩa phong kiến quân phiệt, tạo điều kiện để Nhật phát triển mạnh về mọi mặt.

+ Ngày nay, giới cầm quyền Nhật bắt đầu xâm phạm một số điều khoản của Hiến pháp 1946 (thu hẹp quyền tự do dân chủ, sửa đổi lại điều 9: không cho phép Nhật xây dựng lực lượng vũ trang và đưa quân đi tham chiến nước ngoài).

d- Chính sách đối ngoại:

_ 1951, Nhật ký với Mỹ “Hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật”. Nhật trở thành đồng minh của Mỹ nhằm chống lại các nước XHCN và phong trào GPDT ở Viễn Đông. Nhật trở thành căn cứ chiến lược của Mỹ, phục vụ cho chiến lược toàn cầu của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương.

_ Dựa vào tiềm lực kinh tế, tài chính lớn mạnh để tìm cách xâm nhập, giành giật, mở rộng thế lực, gây ảnh hưởng ngày càng lớn trên thế giới, đặc biệt là Đông Nam Á.

Một số hình ảnh và tư liệu

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 1

Một người đàn ông ngồi trong căn nhà đổ nát tại thành phố Tokyo, năm 1947. Sau thế chiến, Nhật lâm vào cảnh hoang tàn đổ nát.

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 2

 

Một người phụ nữ địu con đứng trông ngóng bên cạnh một đống hoang tàn ở Tokyo, năm 1947. Đất nước Nhật Bản đã gần như bị tàn phá hoàn toàn bởi cả thập kỷ chiến tranh và hằn sâu vết sẹo của trận đánh bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki.

 

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 3

 

Niềm vui của những người lính khi được giải ngũ tại Tokyo, năm 1946. Sau nhiều năm tập trung cho quân sự, Nhật Bản đã thấy được sự cần thiết của việc nhìn thẳng vào những sự kiện chấn động trong chiến tranh và hệ quả của nó.

 

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 4

 

Chiến trang không chỉ mang cái chết đến cho những người ở các nước bị xâm lược, mà còn lấy đi sinh mạng của các binh lính Nhật. Trong ảnh, hai vợ chồng già ôm di ảnh của con, một binh lính Nhật Bản chết trong thế chiến, đi trên con đường tại Tokushima năm 1956.

 

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 5

 

Nhật Bản khắc phục hậu quả chiến tranh bằng cách chú trọng vào nông nghiệp để tạo ra lương thực. Những người Nhật Bản ở Toyama năm 1955 không ngại khổ để có được hạt gạo nuôi sống bản thân và đất nước mình.

 

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 6

Phụ nữ và đàn ông tắm chung tại một khu suối nước nóng ở Aomori năm 1957.

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 7

Những đứa trẻ tại Niigata ra đời năm 1950, dù cuộc sống khổ cực nhưng chúng đã không còn phải chứng kiến chiến tranh.

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 8

Những đứa trẻ được đến trường, chen chúc xem một chương trình truyện tranh tại Tokyo, năm 1953.

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 9

 

Trong lớp học ở Fukuoka (1959), nhiều em gia đình có điều kiện mang cơm đi ăn trong giờ trưa. Chiến tranh đã qua hơn một thập niên nhưng nghèo đói còn hiển hiện, nhiều em nhà nghèo không có cơm đành ngồi đọc truyện tranh.

 

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 10

Dù nghèo nhưng người Nhật Bản vẫn luôn yêu đời, họ tụ tập đàn hát những lúc rảnh rỗi. Ảnh chụp tại Akita năm 1954.

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 11

Người đàn ông ngồi dưới tấm bảng “No smoking” ở đường phố Tokyo năm 1963. Ý thức về việc giữ gìn sức khỏe của bản thân và cộng đồng được người Nhật đề cao.

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 12

Những khu công nghiệp được Nhật Bản chú trọng xây dựng. Trong ảnh: Những em bé, con của công nhân, chơi đùa giữa khu công trình tại Fukuoka năm 1958.

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 13

Những người dân làm thủ tục xin đi làm công nhân tại Tokyo năm 1953.

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 14

 

Cùng với sự nở rộ về công nghiệp, Nhật Bản cũng chú trọng đến đào tạo con người. Trong ảnh, lễ bế mạc một lớp học tập huấn kỹ năng quản lý tại Tokyo năm 1961.

 

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 15

 

Đời sống văn hóa – xã hội cũng dần lấy lại sức sống. Các nữ văn công xuất hiện ngày một nhiều để phục vụ nhu cầu của công chúng. Họ ngồi nghỉ trên một ban công ở Tokyo năm 1949.

 

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 16

Đến năm 1954, những người làm nghệ thuật tại Tokyo vẫn phải tự khắc phục nơi biểu diễn, thậm chí họ phải thay trang phục ngay trên ban công.

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 17

Những buổi biểu diễn ca nhạc, thời trang luôn đông nghịt khán giả. Trong ảnh là một buổi trình diễn năm 1956.

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 18

Người Nhật luôn giữ gìn nét văn hóa truyền thống, trong đó có lễ hội hoa anh đào. Ảnh chụp tại Tokyo năm 1954.

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 19

Một cụ già với bộ huân, huy chương ghi nhận những đóng góp cho đất nước trong giai đoạn 1960 – 1965.

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 20

 

Sự du nhập văn hóa phương Tây thể hiện rất rõ trong giai đoạn này. Năm 1955 tại Tokyo, bên cạnh những trang phục tân thời, vẫn có những cô gái quyết giữ nét đẹp trong trang phục truyền thống.

 

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 - Ảnh 21

 

Và người Nhật chán ghét chiến tranh. Nhiếp ảnh gia Hiroshi Sugimoto ghi lại buổi biểu tình của người dân Nhật Bản phản đối Hiệp ước An ninh Nhật – Mỹ tại thành phố Tokyo năm 1960. Phát triển kinh tế trong hòa bình đã nhanh chóng đưa Nhật Bản trở thành cường quốc về kinh tế.

Lịch sử Nhật Bản (Kỳ 5

 

Tiết 5: Thời đại Kofun và chính quyền Yamato.

 

5-1 Kofun là tượng trưng của quyền lực:

 

Kể từ thời Yayoi trung kỳ trở đi, nông canh phát triển, trong xã hội có sự ngăn cách giàu nghèo, phát sinh ra giai cấp. Nếu ta đọc Ngụy Chí, Nụy Nhân Truyện thì biết rằng sau khi nữ vương Himiko của quốc gia Yamatai chết đi, người ta đã xây một cái gò (tsuka) lớn, đây có thể hiểu là lăng mộ của bà. Dĩ nhiên phải thế thôi vì Himiko là một nữ vương, một người có quyền thế bậc nhất, đã cai trị trên đất nước Yamatai.

Trong bối cảnh thời hiện đại cũng vậy: một môi mộ lớn là tượng trưng cho của cải và thế lực hồi sinh thời của chủ nhân ngôi mộ đó. Kofun (Cổ phần) hay “mộ cổ hình gò” nêu lên trong suốt chương này ám chỉ những ngôi mộ hình gò (phần khâu mộ, funkyuubo) đã được kiến tạo trên khắp các vùng đất Nhật Bản từ cuối thời kỳ Yayoi trở về sau. Quyền lực càng phát triển thì lăng mộ, biểu tượng của quyền lực đó cũng phát triển theo cùng một nhịp. Lăng mộ là dấu tích của sự nghiệp mà người ta muốn để lại vĩnh viễn.

Kofun đã bắt đầu xuất hiện từ hậu bán thế kỷ thứ 3 hay cùng lắm là đầu thế kỷ thứ 4, thực ra cùng theo một lối suy nghĩ như những người kiến tạo ra kim tự tháp ở Ai Cập. Những người sẽ vào nằm trong đó lúc hãy còn sống phải tích cực động viên nhân lực để hoàn thành nó. Kofun có nhiều hình thức khác nhau, hoặc trước vuông sau tròn (tiền phương hậu viên), hoặc trước vuông sau vuông (tiền phương hậu phương). “Trước vuông” có nghĩa là mặt trước của kofun có hình tứ giác, “sau tròn” có nghĩa là mặt sau tròn. Ngoài ra, cách đào kofun là đào từ trên đỉnh xuống để khơi một lỗ lớn gọi là “phòng đá kiểu nhà hố đứng” (tateanashiki sekishitsu). Nơi đây người ta đặt một cỗ áo quan bằng gỗ gọi là bokkan (mộc quan). Cùng với di thể, người ta chôn theo kính đồng và những vật chôn theo (phó táng phẩm) có tính bùa chú (jujutsu). Trên căn phòng đá đó, người ta đậy đá tảng làm trần. Đó là đặc trưng chung của những ngôi kofun được kiến tạo vào thời bấy giờ.

Nói như vậy, không phải chúng không có màu sắc địa phương. Tuy nhiên cách thiết kế những ngôi mộ thời Yayoi thường có nhiều điểm chung như theo đúng một kế hoạch. Việc các kofun thời Yayoi có nhiều điểm chung tự thể nó cũng mang ý nghĩa đặc biệt. Điều đó là những tù trưởng ở các địa phương được mai táng trong những kofun vốn có những chỗ gần gũi với nhau. Chúng ta có thể tưởng được có một sự kết hợp giữa họ với nhau trên một địa bàn rất rộng lớn khi phải đứng ra thống suất mọi người trong việc xây cất kofun. Sau đây là một ví dụ cụ thể:

 

Một trong những kofun xuất hiện sớm nhất là kofun mang tên Hashihaka ở thành phố Sakurai tỉnh Nara. Nó nổi tiếng vì là một kofun thuộc hạng đồ sộ, 276 m chiều dài với dạng trước vuông sau tròn. Trong số những kofun xuất hiện vào thời kỳ này, quả thật là một kofun có qui mô đáng tự hào. Tương truyền người được mai táng ở đây là một vị công chúa có cái tên rất dài, Yamato Totohimomoso Hime no Mikoto. Cùng một thời kỳ và cùng một hình thức, nghĩa là cũng trước vuông sau tròn như thế, có những ngôi mộ khác được xây lên nhưng ở vùng biển nội địa Seto, một nơi xa hơn. Ví dụ như ngôi mộ hạng to nhất ở thành phố Okayama trong tỉnh Okayama có tên Uramachausuyama kofun là một ngôi mộ được kiến tạo theo phương thức này.

Việc xây cất đồng loạt như trên là chứng cứ của sự liên kết giữa các thế lực chính trị vùng Kinki và vùng biển nội địa Seto. Do đó mộ Uramachausuyama mới theo một cung cách xây dựng như mộ Hashihaka. Những người được chôn trong đó cũng phải có mối quan hệ nào đó với nhau. Từ đó, theo qui mô các phần mộ mà xét thì vào thời điểm ấy, những ngôi mộ ở vùng Yamato (Đại Hòa, tức địa phương Nara) và khu vực Kinki có qui mô vượt trội hẳn phần mộ ở những vùng khác. Nó cho ta thấy lúc đó đã có sự hình thành của một thế lực chính trị mạnh mẽ trên vùng đất này. Liên hợp chính trị lấy vùng Yamato làm trung tâm kể từ sau đây sẽ được gọi là chính quyền Yamato.

Hiện tượng xây đắp mộ cổ hình gò (kofun) đến khoảng giữa thế kỷ thứ 4 đã lan ra đến vùng trung bộ địa phương Tôhoku (Đông Bắc), điều giúp ta suy luận rằng tới giai đoạn này thì phần lớn của khu vực Đông Nhật Bản cũng đã được đặt dưới sự chi phối của chính quyền Yamato.

Thời đại đánh dấu bằng sự thiết kế những kofun như thế – từ giữa thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 7- được gọi là Thời đại Kofun. Nếu dựa trên hình dạng các kofun để phân biệt, ta có thể chia nó ra làm 3 giai đoạn:

Tiền kỳ (hậu bán thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 4);

Trung kỳ (cuối thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 5);

Hậu kỳ (hai thế kỷ thứ 6 và thứ 7).

Các kofun như thế có thể gom lại thành từng nhóm theo tiêu chuẩn các đặc trưng có tính chính trị, văn hóa và xã hội của chúng. Tuy kofun nằm rải rác ở khắp nơi nhưng qua hình dạng bên ngoài và các đồ phó táng bên trong, người ta có thể suy diễn được nhiều điều. Chẳng hạn, ở một kofun nào đó, khi người ta bắt gặp nhiều đồ phó táng như giáp trụ, binh khí (vũ cụ) hay dụng cụ đi ngựa (mã cụ) thì có thể suy luận ra kẻ được chôn trong đó lúc sinh tiền phải là một người nắm quyền lực quân đội.

5-2 Đặc trưng của Kofun:

 

Thời đại Kofun như đã nói được chia thành 3 giai đoạn nhỏ: tiền kỳ , trung kỳ và hậu kỳ.Xin giới thiệu về những nét đặc biệt của phần mộ mỗi thời:

Trước tiên, cần nhắc lại rằng các kofun được xây theo nhiều kiểu, hoặc mộ trước vuông sau tròn, mộ trước vuông mà sau cũng vuông, mộ hoàn toàn tròn (enpun = viên phần) và mộ hoàn toàn vuông (hôfun = phương phần). Có số lượng nhiều nhất phải kể đến là mộ hoàn toàn tròn hoặc hoàn toàn vuông nhưng qui mô to tát nhất thì lúc nào cũng là loại mộ có hình dạng trước vuông sau tròn (zenbôkôenkei, tiền phương hậu viên hình). Lô mộ cổ xếp hạng từ 1 đến 44 theo kích thước đều là mộ trước vuông sau tròn. Do đó, hình dạng mộ được xem là quan trọng nhất cũng là loại trước vuông sau tròn này.

Lại nữa, trên gò các mộ cổ (kofun) người ta hay đặt một số đồ vật. Đó là những haniwa[1], một loại đồ đất nung dùng để trang trí phần mộ (và có thể còn nhiều công dụng khác). Vào giai đoạn gọi là tiền kỳ, các haniwa chỉ là những vòng (wa) có hình ống (entô) nên gọi là entô-haniwa. Về sau thì chúng xuất hiện dưới dạng hình tượng (keishô) như cái nhà hay cái thuẫn (tate), nhân vật hay động vật, cho nên mới mang tên là keishô-haniwa. Tại sao lại đặt haniwa làm gì thì đến nay vẫn chưa ai biết rõ. Để giữ đất khỏi sụt chăng? Để thế mạng cho những người sống, vật sống bị bắt giết làm vật phó táng chăng? Giả thuyết có rất nhiều. Hoặc giả, nhân vì chung quanh kofun có rất nhiều hào rãnh để ngăn với thế giới bên ngoài, phải chăng người ta dùng haniwa để đánh dấu , xem khu mộ cổ như một thánh vực, khác với một nơi chốn (ba) thông thường.

Bảng phân chia thời đại Kofun

 

 

Tiền kỳ (thế kỷ 3 hậu bán – 4)

 

 

Trung kỳ (thế kỷ 4-5)

 

 

Hậu kỳ (thế kỷ 6-7)

 

 

Hình dạng

 

 

Gồm tất cả các loại mộ nhưng đặc biệt là loại trước vuông sau tròn

 

 

Trước vuông sau tròn có qui mô rộng lớn hơn (thêm rãnh và gò phụ)

 

 

Trước vuông sau tròn có qui mô nhỏ đi. Con số mộ tròn tăng thêm.

 

 

Cấu tạo nội thất

 

 

Phòng bằng đá trong nhà hố đứng, vách đất sét.

 

 

Phòng bằng đá trong nhà hố đứng với quách đá dùng lâu bền. Từ thế kỷ thứ 5 có hố ngang.

 

 

Phòng bằng đá trong nhà hố ngang. Mộ có tính cách gia tộc (mộ hình cái nhà, quách gốm)

 

 

Đồ phó táng

 

 

Kính đồng, ngọc bích, ngọc trượng. Có tính cách bùa chú và tế lễ. Ngoài ra còn có đồ sắt và nông cụ.

 

 

Mã cụ, giáp trụ, mão miện, đồ trang sức vàng bạc, nhiều đồ sắt (đồ thực dụng do di dân mang từ Triều Tiên và đại lục sang).

 

 

Vũ khí, mã cụ, đồ góm. Nhiều dụng cụ sinh hoạt thường ngày.

 

 

Haniwa

 

 

Hình ống (viên đổng) là chính

 

 

Hình tượng người và động vật, nhà, thuyền.

 

 

Hình tượng

 

 

Địa điểm cụ thể

 

 

Hashihaka (Nara).

 

Uramachausuyama (Okayama)

 

Ishizukayama (Fukuoka)

 

 

Daisenryô (lăng Thiên hoàng Nintoku, Ôsaka), Gondagobyôyama (lăng Thiên hoàng Ôjin)

 

 

Misemaruyama (Nara), Takamatsuzuka (Nẩ Asuka), Takahara (Fukuoka), Iwase Senzuka (Wakayama)

 

Kofun tiền kỳ có nhiều loại từ hình tròn, hình vuông, trước vuông sau tròn. Phạm vi phân bố chính là vùng Kinki, sau đó đến khu vực biển nội địa Seto. Nó cho thấy tính tiên tiến của những địa phương này.

Đồ phó táng của những kẻ được chôn ở đây trước tiên là “kính 3 góc có viền hình thú linh thiêng” (sankakubuchi shinjuukyô) và sau đó là các kính bằng đồng, các báu vật như vòng cổ tay bằng ngọc bích[2], vũ khí và nông cụ chế bằng sắt. Phải nói là phần lớn những vật ấy có sắc thái bùa chú và tôn giáo rất rõ ràng cho nên có thể suy luận chúng đã được sử dụnng trong tế lễ. Ngoài ra, bên trong các phần mộ, người ta thấy người thời ấy đã thiết kế những gian phòng đá kiểu nhà hố đứng, dùng quan quách bằng gỗ (mokkan) hoặc bằng đá (sekikan). Có khi họ dùng đất sét (nendo) để tô lên quan quách, lúc đó gọi là nendokaku hay áo quan bằng đất sét (niêm thổ quách).

Phần mộ tiêu biểu của giai đoạn tiền kỳ này là kofun mang tên Hashihaka (tỉnh Nara), và Uramachausuyama (tỉnh Okayama), ngôi mộ lớn nhất của miền trung đảo Honshuu, cũng như Ishizukayama trên đảo Kyuushuu vv…

 

 

 src=

Lăng Thiên hoàng Nintoku (trước tròn sau vuông) ở thành phố Sakai

Mộ phần của thời trung kỳ hầu như có đặc điểm chung là xây theo kiểu trước tròn sau vuông và rất đồ sộ.Về mặt phân bố thì vào cuối thế kỷ thứ 4 trở về sau, loại kiến trúc đã đã lan ra khắp toàn quốc. Tuy nhiên, nói về kofun có qui mô lớn nhất trên quần đảo phải kể đến Daisenryô kofun nay được gọi là Lăng Thiên hoàng Nintoku, nằm ở Sakai, vùng phụ cận thành phố Ôsaka. Đây là một kofun hình trước vuông sau tròn, chiều dài 486 m, bao bọc bởi 3 vòng rào. Phía bên ngoài còn có xây những baichô (bồi trủng) tức là những ngôi mộ con (trủng) kèm theo (bồi) các kofun cỡ lớn. Nếu kể cả khu vực các baichô này nữa thì khuôn viên tất cả phải lên đến 100 mẫu tây.

Các nhà chuyên môn ngành xây dựng cho rằng, tính theo trình độ của người đương thời thì muốn xây cất ngôi kofun như trên, họ phải cần đến 2.000 nhân công mỗi ngày, kinh phí có thể lên đến hàng chục tỷ tiền đô-la Mỹ thời nay và không những thế, thời gian xây dựng kéo dài đến trên dưới 16 năm trời. .

Ngôi kofun quan trọng thứ hai là Konda Gobyôyama kofun nay được biết dưới tên Lăng Thiên hoàng Ôjin. Thiên hoàng Ôjin cũng là một vị đại vương tượng trưng cho chính quyền Yamato vào thế kỷ thứ 5 cũng như Thiên hoàng Nintoku, cho nên ngôi mộ của ông cũng rất vĩ đại. Trong những vật phó táng tìm thấy ở các ngôi mộ thời trung kỳ này phần lớn là vũ khí , mã cụ và các loại dụng cụ trang bị khi chiến đấu Điều này như đã nói, ám chỉ những người được chôn nơi đây phải là những võ tướng, quân nhân.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy những ngôi mộ to lớn trước vuông sau tròn của thời kofun trung kỳ không chỉ nằm ở vùng chung quanh kinh đô (Kinki) mà thôi Người ta còn tìm thấy chúng ở các địa phương như Kamitsukenu thuộc tỉnh Gunma, Tanba phía bắc Kyôto, Kibi trong tỉnh Okayama và Hyuuga tỉnh Miyazaki. Đặc biệt Tsukuriyama kofun của Okayama, có chiều dài đến 360 m, đứng vào hàng thứ 4 tất cả các kofun trên toàn quốc.

Những sự kiện nói trên cho ta thấy được điều gì? Thực ra, chính quyền Yamato –đặt theo tên khu vực mà nó hoạt động – lấy vùng Nara làm địa bàn hoạt động. Thế nhưng, những ngôi mộ to nhất thời đó, không nằm ở đây. Hai ngôi mộ số 1 và 2 đều được xây dựng ở vùng Kawachi chứ không phải ở Yamato. Chúng ta nhân đó có thể tưởng tượng ra sự hiện hữu của một chính quyền được thành lập ở Kawachi (Hà Nội, phiá đông Ôsaka bây giờ). Thế nhưng, ở những nơi xa xôi khác như các địa phương Kenu và Kibi cũng có cổ phần thì chuyện đó làm sao giải thích đây? Rốt cuộc chỉ có thể nói một cách tổng quát là trước tiên tập đoàn lãnh đạo chính trị ra đời vào thời kỳ kofun xuất hiện vì có trung tâm điểm là khu vực Yamato, nên được gọi là chính quyền Yamato. Đến giai đoạn trung kỳ, trung tâm của chính quyền di chuyển về vùng Kawachi, do đó kofun vùng đó so sánh với các nơi khác vẫn giữ nguyên qui mô to lớn. Nếu các ngôi mộ vùng Kenu và Kibi cũng có qui mô hoành tráng là vì các hào tộc địa phương ở đó đã được xem như đồng đẳng với Yamato và được thừa nhận như một bộ phận của chính quyền.

Vào giai đoạn cuối của Thời Đại Kofun tức là kể từ thứ 7 trở đi, trong cách thức tạo dựng chúng lại có một sự đổi thay lớn. Ở trung tâm khu vực Kinki, người ta vẫn còn xây những ngôi mộ trước vuông sau tròn vĩ đại nhưng ở vùng Kibi (tỉnh Okayama và Hiroshima) – nơi mà vào thế kỷ thứ 5 đã có những ngôi mộ cỡ lớn – không còn thấy bao nhiêu ngôi mộ như thế nữa.

Điều đó có lẽ chứnhg tỏ rằng đã có sự tập hợp của các hào tộc trên một địa vực rộng rãi. Thế lực trung ương do một đại vương nắm vẫn nằm chung quanh khu vực Kinki và các hào tộc chung quanh đều thần phục. Đã thấy có sự biến dạng lớn trong tính chất của chính quyền Yamato.

Vào thời điểm có sự biến dạng lớn của chính quyền Yamato, người ta thấy xuất hiện loại mộ xây thành quần thể (gunshuufun = quần tập phần) trong các vùng núi non thung lũng. Di tích mộ quần thể này được thấy ở di tích Iwase senzuka. Ở giữa rặng núi có lẽ là mộ của một tù trưởng. Mộ ấy trước tròn sau vuông. Trên các đỉnh xung quanh nó, tính ra có khoảng 600 ngôi mộ tròn. Con số 600 này cho ta thấy người ta đã xây kofun cho cả những người thuộc giai cấp cho đến nay không có kofun.Trong các vật dụng dùng để phó táng, thay vì những vật tượng trưng cho quyền hành của tù trưởng, người ta chỉ thấy những vật dụng được sử dụng trong đời sống hàng ngày.

Lại nữa, trong các kofun ra đời vào giai đoạn cuối, ví dụ ở Kyuushuu hay các tỉnh Ibaragi, Fukushima…người ta thấy có những bức tranh màu có đường nét vẽ trên tường. Đó là những kofun thuộc loại được trang trí (sôshoku kofun) . Trong phòng đá đào theo lối hố ngang của người đại lục, còn có đủ chỗ để mai táng một người thứ hai hay thứ 3 (mộ gia đình, kazokubo) nữa. Các tranh trang trí trên tường phòng đá đã được vẽ khá tỉ mỉ.

                   src=

Bích họa trong mộ cổ Takamatsuzuka (Nara)

Vi dụ rõ ràng hơn hết về loại tranh này là kofun mang tên Takamatsuzuka[3] (thuộc tỉnh Nara) và Takahara (Fukushima). Nó cho ta thấy tuy xây dựng theo kế hoạch nhưng kofun cũng có màu sắc cá nhân mạnh mẽ. Việc tạo dựng các kofun từ sau đó sẽ lùi vào quên lãng kể từ khi Phật giáo truyền đến (thế kỷ thứ 6) và khoảng thế kỷ thứ 7 trở đi thì không còn thấy đâu nữa.

5-3 Sinh hoạt của con người Thời đại Kofun:

 

Hãy thử dựa vào những tư liệu và sử liệu có trong tay để tìm hiểu về cách sống của người Thời Kofun.

Có thể nói đây là thời đại có sự khác biệt rõ ràng trong nếp sinh hoạt của các hào tộc (tù trưởng địa phương) và những kẻ bị trị. Trong khi một mặt có những ngôi mộ vĩ đại như thế để chôn cất những nhân vật thuộc giới cai trị thì mặt khác, lại có những người phải chịu cảnh nô lệ.

Hào tộc là trung tâm của tập đoàn, họ sống trong khu gia cư xa hẳn xóm nhà dân, chung quanh co hào và rào bọc kín. Nhà của hào tộc không chỉ là nơi để sinh sống mà còn là nơi tế tự và cai trị, cũng là kho dự trữ các sản vật.Trong khi đó, trong xóm nhà dân, không hề thấy hào rãnh, chỉ là một nhóm đơn vị cư trú kiểu nhà hố hay nhà trên mặt bằng. Họ tụ tập thành đơn vị chung quanh những ngôi nhà sàn dùng như kho lẫm. Trong những ngôi nhà hố vào thế kỷ thứ 5, đã có thấy họ biết đặt bếp (kamado) [4]để nấu nướng.

Riêng về đồ gốm từ giai đoạn đầu cho đến giai đoạn giữa thời kofun thì nó là loại gốm đỏ đun trong truyền thống của thời Yayoi. Nó co tên gọi là “hajiki”. Gốm hajiki được nung một cách thô sơ, có màu đỏ nâu, không hoa văn, dùng để ninh nấu thức ăn và làm dụng cụ chứa đựng khi ăn uống. Lại nữa, từ thế kỷ thứ 5 trở đi, người từ bán đảo Triều Tiên đã truyền đến Nhật kỹ thuật làm sueki, gốm màu xám và nung cứng, được dùng song song với hajiki. (theo F.Macé, gốm hajiki được nung trong những lò với nhiệt độ từ 4.500 đến 7.500 độ C nên còn để lộ những lổ hổng nhỏ trong khi gốm sueki cần đến sức nóng từ 10.000 độ đến 13.000 độ C nên mặt rất láng).

 

     src=

Gốm hajiki (thổ sư khí) gốc bản địa

Thời Yayoi, trong những công trình xây dựng, ngoài kofun, còn có những ao chuôm (ike) mà trong một thời gian dài, người ta nghĩ rằng do ảnh hưởng đến từ bán đảo Triều Tiên vì có tên gọi là “ao Kudara” (Kudara no ike). Lạ lùng là những cái ao nhân tạo này được thấy ở Nhật nhiều hơn ở Triều Tiên. Ao chuôm chỉ phát triển ở Triều Tiên vào thế kỷ thứ 6, lúc mà ở Nhật, nó đã phổ biến rồi. Nó đóng góp không nhỏ vào việc canh tác ruộng nước, một lãnh vực mà Nhật Bản có vẻ tiến xa hơn Triều Tiên. Không nên quên rằng, việc đào ao nhân tạo cũng như đào hào rãnh hay đắp đê điều… đều có tác dụng lên việc tổ chức xã hội vì đó là dịp để huy động lao động.

Ngoài ra, các tượng hình nhân haniwa tìm được ở các khu mộ cổ cho ta thấy một cách linh động cuộc sống của người Thời Kofun. Về trang phục đàn ông mặc áo (koromo) và hakama, một kiểu quần giống như quần đi ngựa. Đàn bà thì mặc áo và váy (mo), hai phần trên dưới phân biệt với nhau.

 

Mặt khác, đời sống tinh thần của người Thời Kofun không khác gì hồi Thời Yayoi nghĩa là họ đặt trọng tâm vào những tế lễ liên quan đến việc đồng áng hơn nhiều. Trong đó phải kể đến toshigoi no matsuri, một buổi lễ vào mùa xuân để cầu cho mùa màng được tốt và ni iname no matsuri vào mùa thu để cảm tạ sự thu hoạch hoa màu. Người thời Kofun lại nghĩ rằng những ngọn núi mỏm hình viên chùy, cây cao, ghềnh đá lớn, đảo hoang ngoài biển tít mù, vực sông sâu… đều là nơi có thần ngự nên xem chúng là đối tượng của việc cúng tế. Ngày nay hãy còn những ngôi đền thần mang dấu vết của mối liên hệ ấy.

Trong số những ngôi đền có từ xưa, đáng được nhắc đến có lẽ là đền Ômiwa ở Nara. Đền ấy chỉ có bái điện chứ không có chính điện vì ngọn núi Miwa tự nó đã đóng vai trò cái đền (thần thể) rồi. Biển Genkai ngoài khơi tỉnh Fukuoka nhiều sóng gió có hòn đảo Okinoshima đơn độc. Hòn đảo này cũng được xem như một vị thần và được cúng tế ở cung Okitsumiya đền thần Munakata Taisha của tỉnh ấy. Trong đó còn có nhiều di vật cho thấy từ đời Kofun đã có tập tục cúng tế nó và từ đó người ta vẫn giữ. Thêm vào đó, còn phải kể đến Thần cung Ise (Ise Jinguu) thờ tổ thần của các thiên hoàng là nữ thần Amaterasu no Ômikami (Thiên Chiếu Đại Thần), người còn được gọi là Thái dương thần nữ, thần xã Izumo (Izumo Taisha) thuộc tỉnh Shimane nơi thờ Ôkuni Nushinokami, đền Sumiyoshi ở Ôsaka thờ thần biển vv…. Đó là những đền thần có liên hệ với tín ngưỡng đời xưa mà chúng ta cần nhớ đến tên.

Không những thế, việc thờ các vị tổ thần các dòng họ (ujigami) cũng là một nét đặc sắc của thời kỳ này. Người Thời Kofun cũng tổ chức các buổi lễ tẩy uế (misogi và harae) để được thanh sạch và giải trừ tai ách. Họ hãy còn giữ những tập tục mê tín như đốt cháy xương hươu nai để bói hung kiết (futomata no hô), dội nước nóng lên tay can phạm trong những buổi xử kiện để xem người ấy ngay hay oan trước thần minh (myôjin tantô, kukatachi).

 


[1] Hani là một loại đất màu đỉ gạch (đất sét), rất dính chặt, ngày xưa dùng để chế các loại đồ gốm.
[2] Trong các vật phó táng, còn có thể có những magatama (ngọc cong, curved jewels). Khác với magatama thời thạch khí vốn làm bằng đá hay xương, thời này, đó mà những viên ngọc đẽo rất công phu theo hình răng thú, có lẽ được đem dùng như bùa chú.

Sơ Lược về Lịch sử Nhật Bản các thời kỳ

 

Lịch sử Nhật Bản Prehistoric Japan- Lịch sử Nhật Bản thời sơ khai
Trong thời kỳ Jomon, bắt đầu từ khoảng 10.000 năm trước Công nguyên, phương thức sống của người dân Nhật Bản là bắt cá, săn bắn và hái lượm.Tên Jomon được đặt cho mốc thời gian này là do tìm thấy trên di tích đồ gốm. Trong thời kỳ Yayoi, bắt đầu từ khoảng 300 năm trướcCông nguyên, người dân Nhật Bản lúc này có thêm nghề trồng lúa được du nhập từ bán đảo Triều Tiên. Một số thông tin của Nhật Bản được lưu giữ trong một tài liệu lịch sửTrung Quốc thế kỷ thứ ba sau công nguyên mô tả một nữ hoàng tên là Himiko cầm quyền trên một quốc gia được gọi là Yamatai.

Kofun Period (ca. AD 300-710)- Thời kỳ Kofun(ca.AD300-710- Năm thứ 300- 700 sau công nguyên)
Trong thế kỷ thứ tư sau Công nguyên, tổ tiên của gia đình hoàng gia hiện nay đã thiết lập nhà nước thống nhất đầu tiên của Nhật Bản theo những gì được gọi là tòa án Yamato. Trong thời gian này, người dân đã sản xuất vũ khí, và các công cụ nông nghiệp mà họ học hỏi từ Trung Quốc và Hàn Quốc. Tên đất nước được đặt theo tên các ngôi mộ rất lớn mounded(kofun) được xây dựng cho các tầng lớp chính trị. Những ngôi mộ thường được bao quanh với các xi-lanh đất sétNara Period (710-794) Thời kì Nara

Chính phủ Man’yoshu trung ương ra đời với “tài sản” là thành phố Nara. Hệ thống Ritsuryo gồm quyền lực và các bộ luật dập khuôn theo Trung Quốc. Phật giáo trở thành tôn giáo quốc gia, kiến trúc và nghệ thuật Phật giáo phát triển mạnh mẽ. Đền thờ tỉnh gọi là kokubunji đã được xây dựng trên khắp Nhật Bản. Cũng trong giai đoạn này, Đức Phật chùa Todaiji ở Nara được xây dựng. Lịch sử của Nhật Bản, chẳng hạn như Kojiki và Nihon Shoki được biên soạn, ngoài ra còn có một bộ sưu tập thơ ca nổi tiếng mang tên Man’yoshu.

Heian Period (794-1185)- Thời kì Heian

Nara bây giờ không còn là thành phố chính nữa thay vào đó là Kyoto. Quyền kiểm soát của chính phủ trên danh nghĩa của hoàng đế nằm trong tay một số gia đình quý tộc,đặc biệt là gia đình Fujiwara. Các sắc thái văn hóa Trung Quốc cũng như đặc điểm chính trị thời Nara dần được thay thế bởi những đặc điểm gần gũi với lối sống thực của người dân. Về mặt kiến trúc, các cung điện của hoàng đế và nhà ở của các gia đình quý tộc xây dựng kết hợp với những khu vườn xinh đẹp, các tòa nhà theo phong cách kiến trúc shinden-zukuri.  Các kiệt tác văn học như Murasaki Shikibu The Taleof Genji và Sách Gối Sei Shonagon cũng được viết trong thời gian này..

Kamakura Period (1185-1333)

Gia đình chiến binh Tair thống trị triều đình ở cuối thời kỳ Heian đã bị lật đổ bởi các gia đình Minamoto. Minamoto no Yoritomo đã được tòa án trao danh hiệu shogun, và ông thành lập một chính phủ quân sự theo phong cách ở Kamakura-Kamakura Mạc phủ-mở ra một giai đoạn mà các quy tắc dành cho tầng lớp chiến binh. Trong nghệ thuật, một phong cách mạnh mẽ, thực tế phát triển nở rộ hợp với tinh thần chiến binh. Unkei vẽ các bức tượng của vị thần giám hộ khốc liệt và nhà điêu khắc khác tại cổng Great Southern của Todaiji Temple là ví dụ về phong cách mạnh mẽ, thực tế này. Trong văn học,thời kỳ này được ghi nhận cho những câu chuyện về chiến binh như: Tale of Heike một tổ chức khai thác của các chiến binh.

Muromachi Period (1333-1568)

Sự bắt đầu của thời kỳ này được đánh dấu  bởi một bế tắc chính trị giữa Hoàng đế Go-Daigo-người đã một thời gian ngắn khôi phục quyền kiểm soát của chính phủ triều đình, và cận thần của ông tên là Ashikaga Takauji – người đã lật đổ các Kamakura Mạc phủ nhưng sau đó đã đi vào để thiết lập Mạc phủ Muromachi. Trong thời gian Mạc phủ suy yếu,mất kiểm soát tập trung của mình đối với các lãnh chúa địa phương, các thời gian sau của giai đoạn này được gọi là thời kỳ Sengoku-thời kì của “trạng thái chiến tranh.”Tầng lớp thương gia và nông dân cải thiện hoàn cảnh của họ cùng với những hình thái bình dân hơn của nền văn hóa bắt đầu xuất hiện. Điển hình cho hình thái nghệ thuật này là sự phát triển của những bức họa theo phong cách Trung Quốc. Trong sân khấu bước ngoặt là sự xuất hiện vở kịch Nohkyogen. Đây cũng là thời kỳ sinh ra của văn hóa trà đạo và cắm hoa. Trong kiến trúc, phát triển quan trọng là phong cách shoin-zukuri với phòng thanh lịch tatami có một góc tường để treo tranh.

Azuchi-Momoyama Period (1568-1600)

Oda Nobunaga và Toyotomi Hideyoshi ( lãnh chúa quan trọng nhất vùng Sengoku ) thống nhất quốc gia này tương ứng với việc cai trị một thời gian ngắn. Trong nghệ thuật, người Châu Âu đã bắt đầu thăm Nhật Bản hồi đầu thế kỷ và đến thời kì này sự người Châu Âu đến với Nhật Bản ngày càng nhiều hơn. Nhật Bản là nơi ảnh hưởng của Phật giáo thời kỳ trước đó, nhưng đến thời kì này các lãnh chúa và các tầng lớp thương gia mới nổi trong thị trấn đã phát triển một phong cách trang trí xa hoa công phu. Đỉnh điểm là tòa lâu đài Azuchi của Nobunaga, Hideyoshi của Momoyama và lâu đài Osaka. Tại thời điểm này, nghệ thuật Trà đạo được trà sư Sen no Rikyu phát triển dưới hình thức các lễ trà cùng với những chuẩn mực trà đạo kèm theo.

Edo Period (1600-1868)

Tokugawa Ieyasu giành quyền kiểm soát Nhật Bản sau khi đánh bại các chư hầu khác của người quá cố Toyotomi Hideyoshi trong trận Sekigahara, từ đây thành lập Mạc phủ Tokugawa ở Edo (Tokyo ngày nay). Các tướng quân Tokugawa cai trị Nhật Bản trong hơn 260 năm, và trong đó có tới 200 năm đất nước hầu như đóng cửa không quan hệ với nước ngoài bởi chính sách quốc gia ẩn dật của Mạc phủ. Từ cuối thế kỷ 17 qua đầu thế kỷ 18, một những người dân trong các thành phố cổ Kyoto và Osaka phát triển một nền văn hóa mới đầy màu sắc mang tên down-to-earth. Ihara Saikaku sáng tác ukiyo-zoshi (sách “thế giới nổi” ), Chikamatsu Monzaemon miêu tả mối quan hệ giữa nam giới và bi kịch phụ nữ trong các vở kịch rối của mình, và Matsuo Basho đưa ra hình thức thơ haiku trong câu truyện tranh đạt đến mức độ nghệ thuật văn học. Thời đại Bunka Bunsei, vào đầu thế kỷ 19, dưới hình thức văn hóa của lớp thương gia mới phát triển tại thủ đô Shogun Edo. Kịch Kabuki đạt đến mức độ hoàng kim cũng ở trong thời kì này. Ngành công nghiệp in ấn phát triển nghệ thuật in khắc gỗ (ukiyoe) được sinh ra, điển hình là Sharaku với bức chân dung của các diễn viên, Utamaro với hình ảnh của phụ nữ xinh đẹp, và Hokusai và Hiroshige với cảnh quan.

Meiji Period (1868-1912)

Thời kì Minh Trị Duy Tân ra đời khôi phục quyền lợi chính trị từ Mạc phủ triều đình, mở ra một thời kỳ cải cách sâu rộng. Chính sách bế quan tỏa cảng quốc gia đã được hủy bỏ, và nền văn hóa văn minh của phương Tây bắt đầu xâm nhập rộng rãi mọi khía cạnh của đời sống Nhật Bản. Nhật Bản chiến thắng trong cuộc chiến tranh Trung – Nhật Bản và Nga – Nhật Bản cho phép Nhật Bản có mong muốn thiết lập quyền lực của thế giới hiện đại chủ nghĩa đế quốc. Văn học Nhật Bản hiện đại được sinh ra với việc xuất bản cuốn tiểu thuyết của Futabatei Shimei Ukigumo, lần đầu tiên văn học được viết bằng ngôn ngữ thông dụng hiện đại. Một phiên bản tiếng Nhật của chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện sớm, các nhà văn học đặt nền móng nỗ lực đầu tiên cho những trang viết phát triển theo đúng cảm xúc tự nhiên-cảm xúc thật của người dân Nhật Bản.

Taisho Period (1912-1926)

Tầng lớp trung lưu trí thức say sưa dịch các sách phương Tây mới nhất và mang đến cho khán giả những tư tưởng mới trong văn học, kịch, âm nhạc và hội họa. Đỉnh điểm là sự phat triển rầm rộ của các phương tiện thông tin đại chúng như các báo lớn, tạp chí hàng tháng ví dụ như Chuokoron (Tạp chí Trung ương), Kaizo, ngoài ra đài radio làm cho đời sống văn hóa của người dân thêm phong phú. Sự phát triển đáng kể trong văn học là sự xuất hiện của các trường Shirakaba bao gồm Mushanokoji Saneatsu và Shiga Naoya họ mang về cho văn học Nhật Bản những tư tưởng tiến bộ song hành cùng tính nhân văn.Tranh ảnh được vẽ theo phong cách phương Tây, Yasui Sotaro và Ryuzaburo Umehara trở về từ Paris để thúc đẩy các phong cách của Cezanne và Renoir. Họa sĩ mang phong cách Nhật Bản như Yokoyama Taikan và Hishida Shunso cũng bị ảnh hưởng tuy không rõ nét.

Showa Period (1926-1989) Heisei Period (1989 to present)

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1927 xảy ra do hậu quả của trận động đất kinh hoàng Kanto năm 1923 đã tàn phá khu vực Tokyo và dẫn đến một thời gian dài suy thoái kinh tế. Vào thời điểm này, sức mạnh của quân đội tăng lên,và cuối cùng giành quyền kiểm soát chính phủ.Sự cố Mãn Châu năm 1931 đưa đến một loạt các sự kiện đỉnh điểm ở Nhật Bản vào chiến tranh thế giới thứ II. Nhật Bản thất bại trong cuộc chiến này và Hoàng đế Showa chấp nhận các điều khoản trong bản tuyên bố Potsdam. Nhật Bản nhanh chóng phục hồi kì diệu từ tro tàn thất bại, để từ đây đất nước Nhật Bản vinh danh trong top những quốc gia dân chủ đứng đầu thế giới.

Leave your Comment