Lạm phát là gì 122

Tính “hai mặt” của lạm phát thấp

 

Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) – Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội tại Báo cáo vĩ mô quý IV/2014, giá cả đã thay đổi chậm nhất kể từ năm 2000.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trung bình năm 2014 tăng 4,09%, bằng một nửa tỉ lệ tăng trung bình 10 năm gần đây. Tỉ lệ lạm phát giá giảm từ 5,45% vào tháng 1 xuống 1,84% vào tháng 12.

Đóng góp chủ yếu vào lạm phát thấp là sự suy giảm kéo dài của lạm phát lõi (các hàng hoá không bao gồm lương thực, thực phẩm, và xăng dầu). Kể từ 2012, lạm phát lõi hàng năm giảm một nửa, tới cuối 2014 chỉ còn 3,2%. Nhóm hàng hoá thuộc nhóm lương thực, thực phẩm, và xăng dầu đã ngả sang xu hướng giảm trong nửa sau 2014 theo xu hướng giảm toàn cầu.

Nhu cầu tiêu thụ toàn cầu thấp trong khi nguồn cung lớn và kém nhạy với giá góp phần giải thích xu hướng giảm giá hàng hoá cơ bản. Giá cả giao ngay và các hợp đồng tương lai phản ánh kỳ vọng và nhận định kém tích cực về kinh tế toàn cầu. Chỉ số giá lương thực và thực phẩm thế giới giảm tháng thứ 16 liên tiếp; chỉ số này trong tháng 10/2014 giảm gần 7% so với năm ngoái. Giá dầu thô thế giới cũng đã giảm 25% kể từ tháng 9/2014.

Theo VEPR, lạm phát giảm thấp có thể gây ảnh hưởng đối nghịch. Một mặt lạm phát thấp làm tăng thu nhập thực tế và thúc đẩy tiêu dùng, giảm chi phí và thúc đẩy sản xuất của doanh nghiệp. Ảnh hưởng này còn được hỗ trợ bởi xu hướng giảm của lãi suất.

Mặt khác, kỳ vọng lạm phát thấp, thậm chí là âm, có thể tiếp thêm kỳ vọng giá cả sẽ còn giảm và người tiêu dùng sẽ hạn chế chi tiêu hiện tại, nhất là cho hàng hoá lâu bền. Một cơ chế khác là lãi suất thực tế tăng lên cũng trì hoãn tiêu dùng và tăng cường tiết kiệm tư nhân.

Với doanh nghiệp, lạm phát thấp cũng có thể hạn chế mức độ gia tăng đầu tư do giảm doanh thu, tăng lãi suất thực và gánh nặng nợ thực. Doanh nghiệp khó khăn tìm nguồn thu để trả nợ nên sẽ hạn chế đầu tư và vay mượn.

Dự báo lạm phát sẽ tăng mạnh trong 2015

Cũng tại báo cáo này, VEPR cho rằng, chi tiêu cho tiêu dùng sẽ củng cố xu hướng đi lên trong năm 2015 khi những cải thiện trong việc làm và thu nhập đang trở nên rõ ràng hơn.

Theo đó, tầng lớp trung lưu đang lớn dần và dân số trẻ vẫn là các yếu tố hỗ trợ chính cho xu hướng tăng trưởng của tiêu dùng trong trung hạn.

Sự mở cửa thị trường bán lẻ trong nước là một cú sốc tích cực từ phía cung; tuy nhiên, vị thế của hàng hoá sản xuất trong nước tại những cơ sở có đầu tư nước ngoài còn là một ẩn số.

Theo VEPR, tỉ lệ lạm phát cuối năm 2015 dự báo đạt 4,09%, cao hơn mức 1,84% vào tháng 12 năm 2014. Nền lạm phát thấp cho phép Chính phủ thực hiện điều chỉnh giá các dịch vụ công ích, trong đó giá điện dự tính sẽ tăng tới gần 10% trong năm 2015, nhiều khả năng chia làm 2 lần với mỗi bước 5%.

Nhóm nghiên cứu cũng nhận định, giá điện tăng sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất song sẽ lan toả tương đối hạn chế đến giá cả tiêu dùng. Nếu giá dầu tiếp tục giảm sâu – mà khả năng tương đối thấp, các cân đối vĩ mô sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, do đó tăng trưởng có thể mất ròng 1-1,5 điểm phần trăm, trong khi lạm phát mất 4-6 điểm phần trăm.

Trong trường hợp chính sách tiền tệ nới lỏng kết hợp với sự phản ứng nhạy hơn của tiêu dùng và đầu tư với lãi suất thấp, tăng trưởng có thể tăng thêm 0,1 đến 0,2 điểm phần trăm trong khi tỉ lệ lạm phát vẫn nằm dưới tỉ lệ mục tiêu 5%.

Cán cân ngân sách có thể chịu thâm hụt cao hơn trong năm 2015 do có độ trễ trong phản ứng của chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư với lạm phát thấp. Do những yếu tố tác động tích cực từ việc giá dầu giảm sẽ chỉ thấy rõ hơn trong trung hạn, hậu quả tiềm tàng là chính phủ có thể sẽ bị hấp dẫn trước lựa chọn tăng thuế suất hoặc tạo lạm phát (thông qua nới lỏng tiền tệ hoặc tăng giá dịch vụ công) để bù đắp hụt thu nếu chi ngân sách không được tiết chế – một quyết định thiếu khôn ngoan. Ảnh hưởng tiêu cực do tăng thuế hay tạo ra lạm phát có thể tạo ra kỳ vọng tiêu cực về tương lai và làm chậm khả năng phục hồi kinh tế.

Cũng theo VEPR, tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2015 dự báo sơ bộ khoảng 6,2% theo kịch bản cơ sở mà trong đó các xu hướng lớn của quá khứ không thay đổi. Tỉ lệ này cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với tăng trưởng ước tính năm 2014.

Bích Diệp

Bàn bạc lạm phát tiền tệ và nguyên nhân gây ra lạm phát là gì ?

 

 1. Chúng ta hiểu lạm phát tiền tệ như thế nào ?

Lạm phát là sự tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ. Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác. Phạm vi ảnh hưởng là một vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự “ổn định giá cả”.

Lạm phát có 3 mức độ:

  • Lạm phát tự nhiên: 0 – dưới 10%
  • Lạm phát phi mã: 10% đến dưới 1000%
  • Siêu lạm phát: trên 1000%

Các bài có thể xem thêm:

+ Đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng bán lẻ

+ Kinh nghiệm phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của một số ngân hàng nước ngoài

+ Vai trò và chức năng của Ngân hàng Bán lẻ

+ Khái niệm về dịch vụ Ngân hàng Bán lẻ

+ Các mục tiêu của chính sách tiền tệ là gì để giúp tăng trưởng kinh tế

2. Nguyên nhân gây ra lạm phát là gì?

Lạm phát do cầu kéo

Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung – cầu. Nguyên nhân chính là do tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng không kịp.

Việc tăng cung ứng tiền tệ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tăng cầu về hàng hoá và dịch vụ. Nhưng đây không phải là nguyên nhân duy nhất làm tăng cầu. Áp lực lạm phát sẽ tăng sau từ 1 đến 3 năm, nếu cầu về hàng hoá vượt quá mức cung, song sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sử dung máy móc với công suất giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp ứng được sự ra tăng của cầu. Sự mất cân đối sẽ được giá cả lấp đầy từ đó mà lạm phát do cầu tăng lên (lạm phát do cầu kém xuất hiện. Chẳng hạn như ở Mỹ, sử dụng công suất máy móc là một chỉ số có ích phản ánh lạm phát trong tương lai ở Mỹ, sử dụng công suất máy móc trên 83% dẫn tới lạm phát tăng

Lúc đầu nền kinh tế đạt ở mức cân bằng tại điểm 1 .Khi các nhà hoạch định chính sách muốn có một tỷ lệ thất nghiệp dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên , họ sẽ đưa ra những biện pháp nhằm đạt được chỉ tiêu sản lượng lớn hơn mức sản lượng tiềm năng (Yt > Yn).Từ đó sẽ làm tăng tổng cầu và đường tổng cầu sẽ dịch chuyển đến AD2 nền kinh tế chuyển đến điểm 1’ .Lúc này sản lượng đã đạt tới mức Yt lớn hơn sản lượng tiềm năng và mục tiêu của các nhà hoạch định chính sách đã thực hiện được .

Tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp thực tế thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nên tiền lương tăng và đường tổng cung sẽ di chuyển đến AS2 ,đưa nền kinh tế từ điểm 1’ sang 2’ .Nền kinh tế quay trở về mức sản lượng tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nhưng ở một mức giá cả P2 > P1 .Lúc này tỷ lệ thất nghiệp lại cao hơn mục tiêu ban đầu .Do đó các nhà hoạch định chính sách lại tìm cách làm tăng tổng cầu .Quá trình này cứ tiếp diễn và đẩy giá cả trong nền kinh tế lên cao hơn .

Lạm phát do chi phí đẩy

Hình thức của lạm phát do chi phí đẩy phat sinh từ phía cung ,do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng .Điều này chỉ có thể đạt trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵn sàng trả với giá cao hơn .Ví dụ : Nếu tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và dịch vụ và nếu tiền lương tăng nhanh hơn năng xuất lao động thì tổng chi phí sản xuất sẽ tăng lên .Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng thì giá bán sẽ tăng lên ,công nhân và các công đoàn sẽ yêu cầu tiền lương cao hơn trước đẻ phù hợp với chi phí sinh hoạt taưng lên điều đó tạo vòng xoáy lượng giá .

Một yếu tố chi phí khác là giá cả nguyên nhiên vật liệu tăng do tỷ giá tăng hợac khả năng khả thác hạn chế.Một ví dụ điển hình cho thấy giá cả nguyên nhiên vật liệu là giá dầu thô tăng .Trong năm 1972-1974 hầu như giá dầu quốc tế tăng 5 lần dẫn đến lạm phát tăng từ 4,6% đến 13,5% bình quân trên qoàn thế giới .Ngoài ra sự suy sụp của giá dầu (1980) làm cho lạm phát giảm xuống mức thấp chưa từng thấy .

Bên cạnh đó giá cả nhập khẩu cao hơn được chuyển cho người tiêu dùng nội địa cũng là một yếu tố gaay lên lạm phát .Nhập khẩu càng trở lên đắt đỏ khi đồng nội tệ yếu đi hợac mất giá so với đồng tiền khác

Lạm phát do cung tiền tệ tăng cao và liên tục

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học thuộc phía tiền tệ ,khi cung tiền tệ tăng lên kéo dài làm cho mức giá tăng lên kéo dài và gây ra lạm phát .Có thể thấy ngưỡng tăng cung tiền để gây lạm phát là nền kinh tế toàn dụng .Khi nền kinh tế chưa toàn dụng thì nguồn nguyên nhiên vật liệu còn nhiều ,chưa khai thác nhiều .Có nhiều nhà máy xí nghiệp bị đóng cửa chưa đi vào hoạt động .Do đó nhân viên nhàn rỗi lớn và tỷ lệ thất nghiệp cao … Trong trường hợp này ,khi tăng cung tiền thì dẫn đến lãi xuất giảm đến một mức độ nào đó ,các nhà đầu tư thấy rằng có thể có lãi và đầu tư tăng nhiều.từ đó các nhà máy ,xí nghiệp mở cửa để sản xuất ,kinh doanh .Lúc này nguyên nhiên vật liệu bắt đầu được khai thác ,người lao động có việc làm và sản lượng tăng lên .

Ở nền kinh tế toàn dụng ,các nhà máy ,xí nghiệp được hoạt động hết công suất ,nguồn nguyên nhiên vật liệu được khai thác tối đa .Khi đó lực lượng lao động được sử dụng một cách triệt để và làm sản lượng tăng lên rất nhiều.Tuy nhiên tình hình sẽ dẫn đến một vài kênh tắc nghẽn trong lưu thông .Chẳng hạn khi các nhà máy ,xí nghiệp hoạt động hết công suất sẽ dẫn đến thiếu năng lượng ,thiếu lao động ,nguyên vật liệu dần bị han hiếm …Vai trò của chính phủ và các nhà quản lý phải xác định được kênh lưu thông nào bị tắc nghẽn và tìm cách khơi thông nó .Nếu không sẽ gây ra lạm phát.Lúc đó sản lượng không tăng mà giá cả tăng nhiều thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra .

Trong việc chống lạm phát các Ngân hàng trung ương luôn giảm sút việc cung tiền .

Trường hợp tăng cung tiền có thể đạt được bằng hai cách :

  • Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi xuất thấp và điều kiện kinh doanh tốt ) hợac các ngân hàng thương mại có thẻ tăng tín dụng .Trong cả hai trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chi phí .Về mặt trung và dài hạn ,điều đó dẫn đến cầu và hàng hoá và dịch vụ tăng .Nếu cung không tăng tương ứng với cầu thì việc dư cầu sẽ được bù đắp bằng việc tăng giá.Tuy nhiên giá cả sẽ không tăng ngay nhưng nó sẽ tăng sau đó 2-3 năm .In tiền để trợ cấp cho chi tiêu công cộng sẽ dẫn đến lạm phát nghiêm trọng .Ví dụ năm 1966-1967 ,chính phủ Mỹ đã sử dụng việc tăng tiền để trả cho những chi phí leo thang của cuộc chiến tranh taị Việt Nam ,lạm phát tăng từ 3%(năm 1967) đến 6% (năm 1970).
  • Xét trong dài hạn lãi xuất thực tế (i) và sản lượng thực tế (Y) đạt mức cân bằng ,nghĩa là (i) và (Y) ổn định .Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P cũng không đổi .Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ tăng lên với tỷ lệ tương ứng .Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ .Đây cũng chính là lý do tại sao Ngân hàng Trung ương rất chú trọng đến nguyên nhân này.

3. Ảnh hưởng của lạm phát và hậu quả

Một câu chuyện vui này có thể cho bạn thấy được ảnh hưởng và hậu quả của lạm phát thế nào. Chuyện xảy ra tại Đông Âu thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Một công chức vừa lãnh tiền lương và nhét đầy vào cái va li anh mang theo từ nhà. Anh ta ghé vào một toilet công cộng và để va li tiền dưới chân. Một tên trộm đã cướp được chiếc va li của anh và âm thầm ra ngoài. Một lát sau, anh ta phát hiện ra và chạy ra ngoài tìm tên trộm. Vừa bước ra anh thấy một nùi tiền lương anh lãnh tên cướp bỏ lại, còn cái va li đã biến mất không hẹn ngày gặp lại. Bạn có hiểu được ý nghĩa câu chuyện?

Còn muốn biết sự khốn khổ và hậu quả của lạm phát lên đời sống, bạn cũng có thể hỏi những ai từng sống qua thời bao cấp. Chắc chắn bạn sẽ khó hình dung ra nổi có một thời chúng ta đã từng như thế. 8X có thể còn chút kỷ niệm, 9X và 10X chắc chưa bao giờ chứng kiến.

Còn một hậu quả mà ít ai biết là khi gửi tiết kiệm, tỷ lệ lạm phát vượt cao hơn cả lãi tiết kiệm thì bạn hãy tự biết rằng. Một năm đã qua và tài sản của bạn mất đi bằng công thức:

Lãi thực = Lãi tiết kiệm – Lạm phát

Nếu bạn đang gặp khó khăn hay vướng mắc về viết luận văn, khóa luận hay bạn không có thời gian để làm luận văn vì phải vừa học vừa làm? Kỹ năng viết cũng như trình bày quá lủng củng?… Vì vậy bạn rất cần sự trợ giúp của dịch vụ viết thuê luận án tiến sĩ.

Hãy gọi ngay tới tổng đài tư vấn luận văn 1080 – 096.999.1080 nhận viết luận văn theo yêu cầu, đảm bảo chuẩn giá, chuẩn thời gian và chuẩn chất lượng, giúp bạn đạt được điểm cao với thời gian tối ưu nhất mà vẫn làm được những việc quan trọng của bạn.

Bạn đã hiểu rõ thế nào là “Nợ công”?

 

 src=

Trong quá trình quản lý xã hội và nền kinh tế, trong từng giai đoạn nhất định, Nhà nước có lúc cần huy động nguồn lực nhiều hơn từ trong và ngoài nước. Nói cách khác, khi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được các nhu cầu chi tiêu, Nhà nước phải quyết định vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó, thường được gọi là nợ công.

Khái niệm nợ công: Khái niệm nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp. Tuy nhiên, hầu hết những cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó. Chính vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ. Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia.

Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân). Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia mà thôi.

Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới, nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ của bốn nhóm chủ thể bao gồm:

(1) nợ của Chính phủ trung ương và các Bộ, ban, ngành trung ương;

(2) nợ của các cấp chính quyền địa phương;

(3) nợ của Ngân hàng trung ương;

và (4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc việc quyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ.

Cách định nghĩa này cũng tương tự như quan niệm của Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD). Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nợ công được hiểu bao gồm ba nhóm là nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật.

Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh. Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là UBND cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành. Như vậy, khái niệm về nợ công theo quy định của pháp luật Việt Nam được đánh giá là hẹp hơn so với thông lệ quốc tế. Nhận định này cũng được nhiều chuyên gia uy tín trong lĩnh vực chính sách công thừa nhận. Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về nợ công, nhưng về cơ bản, nợ công có những đặc trưng sau đây:

– Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước. Khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy. Trách nhiệm trả nợ của Nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trực tiếp và gián tiếp.

Trực tiếp được hiểu là cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ là người vay và do đó, cơ quan nhà nước ấy sẽ chịu trách nhiệm trả nợ khoản vay (ví dụ: Chính phủ Việt Nam hoặc chính quyền địa phương). Gián tiếp là trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh để một chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay không trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh (ví dụ: Chính phủ bảo lãnh để Ngân hàng Phát triển Việt Nam vay vốn nước ngoài).

– Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục đích: một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơn nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia; hai là, để đạt được những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn. Bên cạnh đó, việc quản lý nợ công một cách chặt chẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị và xã hội. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nguyên tắc quản lý nợ công là Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện nợ công từ việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ để đảm bảo hai mục tiêu cơ bản như đã nêu trên.

– Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích chung. Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn những lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của đất nước. Xuất phát từ bản chất của Nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xã hội, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân nên đương nhiên các khoản nợ công được quyết định phải dựa trên lợi ích của nhân dân, mà cụ thể là để phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất.

Bản chất kinh tế của nợ công: Nghiên cứu làm rõ bản chất kinh tế của nợ công và quan điểm của kinh tế học về nợ công sẽ giúp các nhà làm luật xây dựng các quy định pháp luật phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội nhằm đạt được hiệu quả trong sử dụng nợ công ở Việt Nam. Xét về bản chất kinh tế, khi Nhà nước mong muốn hoặc bắt buộc phải chi tiêu vượt quá khả năng thu của mình (khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác) thì phải vay vốn và điều đó làm phát sinh nợ công. Như vậy, nợ công là hệ quả của việc Nhà nước tiến hành vay vốn và Nhà nước phải có trách nhiệm hoàn trả. Do đó, nghiên cứu về nợ công phải bắt nguồn từ quan niệm về việc Nhà nước đi vay là như thế nào.

Trong lĩnh vực tài chính công, một nguyên tắc quan trọng của ngân sách nhà nước được các nhà kinh tế học cổ điển hết sức coi trọng và hiện nay vẫn được ghi nhận trong pháp luật ở hầu hết các quốc gia, đó là nguyên tắc ngân sách thăng bằng. Theo nghĩa cổ điển, ngân sách thăng bằng được hiểu là một ngân sách mà ở đó, số chi bằng với số thu. Về ý nghĩa kinh tế, điều này giúp Nhà nước tiết kiệm chi tiêu hoang phí, còn về ý nghĩa chính trị, nguyên tắc này sẽ giúp hạn chế tình trạng Chính phủ lạm thu thông qua việc quyết định các khoản thuế.

Các nhà kinh tế học cổ điển như A.Smith, D.Ricardo, J.B.Say là những người khởi xướng và ủng hộ triệt để nguyên tắc này trong quản lý tài chính công. Và chính vì thế, các nhà kinh tế học cổ điển không đồng tình với việc Nhà nước có thể vay nợ để chi tiêu.

Ngược lại với các nhà kinh tế học cổ điển, một nhà kinh tế học được đánh giá là có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất ở nửa đầu thế kỷ XX là John M.Keynes (1883-1946) và những người ủng hộ mình (gọi là trường phái Keynes) lại cho rằng, trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến việc đầu tư của tư nhân giảm thấp, thì Nhà nước cần ổn định đầu tư bằng cách vay tiền (tức là cố ý tạo ra thâm hụt ngân sách) và tham gia vào các dự án đầu tư công cộng như đường xá, cầu cống và trường học, cho đến khi nền kinh tế có mức đầu tư tốt trở lại[15]. Học thuyết của Keynes (cùng với sự chỉnh sửa nhất định từ những đóng góp cũng như phản đối của một số nhà kinh tế học sau này là Milton Friedman và Paul Samuelson) được hầu hết các Chính phủ áp dụng để vượt qua khủng hoảng và tình trạng trì trệ của nền kinh tế.

Ngược lại với Keynes, Milton Friedman cho rằng, việc sử dụng chính sách tài khóa nhằm tăng chi tiêu và việc làm sẽ không có hiệu quả và dễ dẫn đến lạm phát trong thời suy thoái vì người dân thường chi tiêu dựa trên kỳ vọng về thu nhập thường xuyên chứ không phải thu nhập hiện tại và mọi chính sách đều có độ trễ nhất định. Thay vì thực hiện chính sách tài khóa thiếu hụt, Nhà nước nên thực thi chính sách tiền tệ hiệu quả.

Còn Paul Samuelson, một nhà kinh tế học theo trường phái Keynes, đã có những bổ sung quan trọng trong quan niệm về chính sách tài khóa của Keynes. Ông cho rằng, để kích thích nền kinh tế vượt qua sự trì trệ, cần thiết phải thực hiện cả chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ linh hoạt. Hiện nay trên thế giới, mặc dù tài chính công vẫn dựa trên nguyên tắc ngân sách thăng bằng, nhưng khái niệm thăng bằng không còn được hiểu một cách cứng nhắc như quan niệm của các nhà kinh tế học cổ điển, mà đã có sự uyển chuyển hơn. Ví dụ, theo quy định của pháp luật Việt Nam, các khoản chi thường xuyên không được vượt quá các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí; nguồn thu từ vay nợ chỉ để dành cho các mục tiêu phát triển.

Hầu hết các quốc gia thực hiện nền kinh tế thị trường đều có hoạt động vay nợ. Việc vay nợ của Nhà nước thường được thực hiện dựa trên quan điểm của Keynes, nhưng có hai điều chỉnh quan trọng: một là, việc cố ý thâm hụt ngân sách và bù đắp bằng các khoản vay không được thực hiện vĩnh viễn, bởi lẽ xét về lý thuyết thì những tác động từ các khoản vay chỉ có ích trong ngắn hạn còn về dài hạn lại có ảnh hưởng tiêu cực và do đó Nhà nước cần phải có giới hạn về mặt thời gian trong việc sử dụng các khoản vay và hai là các khoản nợ công phải được kiểm soát kỹ lưỡng nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng, đồng thời hạn chế những tác động không mong muốn từ việc sử dụng các khoản vay. Việc quản lý nợ công hiệu quả sẽ giúp mục đích vay vốn đạt được với chi phí thấp nhất, đồng thời đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn.

Phân loại nợ công Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trong việc quản lý và sử dụng nợ công. Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay thì nợ công gồm có hai loại: nợ trong nước và nợ nước ngoài. Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức Việt Nam. Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài. Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, nợ nước ngoài không được hiểu là nợ mà bên cho vay là nước ngoài, mà là toàn bộ các khoản nợ công không phải là nợ trong nước.

Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nợ. Việc phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc tế. Và ở một số khía cạnh, việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, vì các khoản vay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác. Theo phương thức huy động vốn, thì nợ công có hai loại là nợ công từ thỏa thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ. Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay. Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệp định, thỏa thuận giữa Nhà nước Việt Nam với bên nước ngoài.

Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn. Các công cụ nợ này có thời hạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thị trường tài chính. Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công thì nợ công có ba loại là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ thương mại thông thường. Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công phải trả và nợ công bảo lãnh. Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền địa phương có nghĩa vụ trả nợ.

Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho người vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ. Theo cấp quản lý nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công của trung ương và nợ công của chính quyền địa phương. Nợ công của trung ương là các khoản nợ của Chính phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh. Nợ công của địa phương là khoản nợ công mà chính quyền địa phương là bên vay nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ. Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 thì những khoản vay nợ của chính quyền địa phương được coi là nguồn thu ngân sách và được đưa vào cân đối, nên về bản chất nợ công của địa phương được Chính phủ đảm bảo chi trả thông qua khả năng bổ sung từ ngân sách trung ương.

Những tác động của nợ công Như trên đã phân tích, nợ công vừa có nhiều tác động tích cực nhưng cũng có một số tác động tiêu cực. Nhận biết những tác động tích cực và tiêu cực nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực là điều hết sức cần thiết trong xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý nợ công. Những tác động tích cực chủ yếu của nợ công bao gồm:

– Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cường nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước. Việt Nam đang trong giai đoạn tăng tốc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó cơ sở hạ tầng là yếu tố có tính chất quyết định. Muốn phát triển cơ sở hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất. Với chính sách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế.

– Huy động nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân cư. Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nước vay nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư.

– Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế. Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại giao quan trọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương. Nếu Việt Nam biết tận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiều nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sở tôn trọng lợi ích nước bạn, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước.

Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, nợ công cũng gây ra những tác động tiêu cực nhất định. Nợ công sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài trợ ngoài nước. Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo, nợ công sẽ tỏ ra kém hiệu quả và tình trạng tham nhũng, lãng phí sẽ tràn lan nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công.

Chủ tịch Powell: Chỉ khi lạm phát tăng thực sự mạnh thì Fed mới nâng lãi suất

 

Chủ tịch Powell: Chỉ khi lạm phát tăng thực sự mạnh thì Fed mới nâng lãi suất

Trong ngày thứ Tư (30/10), Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell cho biết Fed cần phải thấy áp lực giá tăng mạnh và bền vững trước khi cân nhắc nâng lãi suất trong tương lai.

“Chúng tôi cần chạm mức lạm phát lõi 2% trước khi chọn một phương án. Lạm phát chỉ mới chạm mức này trong vài tháng rồi giảm trở lại”, ông Powell cho biết. “Vì vậy tôi nghĩ, Fed sẽ cần phải chứng kiến lạm phát tăng thực sự mạnh – đà tăng phải bền vững – trước khi cân nhắc nâng lãi suất để giải quyết lo ngại về lạm phát”.

Ông cũng đề cập đến quyết định giảm lãi suất lần thứ 3 trong năm 2019 của Fed, cho rằng các quan chức nhận thấy lập trường chính sách tiền tệ hiện tại có lẽ vẫn hợp lý”.

Ông Powell nhấn mạnh bất kỳ động thái nâng lãi suất nào trong tương lai phải nối tiếp sau đà tăng mạnh và bền vững của lạm phát. Điều này có nghĩa vẫn còn rất lâu nữa thì Fed mới nâng lãi suất trở lại khi mà chỉ số lạm phát ưa thích của Fed chưa thấy dấu hiệu sẽ sớm đột phá.

Chỉ số chi tiêu tiêu dùng (PCE) cho thấy mức tăng 0.2% trong tháng 7/2019. Loại trừ giá thực phẩm và năng lượng đầy biến động, chỉ số PCE chỉ tăng 0.1% trong tháng trước sau khi tăng 0.2% trong tháng 7/2019. Tức xét trong giai đoạn 12 tháng, chỉ số PCE lõi tăng 1.8% trong tháng 8/2019, tăng mạnh nhất kể từ tháng 1/2019, từ mức 1.7% của tháng 7/2019.

Chỉ số PCE lõi là thước đo lạm phát ưa thích của Fed và liên tục dưới ngưỡng mục tiêu 2% của cơ quan này trong năm nay. Chủ tịch Fed đưa ra nhận định sau khi Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) quyết định giảm lãi suất 25 điểm cơ bản xuống 1.5-1.75%, lần giảm lãu suất thứ 3 trong năm 2019.

Vương Đông (Theo CNBC)

FiLi

Nguyên nhân tiền tệ của lạm phát

 

Đổi mới sáng tạo
20/09/2007 15:02 –

Qua theo dõi diễn biến kinh tế và một số động thái chính sách của Việt Nam trong những năm gần đây, có đối chiếu trên những khía cạnh tương tự với một số nước trong khu vực, chúng tôi đi đến nhận định rằng tình trạng lạm phát hiện nay ở Việt Nam là hậu quả tổng hợp của một số hiện tượng kinh tế đặc thù đi liền với sự kết hợp thiếu đồng bộ giữa một số chính sách vĩ mô trong thời gian qua.

Từ những tháng giữa năm nay, khi mức tăng giá chung trở thành một mối quan tâm rộng rãi của xã hội, đã có nhiều cuộc thảo luận sôi nổi xung quanh vấn đề lạm phát, chẳng hạn như nguyên nhân chủ yếu của lạm phát, tác động của lạm phát và chính sách chống lạm phát. Vào cuối tháng 8/2007, một chuyên gia cao cấp có uy tín của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thừa nhận nguyên nhân chủ yếu của lạm phát là do tăng cung tiền(1). Điều này có lẽ không gây ngạc nhiên trong giới quan sát, nhưng dường như nó giúp những cuộc thảo luận bớt lan man hơn.
Trong bài viết này, chúng tôi mong muốn thảo luận thêm đôi chút về nguyên nhân tiền tệ của tình trạng lạm phát hiện nay. Nội dung chủ yếu trong lập luận của chúng tôi là tình hình lạm phát hiện nay là hậu quả tổng hợp của một số hiện tượng kinh tế đặc thù đi liền với sự kết hợp thiếu đồng bộ giữa một số chính sách vĩ mô trong thời gian qua.
Hiện tượng kinh tế đặc thù được lưu ý ở đây là sự tăng trưởng mạnh mẽ của kiều hối (bao gồm một phần rất lớn và ngày càng tăng tiền gửi của người đi xuất khẩu lao động), kết hợp với sự tăng trưởng của dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam. Một sự kết hợp nữa là trong năm 2006, quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước và sự phát triển của thị trường chứng khoán đã đạt những bước phát triển lớn, khiến Việt Nam trở thành một địa điểm hấp dẫn và dòng vốn đầu tư gián tiếp chảy mạnh vào nước ta. Theo ước lượng không chính thức, có khoảng hơn 5 tỷ USD kiều hối đã được gửi về, và khoảng 1 đến 2 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp đã được chuyển vào trong nước trong năm 2006 và những tháng đầu năm 2007.
Các chính sách kết hợp không đồng bộ, theo chúng tôi, bao gồm hai chính sách lớn sau: (1) chính sách tăng trưởng cung tiền và tín dụng theo đà của các năm trước, (2) chính sách neo tỷ giá ổn định theo đồng USD thông qua can thiệp của NHNN trên thị trường ngoại hối.

Ảnh hưởng của sự gia tăng ồ ạt dòng ngoại hối dưới chế độ tỷ giá (tương đối) cố định
Một đặc điểm vĩ mô quan trọng bậc nhất của Việt Nam gần đây có lẽ là sự gia tăng nhanh chóng của dòng tiền gửi về từ nước ngoài, trong đó một phần rất lớn từ người đi lao động (tạm gọi tất cả các khoản tiền gửi kiểu này là kiều hối). Xét trên phương diện quy mô to lớn tương đối của dòng kiều hối, thì Việt Nam chỉ đứng sau Philippines là nước trong khu vực đã có truyền thống xuất khẩu lao động từ lâu, và có những đặc điểm kinh tế khá tương đồng. Philippines hàng năm nhận một lượng kiều hối nhiều hơn Việt Nam rất nhiều kể cả tương đối (so với GDP) lẫn tuyệt đối (vì GDP của Philippines lớn hơn của Việt Nam khoảng 1.5 lần). Tuy nhiên, xét trên mối tương quan với GDP, thâm hụt thương mại của Philippines khá trầm trọng, cộng với các khoản trả lãi vay nước ngoài tương đối lớn, nên có thể nói dòng kiều hối chủ yếu được dùng để tài trợ cho khoản thâm hụt này trong tài khoản vãng lai. Kết quả là bất chấp lượng kiều hối khổng lồ chuyển về mỗi năm, cán cân vãng lai chỉ thặng dư khoảng từ 2% đến dưới 3% GDP.

"/

Trong khi đó, ở Việt Nam, tuy tỷ trọng kiều hối không lớn như ở Philippines, nhưng thâm hụt thương mại, mặc dù đang trở nên rất đáng lưu ý, vẫn chưa trầm trọng như ở nước này, nên cán cân vãng lai được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, và kể từ năm 2005 có khuynh hướng thặng dư (nhưng còn ở mức thấp hơn nhiều so với Philippines). Tuy nhiên, một đặc điểm của Việt Nam mà Philippines không có là cán cân tư bản gần đây luôn thặng dư rất đáng kể, đã dẫn tới khả năng dư thừa ngoại hối thậm chí lớn hơn ở Philippines. Để giữ tỷ giá neo tương đối ổn định vào đồng USD, cơ quan tiền tệ Việt Nam đã liên tục mua lượng ngoại hối thặng dư trên thị trường. Kết quả là dự trữ ngoại tệ mỗi năm đã tăng lên rất mạnh, chẳng hạn như năm 2005 tăng thêm 4% GDP, còn năm 2006 gần 5% GDP.

Như vậy, có thể nói một đặc điểm quan trọng của Việt Nam gần đây là sự tăng trưởng nhanh chóng của cả hai dòng tiền từ bên ngoài là kiều hối và đầu tư nước ngoài.  Kết quả là, để giữ cho đồng Việt Nam không lên giá quá nhanh, cơ quan tiền tệ Việt Nam (theo các tuyên bố trên báo chí) đã mua vào trong sáu tháng đầu năm 2007 khoảng hơn 7 tỷ USD (14% GDP). Chính sách này đã làm tăng mạnh lượng tiền Việt được đưa vào lưu thông. Điều này đuợc coi là nguyên nhân hàng đầu gây nên tình trạng lạm phát hiện nay. (Về nguyên nhân gây phản ứng chính sách, xem thêm Hình 1)

"/

Tầm quan trọng của chính sách tiền tệ đồng bộ
Tuy nhiên, một câu hỏi lập tức được đặt ra là: Vì sao, ở một số nền kinh tế khác, cụ thể là Trung Quốc, cơ quan tiền tệ cũng phải đối mặt với lượng thặng dự ngoại tệ hằng năm rất lớn (chủ yếu từ thặng dư thương mại), trong khi vẫn giữ vững quyết tâm can thiệp để neo đồng nội tệ ổn định vào USD, lại không xuất hiện tình trạng lạm phát cao như ở Việt Nam? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải xem xét chính sách tiền tệ gần đây của Trung Quốc và đối chiếu nó với tình hình Việt Nam.
Mức tăng CPI ở Trung Quốc trong những năm vừa qua ở mức rất “lý tưởng,” chỉ từ 0,7% (2001) đến 3,9% (2004) và năm 2006 chỉ là 1,5% – trong khi tăng trưởng kinh tế vẫn hầu như ở mức hai con số. Cần lưu ý ngay rằng, nước này cũng phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến “chi phí đẩy,” như là giá cả các mặt hàng thiết yếu và năng lượng trên thế giới tăng không khác gì, thậm chí có thể lớn hơn, so với Việt Nam.
Việc đối chiếu chính sách tiền tệ gần đây cùng xem xét những hậu quả tương ứng của nó ở Trung Quốc và Việt Nam sẽ đem lại một minh hoạ thú vị, cho thấy vì sao lạm phát (dai dẳng) luôn là một hiện tượng tiền tệ. Điều có ý nghĩa quan trọng bậc nhất có lẽ nằm trong tốc độ tăng trưởng tiền tệ và tín dụng. Theo các báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Trung Quốc đã rất thận trọng trong tăng trưởng tín dụng và tiền tệ, chỉ vào khoảng 15% mỗi năm, kể từ 2004. Trước đó, sự tăng trưởng này cũng chỉ ở dưới mức 20%. Trong khi đó, tăng trưởng tiền tệ của Việt Nam vốn đã ở mức cao (trên 20%) từ năm 2001, lại có xu hướng tăng ngày càng tăng nhanh hơn, đạt mức 30% trong hai năm 2004 và 2005. Thêm vào đó, tín dụng còn được mở rộng nhanh và vững chắc hơn rất nhiều: tăng trưởng hơn 20% vào năm 2001, rồi liên tục được gia tốc, lên đến đỉnh cao năm 2004 ở mức 40%, và năm 2005 vẫn ở mức 30%.
Thực tiễn cho thấy một kết quả thú vị là, mặc dù cả hai nước đều có tăng trưởng rất mạnh trong dự trữ ngoại hối, nhưng Trung Quốc vẫn duy trì một mức lạm phát nhẹ, trong khi Việt Nam luôn phải gánh chịu lạm phát cao (trên 8%) liên tiếp kể từ năm 2004. Thêm vào đó, tăng trưởng ở Trung Quốc vẫn được giữ ở mức cao (hơn Việt Nam), thặng dư thương mại lớn (dự trữ ngoại hối đã tăng ngoạn mục từ mức 16.5% năm 2001 lên 36.6% GDP vào năm 2005), và giá trị đồng nội tệ ổn định (tỷ giá danh nghĩa chỉ giảm khoảng 2.5% trong giai đoạn 2001-2005). Như vậy, có cơ sở để nhận định rằng Việt Nam đã thực hiện chính sách can thiệp tăng dự trữ ngoại tệ nhưng không đồng thời thắt chặt tiền tệ, nên đã dẫn tới lạm phát cao. Trong khi đó, Trung Quốc đã thực hiện thắt chặt tiền tệ rất có chủ ý để kết hợp hài hoà với chính sách giữ ổn định đồng Nhân dân tệ, và đã thành công trong việc kiềm chế lạm phát.
Trường hợp Trung Quốc cho thấy bài học đáng giá rằng kiểm soát tăng trưởng tiền tệ và tín dụng vẫn là phương tiện căn bản, quan trọng và hữu hiệu hàng đầu giúp kiểm soát lạm phát. Một bài học nữa có thể được rút ra, là sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách vĩ mô có ý nghĩa quan trọng. Cụ thể trong trường hợp này, khi cơ quan tiền tệ đã xác định có kế hoạch mua vào một lượng ngoại tệ lớn, thì nó cũng đồng thời phải dự trù một kế hoạch thắt chặt cung tiền một cách hài hoà từ trước đó.

Một số gợi ý chính sách
Tóm lại, có thể hình dung “con đường lạm phát” những năm qua như sau:
– Một hiện tượng kinh tế đặc thù trong những năm gần đây của Việt Nam là sự tăng trưởng mạnh của các dòng tiền từ nước ngoài (bên cạnh những dòng tiền truyền thống như dòng vốn đầu tư trực tiếp và tiền của Việt kiều, còn có tiền gửi về của người Việt lao động ở nước ngoài và vốn đầu tư gián tiếp).
– Để giữ đồng tiền Việt ổn định (nhằm giữ lợi thế cho xuất khẩu), cơ quan tiền tệ Việt Nam đã phải mua vào ngoại tệ với lượng ngày càng lớn. Do đó, hằng năm một lượng lớn tiền đã được đẩy vào lưu thông. Lượng tiền này có thể lên tới 15% GDP hoặc hơn.
– Một chính sách nên được tiến hành đồng bộ với chính sách trên là thắt chặt hợp lý tăng trưởng tiền tệ và tín dụng. Nhưng trong thời gian vừa qua, nó đã không được thực hiện.
– Kết quả là lạm phát đã trở thành một hiện tượng kinh niên (ở mức cao, trên 8%) kể từ năm 2004.
Trên cơ sở những luận điểm như vậy, chúng tôi khuyến nghị những giải pháp như sau:
1. Lạm phát hiện nay ở nước ta nên được xem xét nghiêm túc và thẳng thắn là có căn nguyên từ chính sách tiền tệ. Trên cơ sở đó, các chính sách chống lạm phát nên mang tính tiền tệ. Điều ấy đồng nghĩa với việc nên hạn chế sử dụng chính sách tài khóa (như giảm thuế một số mặt hàng được quan sát thấy là tăng nhanh nhất), hay chính sách hành chính (đốc thúc doanh nghiệp, kêu gọi sự hỗ trợ của người dân). Chúng tôi cho rằng các biện pháp tài khoá và hành chính đều mang tính thoả hiệp, tạm thời và có khuynh hướng che đậy bản chất thực sự của lạm phát. Đi kèm với nó là chi phí cao, hiệu quả thấp.
2. Các biện pháp tiền tệ mang tính gốc rễ là giảm tốc độ tăng tiền và tín dụng. Các biện pháp như tăng dự trữ bắt buộc hay phát hành trái phiếu chỉ nên coi là tức thời và cục bộ mà thôi. Ví dụ, chính sách tăng dự trữ bắt buộc khiến khối ngân hàng gánh nhiều chi phí hơn các khu vực khác trong công cuộc chống lạm phát. Ngược lại, việc cắt giảm tín dụng và cung tiền trên toàn nền kinh tế, áp dụng cho toàn bộ các thành phần kinh tế, sẽ san sẻ chi phí chống lạm phát một cách bình đẳng hơn.
3. Bên cạnh cam kết chống lạm phát đã được thể hiện rõ ràng của chính phủ, cần công khai các biện pháp cụ thể để thể hiện cam kết là đáng tin cậy, đồng thời ràng buộc chính phủ vào cam kết đó. Điều này sẽ giúp người dân hình thành kỳ vọng về mức lạm phát thấp trong tương lai (nếu họ biết và tin các chính sách là đúng đắn và cứng rắn), dẫn đến khả năng thành công dễ dàng hơn của chính sách chống lạm phát. (Một chính sách chỉ có hiệu lực khi người ta tin là nó có hiệu lực).
4. Không nên duy trì quan điểm cho rằng lạm phát thấp hơn mức tăng trưởng GDP là tốt, mà có lẽ chỉ nên coi đây như một kinh nghiệm để phấn đấu khi lạm phát đã thành một sự đã rồi. Hiện nay chưa tìm thấy căn cứ khoa học cho luận điểm nêu trên, do đó, chúng ta không nên tự ràng buộc mục tiêu lạm phát vào một giới hạn khá dễ dãi (khoảng 8%), để rồi lại bị cuốn vào nỗi lo con rồng sẽ giật đứt dây xích như hiện nay. (Xin cảm ơn TS Vũ Quang Việt, nhóm Vietnam Economic Society về những góp ý và thảo luận hữu ích cho bài báo này).
——–
1. TS. Lê Xuân Nghĩa trả lời phỏng vấn Báo Lao Động:  http://www.laodong.com.vn/Home/kinhte/2007/8/51372.laodong
———-

Nguyễn Đức Thành

Tags:

Lạm phát trở lại do tiền lương và giá cả đồng loạt tăng

 

Theo báo cáo mới nhất của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2019 tăng 0,18% so với tháng trước.

Nguyên nhân đến từ giá một số nguyên liệu đầu vào có xu hướng tăng trở lại; mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang tăng từ ngày 1/7/2019; diễn biến phức tạp của dịch tả lợn châu Phi…

Hàng loạt hàng hóa và dịch vụ tăng giá khiến CPI tháng 7 tăng 0,18%

Cụ thể nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,33% (lương thực tăng 0,05%; thực phẩm tăng 0,4%).

Trong đó, lương thực tăng chủ yếu do nhóm bột mì và bột ngũ cốc khác tăng 1,99% (giá ngô tăng 0,67%; giá khoai tăng 3,99%; giá sắn tăng 1,29%), trong khi giá gạo giảm 0,09%.

Thực phẩm tăng do giá thịt lợn tăng 0,81% so với tháng trước bởi dịch tả lợn châu Phi khiến nguồn cung giảm (làm CPI chung tăng 0,03%), theo đó giá thịt quay, giò chả tăng 0,32%; giá thịt hộp, chế biến khác tăng 0,24%. Ngoài ra, giá trứng gia cầm các loại tăng 0,25%; giá cá tươi và cá ướp lạnh tăng 0,5%; giá thủy hải sản khác tăng 0,11%; giá rau tươi tăng 0,76%…

Nhóm giáo dục tăng 0,22% (dịch vụ giáo dục tăng 0,17%) do một số địa phương thực hiện tăng học phí năm học mới 2019-2020 theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015;

Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,15% (giá du lịch trọn gói tăng 0,22%; khách sạn tăng 0,58%; dịch vụ giải trí tăng 0,74%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,12%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,1%;

Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08%; bưu chính viễn thông tăng 0,01%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02% do chỉ số giá nhóm bảo hiểm y tế tăng 6,67%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,94%.

Riêng nhóm giao thông và nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng cùng giảm 0,03%.

Hàng loạt hàng hóa và dịch vụ tăng giá khiến CPI tháng 7 tăng 0,18% 1

CPI bình quân 7 tháng năm 2019 tăng 2,61% so với bình quân cùng kỳ năm 2018, đây là mức tăng bình quân 7 tháng thấp nhất trong 3 năm gần đây;

CPI tháng 7/2019 tăng 1,59% so với tháng 12/2018 và tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 7/2019 tăng 0,23% so với tháng trước và tăng 2,04% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 7 tháng năm 2019 tăng 1,89% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.

Lạm phát 9 tháng đầu năm 2019 ở mức thấp nhất 3 năm

 

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 tăng 0,32% so với tháng trước và 1,98% so với cùng kỳ năm ngoái. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2019, CPI đã tăng 2,2% so với cuối năm 2018 (so với mức tăng 3,2% cùng kỳ năm 2018). CPI trung bình 9 tháng tăng 2,5% cùng kỳ. Đây là mức thấp nhất trong 3 năm qua.

lam phat 9 thang dau nam 2019 o muc thap nhat 3 nam
Lạm phát 9 tháng đầu năm 2019 ở mức thấp nhất 3 năm. Ảnh minh hoạ.

Trong tháng 9, 50 tỉnh thành đồng loạt tăng học phí trước thềm năm học mới khiến lạm phát nhóm giáo dục tăng 5,53% so với tháng trước. Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 0,54% do giá bán lẻ thịt heo, thủy sản và rau quả tươi tăng lần lượt 2,78%, 0,49% và 1,16%.

Nhóm giao thông vận tải trong CPI đã giảm 1,24% so với tháng trước do 2 đợt điều chỉnh giảm giá xăng dầu bán lẻ ngày 31/8 và 16/9, giúp giá bán xăng dầu trung bình trong nước giảm 2,79%, qua đó giảm bớt các áp lực gia tăng lạm phát.

Trong khi đó lãi suất ngân hàng đang tăng, các kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng trên mốc 8% nên người gửi tiền tiết kiệm đang có lãi suất thực dương.

Công ty chứng khoán Bản Việt đánh giá kỳ vọng lạm phát sẽ hạ nhiệt trong tháng 10 khi gần như toàn bộ các tỉnh thành đều đã hoàn thành tăng học phí cho năm học 2019-2020 trong tháng 8 và tháng 9. Tuy nhiên, áp lực lạm phát có thể gia tăng từ nhu cầu tiêu dùng cao hơn vào thời điểm cuối năm 2019.

Cũng theo Tổng cục Thống kê, trong 9 tháng 2019, GDP của Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng 6,98%, mức cao nhất cùng kỳ 9 năm qua. Đồng thời, trong 9 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam đạt lần lượt 194,3 tỉ USD (tăng 8,2% so với cùng kỳ năm ngoái) và 188,42 tỉ USD (tăng 8,9%), với thặng dư thương mại đạt 5,9 tỉ USD.Đáng chú ý, Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với tổng giá trị xuất khẩu sang thị trường Mỹ đạt 44,9 tỉ USD, tăng 28,2% so với cùng kỳ; EU đạt 31,1 tỉ USD, giảm 0,7% và Trung Quốc đạt 27,8 tỉ USD, giảm 3,8%.

Lạm phát đang làm tổn thương người nghèo

 

Hiện nay tốc độ tăng thu nhập danh nghĩa của người lao động không theo kịp đà tăng phi mã của chỉ số giá, khiến lạm phát tác động lớn đến đời sống và làm tăng tính dễ tổn thương của người nghèo.

Mục tiêu giảm nghèo ngày càng co hẹp

Lạm phát tăng cao có tác động xấu và nặng nề đến đời sống của những người nghèo, người thu nhập thấp và đặc biệt những người có nguồn thu nhập chủ yếu từ tiền công, tiền lương, tiền trợ cấp xã hội. Những nguồn thu nhập này thường không được tính trượt giá một cách đầy đủ hoặc chậm điều chỉnh theo trượt giá khiến thu nhập thực tế của người lao động càng bị giảm sút. Thực tế như vậy nhưng đến khi bản “Báo cáo đánh giá tác động của tăng giá đối với đời sống của người nghèo, người làm công ăn lương” được Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) thực hiện và công bố gần đây, thì những tác động của lạm phát đến giảm nghèo càng thấy rõ.

Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, với các khả năng tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm nay, mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo 2% như kế hoạch Quốc hội đề ra rất khó đạt. Bởi vì trước đó, trong hai năm 2007 và 2008, với mức CPI tăng tương ứng là 12,6% và 19,9% thì tỷ lệ hộ nghèo chỉ giảm 2,1 điểm phần trăm (từ mức 15,5% xuống còn 13,4%). Tính ra, trong cả giai đoạn 2004-2010, tỷ lệ hộ nghèo chỉ giảm bình quân mỗi năm là 1,25%.

Do vậy, khả năng thứ nhất là CPI bình quân năm nay tăng 11,9% (bản báo cáo này được thực hiện đến tháng 2-2011) thì dự báo tỷ lệ hộ nghèo sẽ giảm 1,5 điểm phần trăm, nếu CPI tăng 13,1% thì sẽ giảm 1,3 điểm phần trăm. Và nếu CPI bình quân năm nay là 13,9% thì dự báo tỷ lệ hộ nghèo sẽ giảm một điểm phần trăm. Như vậy mục tiêu giảm nghèo Quốc hội đề ra năm nay không thể thực hiện được (vì mức giảm tỷ lệ nghèo 2 điểm phần trăm được tính dự kiến với mức tăng CPI là 7%). Mặt khác, những dự báo, tính toán này dù có giá trị thực tế nhưng ở thời điểm hiện nay, khi CPI tháng 4 đã tăng 3,32% và tỷ lệ lạm phát tính theo năm đã lên tới 17,51% thì khả năng tỷ lệ giảm nghèo còn hạn hẹp hơn nữa, dưới 1%.

Một câu hỏi đặt ra là theo tính toán của CIEM, dự kiến giá trị thực tế của chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 sẽ mất khoảng 7-8% giá trị (tương đương với 300.000-400.000 đồng/tháng) khi CPI bình quân năm 2011 xấp xỉ 14%. Nay thực tế lạm phát tính theo năm đã lên tới 17,51% thì giá trị thực tế của chuẩn nghèo sẽ mất thêm mấy điểm phần trăm, kéo theo thu nhập thực tế sút giảm bao nhiêu nữa?

CIEM cho rằng, phân tích như vậy để thấy: số hộ thoát nghèo vượt sang ngưỡng hộ cận nghèo theo danh nghĩa nhưng xét về bản chất vẫn là các hộ nghèo là một thực tế rất rõ. Hiện cả nước có khoảng 3,1 triệu hộ nghèo và 1,65 triệu hộ cận nghèo. Tính chung lại hơn 4,7 triệu hộ gia đình luôn tiệm cận với cái đói, cái nghèo và lạm phát gia tăng càng khiến đói nghèo nặng hơn

Ảnh hưởng rất rõ

Biến động tăng giá, nhất là giá lương thực, nông sản một mặt sẽ làm tăng thu nhập của người sản xuất và xuất khẩu lương thực, nhưng ngược lại là làm tăng chi tiêu của người tiêu dùng đối với lương thực, thực phẩm, nhất là nhóm dân cư có thu nhập thấp, lại không sản xuất lương thực. Việc tăng giá lương thực, thực phẩm sẽ tác động mạnh nhất đối với 20% số hộ nghèo (hộ nghèo ở nông thôn có mức thu nhập bình quân 400.000 đồng/tháng và hộ nghèo thành thị là 500.000 đồng/tháng), do bộ phận này thường có tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống trong tổng số chi tiêu cho đời sống cao hơn các nhóm khác. 55,9% chi tiêu chủ yếu của nhóm hộ nghèo dành để mua lương thực, thực phẩm. Chi tiêu cho giáo dục và y tế chỉ chiếm 12,5%.

Biến động tăng giá nguyên, nhiên liệu tác động trực tiếp tới giá đầu vào sản xuất, do đó làm chi phí sản xuất của người nông dân (như phân bón) tăng giá theo. Như vậy, khi chi phí đầu vào tăng nhanh nhưng giá đầu ra không tăng tương xứng thì thực tế là người nông dân (đối tượng chiếm áp đảo trong tỷ lệ hộ nghèo) mất nhiều hơn được, khiến cho thu nhập ròng của họ thực tế sẽ giảm.

Còn ở thành thị, những người thu nhập chủ yếu từ tiền lương, tiền công, từ trợ cấp xã hội cũng lao đao vì những nguồn thu nhập này không được tính trượt giá một cách đầy đủ hoặc chậm điều chỉnh theo trượt giá. Bằng chứng là giai đoạn 2006-2008, nhóm 20% hộ nghèo nhất có tốc độ tăng thu nhập bình quân nhân khẩu một tháng khoảng 22,15%/năm. Nhưng tốc độ tăng chi tiêu cho đời sống bình quân một nhân khẩu trong một tháng khoảng 27,7%/năm, tức là mức tăng thu nhập thấp hơn mức tăng chi tiêu 5,55%.

Một nghiên cứu về đói nghèo đô thị cách đây ba năm (của Oxfam và Action Aid) cũng cho thấy sự tăng giá của hàng hóa, lương thực không tương xứng với mức tăng thu nhập (30-50% so với 10-20%) làm cho hộ nghèo và cận nghèo ở đô thị gặp khó khăn. Do sức mua đồng tiền giảm, họ phải dùng hầu hết thu nhập vào mua lương thực, thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu nên gần như không còn gì để tiết kiệm.

Hậu quả của những tác động dây chuyền nói trên là tình hình thiếu đói tăng cao. Hai tháng đầu năm, số nhân khẩu nông nghiệp thiếu đói tăng gần gấp hai lần so với cùng thời điểm năm 2010 (838.600 lượt nhân khẩu), một con số lớn nhất từ năm 2007 trở lại đây. Nguyên nhân chính tác động mạnh đến vấn đề này là do giá lương thực tăng cao. Nay, lạm phát vẫn còn cao thì những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người nghèo, người làm công ăn lương cũng đang xấu đi hơn nữa.

Ngọc Lan

Leave your Comment