Lạm phát là gì 121

Mục lục

Một số đánh giá về chính sách chống lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015

 

Trong giai đoạn 2011 – 2015, Việt Nam đã thực hiện tốt nhiệm vụ kiềm chế lạm phát nhờ vào việc phối hợp tốt chính sách tiền tệ linh hoạt và chính sách tài khóa. Tuy nhiên, các biến động kinh tế khó lường vẫn đặt ra nhiều nguy cơ cho điều hành kinh tế vĩ mô.

Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Lạm phát ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống kinh tế – xã hội, đặc biệt trong trường hợp lạm phát cao hoặc siêu lạm phát và không dự đoán được sẽ gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với nền kinh tế, cơ cấu nền kinh tế dễ bị mất cân đối, làm cho hoạt động của của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng,  nguồn thu ngân sách nhà nước giảm do sản xuất bị suy thoái… chính vì vậy nhà nước phải áp dụng những biện pháp thích hợp để kiềm chế và kiểm soát lạm phát. Trong phạm vi bài viết này tập trung phân tích nững nội dung cơ bản của chính sách chống lạm phát mà Việt Nam áp dụng trong thời gian qua, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của chính sách, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện các chính sách chống lạm phát trong thời gian tới.

Mục tiêu của chính sách chống lạm phát là: Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Để thực hiện mục tiêu trên Việt nam sử dụng hai công cụ chủ yếu là chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá.

1. Nội dung chính sách chống lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015

1.1. Chính sách tiền tệ

Trong thời gian qua để thực hiện mục têu kiềm chế và kiểm soát lam phát Việt Nam đã thực thi chính sách tiền tệ chặt chẽ và thận trọng, cụ thể: Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán 15%-16%, ưu tiên tập trung vốn cho phát triển SXKD, nông nghiệp nông thôn, SX hàng xuất khẩu, hỗ trợ DN vừa và nhỏ, giảm tốc độ và tỷ trọng vay vốn tín dụng ở khu vực phi sản xuất, đặc biệt là chứng khoán và bất động sản.

Điều hành hiệu quả và linh hoạt các công cụ của thị trường tiền tệ, đặc biệt là điều tiết trực tiếp lãi suất trong điều kiện biến động kinh tế có tính bất thường.

Tập trung tháo gỡ những khó khăn thúc đẩy sản xuất phát triển, hỗ trợ các doanh nghiệp, đặc biệt là sản xuất hàng xuất khẩu hoặc cần thiết trong nước nhưng còn thiếu…

Kiểm soát chặt chẽ giá cả, kiên quyết xử lý nghiêm kinh doanh tiền tệ trái pháp luật, tiến tới xóa bỏ kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do, chống nhập lậu vàng…

1.2. Chính sách tiền tệ

Để thực hiện kiềm chế và kiểm soát lạm phát trong thời gian qua chính sách tài khoá được điều hành theo hướng:

– Tăng thu ngân sách.

– Tiết kiệm  chi thường xuyên (không tiết kiệm lương, các khoản chính sách).

– Tạm dừng mua sắm tài sản, thiết bị văn phòng, giảm các chi phí văn phòng, hội nghị, hội thảo, không cấp NS bổ sung trừ khắc phục thiên tai, dịch bệnh…

– Giảm bội chi NS dưới 5% của GDP, rà soát và khoanh nợ Chính phủ, hạn chế nợ dự phòng, không mở rộng phạm vi bảo lãnh chính phủ, đảm bảo dự nợ nước ngoài trong phạm vi an toàn tài chính quốc gia.

– Rà soát nhanh toàn bộ các công trình dự án sử dụng vốn NS, trái phiếu CP, thu hồi hoặc điều chuyển các đã bố trí vốn nhưng chưa cấp bách.

– Chưa khởi công các công trình, dự án mới trừ các dự án trọng điểm quốc gia, ODA; kiểm tra và rà soát đầu tư của các DNNN…

2. Đánh giá những kết quả đạt được và những tồn tại của chính chống lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua

2.1. Những kết quả đạt được

Với cơ chế xây dựng, điều hành thực thi Chính sách tiền tệ linh hoạt, kết hợp với các giải pháp tài khóa thích ứng, Việt Nam đã thực hiện thành công xuất sắc nhiệm vụ kiềm chế lạm phát, góp phần ổn định sức mua đồng tiền, ổn định kinh tế vĩ mô

Binh1

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Tỷ lệ lạm phát từ mức 18,13% năm 2011giảm xuống còn 6,81% năm 2012; đạt mức 6,04% năm 2013. Tỷ lệ này giảm mạnh ở mức 1,84%  vào năm 2014 và năm 2015 được kiểm soát ở mức 0,63%. Đây là trong những mục tiêu quan trọng đã đạt được khi NHNN sử dụng kết hợp các công cụ linh hoạt để thực thi CSTT.

2.1.1. Đối với chính sách tiền tệ

– Chính sách tiền tệ chặt chẽ và thận trọng  đặc biệt là điều tiết lãi suất phù hợp với tình hình lạm phát trong từng quý và từng năm đã phát huy tác dụng tích cực trong việc điều tiết lạm phát, từ mức lạm phát 18,13% năm 2011 giảm xuống còn 6,81% năm 2012 và được kiểm soát, kiềm chế ở mức 6,3% năm 2013, năm 2014 là 5,45%, năm 2015 là 1,5%.

– Ngân hàng tăng cường kiểm soát các lãi suất, duy trì lãi suất ở mức hợp lý để giảm mặt bằng lãi suất cho vay trên thị trường nhằm thúc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh từ đó tăng cung hàng hóa, dịch vụ. Ngày 03/03/2011 Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã ban hành thông tư số 02/TT-NHNN quy định trần lãi suất huy động VND của các tổ chức tín dụng là 14% nhàm thu hút khối lượng tiền mặt trong lưu thông góp phần kiềm chế lạm phát. Từ tháng 9/2011 đến tháng 6/2013 NHNN đã 8 lần điều chỉnh giảm trần lãi suất huy động tiền gửi VND từ đó làm cho lãi suất cho vay giảm đáng kể. Lãi suất cho vay giảm nhanh từ 18,2%, năm 2011xuống 15,4% năm 2012 và 10,5% năm 2013, năm 2014 lãi suất là 7-8%, năm 2015 là 7,7 – 9%.

– Kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng, giới hạn tổng phương tiện thanh toán tăng ở mức hợp lý nhằm điều tiết lượng cung tiền, ngăn chặn lạm phát gia tăng

– Kiểm soát tỷ giá, hoạt động kinh doanh ngoại tệ nhằm khuyến khích xuất khẩu, tăng dự trữ ngoại hối

– Kiểm soát hoạt động của thị trường vàng nhằm hạn chế tiến tới xóa bỏ hiện tượng đầu cơ, huy động nguồn vốn cho phát triển sản xuất, tăng cung hàng hóa và hạn chế nhập khẩu vàng.

2.1.2. Đối với chính sách tài khoá

Chính sách tài khoá trong thời gian qua đã phát huy tác dụng tích cực trên các mặt như:

– Chủ động áp dụng các biện pháp về thuế, kiểm tra và giám sát việc kê khai và thu nộp thuế, hạn chế thất thoát nguồn thu nhằm tăng thu ngân sách góp phần giảm bội chi ngân sách từ đó giúp chính phủ chủ động hơn trong điều tiết cung tiền giúp chống lạm phát.

– Chính phủ xem xét, miễn, giảm thuế và gia hạn nộp thuế nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là các ngành sản xuất hàng xuất khẩu, những ngành mà nguyên liệu trong nước còn thiếu như da, giầy, dược phẩm… từ đó giúp sản xuất trong nước phát triển tăng cung hàng hóa

– Tăng thuế xuất khẩu đối với những mặt hàng không khuyến khích xuất khẩu như nguyên, nhiên liệu thô.

– Tiếp tục thực hiện chính sách hoàn thuế đầu vào cho các mặt hàng thực xuất khẩu nhằm giảm bớt khó khăn cho sản xuất

2.2. Những tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được thì chính sách chống lạm phát trong thời gian qua còn tồn tại những mặt hạn chế sau:

– Việc ban hành và vận dụng linh hoạt chính sách thắt chặt tiền tệ chưa tiệm cận điều kiện thực tế (làm phát sinh những hậu quả không mong muốn), kiểm soát giá chưa phù hợp với nguyên tắc thị trường, việc xử lý dư thừa ngoại tệ chưa chuẩn xác dẫn đến gây khó khăn cho doanh nghiệp

– Chưa nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, phát huy được vai trò định hướng của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Hiệu quả đầu tư rất thấp, còn hiện tượng làm thất thoát vốn NN với quy mô lớn mà không có biện pháp khắc phục tốt.

– Thiếu các giải pháp đồng bộ phát triển thị trường vốn và thị trường chứng khoán, sự can thiệp của chính phủ vào thị trường bất động sản, chứng khoán còn chưa hợp lý gây khó khăn cho doanh nghiệp.

– Chính sách kinh tế vĩ mô còn chưa bắt kịp với định hướng tiếp cận thực tế và mang tính ổn định, lâu dài. Sự vào cuộc của các cơ quan quản lý nhà nước còn mang tính hình thức, chưa triệt để, thiếu sâu sát, kịp thời.

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách chống lạm phát

3.1. Giải pháp đối với chính sách tiền tệ

– Điều hành các công cụ chính sách tiền tệ chủ động và linh hoạt. Trong điều kiện nước ta hội nhập kinh tế quốc tế và nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới đang sụt giảm, thì việc tiếp tục điều hành các công cụ chính sách tiền tệ cần chủ động, linh hoạt; theo kịp sự phát triển của thị trường tiền tệ và trong khả năng kiểm soát tiền tệ là một trong các giải pháp để đạt được chính sách tiền tệ hiệu quả.

– Tiếp tục điều hành công cụ dự trữ bắt buộc một cách chủ động và linh hoạt theo diễn biến của thị trường nhằm kiểm soát tiền tệ; mặt khác tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng sử dụng vốn khả dụng linh hoạt và hiệu quả

– Tiếp tục điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt theo quan hệ cung cầu trên thị trường, trong mối quan hệ phối hợp với lãi suất, có sự kiểm soát của Nhà nước nhằm đảm bảo các cân đối vĩ mô: kiểm soát được lạm phát; kích thích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu; khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; không ảnh hưởng lớn đến việc doanh nghiệp vay nợ bằng ngoại tệ; tạo điều kiện quản lý và thu hút nguồn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng; nâng cao quỹ trữ ngoại tệ của Nhà nước. Đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến cho các doanh nghiệp áp dụng các công cụ phòng ngừa, bảo hiểm rủi ro tỷ giá.

– Nâng cao tính độc lập, trách nhiệm của NHNN.

Đây là một trong các điều kiện tiên quyết nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Việc nâng cao tính độc lập, trách nhiệm cho NHNN phải thích ứng với mức độ hội nhập tài chính thế giới và phù hợp thể chế chính trị ở Việt Nam.

– Đẩy mạnh sự phát triển của thị trường tiền tệ. Tiếp tục tạo hàng hoá và phát triển nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ; mở rộng thành viên tham gia thị trường; nâng cao vai trò điều tiết, hướng dẫn của NHNN trên thị trường tiền tệ; hoàn thiện hành lang pháp lý tạo điều kiện cho thị trường tiền tệ phát triển. Sự phát triển của thị trường tiền tệ sẽ là kênh dẫn có hiệu quả trong cơ chế truyền tải các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.

3.2. Giải pháp đối với chính sách tài khoá

– Hoàn thiện chính sách thuế phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế theo hướng tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ cho thị trường. Định hướng chính sách thuế và thu NSNN nên theo hướng giảm thuế suất, mở rộng đối tượng chịu thuế; tăng thuế suất thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu và các mặt hàng có khả năng sản xuất trong nước, tăng thuế suất thuế xuất khẩu đối với các sản phẩm từ khai thác tài nguyên., tránh thất toát nguồn thu,. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh và ban hành các văn bản, thông tư hướng dẫn thực hiện các chính sách thuế, phí và chế độ thu cho phù hợp với tình hình thực tế; tiếp túc đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trong lĩnh vực Thuế và Hải quan nhằm giảm thiểu tối đa thời gian kê khai, nộp thuế cho DN, khuyến khích các DN kê khai qua mạng.Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại DN và đẩy mạnh các hoạt động chống chuyển giá, chống buôn lậu và gian lận thương mại… qua đó đã phát hiện và xử lý kịp thời nhiều trường hợp vi phạm, gian lận, trốn lậu thuế.

– Thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên và đẩy nhanh việc thực hiện các nhiệm vụ chi đầu tư phát triển, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; đồng thời, tăng cường kiểm soát chi ngân sách, bảo đảm tiết kiệm, chặt chẽ và hiệu quả.

– Đẩy mạnh quá trình sắp xếp cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và đổi mới cơ chế tài chính đối với lĩnh vực sự nghiệp công. Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính liên quan đến sắp xếp, cổ phần hoá DNNN, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm đẩy nhanh kế hoạch sắp xếp, đổi mới DNNN. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước…; Tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế ngoài Nhà nước.

– Đẩy nhanh việc đổi mới cơ chế tài chính đối với lĩnh vực sự nghiệp công theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị; khẩn trương nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách thích hợp để từng bước điều chỉnh khung giá dịch vụ công theo cơ chế thị trường đối với các dịch vụ giáo dục, y tế.

– Sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khoá và một số chính sách kinh tế vĩ mô khác. Hiện nay trong bối cảnh kinh tế thế giới sụt giảm, thì việc điều hành chính sách tiền tệ trong quan hệ phối hợp chính sách tài khoá nhằm mục tiêu góp phần ngăn chặn nguy cơ sụt giảm nền kinh tế trong nước, nhưng đồng thời kiểm soát được lạm phát.

Qua những phân tích trên cho thấy thời gian qua Việt Nam đã có những thành công nhất định trong việc kiểm soát và điều chỉnh lạm phát góp phần đưa đất nước phát triển bền vững.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Vũ Đình Bách, Trần Thọ Đạt, Giáo trình Kinh tế vĩ mô, NXB giáo dục,2012.

2. Phan Huy Đường, Giáo trình Quản lý nhà nước về kinh tế, NXB ĐHQG Hà Nội, 2012.

3. Bộ Tài Chính, Báo cáo tình hình thực hiện dự toán ngân sách năm 2011, 2012, 2013.

4. Lê Hoàng Nga, Chính sách tiền tệ Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, NXB Học viện ngân hàng, 2013

5. Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 18/7/2013

6. Nghị quyết 01/NQ-CP/ 2013

7. www.tapchitaichinh.vn

Nguyên nhân và hậu quả của lạm phát.

 

 

ĐỀ CƯƠNG

 

I – ĐẶT VẤN ĐỀ

II – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

 

1. Những vấn đề lý luận về lạm phát.

1.1. Khái niệm

1.2. Các Loại hình của lạm phát

1.3. Tác động của lạm phát tới nền kinh tế.

2. Những nguyên nhân và hậu quả của lạm phát.

2.1. Nguyên nhân dẫn tới lạm phát

2.2. Những hậu quả của lạm phát

3. Các giải pháp đối phó và tình trạng thực tế về lạm phát ở việt nam qua mét sè thời kỳ.

3.1. Giải pháp đối phó với lạm phát.

3.2. Thực tế lạm phát ở Việt Nam.

 

III – KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

 

 

 

 style=

Diễn biến của lạm phát và tỷ giá tại Việt Nam

 

Để xây dựng chính sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển, yêu cầu đặt ra là cần có sự đánh giá một cách tổng quát về diễn biến của chính sách tiền tệ trong những chu kỳ trước về cả định tính và định lượng. Bài viết này tập trung phân tích chính sách tiền tệ và mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá tại Việt Nam từ năm 2008 đến nay, từ đó đưa ra các khuyến nghị chính sách cho giai đoạn tiếp theo.

Diễn biến của lạm phát và tỷ giá tại Việt Nam

Chính sách tiền tệ (CSTT) thời gian qua luôn hướng đến kiềm chế lạm phát và ổn định tỷ giá hối đoái. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê trong giai đoạn từ 2008 – 2013 lạm phát tại Việt Nam diễn biến tăng, giảm thất thường không theo một quy luật nhất định.

Lý thuyết và thực tế đều đã chứng minh giữa lạm phát và tỷ giá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Do đó, song hành cùng sự biến động bất thường của lạm phát luôn là sự thay đổi của tỷ giá hối đoái.

Năm 2010, mức lạm phát 2 con số của Việt Nam chính thức được lặp lại kể từ năm 2008. Con số 11,75% tuy không quá bất ngờ nhưng vẫn vượt so với chỉ tiêu được Quốc hội đề ra hồi đầu năm gần 5%.

Giai đoạn 2010-2011 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chủ động hơn so với những năm trước. Cụ thể, NHNN đã tiến trước một bước (tháng 8/2010) khi các áp lực thị trường còn tương đối thấp. Tiếp đó, tiến hành phá giá một lần với mức độ lớn hơn vào tháng 2/2011. Những động thái này cho thấy NHNN đã bớt cứng nhắc và đã linh hoạt hơn trong điều hành. Tuy nhiên, để tiến được những bước đó, NHNN vẫn sử dụng rất nhiều biện pháp hành chính thay vì tạo môi trường cho thị trường tự vận hành.

 

 src=

Đầu năm 2012, NHNN đã phát đi tín hiệu, tỷ giá VND/USD sẽ không biến động quá 3% trong cả năm. Ngay lập tức các ngân hàng thương mại (NHTM) đã bán USD cho NHNN để thu về VND, vì lúc đó lãi suất VND đang cao hơn lãi suất USD rất nhiều. Tiếp theo đó, NHNN cũng đã chỉ đạo hạ lãi suất huy động đối với VND, các NHTM đã vay VND trên thị trường liên ngân hàng nhằm tránh rủi ro về tỷ giá trong dịp cuối năm khi nhu cầu về ngoại tệ tăng. Đến thời điểm cuối năm 2012, tỷ giá không có biến động bất thường và được giữ ở mức ổn định.

Do tổng phương tiện thanh toán trong năm 2013 được kiểm soát chặt chẽ, lạm phát phần nào được giữ ổn định. Đây cũng là cơ sở níu tỷ giá hối đoái giữa VND/USD trong 10 tháng đầu năm 2013, chỉ tăng 1,32% so với thời điểm cuối năm 2013. Dự kiến, nếu NHNN không phá giá Việt Nam đồng trong dịp cuối năm thì mức tăng của USD so với VND trong cả năm 2013 cũng chỉ ở mức 1,5%.

Về tỷ giá, từ năm 2011, NHNN đã cố gắng giữ tỷ giá cơ bản ổn định trong bối cảnh nhập siêu giảm mạnh, xuất khẩu tăng mạnh. Điều này cho thấy, không chỉ phá giá đồng nội tệ mới khuyến khích được xuất khẩu. Trong năm 2012-2013, NHNN đã chủ động phá giá 1% nhằm khuyến khích xuất khẩu, phần còn lại để thị trường điều tiết (chuyển dần sang cơ chế linh động). Cán cân thanh toán, cán cân vãng lai của Việt Nam tiếp tục thặng dư; Luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam ổn định; Lượng kiều hối tiếp tục tăng chính là những điều kiện rất thuận lợi để NHNN tiếp tục duy trì chính sách ổn định tỷ giá, khuyến khích sản xuất trong nước cũng như duy trì lòng tin của người dân vào VND.

Như vậy, mục tiêu của CSTT là hướng đến ổn định lạm phát và tỷ giá, tạo điều kiện cho các thành phần trong nền kinh tế có thể lập kế hoạch kinh doanh trong trung hạn và dài hạn đã dần phát huy tác dụng trong giai đoạn này.

 src=

 

Kiểm định mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá bằng mô hình kinh tế lượng VAR

Mục tiêu của CSTT là hướng đến ổn định lạm phát và tỷ giá, tạo điều kiện cho các thành phần trong nền kinh tế có thể lập kế hoạch kinh doanh trong trung và dài hạn. Trên lý thuyết, khi giữ tỷ giá ổn định thì sẽ tăng cường được lòng tin của công chúng vào đồng nội tệ, đặc biệt tại các quốc gia có mức độ “đô la hóa” cao trong hệ thống tài chính. Trong vòng xoáy lạm phát và tỷ giá hối đoái, câu hỏi đặt ra là chỉ số nào là nguyên nhân và chỉ số nào là kết quả. Để trả lời cho câu hỏi này cần xác định được những nhân tố gây ra lạm phát và những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái.

Trong nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, cần ổn định tỷ giá để kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, một số trong các nhân tố ảnh hưởng lớn đến tỷ giá hối đoái lại chính là lạm phát. Ví dụ, khi nguy cơ lạm phát tăng cao niềm tin vào đồng nội tệ giảm, người dân sẽ chuyển sang dự trữ vàng và ngoại tệ mạnh, khi đó nhu cầu bán nội tệ và mua ngoại tệ tăng cao làm cho tỷ giá biến động, trong trường hợp này cho thấy lạm phát là nguyên nhân và biến động tỷ giá là kết quả. Trong một số trường hợp, các quốc gia áp dụng cùng một chính sách tỷ giá hối đoái nhưng lại cho ra mức lạm phát khác nhau. Hoặc tại một số quốc gia, chính sách tỷ giá thay đổi nhưng mức lạm phát vẫn tăng cao.

Để xác định sự tác động của các nhân tố: lạm phát, lãi suất, thu nhập đến tỷ giá hối đoái, nghiên cứu này sẽ sử dụng mô hình véc tơ hồi quy để kiểm định các nhân tố tác động đến lạm phát và tỷ giá hối đoái. Sau đó sử dụng mô hình véc tơ tự hồi quy VAR để kiểm định mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá để có thể đưa ra cơ chế tác động giữa hai biến vĩ mô này. Dựa trên dự báo đó, NHNN có thể xây dựng CSTT nhằm kiềm chế lạm phát và ổn định tỷ giá.

Mô hình hồi quy sẽ gồm 1 biến phụ thuộc là tỷ giá hối đoái (Exrate) và 3 biến độc lập lần lượt là lạm phát (tính theo chênh lệch CPI), dự trữ ngoại hối (DTNH), lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng (Rate). Các biến số này có mối liên hệ trên lý thuyết và thực tiễn. Chúng ta có phương trình hồi quy:

Exrate = β1 + β2 CPI + β3 DTNH + β 4 Rate + u

Trong đó: β1 là hệ số chặn của đường hồi quy tổng thể, β2, β3, β4 là hệ số hồi quy riêng của các biến độc lập, U là sai số ngẫu nhiên. Các chuỗi dữ liệu được sử dụng trong mô hình có thời gian từ quý I/2000 đến quý I/2013, do Tổng cục Thống kê NHNN và Vietcombank công bố.

Sau khi chạy trên phầm mềm Eview, chúng ta có được kết quả sau:

Biến phụ thuộc: LNEXRATE

Phương pháp: Bình phương cực tiểu

Date: 03/27/14 Time: 12:59

Bộ mẫu: 2000Q1 2013Q1

Số lượng quan sát: 53

 src=

 

Kết quả kiểm định trên cho thấy, nhân tố tác động mạnh nhất đến tỷ giá là lạm phát (β2 = 0,36), còn DTNH biến động ngược chiều với tỷ giá (β3=-0,6), điều này là phù hợp với thực tế. Khi NHNN mua ngoại tệ vào làm tăng lượng DTNH thì tỷ giá sẽ biến động tiêu cực, ngược lại khi NHNN bán ngoại tệ ra nhằm mực đích bình ổn tỷ giá thì tỷ giá sẽ biến động tích cực. Còn lãi suất có ảnh hưởng đến tỷ giá theo nguyên tắc cân bằng lãi suất trên thị trường vốn (β 4= 0,06). Tuy nhiên, lãi suất tại Việt Nam ảnh hưởng không lớn đến tỷ giá, vì lãi suất danh nghĩa của tại Việt Nam tương đối cao, nhưng đồng thời lạm phát cũng ở mức cao. Do đó, lãi suất thực tế tại thị trường tài chính Việt Nam là không cao.

Một số khuyến nghị

Trong giai đoạn 2011-2020, Chính phủ giao nhiệm vụ cho các cơ quan quản lý phải hướng đến một chính sách tỷ giá linh hoạt, tạo dựng niềm tin và ổn định thị trường. Đặc biệt trong giai đoạn 2015-2020, NHNN định hướng “chính sách tỷ giá tiếp tục được hoàn thiện theo hướng chuyển dần sang chế độ tỷ giá linh hoạt hơn, tạo cơ sở thuận lợi cho việc thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi hoàn toàn trong giai đoạn tiếp theo”.

Trên lý thuyết, khi giữ tỷ giá ổn định sẽ củng cố được lòng tin của công chúng vào đồng nội tệ, đặc biệt tại các quốc gia có mức độ “đô la hóa” cao trong hệ thống tài chính. Trong vòng xoáy lạm phát và tỷ giá hối đoái, câu hỏi đặt ra là chỉ số nào là nguyên nhân và chỉ số nào là kết quả. Để trả lời cho câu hỏi này cần xác định được những nhân tố gây ra lạm phát và những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái.

 

Mục tiêu của CSTT nói chung và chính sách tỷ giá nói riêng của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế trong thế kỷXXI là góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo sự bền vững của cán cân thanh toán quốc tế; Theo dõi, đánh giá và dự báo xu hướng của các dòng vốn quốc tế; Hạn chế tình trạng “đô la hóa”, nâng cao vị thế của VND.

Đặc biệt là cần xây dựng một mức lạm phát mục tiêu cho trung hạn và dài hạn. Nếu điều này thực hiện được sẽ tạo niềm tin cho công chúng đối với VND. Khi xác định được mục tiêu, điều hành CSTT, tỷ giá sẽ có định hướng phối hợp tốt hơn với các chính sách vĩ mô khác để tận dụng tối đa lợi thế cạnh tranh quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế.

Đồng thời, bám sát các diễn biến trong nền kinh tế, nếu có dấu hiệu khả quan trong nền kinh tế thì CSTT nên nới lỏng vừa phải, không nên cứng nhắc áp đặt một con số cụ thể cho tăng trưởng tín dụng. Ngoài ra, cần phối hợp đồng bộ giữa CSTT và chính sách tài khóa để duy trì tỷ giá ổn định, hạn chế nhập siêu trong thời gian tới.

Theo đó, trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, NHNN sẽ phải chọn công cụ CSTT phù hợp cho thời kỳ đó và theo các chỉ tiêu vĩ mô đã được vạch sẵn. Các công cụ phổ biến của CSTT thường được NHNN sử dụng đến sẽ gồm: Nghiệp vụ thị trường mở; Nghiệp vụ chiết khấu; Tỷlệ dự trữ bắt buộc; Hạn mức tín dụng; Khung lãi suất; Công cụ tỷ giá hối đoái….

Hậu quả của chính sách lãi suất âm

 

Hậu quả của chính sách lãi suất âm

“Các ngân hàng trung ương sẽ hạ lãi suất xuống mức nào?” là câu hỏi đã được đặt ra khá lâu. Tuy nhiên, mãi cho đến gần đây mới có giả định cho rằng nhiều nhà làm chính sách sẽ dừng hẳn việc cắt giảm lãi suất danh nghĩa khi lãi suất đã lùi về mức 0%.

* Virus “lãi suất âm” và chiến tranh tiền tệ

* NHTW Nhật lần đầu áp dụng chính sách lãi suất âm

 width=

Thế nhưng, theo nhận định của nhà chiến lược Christopher Swann tại Công ty Quản lý Quỹ UBS, lãi suất âm – mức lãi suất đang được áp dụng đối với các ngân hàng thương mại gửi tiền tại ngân hàng trung ương – đang được triển khai rộng rãi.

Theo CNBC, lãi suất âm lại đang được áp dụng ở các quốc gia chiếm tới hơn 25% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu, bao gồm khối Eurozone, Thụy Sỹ và gần đây nhất là Nhật Bản với mức lãi suất âm 0.1%, trong một nỗ lực khôi phục nền kinh tế bằng việc kích thích đầu tư.

Kể cả ở Mỹ, dù thị trường đã chiết khấu mức tăng lãi suất 1% vào cuối năm 2015 nhưng cũng đang dự đoán rằng xác suất Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) áp dụng mức lãi suất âm trong 12 tháng tới là 10% (cao hơn gấp 4 lần so với dự báo đưa ra đầu năm nay), nhằm ứng phó với các chỉ báo kinh tế yếu ớt gần đây.

Các ngân hàng trung ương (NHTW) áp dụng chính sách lãi suất âm với hy vọng tăng trưởng kinh tế và thị trường sẽ được cải thiện. Vậy lãi suất âm sẽ có tác động như thế nào đến một nhà đầu tư bình thường?

Thứ nhất, chính sách này sẽ thúc đẩy các ngân hàng thương mại cho vay nhiều hơn để tránh mức phạt đối với lượng tiền mặt dư thừa cao hơn mức cho phép.

Thứ hai, mức lãi suất dưới 0% cũng có thể khiến đồng nội tệ suy yếu, thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu và lạm phát trong khi hạn chế nhập khẩu.

Thứ ba, bằng cách giảm lợi suất trái phiếu Chính phủ ngắn hạn, lãi suất âm khiến thị trường chứng khoán hấp dẫn hơn.

Thứ tư, chi phí lãi vay âm có thể hỗ trợ cho các phương án nới lỏng khác (chẳng hạn như chương trình nới lỏng định lượng – QE), và là tín hiệu cho thấy nỗ lực của NHTW trong việc giải quyết lạm phát thấp hơn kỳ vọng.

Trên lý thuyết là vậy nhưng trong thực tế, các lần áp dụng mức lãi suất âm trước đây lại cho thấy mọi chuyện không nhất định diễn biến như mong đợi. Giới hạn của chính sách này là gì và liệu nó có đem lại hậu quả không mong đợi? Câu trả lời là có.

Thứ nhất, tín dụng có thể bị thắt chặt. Để lãi suất âm thúc đẩy cho vay ngân hàng, các ngân hàng thương mại cần phải sẵn sàng cho vay với mức chi phí thấp hơn hoặc cho vay nhiều hơn. Điều này rõ ràng không có lợi cho lợi nhuận của các ngân hàng thương mại. Đến lúc lợi nhuận bị ảnh hưởng quá nặng nề, các ngân hàng sẽ thu hẹp phạm vi cho vay. Các khó khăn trong việc áp dụng mức lãi suất âm đối với bên cho vay có thể khiến chi phí lãi vay tăng cho người đi vay. Thụy Sỹ và Đan Mạch là các ví dụ điển hình khi người mua nhà phải chịu lãi vay mua nhà cao khi lãi âm được áp dụng.

Và không phải lúc nào chính sách này cũng có hiệu quả với thị trường chứng khoán. Lãi âm sẽ khiến nhà đầu tư chuyển từ trái phiếu sang cổ phiếu, nhưng thời gian vừa qua hiệu ứng này không được rõ ràng. Bởi các ngân hàng chiếm tỷ lệ vốn hóa lớn trong thị trường vốn, ví dụ như ở Mỹ và Nhật Bản, việc lợi nhuận ngân hàng bị cắt giảm sẽ khiến các chỉ số thị trường chứng khoán thêm trì trệ.

Lãi âm còn có thể khiến đồng nội tệ mất giá. Tuy nhiên, dường như mối liên kết này đã bị phá vỡ. Điển hình là trường hợp đồng Yên Nhật gần đây đã tăng 5.4% so với đô la Mỹ từ khi áp dụng lãi suất dưới 0%, song song với đó là khẩu vị rủi ro ngày càng cao đã làm lu mờ sự chênh lệch về lãi suất.

Các ngân hàng trung ương có thể đi quá xa. Chủ tịch NHTW châu Âu (ECB) Mario Draghi phát biểu rằng không có giới hạn cho gói nới lỏng mà ngân hàng này đang áp dụng. Nhưng ít nhất chúng ta sẽ có hạn mức cho mức lãi suất âm hiện hành. Tại một thời điểm nhất định, khách hàng gửi tiền tại các ngân hàng thương mại sẽ buộc phải chuyển các khoản tiết kiệm sang tiền mặt nếu không muốn bị phạt.

NHTW các nước quả quyết sẽ làm mọi điều trong khả năng để kích thích tăng trưởng và kéo lạm phát khỏi mức trì trệ. Tuy nhiên, do các chính sách ngày càng trở nên bất thường nên nhà đầu tư vẫn nên theo dõi tình hình sát sao hơn một khi các chính sách này có khả năng gây ra các phản ứng phụ không mong muốn./.

Được biết, Christopher Swann, là một nhà chiến lược tại Văn phòng Đầu tư của Công ty Quản lý Quỹ UBS. Hiện ông đang giám sát khối tài sản có quy mô 2 ngàn tỷ USD./.

Tăng trưởng kinh tế và ngưỡng lạm phát tối ưu

 

Ảnh minh họa. Nguồn: internet.

Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu

Nghiên cứu của Keynes cho rằng, trong ngắn hạn, sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng, theo đó muốn có tăng trưởng cao thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát nhất định. Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm phát di chuyển cùng chiều.

Về dài hạn, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng thì GDP cũng không tăng thêm, ngược lại còn có xu hướng giảm đi.

Dựa trên quan điểm của Keynes, một số nghiên cứu cho rằng, lạm phát ở mức vừa phải sẽ thúc đẩy tăng trưởng (Mubarik, 2005). Ngược lại, một số nghiên cứu khác cho thấy, lạm phát lại có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế khi nó vượt qua một ngưỡng nhất định (Ocran 2007, Khan và Senhadji, 2001).

"/

Các nghiên cứu của Sarel (1996), Shan và Senhadji (2001) và một số nhà nghiên cứu khác, đã lượng hóa mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế thông qua tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu. Sarel tìm ra ngưỡng lạm phát là 8%, còn nghiên cứu của Shan và Senhadji tìm ra ngưỡng lạm phát cho các nước đang phát triển là 11 – 12%, các nước công nghiệp khoảng 1 – 3%.

Nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF, 2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với các nước Đông Nam Á đã chỉ ra rằng, mức lạm phát tối ưu cho tăng trưởng kinh tế ở các nước vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam khoảng 3,6%.

Trương Minh Tuấn (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế bằng nghiên cứu thực nghiệm Việt Nam với dữ liệu từ quý I/2001 đến quý IV/2011 cho thấy, tồn tại quan hệ dài hạn giữa lạm phát và tăng trưởng.

Nguyễn Đức Độ (2014) cũng đã nghiên cứu về quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát và tiết kiệm, đầu tư tại Việt Nam với dữ liệu từ 2004 đến 2013. Trong mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng của Việt Nam, đầu tư là biến số quyết định tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát CPI, mức nhập siêu cũng như quy mô thu ngân sách nhà nước.

Mô hình định lượng về mối quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát, tiết kiệm và đầu tư (GISI) tại Việt Nam được đề xuất trong bài viết này cho thấy, để đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững, tốc độ tăng đầu tư cần tương đương với tốc độ tăng trưởng GDP. Hơn nữa, với mức lạm phát mục tiêu đề ra càng thấp, thì tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế sẽ càng cao.

Mô hình, dữ liệu và kết quả nghiên cứu

Dựa vào tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, để đánh giá mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, tác giả áp dụng mô hình như sau:

Trong đó: Inf là tỷ lệ thay đổi của chỉ số CPI năm t so với năm t-1, Inf=(CPIt-CPIt-1)/CPIt-1; g đo lường cú sốc cầu, là tỷ lệ thay đổi của GDP, g= (GDPt-GDPt-1)/GDPt-1; m2gdp đo lường độ sâu tài chính, đại diện cho tác động của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng, m2gdp= M2t/GDPt; gegdp đo lường tác động chính sách tài khóa mà đại diện là chi tiêu chính phủ so với GDP, gegdp= GEt/GDPt; αo là tung độ gốc, các giá trị α là hệ số dốc và u là sai số ngẫu nhiên.

Theo Keynes và các nghiên cứu đã phân tích cho thấy, giữa tăng trưởng với lạm pháp có mối quan hệ phi tuyến (đường cong).

Do đó, tác giả sử dụng hồi quy ngưỡng theo phương pháp của Hansen để xác định ngưỡng lạm phát tối ưu cho Việt Nam, với dữ liệu được thu thập từ năm 1992 cho đến năm 2016 (sử dụng phương pháp bootstrap 1000 lần, nhằm tăng số mẫu và độ tin cậy cho bộ dữ liệu nghiên cứu). Kết quả cho thấy, tồn tại quan hệ ngưỡng giữa tăng trưởng và lạm phát, với ngưỡng lạm phát tối ưu là 3,22%/năm.

Như vậy, nếu mức lạm phát được giữ ở mức dưới ngưỡng này sẽ kích thích cho tăng trưởng kinh tế (lạm phát tăng thêm 1% thì kinh tế tăng trưởng thêm 0,45%).

Ngoài ra, trong ngưỡng này thì tăng độ sâu tài chính cũng giúp tăng trưởng (độ sâu tài chính tăng thêm 1% giúp tăng trưởng kinh tế thêm 0,37%), ngược lại tăng chi tiêu chính phủ nếu không đẩy mạnh tăng thu nhập thì tạo hiệu ứng ngược (tỷ lệ chi tiêu chính phủ so GDP tăng 1% làm tăng trưởng giảm 1,33%).

Với mức lạm phát trên 3,22%/năm sẽ tạo hiệu ứng kiềm chế tăng trưởng, tuy nhiên cũng ở mức thấp (lạm phát tăng 1%, tăng trưởng kinh tế giảm 0,005%).

Ngoài ra, nếu mức lạm phát trên 3,22%, các chỉ số về độ sâu tài chính, hay chi tiêu chính phủ so với GDP đều có quan hệ thuận chiều và kích thích tăng trưởng, đặc biệt ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ/GDP lên tăng trưởng rất cao (tỷ lệ này tăng 1%, tăng trưởng kinh tế thêm 0,84%).

Kết quả nghiên cứu này khá tương đồng với nghiên cứu của Khan (2005) tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu ở các nước Trung Đông và Trung Á là khoảng 3,2%/năm, hay nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với các nước Đông Nam Á.

Một số hàm ý về chính sách

Năm 2017, Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức 4%. Tuy nhiên, đây vẫn là mức cao hơn mức ngưỡng tối ưu (3,22%) đề cập trong nghiên cứu này.

Bên cạnh đó, tỷ lệ nhập siêu cũng ở mức cao so với dự trữ, mức thâm hụt ngân sách vẫn duy trì mức cao (thâm hụt chủ yếu từ kênh tiêu dùng), chính sách tiền tệ vẫn chưa thật sự linh hoạt, tăng trưởng tín dụng vẫn duy trì ở mức cao nhằm kích tăng trưởng.

Như đã phân tích, khi chỉ số lạm phát vượt ngưỡng tối ưu sẽ tạo hiệu ứng ngược lên tăng trưởng, Chính phủ muốn duy trì tăng trưởng cao buộc phải nới lỏng chính sách tài khóa hay tiền tệ, nhưng khi nới lỏng chính sách lại tạo cú hích cho lạm phát tăng trở lại.

Như vậy, trong năm 2017 và các năm tiếp theo, Chính phủ cần chú trọng các giải pháp tổng hợp, tiếp tục kiềm chế lạm phát đạt dưới 4% và tiến tới tiệm cận ngưỡng lạm phát tối ưu, có như vậy mới thật sự phát triển kinh tế đi kèm với ổn định giá cả và thu nhập cho người dân.

Tài liệu tham khảo:

1.Friedman, Milton (1970) “A theoretical framework for Monetery Analysis”, Journal of Political Economy 78(2), 193-238;
2.Barnett, Vincent. John Maynard Keynes. London: Routledge, 2013. ISBN 978-0415567695;
3.Phan Lê Trung và Phạm Lê Thông (2014), Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến lạm phát Việt Nam, Tạp chí Công nghệ ngân hàng, số 102 tháng 9/2014;
4.Nguyễn Đức Độ (2014), Quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát, tiết kiệm và đầu tư tại Việt Nam, Tạp chí Tài chính, số 2/2014.

Khái niệm Lạm phát là gì? Những nguyên nhân nào dẫn đến lạm phát?

 

Thebank.vn
Lạm phát được hiểu là sự gia tăng giá cả trong nền kinh tế. Tuy nhiên các nhà kinh tế thích đo lường bằng những chỉ số cụ thể hơn, đó là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số điều chỉnh thu nhập quốc dân.

Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại tiền tệ khác. Vậy lạm phát là gì? Cách tính lạm phát như thế nào? Nguyên nhân nào dẫn đến lạm phát?… tất cả sẽ có câu trả lời ngay sau đây.

Lạm phát là gì?

Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó. Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ.

Lạm phát có 3 mức độ:

    • Lạm phát tự nhiên: 0 – dưới 10%

 

    • Lạm phát phi mã: 10% đến dưới 1000%

 

    • Siêu lạm phát: trên 1000%

 

Trong thực tế, các quốc gia chỉ kỳ vọng lạm phát chỉ xảy ra khoảng 5% trở xuống. Bạn thử nghĩ đi, một năng tăng trưởng kinh tế kỳ vọng khoảng 10% thì tiền mất giá tầm 5% là vừa đủ đẹp. Tính ra quốc gia đó có 5% tăng trưởng thực sự.

Lạm phát là gì?

Lạm phát là gì?

Các nguyên nhân gây ra lạm phát

Bạn hãy tạm coi tiền tệ như một món hàng trao đổi thời còn hàng đổi hàng. Món hàng nào có giá thì món đó sẽ đổi được nhiều hơn món hàng khác. Vậy hiện tượng lạm phát xảy ra khi nào?

Ví dụ: Đô la Mỹ (USD) là đồng tiền có giá, bạn có thể dùng nó để mua hàng hóa ở bất kỳ đâu vì nó là đồng tiền có giá trị, được bảo chứng toàn cầu.

Còn một quốc gia sản xuất yếu kém, hàng hóa khan hiếm thì giá cả hàng hóa tăng. Giá tăng thì phải bỏ nhiều tiền hơn mua hàng hóa. Mà khi tiền mang đi quá nhiều bất tiện, nhà nước sẽ in các tờ tiền mệnh giá lớn để hỗ trợ lưu thông hàng hóa gọn gàng hơn.

Sau đây là các nguyên nhân lạm phát mà các bạn cần nắm được:

Lạm phát do cầu kéo

Khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường. Lạm phát do sự tăng lên về cầu (nhu cầu tiêu dùng của thị trường tăng) được gọi là “lạm phát do cầu kéo”.

Lạm phát do chi phí đẩy

Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận và thế là mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng sẽ tăng được gọi là “lạm phát do chi phí đẩy”.

Lạm phát do cơ cấu

Với ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền công “danh nghĩa” cho người lao động. Nhưng cũng có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả, doanh nghiệp cũng theo xu thế đó buộc phải tăng tiền công cho người lao động. Nhưng vì những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả, nên khi phải tăng tiền công cho người lao động, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá thành sản phẩm để đảm bảo mức lợi nhuận và làm phát sinh lạm phát.

Lạm phát do cầu thay đổi

Khi thị trường giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm, như giá điện ở Việt Nam), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.

Lạm phát do xuất khẩu

Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trường tiêu thụ lượng hàng nhiều hơn cung cấp), khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm (hút hàng trong nước) khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu. Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát.

Lạm phát do nhập khẩu

Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cả trên thế giới tăng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên. Khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát.

Lạm phát tiền tệ

Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát.

 

Tìm hiểu thêm: Mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái

 

Nhận giải đáp thắc mắc và tư vấn miễn phí!!!

Đăng ký ngay

 Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát

Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát

Ảnh hưởng của lạm phát đến kinh tế

Ảnh hưởng tích cực

Lạm phát không phải bao giờ cũng gây nên những tác hại cho nền kinh tế. Khi tốc độ lạm phát vừa phải đó là từ 2-5% ở các nước phát triển và dưới 10% ở các nước đang phát triển sẽ mang lại một số lợi ích cho nền kinh tế như sau:

+ Kích thích tiêu dùng, vay nợ, đầu tư giảm bớt thất nghiệp trong xã hội.

+ Cho phép chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các công cụ kích thích đầu tư vào những lĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở rộng tín dụng, giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn lực trong xã hội theo các định hướng mục tiêu và trong khoảng thời gian nhất định có chọn lọc. Tuy nhiên, đây là công việc khó và đầy mạo hiểm nếu không chủ động thì sẽ gây nên hậu quả xấu.

Tóm lại, lạm phát là căn bệnh mãn tính của nền kinh tế thị trường, nó vừa có tác hại lẫn lợi ích. Khi nền kinh tế có thể duy trì, kiềm chế và điều tiết được lạm phát ở tốc độ vừa phải thì nó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Ảnh hưởng tiêu cực

Lạm phát và lãi suất

Lạm phát của các quốc gia trên thế giới khi xảy ra cao và triền miên có ảnh hưởng xấu đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của một quốc gia. Trong đó, tác động đầu tiên của lạm phát là tác động lên lãi suất.

Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát

Do đó khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, nếu muốn cho lãi suất thật ổn địnhvà thực dương thì lãi suất sanh nghĩa phải tăng lên theo tỷ lệ lạm phát. Việc tăng lãi suất danh nghĩa sẽ dẫn đến hậu quả mà nền kinh tế phải gánh chịu là suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng.

Lạm phát và thu nhập thực tế

Giữa thu nhập thực tế và thu nhập danh nghĩa của người lao động có quan hệ với nhau qua tỷ lệ lạm phát. Khi lạm phát tăng lên mà thu nhập danh nghĩa không thay đổi thì làm cho thu nhập thực tế của người lao động giảm xuống.

Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thật của những tài sản không có lãi mà nó còn làm hao mòn giá trị của những tài sản có lãi, tức là làm giảm thu nhập thực từ các khoản lãi, các khoản lợi tức. Đó là do chính sách thuế của nhà nước được tính trên cơ sở của thu nhập danh nghĩa. Khi lạm phát tăng cao, những người đi vay tăng lãi suất danh nghĩa để bù vào tỷ lệ lạm phát tăng cao mặc dù thuế suất vẫn không tăng.

Từ đó, thu nhập ròng (thực) của của người cho vay bằng thu nhập danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát bị giảm xuống sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế xã hội. Như suy thoái kinh tế, thất nghiệp gia tăng, đời sống của người lao động trở nên khó khăn hơn sẽ làm giảm lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ…

Gửi yêu cầu tư vấn miễn phí ngay để được Thebank giải đáp các thắc mắc:

Đăng ký ngay

 

Xem thêm: Tỷ lệ lạm phát và lãi suất như thế nào có lợi cho nền kinh tế

 

Ảnh hưởng của lam phát đến kinh tế

Ảnh hưởng của lam phát đến kinh tế

Lạm phát và phân phối thu nhập không bình đẳng

Khi lạm phát tăng lên, giá trị của đồng tiền giảm xuống, người đi vay sẽ có lợi trong việc vay vốn trả góp để đầu cơ kiếm lợi. Do vậy càng tăng thêm nhu cầu tiền vay trong nền kinh tế, đẩy lãi suất lên cao.

Lạm phát tăng cao còn khiến những người thừa tiền và giàu có, dùng tiền của mình vơ vét và thu gom hàng hoá, tài sản, nạn đầu cơ xuất hiện, tình trạng này càng làm mất cân đối nghiêm trọng quan hệ cung – cầu hàng hoá trên thị trường, giá cả hàng hoá cũng lên cơn sốt cao hơn.

Cuối cùng, những người dân nghèo vốn đã nghèo càng trở nên khốn khó hơn. Họ thậm chí không mua nổi những hàng hoá tiêu dùng thiết yếu, trong khi đó, những kẻ đầu cơ đã vơ vét sạch hàng hoá và trở nên càng giàu có hơn. Tình trạng lạm phát như vậy sẽ có thể gây những rối loạn tong nền kinh tế và tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập, về mức sống giữa người giàu và người nghèo.

Lạm phát và nợ quốc gia

Lạm phát cao làm cho Chính phủ được lợi do thuế thu nhập đánh vào người dân, nhưng những khoản nợ nước ngoài sẽ trở nên trầm trọng hơn. Chính phủ được lợi trong nước nhưng sẽ bị thiệt với nợ nước ngoài. Lý do là vì: lạm phát đã làm tỷ giá giá tăng và đồng tiền trong nước trở nên mất giá nhanh hơn so với đồng tiền nước ngoài tính trên cá khoản nợ.

Nhận giải đáp thắc mắc và tư vấn miễn phí!!!

Đăng ký ngay

Lạm phát được tính như thế nào?

Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế, thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh…

Chỉ số đo lường lạm phát

Hệ số giảm phát GDP (GDP deflator) được tính trên cơ sở so sánh giá trị GDP tính theo giá hiện hành và GDP tính theo giá kỳ trước. Nghĩa là đo lường mức tăng và giảm giá trên tất cả các loại hàng hoá dịch vụ tính trong GDP.

Chỉ số giá tiêu dùng hay chỉ số giá cả CPI: được tính theo bình quân gia quyền của một nhóm các hàng hóa thiết yếu.

Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một chỉ số giá cả đo mức giá cả trung bình, là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này.

Trong mỗi giai đoạn có thể có giá mặt hàng này tăng, mặt hàng kia giảm, nhưng nếu mức giá chung tăng, ta có lạm phát. Nếu mức giá chung giảm, ta có giảm phát. Nếu chỉ có một vài mặt hàng chẳng hạn như giá đường, hay giá gạo tăng một cách đơn lẻ thì không có nghĩa là lạm phát, mà đơn giản chỉ là một sự mất cân đối tạm thời giữa cung và cầu trong ngắn hạn. Khi lạm phát xảy ra, giá trị của đồng tiền bị sụt giảm.

Biện pháp kiểm soát lạm phát

Biện pháp kiểm soát lạm phát

Một số phương án kiểm soát lạm phát

Giảm bớt lượng tiền trong lưu thông

Đối với chính sách tiền tệ

    • Ngừng phát hành tiền vào trong lưu thông nhằm giảm lượng tiền đưa vào lưu thông trong xã hội

 

    • Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Đây là biện pháp nhằm giảm lượng cung tiền vào thị trường. Biện pháp này tác động đến tất cả các ngân hàng và bình đằng giữa các ngân hàng với nhau.

 

    • Nâng lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tiền gửi: Biện pháp này sẽ làm hạn chế các ngân hàng thương mại mang các giấy tờ có giá đến ngân hàng nhà nước để chiết khấu. Ngoài ra việc nâng lãi suất tiền gửi sẽ hút khiến người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn.

 

    • Ngân hàng trung ương áp dụng nghiệp vụ thị trường mở nhằm bán các chứng từ có giá cho các ngân hàng thương mại.

 

    • Ngân hàng trung ương bán vàng và ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại.

 

Đối với chính sách tài khóa

    • Giảm chi ngân sách: Đó là giảm chi tiêu thường xuyên và cắt giảm đầu tư công.

 

    • Tăng tiền thuế tiêu dùng nhằm giảm bớt nhu cầu chi tiêu cá nhân trong xã hội

 

tăng hàng hóa dịch vụ cung cấp trong xã hội.

Đối với chính sách tiền tệ

    • Đưa ra chính sách ưu đãi tín dụng thông qua ưu đãi lãi suất đối với các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực sản xuất. Việc ưu đãi về lãi suất sẽ làm giảm chi phí sản xuất đầu vào vì vậy tăng năng suất lao động.

 

Đối với chính sách tài khóa

    • Bộ tài chính chỉ đạo tổng cục thuế giảm thuế đầu tư, thuế nhập khẩu nguyên vật liệu và máy móc thiết bị và thuế thu nhập doanh nghiệp. Từ đó làm giảm bớt chi phí đầu vào lên làm tăng năng suất lao động.

 

Trên đây là những thông tin cần thiết giúp bạn hiểu được lạm phát là gì và những vấn đề xung quanh khái niệm này. Tóm lại, lạm phát xảy ra khi xuất hiện sự gia tăng mặt bằng chung về giá cả hàng hóa.

Nhận giải đáp thắc mắc và tư vấn miễn phí!!!

Đăng ký ngay

Lạm phát là gì? 6 Nguyên nhân lạm phát hiện nay – Coin68

 

Một trong những vấn đề lớn mà nền kinh tế phải đối mặt chính là lạm phát. Tuy nhiên, lạm phát không chỉ đơn thuần là một khái niệm vĩ mô mà còn trực tiếp tác động đến từng cá nhân là thành viên trong xã hội.
Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan và chi tiết về bản chất của lạm phát nguyên nhân và tác động và cách kiểm soát.

>> Siêu lạm phát tại Venezuela khiến người dùng bitcoin tăng

 width=

Lạm phát là gì?

a/ Tổng quan về lạm phát

Lạm phát là hiện tượng giá cả hàng hóa tăng lên so với một mốc thời gian cố định trong quá khứ khiến mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền . Thời gian thường được đo trong ngắn hạn, phần lớn so với một năm trước. So với các nền kinh tế khác, lạm phát là sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại tiền tệ khác.
Lạm phát được đo bằng cách theo dõi sự thay đổi giá cả của một lượng lớn hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế, thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức nhà nước, các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh. Gía cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để thống nhất một mức giá trung bình. Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại so với thời điểm gốc.

 width=

b/ Phân loại lạm phát

Tùy vào từng mức độ mà lạm phát có những tác động tiêu cực cũng như tích cực đến nền kinh tế.

Lạm phát có 3 mức độ :

– Lạm phát tự nhiên : 0 – dưới 10%

Tỷ lệ lạm phát hàng năm là 1 con số, gía cả tăng chậm, tương đối ổn định và có thể dự đoán được.

– Lạm phát phi mã : 10% – dưới 1000%

Tỷ lệ lạm phát hàng năm là 2 hoặc 3 chữ  số, đồng tiền mất giá nhiều, lãi suất thực tế thường âm, thị trường tài chính không ổn định.

– Siêu lạm phát : trên 1000%

Đồng tiền gần như mất giá hoàn toàn, khủng hoảng tài chính.

Giảm phát là gì? 3 tác động của Giảm phát

Nguyên nhân lạm phát

 width=

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát, trong đó “ lạm phát do cầu kéo” và “ lạm phát do chi phí đẩy” là 2 nguyên nhân chính.

  • Lạm phát do cầu kéo: Khi nhu cầu của thị trường về mặt hàng tăng lên kéo theo sự tăng lên về giá cả và các loại hàng hóa khác hầu hết trên thị trường sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát do cầu kéo.
  • Lạm phát do chi phí đẩy: Chi phí đẩy của doanh nghiệp bao gồm chi phí đầu vào như nguyên liệu, máy móc, tiền lương, bảo hiểm,..v..v. Khi giá cả một vài yếu tố sản xuất tăng lên kéo theo sự tăng lên về giá cả của sản phẩm nhằm đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp.
  • Lạm phát do cầu thay đổi: Khi lượng cầu giảm với mặt hàng này nhưng lại tăng vơi mặt hàng khác. Trong trường hợp thị trường có nhà cung cấp độc quyền và cố định về giá, mặt hàng có lượng cầu giảm không giảm giá, còn mặt hàng tăng cầu tăng giá khiến mức giá chung tăng lên.
  • Lạm phát do xuất khẩu: Khi xuất khẩu tăng, dẫn đến tổng cầu cao hơn tổng cung, khi đó sản phẩm thu gom cho xuất khẩu khiến hàng cung cho thị trường trong nước giảm, khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu trong nước. Mất cân bằng cung cầu dễ hình thành lạm phát.
  • Lạm phát do nhập khẩu: Ngược lại với lạm phát do xuất khẩu, tổng cầu trong nước thấp hơn tổng cung gây mất cân bằng cung cầu.
  • Lạm phát tiền tệ:  Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, ví dụ như ngân hàng mua ngoại tệ để giữ đồng tiền trong nước không mất giá so với ngoại tệ hoặc ngân hàng trung ương mua công trái yêu cầu nhà nước.

Tác động của lạm phát

Tác động tiêu cực

 width=

a/ Lãi suất

Khi lạm phát tăng cao, muốn lãi suất thực ổn định thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng tỷ lệ lạm phát. Việc tăng lãi suất danh nghĩa dẫn đến hậu quả nền kinh tế suy thoái và thất ngiệp.

b/ Thu nhập thực tế và phân phối thu nhập bình đẳng

Giữa thu nhập thực tế và thu nhập danh nghĩa của người lao động có quan hệ với nhau qua tỷ lệ lạm phát. Lạm phát tăng nhưng thu nhập danh nghĩa không đổi khiến thu nhập thực tế bị giảm xuống. Lạm phát không chỉ giảm giá trị thật của những tài sản không có lãi mà còn làm hao mòn giá trị của những tài sản có lãi do chính sách nhà nước tính lãi theo cơ sở thu nhập danh nghĩa. Hậu quả là suy thoái kinh tế, thất nghiệp gia tăng, đời sống người lao động khó khăn và mất niềm tin vào chính phủ.

c/ Nợ quốc gia

Lạm phát cao giúp chính phủ nhận được khoản lợi từ thuế đánh vào thu nhập của người dân. Tuy nhiên, khoản nợ nước ngoài trở nên trầm trọng hơn do tỷ giá đồng tiền trong nước trở nên mất giá so với đồng tiền nước ngoài tính trên các khoản nợ.

Tác động tích cực

 width=

Khi tốc độ lạm phát từ 2 – 5% ở các nước phát triển và dưới 10% đối với các nước đang phát triển là một tín hiệu tốt mang lại các nguồn lợi sau đây:

– Kích thích tiêu dùng, vay nơ, đầu tư giảm bớt thất nghiệp trong xã hội

– Chính phủ có nhiều lựa chọn các công cụ kích thích đầu tư vào các lĩnh vực kém ưu tiên bằng việc mở rộng tín dụng, phân phối lại thu nhập và các nguồn lực trong xã hội.

Biện pháp kiểm soát lạm phát

 width=

Lạm phát là vấn đề cấp thiết, quan trọng hàng đầu của một nền kinh tế. Do đó, việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp chống lạm phát là mục tiêu hàng đầu của các nhà kinh tế.

* Biện pháp :

– Giảm lượng tiền giấy lưu thông để giảm bớt nhàn rỗi dư thừa bằng cách:

  • Phát hành trái phiếu
  • Tăng lãi suất gửi tiền
  • Giảm sức ép lên giá cả dịch vụ
  • Lưu thông bitcoin
  • Mở rộng hệ thống sử dụng ATM

– Thực hiện chính sách tài chính thắt chặt:

  • Kiện toàn bộ máy nhà nước
  • Cắt giảm đầu tư công, kiểm soát chặt chẽ đầu tư doanh nghiệp nhà nước, giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách

– Thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa và mở rộng lưu thông hàng hóa.

  • Khuyến khích tự do mậu dịch
  • Gỉam thuế quan
  • Đầu tư hệ thống logistic

– Vay viện trợ nước ngoài

– Cải cách tiền tệ

Lạm phát là gì? 6 Nguyên nhân lạm phát hiện nay

5 (100%) 8 bình chọn

Lạm phát là gì? | Binance Academy

 

Lạm phát là sự gia tăng giá cả hàng hóa và dịch vụ của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian. Vì lý do đó, lạm phát cũng được định nghĩa là sự giảm sức mua của một đồng tiền nhất định. Lạm phát được sinh ra do một vài điều kiện cụ thể.

Thứ nhất, sự tăng giá cả phải mang tính liên tục, không phải là một sự kiện ngẫu nhiên. Giá cả của một mặt hàng có thể tăng đột ngột, nhưng có thể không nhất thiết là lạm phát. Những thay đổi về giá cả như vậy được gọi là “biến động giá tương đối” và thường xảy ra do vấn đề cung và cầu của một hàng hóa cụ thể. Giá sẽ ổn định khi cung tăng lên để đáp ứng cầu. Mặt khác, trong quá trình lạm phát, sự tăng giá cả là liên tục, không dừng lại ở mức ổn định.

Thứ hai, lạm phát bao hàm sự tăng giá chung của các hàng hóa và dịch vụ. Trong khi “biến động giá tương đối” thường có nghĩa chỉ là sự tăng giá của một hoặc hai hàng hóa, lạm phát lại là sự tăng giá của gần như tất cả các mặt hàng trong nền kinh tế.

Thứ ba, lạm phát là một hiện tượng lâu dài với sự tăng giá chung diễn ra liên tục trong một thời gian dài. Hầu hết các quốc gia hiện đại tiến hành các đo lường hàng năm về tỷ lệ lạm phát. Các nghiên cứu cho thấy lạm phát thường kéo dài trong nhiều năm.

Lạm phát diễn ra như thế nào?

Nguyên nhân lạm phát

Các nhà kinh tế học đã xác định hai nguyên nhân cơ bản của lạm phát. Thứ nhất là sự tăng nhanh chóng về số lượng tiền thực tế trong lưu thông (cung). Ví dụ, khi các nhà chinh phục đến từ châu Âu chinh phục được bán cầu Tây trong thế kỷ 15, những thỏi vàng và bạc đã tràn vào châu Âu, gây ra lạm phát.

Thứ hai, lạm phát có thể xảy ra do thiếu hụt nguồn cung của một hàng hóa cụ thể có nhu cầu cao. Điều này có thể làm tăng giá của hàng hóa đó, dẫn đến ảnh hưởng đến phần còn lại của nền kinh tế. Kết quả có thể là sự tăng giá chung của hầu hết các hàng hóa và dịch vụ.

Đo lường lạm phát

Có nhiều cách khác nhau để đo lường lạm phát. Phương pháp thông thường là đo lường giá của các hàng hóa và dịch vụ liên quan nhất. Để thực hiện một phép đo như vậy, các cơ quan chính phủ có thể tiến hành, ví dụ, các cuộc khảo sát hộ gia đình nhằm xác định các mặt hàng thường được mua trong một cộng đồng hoặc đất nước. Giá của các mặt hàng này sau đó được theo dõi theo thời gian và được sử dụng làm cơ sở cho tính toán.

Lạm phát và giảm phát

Giảm phát là sự giảm giá chung trong một khoảng thời gian nhất định. Mặc dù lạm phát thường là mối đe dọa cho nền kinh tế của một quốc gia, giảm phát cũng có thể nguy hiểm.

Thứ nhất, giảm phát có xu hướng làm chậm hoạt động kinh tế. Khi giá giảm, người tiêu dùng có xu hướng trì hoãn việc mua sắm để đợi giá giảm xuống thấp hơn nữa. Thứ hai, giảm phát có thể khiến các doanh nghiệp giảm đầu tư vào cải tiến sản xuất do nhu cầu tiêu dùng thấp hơn. Cuối cùng, điều này kéo theo việc nhu cầu vay tiền sẽ ít hơn, dẫn đến việc hạ thấp lãi suất. Trong khi lãi suất thấp có thể có lợi cho những người xin vay có thế chấp hoặc vay tiền, nó gây tổn hại cho những người sống nhờ vào lãi suất thu được từ tài khoản tiết kiệm.

Theo sau Cơn sụp đổ của Thị trường Chứng khoán năm 1929, Đại suy thoái là một ví dụ nổi bật về giảm phát. Nó được coi là đợt suy thoái kinh tế lớn nhất và dài nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. Sự bóp chặt kinh tế đã làm cho nguồn cung tiền giảm và bắt đầu một đường xoáy ốc theo chiều đi xuống của nền kinh tế. Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ tăng từ 3,2% lên khoảng 25% trong 4 năm, làm giảm nhu cầu hàng hóa và dẫn đến thất nghiệp gia tăng.

Các nhà kinh tế học gọi đây là đường xoắn ốc giảm phát vì một sự kiện kinh tế tiêu cực dẫn đến một sự kiện khác. Thường thường, một số dạng khủng hoảng tài chính châm ngòi chu kỳ này bằng cách làm giảm nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ, dẫn đến làm chậm nền sản xuất. Điều này dẫn đến việc giảm tiền lương và thu nhập, và do đó làm giảm thêm nhu cầu. Suy thoái khiến giá giảm. Một khi đường xoắn ốc giảm phát bắt đầu, những vấn đề mà nó gây ra có thể dễ dàng dẫn đến sự tiếp tục suy thoái. Các chuyên gia tài chính coi các đường xoắn ốc giảm phát là mối đe dọa lớn cho nền kinh tế của một quốc gia.

Lạm phát ở Venezuela

Một ví dụ rõ ràng về tác động của lạm phát được tìm thấy ở Venezuela. Đất nước Nam Mỹ này đã chứng kiến nền kinh tế sụp đổ do lạm phát trong những năm qua. Các chính sách xây dựng xã hội chủ nghĩa, tham nhũng tràn lan và giá dầu giảm có lẽ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến siêu lạm phát của Venezuela. Các chuyên gia dự báo rằng lạm phát trong năm 2018 sẽ đạt 1 triệu phần trăm. Điều này có nghĩa là giá tăng với tốc độ chóng mặt.

Tại sao lạm phát có ý nghĩa quan trọng?

Lạm phát là một vấn đề quan trọng vì nó có thể có cả tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế của một quốc gia và tài chính cá nhân của người tiêu dùng.

Các khía cạnh tích cực của lạm phát

Mặc dù lạm phát thường rất có hại, nhưng nó có thể có một số lợi ích tích cực. Thứ nhất, lạm phát có thể kích thích nền kinh tế của một quốc gia. Khi có nhiều tiền hơn trong lưu thông, điều đó có nghĩa sẽ có nhiều tiền hơn cho chi tiêu, nhờ đó tạo ra cầu nhiều hơn. Điều này giúp thúc đẩy sản xuất, giảm thất nghiệp, và đưa nhiều tiền hơn vào hoạt động kinh tế trên tổng thể.

Thứ hai, lạm phát giúp chống lại một mối nguy hiểm đối với nền kinh tế được gọi là “Nghịch lý của tiết kiệm”. Đây là thuật ngữ được đưa ra bởi John Maynard Keynes, một nhà kinh tế học nổi tiếng thế kỷ 20. Thuật ngữ này đề cập đến xu hướng trì hoãn mua sắm hàng hóa của người tiêu dùng khi giá giảm trong thời kỳ giảm phát. Như bạn có thể thấy, lạm phát hoạt động theo cách ngược lại của giảm phát – nó nhắc nhở người tiêu dùng nên nhanh chóng mua hàng hóa và dịch vụ trước khi giá của chúng tăng thêm.

Các khía cạnh tiêu cực của lạm phát

Dễ hiểu khi lạm phát là mối quan tâm của các nhà kinh tế và quan chức chính phủ, ngoài ra nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với những người dân thường vì nhiều lý do. Lạm phát tác động đến những người dễ bị tổn thương nhất trong một quốc gia – người nghèo và người già – và cũng làm giảm thu nhập thực của tầng lớp lao động. Thứ ba, lạm phát làm cho lãi suất tăng lên. Cuối cùng, lạm phát làm giảm giá trị tiết kiệm. Những người đã dành nhiều năm để tiết kiệm tiền cho giáo dục hoặc nghỉ hưu sẽ thấy sức mua của số tiền đó giảm đáng kể.

Tiền điện tử và lạm phát

Trong khi chính phủ quốc gia cố gắng kiểm soát lạm phát, Bitcoin được nhiều người coi là một hàng rào tốt chống lại các tác động xấu của lạm phát. Điều này là do Bitcoin có tổng nguồn cung cố định là 21 triệu coin. Mặc dù có một số tranh cãi, nhiều người tin rằng điều này làm cho Bitcoin trở thành một đồng tiền giảm phát, và do đó, chống lại lạm phát. Vì lý do này, nhiều người dân Venezuela đã bắt đầu sử dụng Bitcoin hoặc các loại tiền điện tử khác để đối phó với siêu lạm phát của quốc gia này.

Leave your Comment