Lã bố là gì 453

Để lại di ngôn ứng nghiệm không sai một chữ, Lữ Bố khiến Tào Tháo “chết không nhắm mắt”

 

 

Lữ Bố (160 – 199), còn gọi là Lã Bố, tự Phụng Tiên, là tướng nhà Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc. Vào thời đại bấy giờ, hình ảnh vị tướng họ Lữ cầm trong tay phương thiên họa kích, cưỡi trên mình ngựa Xích Thố đã từng trở thành nỗi ám ảnh với không ít các thế lực đối địch.

Tuy nhiên dù nổi danh với võ lực được xem là “đệ nhất thiên hạ”, Lữ Bố vẫn phải kết thúc sự nghiệp của mình khi đương độ tráng niên chỉ vì thất bại trước Tào Tháo trong cuộc chiến giữa các thế lực quân phiệt cuối thời Đông Hán.

Theo nhiều giai thoại truyền lại, trước lúc bị hạ sát ở lầu Bạch Môn vào năm 199, Lữ Phụng Tiên đã từng để lại một di ngôn đầy ẩn ý cho đối thủ Tào Mạnh Đức. Chỉ tiếc rằng vị quân chủ họ Tào đã bỏ ngoài tai lời cảnh báo này mà không ngờ được rằng tiên liệu của Lữ Bố không lâu sau đó sẽ ứng nghiệm không sai một chữ.

Bi kịch của Lữ Bố – võ tướng có tài nhưng bất trung: Thất bại là điều đã được tiên liệu trước

Để lại di ngôn ứng nghiệm không sai một chữ, Lữ Bố khiến Tào Tháo chết không nhắm mắt - Ảnh 1.

Người đời thường nói “Nhân trung Lã Bố, mã trung Xích Thố” (Người có Lã Bố, ngựa có Xích Thố) với hàm ý xem Lữ Bố và ngựa Xích Thố như là 2 cực phẩm chốn nhân gian. (Ảnh minh họa).

Nhắc tới tên tuổi của Lữ Bố, nhiều người thường nhớ danh hiệu “võ tướng vô địch thiên hạ” cuối thời Đông Hán hay lời truyền miệng “nhân trung Lữ Bố, mã trung Xích Thố”.

Thế nhưng mặc dù sở hữu võ nghệ cao cường, Lữ Phụng Tiên năm xưa vẫn không tránh khỏi kết cục bi thảm, mà nguồn cơn của bi kịch ấy lại bắt nguồn từ chính thái độ làm người bị cho là bất nghĩa của ông.

Năm xưa, Lữ Bố từng vì ngựa quý và lợi lộc mà bị Đổng Trác mua chuộc, sau đó đã xuống tay giết vị quân chủ đầu tiên mà mình từng phụng sự là Đinh Nguyên.

Mối quan hệ vụ lợi giữa Đổng – Lữ cũng chẳng được bền lâu. Kết quả là vì nghe theo lời thuyết phục của Đại tư đồ Vương Doãn, ông cũng đã thẳng tay sát hại Đổng Trác.

Sau khi Đổng tặc bị diệt, Lữ Bố nhanh chóng bại dưới tay đội quân của Lý – Quách và bị đánh bật khỏi kinh thành.

Trước tình cảnh ấy, ông buộc phải nương nhờ Viên Thuật, Viên Thiệu một thời gian nhưng chẳng mấy chốc đã trở mặt và đoạn tuyệt mối quan hệ với hai thế lực chư hầu này.

Năm 194, thừa dịp Tào Tháo đem quân đánh Từ Châu, Lữ Bố đã dẫn người tới tấn công căn cứ của Tào ở Duyện Châu.

Thế nhưng Tào Mạnh Đức vốn chẳng phải dê non chờ người khác tới làm thịt. Khi Lữ Phụng Tiên còn ngồi chưa ấm chỗ tại địa bàn này, ông đã cùng lục đại mãnh tướng khét tiếng thời bấy giờ (gồm Hứa Chử, Điển Vi, Hạ Hầu Đôn, Hạ Hầu Uyên, Lý Điển, Nhạc Tiến) đánh cho phe Lữ Bố hoàn toàn đại bại.

Thất bại của Lữ Bố trước cuộc phản công từ Tào Tháo vốn được xem là kết cục tất yếu. Bởi võ tướng họ Lữ mặc dù có tài võ nghệ nhưng lại bị xem là kẻ hữu dũng vô mưu, không biết dùng người.

Đây cũng là lý do khiến nhiều hổ tướng dưới tay ông như Trương Liêu, Tang Bá, Hách Manh đều không có mấy đất dụng võ khi phụng sự cho thế lực chư hầu này.

Để lại di ngôn ứng nghiệm không sai một chữ, Lữ Bố khiến Tào Tháo chết không nhắm mắt - Ảnh 2.

Do ảnh hưởng từ “Tam Quốc diễn nghĩa”, nhiều độc giả thường xem Lữ Bố như Chiến thần và tin rằng ông là vị tướng dũng mãnh nhất trong thời đại bấy giờ. (Ảnh minh họa).

Sau thất bại thê thảm trước Tào Tháo, Lữ Phụng Tiên buộc phải tới nương nhờ Từ Châu của Lưu Bị – một chư hầu tuy còn nhỏ yếu nhưng đã sớm nổi danh với ngọn cờ nhân nghĩa.

Không ngờ tới năm 196, Lữ Bố lại “ngựa quen đường cũ”, lợi dụng lúc Lưu Bị tấn công Viên Thuật để đánh cướp Từ Châu, hớt tay trên mảnh đất đặt chân duy nhất của Lưu Hoàng thúc.

Bấy giờ Lưu Bị cũng không còn cách nào khác, buộc phải dẫn quên về Tiểu Bái. Thế nhưng mọi chuyện vẫn không dừng lại ở đó.

Năm 198, vì lo sợ thế lực của Lưu Huyền Đức càng lúc càng lớn mạnh, Lữ Bố đã sai Trương Liêu và Cao Thuận tấn công Tiểu Bái. Đối mặt với tình cảnh hiểm ác này, Lưu Bị buộc phải bỏ lại thân nhân để chạy trốn và buộc phải cầu cứu Tào Tháo.

Trước tình hình ấy, một Tào Tháo vì muốn trừ đi hậu họa cùng một Lưu Bị đang muốn rửa hận trong lòng đã bắt tay với nhau và công phá thành Hạ Bì, dồn Lữ Bố vào bước đường cùng ở lầu Bạch Môn.

Di ngôn cuối đời của Lữ Bố: Khiến Tào Tháo cả đời hối hận vì không nghe theo

Để lại di ngôn ứng nghiệm không sai một chữ, Lữ Bố khiến Tào Tháo chết không nhắm mắt - Ảnh 3.

Từng có thâm thù với cả Tào Tháo và Lưu Bị, kết cục bi thảm của Lữ Bố ở lầu Bạch Môn bị nhiều người xem là tất yếu khi hai đối thủ của ông là Tào – Lưu cùng nhau liên thủ. (Ảnh minh họa).

Đầu năm 199, phe của Lữ Bố đã hoàn toàn thất bại trước cuộc tấn công từ Tào Tháo. Khi bị dồn vào đường cùng ở lầu Bạch Môn, ông đã nói các thủ hạ chặt đầu mình dâng nộp nhưng không ai nỡ xuống tay. Kết quả là Lữ Bố bị quân Tào bắt sống và trói đến trước mặt Tào Tháo cùng Lưu Bị.

Theo ghi chép của một số nguồn sử liệu, Lữ Bố khi đó muốn xin hàng Tào Tháo, Tháo phân vân nên hỏi lại Lưu Bị. Tuy nhiên Lưu Bị đã khuyên ông giết Lữ Bố, vì kẻ này vốn là người vong ân phụ nghĩa, từng trở mặt giết Đinh Nguyên và Đổng Trác.

Một lời này của Lưu Huyền Đức cũng đã chặt đứt đường sống duy nhất mà Lữ Phụng Tiên hi vọng. Kết cục là Lữ Bố bị Tào Tháo đem đi chém đầu, một đời võ tướng lẫy lừng cứ như vậy bỏ mạng ở tuổi 40.

Tuy nhiên có nhiều giai thoại cho rằng, màn đối thoại cuối đời của Lữ Bố với Tào Tháo và Lưu Bị không chỉ dừng lại như vậy.

Để lại di ngôn ứng nghiệm không sai một chữ, Lữ Bố khiến Tào Tháo chết không nhắm mắt - Ảnh 4.

Khi đã bị dồn vào bước đường cùng, Lữ Bố từng có ý định muốn quy hàng Tào Tháo và xin Lưu Bị nói giúp. Thế nhưng chính những lời kích bác từ Lưu Huyền Đức đã đẩy vị võ tướng nổi danh này vào cửa tử. (Ảnh minh họa).

Tương truyền rằng, Lữ Phụng Tiên trước lúc bị giải đi hành hình đã chỉ thẳng vào mặt Lưu Huyền Đức và mắng lớn:

“Thằng này mới là kẻ không đáng tin nhất”.

Còn theo “Hậu Hán thư” phần “Lữ Bố truyện”, câu nói của Lữ Bố dù cũng mang hàm ý tương tự như trên nhưng câu chữ lại có phần khác biệt. Theo đó, lời mắng của ông nhằm thẳng vào Lưu Bị có nội dung như sau:

“Thằng tai to này mới là kẻ không đáng tin nhất”.

Còn trong “Tam Quốc diễn nghĩa”, Lữ Bố trước thái độ không màng bênh vực của Lưu Bị thì cũng đã bất mãn mà nói ra hai câu:

“Thằng này thực là vô tín”.

Và:

“Thằng tai to kia, quên mất công ta bắn kích ở nha môn rồi à?”.

Dù có nhiều phiên bản lưu truyền khác nhau, nhưng lời mắng của Lữ Bố đối với Lưu Bị lúc cuối đời vẫn thường được nhắc tới như di ngôn của nhân vật này. Còn theo nhận định của tờ báo Sohu (Trung Quốc), đây không đơn thuần chỉ là một di ngôn mà thực chất là lời cảnh báo mà Lữ Bố muốn gửi tới Tào Tháo.

Trước đó, lời kích bác của Lưu Bị đã ngầm nhắc nhở Tào Tháo về tính cách phản phúc giết chủ của Lữ Bố, từ đó khiến cho nhân vật này dù có xin hàng cũng không được chấp nhận.

Thế nhưng Lữ Bố cũng không phải kẻ nằm yên chịu chết mà một mực muốn kéo Lưu Huyền Đức xuống vũng lầy cùng mình.

Khi biết mình đã không còn đường sống, ông đã không ngần ngại chĩa mũi nhọn thẳng vào Lưu Bị bằng một lời mắng mỏ mang theo sự trách cứ cùng nhiều hàm ý ám chỉ.

Lữ Bố một mặt dùng lời nói để chỉ trích Lưu Bị là kẻ không có tín nghĩa khi đã quên việc mình từng bắn kích ở nha môn nhằm giảng hòa cho hai phe Lưu – Viên, mặt khác lại cố ý kích bác, mượn tay Tào Tháo hòng trừ khử Lưu Bị.

Để lại di ngôn ứng nghiệm không sai một chữ, Lữ Bố khiến Tào Tháo chết không nhắm mắt - Ảnh 5.

Bản thân là người bắn kích ở Viên môn để giảng hòa cho hai phe Lưu Bị và Viên Thuật, vì vậy mà Lữ Bố cho rằng việc Lưu Bị dồn ông vào chỗ chết là hành động bất nghĩa, bất tín. (Ảnh minh họa).

Chỉ tiếc rằng Tào Mạnh Đức dù khét tiếng đa nghi, thế nhưng đến cuối cùng vẫn vì xem thường lời cảnh báo của Lữ Bố mà nhận ngay quả đắng.

Chỉ 1 năm sau ngày Lữ Phụng Tiên vong mạng, Lưu Bị sau một thời gian giấu mình nương nhờ Tào Tháo thì đã mượn cớ đi đánh Viên Thiệu để thoát ly Tào doanh.

Kể từ đó, vị Hoàng thúc của nhà Hán này từng bước gây dựng thế lực, thậm chí sau này còn liên thủ với Đông Ngô khiến cho quân Tào thảm bại ở trận Xích Bích.

Thế lực của Lưu Bị cũng đã trở thành một kình địch cùng Tào Ngụy, Đông Ngô chia ba thiên hạ, đập tan mộng tưởng nhất thống mà Tào Tháo cả đời thèm khát.

Cũng bởi vậy mà có ý kiến cho rằng, Tào Tháo trong những năm tháng sau này rất có thể đã hối hận vì không nghe theo lời cảnh báo năm xưa từ Lữ Bố.

Thiết nghĩ nếu năm xưa Tào Mạnh Đức tin vào di ngôn của Lữ Phụng Tiên, sớm nhìn ra dã tâm của Lưu Bị, từ đó đem nhân vật này giam lỏng hoặc trực tiếp trừ khử thì thế cục Tam Quốc sau này sẽ thay đổi, lịch sử Trung Hoa cũng vì vậy mà rất có thể sẽ được viết lại theo một cách hoàn toàn khác.

*Theo quan điểm của Sohu

Lý giải mới về nguyên nhân cái chết của Lã Bố (kỳ cuối)

 

Lã Bố, tự Phụng Tiên, người đất Cửu Nguyên, quận Ngũ Nguyên (nay thuộc thành phố Bao Đầu, Nội Mông, Trung Quốc), là danh tướng cuối thời Đông Hán. Trên chiến trường, Lã Bố sử dụng phương thiên họa kích, như một mãnh hổ tả xung hữu đột, nghìn người không địch nổi, nên từ xưa đã có câu: “Người có Lã Bố, ngựa có Xích Thố”. Kiêu dũng và thiện chiến, nhưng đáng tiếc là Lã Bố lại hay lật lọng, không ngừng đổi chủ và bội phản, cuối cùng bị Tào Tháo hạ lệnh hành quyết tại lầu Bạch Môn.

Kỳ cuối: Lý giải mới về nguyên nhân cái chết của Lã Bố

Theo ghi chép trong lịch sử vào năm Hi Bình thứ năm (năm 176), bộ lạc Tiên Ti (một dân tộc cổ ở miền bắc Trung Quốc) phát động chiến tranh chống Đông Hán. Lã Bố theo cha rút xuống phía nam, đến đất Sơn Tây, trở thành bộ hạ của thứ sử Tinh Châu là Đinh Nguyên. Lã Bố được Đinh Nguyên truyền dạy cho kỹ thuật bắn cung, cưỡi ngựa và phong làm Chủ bạ (một chức quan văn thời Hán, gần giống như thư ký hiện nay). Điều đó cho thấy Đinh Nguyên rất quý mến và coi trọng Lã Bố.

 

 

Chân dung Lã Bố trong trên phim truyền hình “Tam quốc diễn nghĩa”.

Sau khi Hán Linh Đế (Lưu Hồng, 156-189) qua đời, Đinh Nguyên và Đổng Trác bắt đầu tranh giành quyền kiểm soát vương triều nhà Hán. Nhận lệnh của Đại tướng quân Hà Tiến, Đổng Trác kéo quân từ miền tây bắc về kinh thành Lạc Dương. Không ngờ lúc này ở Lạc Dương xảy ra biến loạn: Hà Tiến bị giết, Hán Thiếu Đế (Lưu Biện) và Trần Lưu Vương (Lưu Hiệp) hoảng hốt bỏ chạy.

Nghe tin, Đổng Trác thúc quân tướng dưới quyền tăng tốc về Lạc Dương. Sau khi tìm được Hán Thiếu Đế và Trần Lưu Vương, Đổng Trác lập tức ra lệnh đưa họ về Lạc Dương. Thoắt cái, Đổng Trác đã trở thành trọng thần của triều đình. Thấy tình hình thế cuộc đã thay đổi, không đoái hoài đến những tình cảm mà Đinh Nguyên dành cho mình, Lã Bố ra tay giết ân nhân. Tất cả là vì lời hứa “chức cao, lộc hậu” của Đổng Trác.

Sau khi thu nạp Lã Bố, cũng giống như Đinh Nguyên, Đổng Trác rất yêu quý và tín nhiệm Lã Bố. Ban đầu, Đổng Trác trao cho Lã Bố chức Kỵ đô úy, sau thăng lên làm Trung lang tướng, tước Đô Đình hầu. Trong quá trình rời đô về Trường An, sợ bị ám sát vì gây thù chuốc oán quá nhiều, Đổng Trác luôn mang theo Lã Bố bên mình. Mọi hoạt động liên quan đến việc bảo vệ an toàn bản thân, Đổng Trác đều giao cho Lã Bố đảm nhiệm.

Tuy nhiên, Đổng Trác là người thô lỗ, tính tình nóng nảy. Có lần Lã Bố đứng hầu, Đổng Trác không vừa ý liền chộp ngay cái kích (một loại vũ khí thời xưa) phi vào Lã Bố. Nhờ sự nhanh nhẹn của một chiến tướng, Lã Bố mới tránh được chiếc kích và không bị thương. Lã Bố vội xin lỗi, Đổng Trác mới nguôi giận. Nhưng từ đó, Lã Bố bắt đầu có ý đề phòng. Lần khác, Đổng Trác lại cố ý ngăn không cho Lã Bố tư thông với Điêu Thuyền, một ái thiếp của Đổng Trác, vốn là con nuôi của Tư đồ Vương Doãn. Lã Bố càng oán hận Đổng Trác.

Sự ngang ngược và tàn bạo của Đổng Trác đã làm dấy lên làn sóng phẫn nộ cực độ của các quan triều đình. Các đại thần như Vương Doãn, Sĩ Tôn Thụy, Dương Toán… bí mật bàn tính kế hoạch ám sát Đổng Trác. Nắm được diễn biến tình cảm của Lã Bố, họ đã liên lạc với viên tướng hay phản trắc này và hứa rằng sau khi sự việc thành công sẽ trọng thưởng. Ban đầu, Lã Bố hơi lưỡng lự vì nhận Đổng Trác là cha nuôi. Nhưng sau đó, lòng tham lấn át, Lã Bố đồng ý tham gia kế hoạch ám sát Đổng Trác.

Thời cơ tới khi bệnh tình của Hán Thiếu Đế bắt đầu có dấu hiệu thuyên giảm. Văn võ bá quan kéo tới tề tựu ở điện Vị Ương chúc mừng sức khỏe nhà vua. Đổng Trác vừa tới cửa hông, chuẩn bị vào yết kiến Hán Thiếu Đế thì bị Lý Túc, một thuộc tướng của Lã Bố phục sẵn lao ra đâm. Vì Đổng Trác mặc áo giáp nên hắn chỉ bị thương và ngã xuống đất. Chưa biết Lã Bố có lòng phản, Đổng Trác kêu cứu Lã Bố. Không nghĩ đến tình cha con, Lã Bố lớn tiếng: “Chúng ta phụng chỉ giết chết tên loạn thần tặc tử. Mày chết vẫn chưa hết tội!” Quát rồi, Lã Bố thẳng tay hạ sát Đổng Trác. Kế hoạch ám sát Đổng Trác thành công, Lã Bố được tấn phong tước Ôn hầu, cùng Vương Doãn nắm chuyện triều chính. Nhưng, cảnh thuận hòa không kéo dài được bao lâu. Các thuộc hạ cũ của Đổng Trác là Lý Thôi và Quách Dĩ dấy binh tấn công Trường An. Đánh không lại đạo quân hùng hậu của Lý Thôi, Lã Bố phải bỏ Trường An tháo chạy.

Sau đó, Lã Bố đầu quân Viên Thuật. Chẳng được bao lâu, sự kiêu ngạo và thói vô lễ của Lã Bố trở lại, dung túng cho thủ hạ làm nhiều điều trái phép, cướp bóc tài sản của nhân dân. Viên Thuật thấy vậy tỏ ý giận, không chu cấp cho Lã Bố nữa. Lã Bố bèn bỏ Viên Thuật đi theo thái thú Trương Dương- người trước đây phục vụ dưới trướng Đinh Nguyên cùng Lã Bố. Tuy Trương Dương hậu đãi Lã Bố, nhưng bộ hạ của Trương Dương lại lo rằng Lã Bố sẽ tiếp tục phản trắc, chủ trương giết Lã Bố, cắt đầu mang về kinh thành lĩnh thưởng. Biết tin, Lã Bố sợ hãi chạy sang núp dưới trướng Viên Thiệu.

Thời gian đầu, Lã Bố giúp Viên Thiệu đánh tướng Khăn Vàng là Trương Yên ở Thường Sơn. Vẫn như mọi lần, có chút công lao là Lã Bố bắt đầu kiêu căng và mặc cho quân sĩ dưới quyền hoành hoành, nhũng nhiễu người dân, làm Viên Thiệu tức giận. Bề ngoài, Viên Thiệu tấu phong cho lã Bố làm Tư lệ Hiệu úy, và phái các võ sĩ thiện chiến hộ tống Lã Bố tới Lạc Dương nhậm chức. Nhưng Viên Thiệu lại ngầm ra lệnh cho đám võ sĩ tìm cách giết Lã Bố trên đường đi.

Thoát khỏi âm mưu ám sát của Viên Thiệu, bị Tào Tháo đánh bại ở trận Duyễn Châu (Sơn Đông, Trung Quốc), Lã Bố chạy đến đầu quân cho Lưu Bị. Nhưng ngựa quen đường cũ, Lã Bố quay giáo phản Lưu Bị, liên hợp với Viên Thuật tấn công Lưu Bị. Không còn cách nào khác, Lưu Bị bắt tay với Tào Tháo đối phó với Lã Bố. Năm Kiến An thứ tư (198), Tào Tháo cất quân tiến đánh căn cứ địa của Lã Bố ở Hạ Phi (Giang Tô, Trung Quốc). Lã Bố bị bắt sống, điệu cổ tới trước mặt Tào Tháo. Họ Tào chút nữa đã tha chết cho Lã Bố, lưu lại dưới trướng. Nhưng Lưu Bị cảnh báo: “Chẳng lẽ ngài không thấy kết cục của Đinh Nguyên và Đổng Trác”. Nghe câu nói này, Tào Tháo sực tỉnh, ra lệnh treo cổ Lã Bố ở lầu Bạch Môn.

Cả đời Lã Bố kiêu căng tự phụ, thiếu sự thành tín, núp bóng và lợi dụng hết người này đến người khác. Cũng vì điều đó, Lã Bố thân là danh tướng, nhưng tiếng xấu muôn đời và phải trả giá bằng chính tính mạng của mình.

Nam Hân (Theo Thanh niên Bắc Kinh)

Đưa gái xinh vào thăm quan buồng lái, phi công bị hãng hàng không cấm bay trọn đời

 

Người xưa thường nói “Anh hùng khó qua ải mỹ nhân” là vì sao? Là vì đàn ông con trai dù có tranh đấu với nhau để đạt được đến mức độ vô địch, có được thiên hạ trong tay thì cũng vẫn sẽ gục ngã trước một bóng hồng nào đó. Chả trách mà ngày xưa Lã Bố vì Điêu Thuyền mà tặng Đổng Trác một vé về suối vàng đoàn tụ cùng tiên tổ. Chuyện là một hãng hàng không của Trung Quốc có tên Air Guilin gần đây đã phải đình chỉ công tác vĩnh viễn một phi công của hãng vì tội “sĩ gái”. Vì tính chất công việc, các hãng hàng không thường làm ăn với các trường đại học liên quan tới mảng du lịch, nên việc nhân viên của hãng có quen biết với sinh viên các trường cũng là chuyện khá bình thường.

Anh phi công số nhọ giấu tên kia tình cờ quen biết với một nữ sinh viên mang tên Chen Yu Ying đang theo học ngành Tiếp viên hàng không tại trường đại học du lịch Quế Lâm. Mặc dù mới học năm 3 nhưng Ying khá đam mê với nghề nghiệp và luôn giữ trong mình một sự tò mò bẩm sinh với ngành này.

Đưa gái xinh vào tham quan buồng lái, phi công bị hãng hàng không cấm bay trọn đời - Ảnh 1.

Bức ảnh này đã bóp nát sự nghiệp của một chàng trai đấy anh em ạ.

Vậy là cô sinh viên năm 3 của chúng ta, bằng một cách nào đó đã liên hệ với anh phi công để xin được vào buồng lái “làm kiểu ảnh”. Như một lẽ tự nhiên, cô được đồng ý ngay tắp lự.

Lung linh là lên luôn, sau khi có được cái hẹn với người đẹp thì anh phi công cũng thực hiện đúng lời hứa là cho nàng vào khoang lái để tham quan. Câu chuyện đến đây kết thúc tốt đẹp, ai về nhà đấy!

Ôi, tôi ước gì đoạn kết sẽ là như vậy. Nhưng đời ấy mà, cứ phải quật cho người ta mấy lần mới khôn ra được. Cô sinh viên Ying sau khi được lên khoang lái liền lấy điện thoại selfie lia lịa như bắn súng máy. Kể cũng phải, có mấy ai được thò mặt lên khoang lái của phi công đâu! ãng hàng không này xác nhận sự việc xảy ra hôm 4/1 trên chuyến bay GT1011, từ thành phố Quế Lâm, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, đến thành phố Dương Châu, tỉnh Giang Tô, và phi công trên đã vi phạm các quy tắc an toàn hàng không. Luật hàng không dân sự Trung Quốc chỉ cho phép hành khách vào buồng lái khi cần thiết và có lợi cho an toàn bay.

“Air Guilin quyết định cấm bay trọn đời đối với phi công này. Các thành viên khác trong tổ bay bị đình chỉ bay để chờ điều tra thêm” – Vậy là Điêu Thuyền lại một lần nữa hạ gục Lã Bố ở kiếp khác!

Đệ nhất cao thủ Lữ Bố, không những võ công cái thế, mà còn mưu lược hơn người?

 

Trong mắt thế nhân, Lữ Bố là một người hữu dũng vô mưu, nhưng là bất luận là chính sử hay là trong tác phẩm “Tam Quốc diễn nghĩa”, Lữ Bố vẫn luôn được coi là vị tướng dũng mãnh, biết nhìn xa trông rộng.

Tạo hình nhân vật Lữ Bố trong Tân Tam Quốc. (Ảnh: Spcnet)
Tạo hình nhân vật Lữ Bố trong Tân Tam Quốc. (Ảnh: Spcnet)

Nếu so với Lưu Bị, Tào Tháo và các chư hầu khác thì Lữ Bố vẫn còn có khoảng cách nhất định, nhưng thực sự không phải là xa không thể chạm. Vào thời điểm Lữ Bố sáng suốt, đã đưa ra rất nhiều quyết sách chính xác, nhưng những lúc hồ đồ, thì Lữ Bố lại tựa như một đứa trẻ ba tuổi.

Lữ Bố khi sáng suốt

Khi Lưu Bị nhận lệnh của Tào Tháo đến đánh Viên Thuật, Lữ Bố đã thừa thế chiếm lĩnh Từ Châu, Lưu Bị trước tình cảnh không biết đi đâu về đâu, thục mạng tháo chạy, Viên Thuật phái người nói với Lữ Bố, chỉ cần ngươi xuất binh trợ giúp tiêu diệt Lưu Bị, ta sẽ cung ứng cho ngươi rất nhiều tiền và lương thực.

Lữ Bố nghe xong rất mừng, lệnh cho Cao Thuận dẫn 5 vạn quân chặn đường lui của Lưu Bị, khiến Lưu Bị chịu tổn thất nặng nề, suốt đêm đào tẩu. Nhưng Viên Thuật không coi trọng chữ tín, ham lợi nhỏ, không cấp tiền và lương thực cho Lữ Bố như đã hứa. Lữ Bố giận dữ, chẳng những không đánh Lưu Bị, mà còn để cho Lưu Bị về Từ Châu, đóng quân tại khu vực lân cận Tiểu Bái.


Đồng hồ Casio giá SHOCK!

Lữ Bố tại sao lại nghênh đón Lưu Bị mà mình vừa đánh trở về? Rất đơn giản, bởi vì Lữ Bố hiểu rằng, Từ Châu thành cô độc, khó thủ, một cây chẳng chống vững được ngôi nhà, chỉ có cùng Lưu Bị trợ giúp lẫn nhau, mới có thể cùng sinh tồn.

Thế nhưng Viên Thuật muốn xưng đế, thì ắt phải công thành đoạt đất. Lúc ấy chư hầu yếu nhất chính là Lưu Bị, trước lúc rời Từ Châu Lưu Bị có hai vạn quân, khi giao chiến với Viên Thuật thì đã có phẩn tổn hao. Sau khi Lữ Bố đuổi theo, Lưu Bị định đánh chiếm Quảng Lăng để rồi cố thủ tại nơi đây, nhưng không ngờ bị Viên Thuật đánh lén, tổn hại nghiêm trọng, nên sau khi trở lại Tiểu Bái, thực lực của Lưu Bị đã suy giảm rất nhiều.

Vì để chắc chắn sẽ xuất binh thuận lợi, lần này Viên Thuật rất hào phóng, trước tiên cung cấp cho Lữ Bố một trăm vạn cân lương thực, và ra điều kiện muốn Lữ Bố không xuất một binh một tốt, để mặc cho Viên Thuật đánh Lưu Bị. Lữ Bố sau khi nhận được thư rất vui mừng, và đồng ý ngay.

Dựa theo lẽ thường, Lữ Bố lần này sẽ ưng thuận đứng về phía Viên Thuật. Lần trước Lữ Bố cũng xuất binh, nhưng Viên Thuật không giữ chứ tín; giờ Viên Thuật đã gửi đến trước một trăm vạn cân lương thực, chẳng qua là muốn Lữ Bố không xuất binh mà thôi, chẳng có lý do gì để không nhận? Huống chi, Lữ Bố đối với Lưu Bị cũng có chút hiềm khích, nếu Lữ Bố ngồi trên núi xem hổ tranh đấu, Lưu Bị có thể bị tiêu diệt, thì chẳng phải là càng bớt lo hay sao?

Thế nhưng, Lữ Bố không làm như thế. Sau khi Lữ Bố nhận lương thực, Viên Thuật yên tâm tiến công Lưu Bị, nhưng đến lúc khi hai quân ở trong thế giằng co, Lữ Bố chủ động xuất quân, uy hiếp võ tướng Kỷ Linh của Viên Thuật, yêu cầu Kỷ Linh giảng hòa ngưng chiến. Kỷ Linh không chịu, thế là Lữ Bố đã tung chiêu “viên môn xạ kích”.

Thái độ của Lữ Bố tại sao lại có chuyển biến như vậy? Có 2 nguyên nhân…

Thứ nhất, Lữ Bố nhận được thư của Lưu Bị. Lưu Bị nói với Lữ Bố: “Lữ Bố tướng quân có lòng nhớ tới, cho ta dung thân tại Tiểu Bái, quả thực là ân đức tựa trời cao. Nay Viên Thuật muốn báo thù riêng, lệnh Kỷ Linh dẫn binh đến tấn công. Với ta, bại vong chỉ sớm tối, chỉ có tướng quân mới có thể cứu…!”.

Lưu Bị trong thư chủ yếu nhấn mạnh về ân tình giữa Lữ Bố dành cho mình, qua đó bày tỏ rõ ràng rằng mình chẳng những không có trách mọc Lữ Bố cướp Từ Châu, mà ngược lại còn rất cảm kích việc Lữ Bố để cho mình đóng quân tại Tiểu Bái. Sau đó thỉnh cầu Lữ Bố xuất binh cứu viện.

Thứ hai, Lữ Bố dựa vào phán đoán thế cục của chính mình. Đây mới là điểm mấu chốt nhất. Sau khi nhận được thư của Lưu Bị, Lữ Bố và Trần Cung phân tích tình thế: “Trước đó Viên Thuật tặng lương thực, yêu cầu ta không cứu Lưu Bị. Nay Lưu Bị lại cầu cứu ta. Ta để Lưu Bị đóng quân tại Tiểu Bái, chưa hẳn gây hại cho ta; nếu Viên Thuật tiêu diệt Lưu Bị, thì rất có thể sau đó sẽ đến lượt ta. Vậy chi bằng cứu Lưu Bị”.

Trong tác phẩm “Tam Quốc diễn nghĩa” nói rõ, đoạn trên không phải là Trần Cung nói, mà là phán đoán của Lữ Bố, điều này cũng phù hợp với những ghi chép trong chính sử. Lữ Bố rất rõ ràng, một khi Viên Thuật tiêu diệt Lưu Bị, thì Viên Thuật có thể thông qua Tiểu Bái, chiếm lĩnh Bành Thành rồi tiếp đó chiếm lĩnh toàn bộ Từ Châu. Có thể nói, Lữ Bố có con mắt sắc bén, có thể nhìn xa trông rộng.

Như vậy, tại sao Lưu Bị không lại không nói với Lữ Bố những điều này, chủ yếu có hai nguyên nhân. Một mặt là chính sử không có lưu lại lá thư của Lưu Bị, một mặt khác là tác giả La Quán Trung của “Tam Quốc diễn nghĩa” muốn tạo nên hình tượng một Lưu Bị nhân đức. Lúc trước Lữ Bố đã cướp Từ Châu, nhưng Lưu Bị lại không hề oán hận, ngược lại trong lòng còn cảm kích Lữ Bố.

Lữ Bố dùng chiêu “bắn kích viên môn” để hòa giải là đoạn vô cùng đặc sắc

Cảnh Lữ Bố dùng chiêu "viên môn xạ kích" để giải cứu cho Lưu Bị. (Ảnh: Kknews)
Cảnh Lữ Bố dùng chiêu “viên môn xạ kích” để giải cứu cho Lưu Bị. (Ảnh: Kknews)

Lữ Bố xuất hiện trên chiến trường, Kỷ Linh trong lòng rất sợ hãi, Trương Phi cũng lo lắng không thôi. Lữ Bố mời Lưu Bị đến doanh trại của mình uống rượu, Trương Phi nghi ngại, Lưu Bị ngoài miệng nói, ta đối đãi Lữ Bố không tệ, Lữ Bố nhất định sẽ không hại ta, nhưng trong tâm khẳng định là cũng bất an, Quan Vũ và Trương Phi mang theo vũ khí đi cùng để hộ vệ cho Lưu Bị.

Chứng kiến Lưu Bị bối rối, Lữ Bố nói với Lưu Bị, hôm nay vì Lưu Bị gặp nguy nan nên mới đến, cũng nhắc nhở sau này chớ có quên ân tình này. Trong chính sử có ghi lại câu chuyện Lữ Bố “viên môn xạ kích”, nhưng lại không có yêu cầu Lưu Bị nhớ ân. La Quán Trung thêm câu này vào “Tam Quốc diễn nghĩa”, để xây dựng nhân vật Lữ Bố nặng tâm danh lợi.

Hai người đang uống rượu, có người báo Kỷ Linh đã đến. Lưu Bị kinh hãi, muốn rời đi. Lữ Bố nói không có sao, Kỷ Linh tiến đến nhìn thấy Lưu Bị, cũng quay người rời đi, nhưng bị Lữ Bố giữ lại. Lữ Bố tỏ ra dũng mãnh vô địch, mời cả hai bên cùng ngồi xuống nói chuyện thương lượng.

Ba người ngồi xuống, Lữ Bố ở trung tâm, Kỷ Linh bên trái, Lưu Bị bên phải. Lữ Bố bày tỏ thái độ, nói mình cả đời thích nhất là khuyên can, hy vọng Lưu Bị và Kỷ Linh nể mặt mũi của mình mà ngừng chiến.

Lưu Bị đương nhiên vui mừng, nhưng Kỷ Linh lại nói mình nếu trở về thì sẽ không biết ăn nói ra sao, bởi vì Lưu Bị quân ít, thế yếu, nhất định sẽ thất bại.

Trương Phi chứng kiến Kỷ Linh cao giọng lớn tiếng, trong tâm tức giận, muốn rút đao hạ thủ giết Kỷ Linh, trong thời khắc nguy cấp, Lữ Bố giận dữ, nói: “Lấy cây kích của ta đến!”.

Kết quả Lữ Bố cầm binh khí, Kỷ Linh và Lưu Bị đều sợ hãi, cho rằng Lữ Bố muốn giết cả hai bên. Nhưng Lữ Bố lại nhỏ nhẹ khuyên bảo, tỏ vẻ chính mình cũng không phải muốn can thiệp vào, và sự việc này hết thảy giao cho ông trời quyết định.

Lữ Bố sai người người mang cây “Phương Thiên Họa Kích” của mình đặt ngoài cổng Viên Môn, rồi nói với Kỷ Linh và Lưu Bị: “Lều trại của ta cách cổng Viên Môn có 150 bước, nếu như ta bắn một mũi tên xuyên qua cái ngạch của cây Phương Thiên Họa Kích, thì hai bên phải bãi binh ngưng chiến. Nếu như bắn không trúng, thì mặc hai bên chém giết, Lữ Bố cũng không quan tâm tới nữa”.

Kỷ Linh cũng là võ tướng đặc biệt có tài thiện xạ, là tay thần xạ trăm năm hiếm thấy, Kỷ Linh nghĩ bắn xa được 150 bước đã là khó, chứ nói gì đến việc bắn trúng mục tiêu. Kỷ Linh coi đây là điều không thể xảy ra nên đồng ý ngay.

Sau đó, Lữ Bố vén ống tay áo lên, cho tên vào cung, kéo căng dây cung, rồi hét một tiếng: “Trúng!”, trong sách còn có một câu thơ: “Cung khai mở như thu nguyệt, mũi tên đi giống như Lưu Tinh rơi xuống đất”, một mũi tên bay xuyên qua cái ngạch trên thanh họa kích.

Lữ Bố sau khi bắn tên, toàn bộ quân tướng vỗ tay ủng hộ, Kỷ Linh cũng không dám lên tiếng. Mũi tên ấy cho thấy khả năng bắn tên của Lữ Bố thật sự cao hơn Kỷ Linh quá nhiều. Lúc này nếu đổi ý, Kỷ Linh tất nhiên sẽ không thể ra khỏi doanh trại của Lữ Bố. Mà Trương Phi, Quan Vũ không nói bất cứ lời nào, cũng không tán thưởng khả năng bắn tên của Lữ Bố, vì trong lòng mâu thuẫn, nên im lặng xác thực là lựa chọn tốt nhất.

Từ việc Lữ Bố trợ giúp Lưu Bị, nhưng cũng không liên thủ với Lưu Bị để đối chiến Kỷ Linh, cũng có thể thấy được Lữ Bố tài mưu lược đến nhường nào. Lữ Bố dùng chiếu “viên môn xạ kích” để ép Kỷ Linh phải lui binh, là lựa chọn tốt nhất lúc ấy cũng là tiết kiệm tài nguyên nhất. Đồng thời còn thể hiện tài trí và vũ lực cường đại của Lữ Bố.

Lê Hiếu biên dịch

Lữ Bố và “nỗi oan ngàn năm“ trong Tam Quốc

 

Điều này có lẽ chẳng cần phải nói nhiều, bởi lẽ, chẳng phải ngẫu nhiên người ta gọi Lã Bố là “chiến thần”.

Lữ Bố (chữ Hán: 呂布; 158-199) còn gọi là “Lã Bố” tự là Phụng Tiên, là tướng nhà Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông đã tham gia cuộc chiến quân phiệt cuối thời Đông Hán và cuối cùng bị thất bại.

Lã Bố người đất Cửu Nguyên, huyện Ngũ Nguyên thuộc Tinh châu (nay là thành phố Bao Đầu, Nội Mông Cổ ngày nay). Ông được biết tới chủ yếu qua tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Trong tiểu thuyết này, Lã Bố xuất hiện từ hồi 3 đến hồi 19. Lã Bố được mệnh danh là Chiến Thần, phần lớn độc giả xem Lã Bố là vị tướng dũng mãnh nhất thời Tam quốc, hơn cả Triệu Vân, Quan Vũ, Trương Phi, Hứa Chử, Mã Siêu. Hình ảnh Lã Bố có thể liên hệ tới vị anh hùng Hy Lạp Achilles về sức mạnh. Lã Bố đã từng một mình đánh đồng cân với cả 3 anh em nhà Lưu Bị (gồm Quan Vũ, Trương Phi và Lưu Bị).

" "lu bo va "noi oan ngan nam" trong tam quoc hinh anh 1

Lữ Bố.

Trên chiến trường, ông chuyên sử dụng phương thiên họa kích và cưỡi ngựa Xích Thố, như một mãnh hổ tả xung hữu đột, vạn người không địch nổi. Người ta thường nói “Nhân trung Lã Bố, mã trung Xích Thố” (Người có Lã Bố, ngựa có Xích Thố) để tôn vinh hai cực phẩm nhân gian này. Ngoài ra trong những bức ảnh xưa hay ở các tác phẩm liên quan đến nhân vật này, ông được miêu tả là rất tuấn tú.

Theo ghi chép trong các sách: “Tam Quốc Chí”, “Ngụy Thư” và “Lã Bố truyện”, cha ông là Lã Lương đã theo nghiệp tổ phụ, trấn thủ vùng biên giới. Mẹ là người họ Hoàng, là con một đại phú hào, thông minh, hiền lành, có tri thức, hiểu lễ nghĩa. Ngay từ nhỏ, Lã Bố đã thể hiện là một đứa trẻ có sức mạnh phi thường, tinh thông võ nghệ, rất hiếu thắng, luôn giành chiến thắng trong những “trận đấu” với bạn bè đồng trang lứa. Hệ quả, không ai dám chơi đùa với Lã Bố.

Lớn lên, Lã Bố được gia đình cho học cầm kì thi thư và luyện võ. Nhưng sở thích lớn nhất của ông vẫn là côn quyền, cung tên, đao kiếm và luôn muốn cho mọi người thấy mình dũng mãnh đến nhường nào. Sử sách Trung Quốc ghi lại rằng năm 11 tuổi Lã Bố đã đánh bại đại lực sĩ nổi tiếng trong dòng tộc. Sau sự kiện đó, cả quận Ngũ Nguyên đều biết đến cái tên thiếu niên anh hùng Lã Bố.

Sau khi đọc xong “Tam Quốc diễn nghĩa”, với nhiều người, ấn tượng sâu đậm nhất về “chiến thần” Lã Bố có lẽ là một kẻ hữu dũng vô mưu, trở mặt như trở bàn tay, chỉ biết đến lợi ích bản thân, không có nghĩa khí lại quỵ lụy nhan sắc, để đàn bà sai khiến… Nói chung, ngoài sức vóc thuộc loại “vô địch thiên hạ”, Lã Bố chẳng được mấy ai khen ngợi. Tuy nhiên, nếu như tìm đọc chính sử, người ta sẽ thấy rằng Lã Bố không phải là một kẻ thất phu và tiểu nhân đến như vậy…

Lã Bố tự là Phụng Tiên, là người đất Cửu Nguyên, quận Ngũ Nguyên. Sách “Tam Quốc Chí” của Trần Thọ giới thiệu về Lã Bố là người “kiêu dũng, giỏi võ nổi tiếng đất Tính Châu (Thái Nguyên, thuộc tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc)”.

Điều này có lẽ chẳng cần phải nói nhiều, bởi lẽ, chẳng phải ngẫu nhiên người ta gọi Lã Bố là “chiến thần”. Tuy nhiên, đoạn mà tác giả “Tam Quốc Chí” viết ngay sau đó mới quan trọng: “Quan thích sử (Tính Châu) Đinh Nguyên phong cho Lã Bố là kỵ đô úy.

Khi đóng quân ở Hà Nội đã giao cho Bố chức chủ bạ, coi như một tay chân thân tín”. Đây chính là nội dung đã bị các nhà tiểu thuyết vô tình hoặc cố ý “bỏ quên”, đặc biệt là công việc “chủ bạ” mà Lã Bố được Đinh Nguyên giao phó.

Vào thời nhà Hán, chức chủ bạ là chức quan quản các việc lương thảo, công văn thư tín trong quân đội, là một chức quan văn thuần túy, công việc phải xử lý cũng rất vụn vặt. Hơn nữa, khi Lã Bố làm chức chủ bạ, được Đinh Nguyên coi như người thân tín, do vậy có thể thấy rằng, Lã Bố làm công việc của một chủ bạ không đến nỗi tệ.

Từ đó, có thể nói rằng, Lã Bố tuyệt đối không phải là một kẻ ít học, hữu dũng vô mưu như La Quán Trung đã mô tả trong “Tam Quốc diễn nghĩa”. Ngược lại, với vai trò của một chủ bạ, nếu nói theo cách hiện đại thì Lã Bố cũng là một “phần tử trí thức”, được ăn học đàng hoàng.

Sau khi Linh Đế băng hà, Đại tướng quân Hà Tiến cùng với Tư lệ hiệu úy Viên Thiệu bàn tính diệt trừ hoạn quan. Sau khi bàn tính, Hà Tiến cho triệu Đổng Trác mang quân vào kinh. Đinh Nguyên và Lã Bố cũng được lệnh “mang binh mã tới Lạc Dương, cùng với Hà Tiến giết bọn hoạn quan”.

Đinh Nguyên được phong làm chức “chấp kim ngô”. Chấp kim ngô là chức vị tương đương với chức tư lệnh cảnh vệ thủ đô hiện nay. Tuy nhiên, kết quả sự việc thất bại, Hà Tiến bị hoạn quan giết chết, Lạc Dương đại loạn.

Lúc đó, Đổng Trác trên đường mang quân về Lạc Dương, nghe tin Hán Thiếu Đế và em là Lưu Hiệp đã trốn ra khỏi cung, đang ở Bắc Mang bèn mang quân tới đón rồi đưa về cung. Từ đó, Đổng Trác bắt đầu lộng quyền.

Sử chép, để củng cố quyền lực, Trác buộc phải tiêu diệt những kẻ có thế lực trong triều đình. Một trong số đó chính là Đinh Nguyên. Trác thấy Lã Bố được Đinh Nguyên tin cẩn, bèn mật lệnh cho Lã Bố giết Đinh Nguyên. Lã Bố chém đầu Đinh Nguyên dâng cho Đổng Trác, Đổng Trác phong Lã Bố làm kỵ đô úy.

Trong sử sách chỉ chép đơn giản như vậy, tuy nhiên, tới “Tam Quốc diễn nghĩa” lại nói rằng, Lã Bố là con nuôi của Đinh Nguyên nhưng sau vì tham vàng bạc châu báu và ngựa xích thố nên mới theo Đổng Trác.

" "lu bo va "noi oan ngan nam" trong tam quoc hinh anh 2

Chiến thần.

Kỳ thực, trong sử sách, chưa ai thấy nhắc tới việc Lã Bố là con nuôi của Đinh Nguyên hơn nữa cũng không có chuyện Đổng Trác dùng vàng bạc mua chuộc Lã Bố. Lúc bấy giờ Đổng Trác là tiền tướng quân, được phong hầu lại kiêm cả châu mục.

Luận về địa vị, Đổng Trác ở vị trí cao hơn hẳn so với chức châp kim ngô của Đinh Nguyên. Với địa vị ấy, nếu như Đổng Trác ra lệnh cho Lã Bố giết Đinh Nguyên thì Lã Bố không có cách nào từ chối. Bởi lẽ, Lã Bố không phải là người nhà của Đinh Nguyên mà là một quan lại nhà Hán.

Thêm nữa, lúc bấy giờ Đổng Trác vừa có công hộ giá, lại đang nắm sinh mạng của hoàng đế trong tay, một khi Đổng Trác nói rằng, giết Đinh Nguyên là chiếu chỉ của thánh thượng thì việc Lã Bố có muốn hay không không còn quan trọng nữa.

Ngoài ra còn một điểm rất quan trọng khác mà nhiều người thường bỏ quên, đó là vào thời kỳ vào kinh, Đổng Trác nổi tiếng là một “hiền thần”, hết lòng vì dân, vì nước.

Ngay khi vừa vào cung, Đổng Trác đã giới thiệu rất nhiều danh sĩ nổi tiếng trong thiên hạ giữ những chức vị cao trong triều đình còn bản thân thuộc hạ của mình, Đổng Trác đều chỉ phong cho chức vụ rất thấp. Một người biết chuộng hiền tài như vậy, đương nhiên, Lã Bố không khỏi không hy vọng sẽ được Trác trọng dụng mà thăng tiến.

Sau này, Vương Doãn và Tôn Thụy bày mưu để Lã Bố giết Đổng Trác là vì mâu thuẫn giữa Đổng Trác và Lã Bố, tuy nhiên, mâu thuẫn đó không hề bắt nguồn từ Điêu Thuyền như những gì sách “Tam Quốc diễn nghĩa” đã mô tả.

Sử chép, “Đổng Trác gặp người khác thường không giữ lễ, sợ có người mưu hại mình, vì thế khi đi đâu đều sai Lã Bố làm hộ vệ. Tuy nhiên, Đổng Trác tính nóng nảy lại hẹp hòi, nên không nghĩ trước sau. Có lần vì chuyện nhỏ mà cầm kích lao về phía Lã Bố.

Lã Bố nhanh nhẹn tránh được, sau đó tạ lỗi với Đổng Trác, Đổng Trác cũng cho qua. Từ đó, Lã Bố âm thầm oán hận Đổng Trác. Đổng Trác thường xuyên sai Lã Bố vào phủ canh giữ, Lã Bố đã tư thông với một tì nữ trong phủ của Đổng Trác. Lã Bố luôn sợ bị phát giác nên luôn lo lắng”.

Cũng vì Lã Bố âm thầm oán hận Đổng Trác, lại thêm luôn trong tâm trạng lo sợ bị Đổng Trác phát hiện chuyện tư thông của mình nên Vương Doãn và Tôn Thụy mới lợi dụng Lã Bố để giết Đổng Trác.

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Lã Bố và Đổng Trác không giống với Lã Bố và Đinh Nguyên trước kia. Sử chép: “Đổng Trác rất tin yêu Lã Bố, nhận làm con nuôi”. Vì thế, khi Vương Doãn nói chuyện giết Đổng Trác, Lã Bố đã nói: “Làm thế thì còn gì là cha con!”.

Vương Doãn nghe vậy đã nói với Lã Bố rằng: “Ngài vốn họ Lã chứ đâu phải họ Đổng, nào có quan hệ ruột thịt gì. Nay Đổng Trác chỉ lo cho ông ta, sao gọi là cha con được”. Nghe thế, Lã Bố bèn đồng ý. Đoạn mô tả trong sử sách này cho thấy, Lã Bố khi đó vẫn nhớ đến tình cha con giữa mình và Đổng Trác.

Tuy nhiên, khi đó, Đổng Trác đã trở thành một kẻ chuyên quyền, hung hãn, tàn bạo, một tên “quốc tặc” làm loạn thiên hạ, các chư hầu ở Quan Đông đều đã khởi binh thảo phạt Đổng Trác.

Có thể nói, lúc bấy giờ, việc giết Đổng Trác là việc ai cũng có thể làm. Vì vậy, nếu có gì đáng chê trách Lã Bố thì chính là Lã Bố đã lấy việc công để trả thù riêng của mình.

Sự kiện diễn ra sau đó mới thể hiện hết tính cách của Lã Bố. Sau khi Đổng Trác chết, do Vương Doãn không tha cho thuộc hạ của Đổng Trác, vì thế, thuộc hạ của Đổng Trác là Lý Thôi, Phàn Trù, Lý Mông dẫn hơn 10 vạn binh mã vây thành Trường An.

Lúc bấy giờ, tại Lạc Dương, dưới sự hoạch định của Vương Doãn, Lã Bố được phong là Phấn uy đại tướng, tước là Ôn hầu, cùng tham dự việc chính sự. Tuy nhiên, khi Lý Thôi, Quách  Dĩ mang quân tới bao vây Trường An, Lã  Bố tự mở cửa thành xông ra đơn thân độc mã đánh nhau với Quách Dĩ.

Với tư cách là một vị chủ soái, Lã Bố không nhất định phải đơn thương độc mã mở cửa thành ra đánh với Quách Dĩ. Hành động này cho thấy, Lã Bố là kẻ không quan tâm nhiều tới đại cục, chỉ coi việc chém tướng đoạt cờ là quan trọng, giống với một hiệp khách giang hồ hơn là của một đại tướng quân.

Khi thành Lạc Dương bị phá, Lã Bố bỏ chạy. Lã Bố yêu cầu Vương Doãn chạy theo mình nhưng Vương Doãn nhất định không đi.

Sau trốn khỏi thành Lạc Dương, đầu tiên Lã Bố tới đầu quân cho Viên Thuật. Tuy nhiên, Viên Thuật cự tuyệt không nhận Lã Bố. Bắt đầu từ đây, Lã Bố trải qua quãng thời gian bất đắc chí và không được may mắn.

Rời khỏi chỗ Viên Thuật, Lã Bố đi một mạch dài, qua sông Hoàng Hà tới quận Hà Nội thuộc Tính Châu, theo thái thú Hà Nội là Trương Dương – người vốn từng cùng ông phục vụ dưới trướng Đinh Nguyên.

Tuy nhiên, quân của Lý Thôi, Quách Dĩ đuổi quá gấp, Lã Bố lại phải rời Hà Nội đi về phía Nam, vượt sông tới chỗ Viên Thiệu. Tại đây, Lã Bố giúp Viên Thiệu đánh tướng Khăn Vàng là Trương Yên ở Thường Sơn. Trương Yên có hơn vạn tinh binh, mấy nghìn quân kỵ.

Lã Bố có con ngựa hay gọi là Xích Thố vì thế thường xuyên cưỡi ngựa mỗi ngày cùng vài chục thủ hạ xông thẳng vào trại địch ba bốn lần. Quân Trương Yên thua tan tác, bản thân Trương Yên nản lòng, cuối cùng nhận sự chiêu an của triều đình.

Lã Bố lập công, có ý coi khinh những thuộc hạ của Viên Thiệu, liên tiếp sai người giục Viên Thiệu thăng chức cho mình. Tuy nhiên, Viên Thiệu có ý nghi kỵ Lã Bố, cứ ậm ờ không chịu phong chức. Thấy Viên Thiệu không đáp ứng, Bố bèn xin về Lạc Dương. Viên Thiệu ngoài mặt đồng ý, phong Lã Bố làm Tư lệ hiệu úy, nhưng sau lưng lại dặn các tướng thừa cơ giết ông.

Lã Bố đoán biết Viên Thiệu nghi ngờ mình, nên sắp đặt kế thoát thân. Ban đầu Lã Bố giả cách ngồi trong trướng gảy đàn tranh, nhưng sau đó đưa đàn cho người khác gảy tiếp để lừa thủ hạ của Viên Thiệu, còn mình thì bí mật nhân trời tối lẻn chạy trốn.

Một lúc sau thủ hạ của Viên Thiệu đi thám thính nghe tiếng đàn tắt tưởng Lã Bố đã ngủ bèn đi báo cho các tướng của Viên Thiệu. Các tướng ập đến mới biết bị lừa.

Viên Thiệu nghe tin báo không giết được Bố bèn sai người đuổi theo, nhưng những người đuổi theo đều không địch nổi Lã Bố, bị đánh phải quay trở về. Cùng đường, Lã Bố lại đành phải tìm đến chỗ Trương Dương. Trương Dương không nhắc lại việc trước đây Lã Bố ra đi không từ biệt, cho Lã Bố quay trở lại.

Từ đây có thể thấy, nguyên nhân Lã Bố bỏ Viên Thiệu là do Viên Thiệu đã có ý nghi kỵ Lã Bố từ trước. Hơn nữa, Lã Bố khinh thường những thuộc hạ của Viên Thiệu là không xứng đáng ngang hàng với mình.

Kỳ thực, chuyện này không thể trách được Lã Bố, bởi lẽ, lúc bấy giờ, ngay cả chức xa kỵ tướng quân của Viên Thiệu cũng là tự phong chứ không phải là do triều đình sắc phong. Vì thế, những chức quan dưới trướng của Viên Thiệu đều do ông ta tự phong cho cả.

Những chức quan này đương nhiên không thể sánh ngang với chức phấn uy tướng quân, tước ôn hầu của Lã  Bố do triều đình phong cho. Vì thế, Lã Bố có nói rằng, những thuộc hạ của Viên Thiệu không thể sánh ngang với mình cũng chẳng có gì sai cả.

Thêm vào đó, khi Lã Bố tham gia quân của Viên Thiệu đã lập nhiều công lớn. Chỉ riêng chuyện một mình một ngựa  Xích Thố xông vào trại quân Trương Yên rồi đánh cho chúng tan tác cũng đủ thấy Lã Bố uy dũng thế nào. Không phải ngẫu nhiên mà sử chép rằng, mọi người “đều sợ Lã Bố”. Một vị tướng do triều đình phong, lại có công lớn đương nhiên có tư cách để cao ngạo một chút.

Lại nói chuyện Lã Bố sau khi trở lại với Trương Dương vẫn không được an toàn, bởi lẽ Lý Thôi, Quách Dĩ vẫn không chịu buông tha, còn ban lệnh treo thưởng truy nã Bố. Thuộc hạ của Trương Dương đều bị bọn Lý Thôi, Quách Dĩ mua chuộc, định hợp mưu bắt Lã Bố giao nộp.

Sau khi Lã Bố biết chuyện, đã nghĩ ra một nước cờ cực kỳ cao minh. Lã Bố biết Trương Dương là người nghĩa khí vì thế đã nhắm vào điểm yếu này của Trương. Chuyện kể rằng, Trương Dương là người khoan dung, quản thuộc hạ không nghiêm.

Ngay cả khi có người mưu phản, bị phát giác nhưng Trương Dương không xử tội mà chỉ khóc. Một hôm, Lã Bố nói với Dương rằng: “Nay Lã Bố này ở trong châu của ông. Ông giết tôi thì quân của ông sẽ yếu đi. Chi bằng bắt tôi giao cho bọn Quách Dĩ sẽ được bổng lộc”.

Trương Dương vốn không có chủ ý này, tuy nhiên, Lã Bố nói không hề sai chút nào. Vì thế, Dương ngoài mặt thì hứa với bọn Quách Dĩ sẽ bắt Lã Bố nhưng thực tế bên trong vẫn bảo vệ Lã Bố. Nhờ cách này, Lã Bố đã thoát được khỏi lệnh truy nã của triều đình, thoát khỏi thân phận của một tội phạm.

Từ đó, có thể thấy, Lã Bố rất biết cách nhìn nhận thế cục cũng như nắm bắt tính cách con người. Do đó, việc Lã Bố được giao cho chức chủ bạ đồng thời được Đinh Nguyên yêu thích cũng không phải là chuyện nói bừa.

Chẳng bao lâu sau, Duyễn Châu có nội loạn, lại cho Lã Bố một cơ hội để dựng lại sự nghiệp. Tuy nhiên, cuộc nội loạn này cũng bắt đầu từ Lã Bố. Trong thời gian Lã Bố trốn khỏi chỗ của Viên Thuật về với Trương Dương từng đi qua chỗ của Trương Mạc khi đó làm thái thú Trần Lưu.

Khi chia tay, hai người đã nắm tay thề sẽ tương trợ lẫn nhau. Viên Thiệu nghe tin rất giận dữ. Trần Lưu khi đó thuộc quyền cai trị của Tào Tháo, vì thế, Trương Mạc rất sợ Tào Tháo sẽ giúp Viên Thiệu đánh mình.

Tới năm Hưng Bình thứ nhất, tức năm 194, Tào Tháo do nghi ngờ châu mục Từ Châu là Đào Khiêm giết cha mình, bèn mang quân đánh Từ Châu. Không giết được Đào Khiêm, Tào Tháo sát hại rất nhiều người dân vô tội ở Từ Châu.

Trần Cung và Trương Siêu, em của Trương Mạc cùng nhau khuyên Mạc khởi binh làm phản, chống lại Tào Tháo. Cung khuyên Mạc rằng: “Nay thiên hạ đại loạn, quần hùng nổi lên ở khắp nơi, thiên đế thì ở nơi xa không nên ngu trung.

Nay Lã Bố là kẻ tráng sĩ, thiện chiến, nếu như đón được người này về, cùng nhau cai quản Duyễn Châu thì có thể xưng hùng một phương”. Lý do mà Trần Cung khuyên Trương Mạc hợp tác với Lã Bố, chống lại Tào Tháo là vì Lã Bố là người “tráng sĩ, thiện chiến”. Điều này một lần nữa chứng minh, Lã Bố là một kẻ sức vóc, uy dũng hơn hẳn người thường.

Sau nhiều lần giao tranh với Tào Tháo, Lã Bố cuối cùng đã không địch lại được nhà quân sự nổi tiếng thời Tam Quốc, đành phải bỏ chạy theo về với Lưu Bị. Một người cả đời phải vào vai một chính nhân quân tử như Lưu Bị đương nhiên không thích thú một kẻ giang hồ, theo chủ nghĩa cá nhân như Lã Bố.

Sách “Anh hùng ký” có chép rằng: Lưu Bị gặp Lã Bố, rất vui mừng kính trọng, nói với Lã Bố rằng: “Tôi và tướng quân là người cùng quê. Khi quân Quan đông khởi nghĩa, muốn giết Đổng Trác, tướng quân giết Đổng Trác theo về Quan Đông. Quân Quan đông lại lo lắng vì tướng quân, đều muốn giết ngài”.

Lã Bố nghe Lưu Bị nói vậy, mời vào trong trướng, ngồi lên giường vợ mình, ra lệnh cho vợ bái Lưu Bị, rồi rót rượu cho Lưu Bị và Lã Bố ăn uống. Trong tiệc rượu Lã Bố gọi Lưu Bị là em. Lưu Bị thấy Lã Bố lời nói và hành động không bình thường, bề ngoài thì vẫn vui cười nhưng trong lòng không vui.

Thực tế thì lúc bấy giờ, Lã Bố thực sự rất kính trọng Lưu Bị, hơn nữa, Lưu Bị với Bố cùng là người miền Bắc vì thế mới có chuyện mời Lưu Bị vào nhà sau, ngồi lên giường vợ mà lệnh cho vợ ra bái chào.

Hơn nữa, vào thời nhà Hán, quan niệm “nam nữ thọ thọ bất thân” vẫn chưa thực sự nặng nề như sau này vì thế, việc Lã Bố mời Lưu Bị vào nhà sau uống rượu cũng có thể là để thể hiện sự thân mật.

Vào thời điểm lúc bấy giờ, Lưu Bị 34 tuổi, Lã Bố hơn Lưu Bị 2 tuổi, do vậy Lã Bố gọi Lưu Bị là em cũng không có gì sai. Tuy nhiên, Lưu Bị lại không nghĩ như vậy. Lưu Bị cho rằng, Lã Bố là kẻ tới hàng mình, do vậy gọi mình là “em”, lại cho vợ ra ngồi cùng uống rượu là việc không hợp lễ nghĩa vì thế mới nói rằng, “Lã Bố lời nói bất thường” mà không lấy làm vui.

Sau này, để chia rẽ Lã Bố và Lưu Bị, Tào Tháo nhân danh Hiến Đế phong chức cho Lưu Bị. Lưu Bị tiếp nhận. Lã Bố thấy Lưu Bị hợp tác với Tào Tháo, sợ hai bên liên kết đối phó với mình nên bắt đầu lo lắng. Về sau, Viên Thuật ở Dương Châu mang quân tấn công Từ Châu.

Lưu Bị mang quân ra chống cự ở Hoài Âm. Viên Thuật viết thư cho Lã Bố xúi Lã Bố đánh úp Từ châu thì sẽ tạ ơn bằng 20 vạn hộc lương. Lã Bố nghe theo, nhân lúc hai tướng giữ Hạ Bì (thủ phủ Từ châu) là Trương Phi và Tào Báo bất hòa bèn mang quân đánh úp thành.

Tào Báo bị Trương Phi giết, thủ hạ là Hứa Đam và Chương Luống đến gặp Lã Bố, khuyên nhân lúc đêm tối đánh ngay thì ở trong thành sẽ làm nội ứng. Lã Bố bèn tiến quân, Hứa Đam mở cửa thành, Lã Bố chiếm được Hạ Bì.

Lưu Bị mang quân trở về định đánh chiếm lại Hạ Bì nhưng bị Lã Bố đánh bại, phải lui quân về Quảng Lăng. Trong lúc thất thế lại bị Viên Thuật đánh bại một trận nữa, phải chạy ra Hải Tây. Lúc bấy giờ, Lưu Bị rơi vào tình thế khốn quẫn không còn đường nào để đi được nữa.

Trong tình thế ấy, Lã Bố vẫn không đuổi tận giết tuyệt Lưu Bị, ngược lại, chấp nhận cho Lưu Bị đầu hàng và cho về giữ Tiểu Bái theo yêu cầu của Lưu Bị. Sau này, Lã Bố tự xưng là châu mục Từ châu vẫn cho mời Lưu Bị xưng là thứ sử Dự Châu.

Từ cách ứng xử với Lưu Bị, đủ thấy, Lã Bố vẫn là một kẻ giữ đúng tính cách giang hồ trượng nghĩa của mình, không nhỏ nhen như Viên Thiệu, cũng không cạn nhân tình như Tào Tháo. Nhưng Lã Bố cũng chết cũng vì cái nghĩa khí giang hồ ấy.

Tháng 9.198, Tào Tháo đích thân cùng Lưu Bị mang quân tới đánh Từ châu. Khi quân Tào kéo tới Hạ Bì, Lã Bố mang quân kỵ ra nghênh chiến. Tào Tháo bắt sống được viên mãnh tướng của Lã Bố là Thành Quảng, Lã Bố thua Lưu Bị mấy trận phải rút vào thành Hạ Bì cố thủ và sai người cầu cứu Viên Thuật và Trương Dương.

Tào Tháo bèn gửi thư dụ hàng ông. Lã Bố muốn hàng, nhưng Trần Cung cho rằng không nên, và hiến kế chia quân chống lại. Lã Bố ban đầu nghe theo, nhưng nghe lời vợ can không nên đi lại thay đổi ý định không đi nữa, chỉ sai Hứa Dĩ, Vương Khải đi cầu cứu viện binh của Viên Thuật lần nữa.

Quân Tào vây đánh 1 tháng không hạ được Hạ Bì, bắt đầu mệt mỏi. Tào Tháo muốn lui quân nhưng Tuân Úc và Quách Gia khuyên nên đánh gấp. Tào Tháo theo kế, sai quân khơi sông Nghi Thủy và sông Tứ Thủy đổ nước vào thành Hạ Bì.

Thành ngập nước, Lã Bố nguy khốn phải lui dần vào trong rồi rút lên cố thủ ở lầu Bạch Môn, thế cùng lực kiệt. Trong khi đó viện binh của Viên Thuật và Trương Dương vẫn không thấy đến.Trong bước đường cùng, Lã Bố đã mang vợ mình đến chỗ Quan Vũ để lấy lòng, hy vọng Quan Vũ nói giúp với Tào Tháo.

Quan Vũ mang vợ Lã Bố đến cho Tào Tháo, Tào ưng ý và giữ lại chỗ mình, nhưng vẫn vây đánh thành. Đúng lúc đó Trương Dương ở Hà Nội phát binh cứu Lã Bố. Nhưng Dương bị thủ hạ là Dương Xú giết chết để hàng Tào Tháo.

Trong lúc đó, một thủ hạ của Lã Bố là Hầu Thành bị trách phạt nên oán hận, bèn bắt trói Trần Cung và Cao Thuận mang nộp và mở cửa ra hàng Tào Tháo. Tào Tháo cùng Lưu Bị thúc quân vào.

Lã Bố trên lầu Bạch Môn bị dồn vào đường cùng, nói với các thủ hạ hãy chặt đầu mình nộp cho Tào Tháo lấy thưởng, nhưng các thủ hạ của ông không nỡ làm.

Quân Tào tiến lên lầu bắt trói được Lã Bố. Lã Bố muốn xin Tào Tháo cho mình đầu hàng, lại nhờ Lưu Bị nói giúp. Nhưng Lưu Bị khuyên Tào Tháo nên giết Lã Bố vì Lã Bố là người hay trở mặt, từng giết Đinh Nguyên và Đổng Trác. Tào Tháo nghe theo, bèn sai mang Lã Bố giết chết.

Rõ ràng, nếu như lúc trước, Lã Bố nhẫn tâm tận diệt Lưu Bị có lẽ sẽ không bị một lời của Lưu Bị mà mất đi tính mạng. Bi kịch của Lã Bố ấy là bi kịch của một kẻ sinh không hợp thời.

Tiết lộ về nhân vật bày mưu để Lã Bố giết chết Đổng Trác | Văn hóa

 

Vương Doãn tên tự là Tử Sư, người thuộc Thái Nguyên, Tinh Châu vào thời Đông Hán. Gia đình ông vốn là dòng họ có học thức, nhiều đời làm quan triều Hán. Bản thân Vương Doãn cũng rất tự hào và quyết tâm học tập thành tài để làm trung thần nhà Hán. Tuy nhiên, thời điểm ông làm quan cũng là lúc Hán triều bắt đầu suy sụp.

Khi chưa đầy 19 tuổi ông đã làm quan, giữ chức nhỏ trong quận Tinh Châu rồi sau này được thăng làm Thị Ngự Sử.

Năm 184, cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng bùng nổ (là một cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại nhà Hán). Vương Doãn được Hán Linh Đế phong làm Thứ sử Dự châu, cùng Hoàng Phủ Tung tham gia trấn áp Khăn Vàng. Không lâu sau, ông và Hoàng Phủ Tung dẹp được quân nổi loạn.

tiet lo ve nhan vat bay muu de la bo giet chet dong trac hinh anh 1

Tranh minh họa Vương Doãn (Ảnh: Wikipedia)

Theo sách Tổng tập lược truyện các Tể tướng trong lịch sử Trung Quốc, tập 1 của tác giả Chu Thiệu Hầu thì Vương Doãn vào làm quan trong triều, nhưng bị đố kỵ nên trong vòng 10 ngày từng bị bắt tới 2 lần. Nhờ có một đại thần là Trần Thiếp Lạc trong triều giúp đỡ, ông trốn thoát ra ngoài.

Sau này khi tướng quân Hà Tiến vào kinh chiếm lĩnh quyền lực thì cũng đã mời Vương Doãn cùng dự triều chính để bàn mưu kế và thuyết phục vua Hán Thiếu Đế phong ông làm Tư đồ.

Sau này, Hà Tiến bị hoạn quan sát hạt. Thái thú Hà Đông là Đổng Trác tiến quân vào kinh thành Lạc Dương , khống chế triều đình, lập Hán Hiến Đế Lưu Hiệp làm vua.

Đổng Trác chuyên quyền, bức ép hoàng đế, đe dọa các đại thần, ai cũng bất phục và căm tức. Theo tác phẩm Kể chuyện Tần Hán của các tác giả Lê Đông Phương và Vương Tử Kim thì dù có quan hệ cha nuôi với con nuôi cũng như chủ tớ với thuộc hạ nhưng mâu thuẫn giữa Đổng Trác và nghĩa tử là dũng tướng Lã Bố nảy sinh.

Đổng Trác nóng nảy, từng phi kích định giết Lã Bố khi không vừa ý khiến Lã Bố oán hận. Ngoài ra, Lã Bố còn lén lút quan hệ tình ái với người hầu gái của Đổng Trác và rất lo sợ bị phát hiện.

tiet lo ve nhan vat bay muu de la bo giet chet dong trac hinh anh 2

Trong chính sử thì Lã Bố giết Đổng Trác vì lo sợ bị phát hiện mình có quan hệ bất chính với một người hầu gái của ông.

Lã Bố là người đồng hương Tinh châu với Vương Doãn và được Vương Doãn quý mến. Vương Doãn thuyết phục Lã Bố ra tay giết Đổng Trác và ông cũng là lập mưu.

Tháng 4 âm lịch năm 192, Đổng Trác vào cung yết kiến vua Hiến Đế. Lã Bố và thuộc tướng Lý Túc phục võ sĩ ở cửa Bắc Dịch chờ đợi, khi Đổng Trác đi vào bèn đâm chết Đổng Trác.

Thời Đổng Trác nắm quyền ở triều đình, ông dời đô về Trường An. Sau khi Đổng Trác chết. Hai tướng trước kia từng theo y là Lý Thôi và Quách Dĩ đem quân bao vây Trường An. Trường An bị quân Lương châu bao vây.

Lã Bố chống cự trong 8 ngày, cuối cùng không giữ nổi. Lý Thôi thúc quân tràn vào thành. Lã Bố phải thành bỏ chạy. Vương Doãn không chịu chạy trốn cùng Lã Bố, cùng vua Hiến Đế chạy lên lầu trú. Lý Thôi mang quân tới vây lầu.

Lý Thôi bức bách Vương Doãn xuống lầu, bắt giữ rồi mấy hôm sau giết chết ông cùng mấy chục gia quyến. Năm đó Vương Doãn 56 tuổi.

Ngôi mộ đơn sơ của “nghĩa phụ” Điêu Thuyền

tiet lo ve nhan vat bay muu de la bo giet chet dong trac hinh anh 3

Bia do chính quyền địa phương lập và trung tu lần lượt vào các năm 2003 và 2012 (Ảnh : kknews.cc).

Trong tác phẩm Tam Quốc Diễn Nghĩa nổi tiếng của La Quán Trung, nhân vật Điêu Thuyền được miêu tả là có sắc đẹp “bế nguyệt” (khiến trăng cũng thẹn với sắc đẹp của nàng). Điêu Thuyền là nhân vật hư cấu, người đã khiến Lã Bố phải lòng.

Sau đó Vương Doãn nhận ra điều này, đã dâng Điêu Thuyền cho Đổng Trác, khiến Lã Bố mâu thuẫn và giết Đổng Trác. Vì thế khi nhắc đến Vương Doãn người ta thường nghĩ tới đây là “cha nuôi của Điêu Thuyền”.

tiet lo ve nhan vat bay muu de la bo giet chet dong trac hinh anh 4

Một bia đã cũ từ thời xưa còn ghi rõ chữ “Vương Doãn mộ” (Ảnh : kknews.cc).

Cảm hứng cho sự kiện này vào tác phẩm của La Quán Trung có lẽ bắt nguồn từ sự kiện lịch sử có thật là Lã Bố đã có quan hệ bất chính với một người hầu gái của Đổng Trác và Vương Doãn là người trực tiếp lợi dụng điều này để mượn tay dũng tướng trừ khử gian thần.

tiet lo ve nhan vat bay muu de la bo giet chet dong trac hinh anh 5

Toàn cảnh khu mộ chỉ là một gò đất của người từng là đại quan nhà Đông Hán (Ảnh : kknews.cc).

Ngôi mộ của Vương Doãn hiện nay nằm ở phía bắc ngoại ô thành phố Hứa Xương trực thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Khu mộ tương đối đơn sơ và có một tấm bia đá xác nhận của chính quyền địa phương.

Thái Sử Từ mới là đệ nhất cung thủ Tam Quốc, trên Hoàng Trung

 

Thái Sử Từ có sở trường đánh úp, nổi tiếng là “đệ nhất cung thủ” trong thời kỳ Tam quốc. Mặc dù ông không thể làm tướng lĩnh nhưng cũng là một hổ tướng dưới trướng, vô cùng đáng giá tin dùng.


 width=

Thái Sử Từ xuất hiện trong tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung từ hồi 11 đến hồi 53. Thái Sử Từ được xem là người có cơ trí, uy dũng xuất chúng, coi trọng giữ chữ tín, được người đời khen ngợi. Việc Thái Sử Từ bắn tên trúng tay người chửi mắng Tôn Sách từ phía xa, được La Quán Trung mô tả là một viên tướng của Nghiêm Bạch Hổ – người tranh chấp Giang Đông với Tôn Sách. Trong tiểu thuyết, viên tỳ tướng này cầm thanh ván và bị Thái Sử Từ bắn tên trúng tay dính chặt vào thanh ván.

 width=
Tranh vẽ Thái Sử Từ (nguồn: Wikipedia)

Theo sử liệu, Thái Sử Từ (166 – 206) tự là Tử Nghĩa, người huyện Hoằng, quận Đông Lai (nay là vùng đông huyện Hoàng, tỉnh Sơn Đông).

Từ lúc trẻ tuổi, Thái Sử Từ đã thông minh, hiếu học, có chí lớn, được giữ chức Tấu tào sử trong quận. Năm 186, viên Thái thú trong bản quận của Thái Sử Từ mâu thuẫn với viên Châu mục, triều đình không dàn hòa nổi, bèn ra lệnh ai dâng tấu chương nói rõ việc này trước thì người đó được xem là có ưu thế.

Biểu chương của Châu mục xong trước, đã gửi đi, còn quận thú loay hoay mãi mới chọn được Thái Sử Từ để giao việc.

Thái Sử Từ đi ngày đêm đến kinh đô Lạc Dương, vào nhà khách để đợi. Trong nhà khách ông thấy sứ giả của viên Châu mục đã đến trước, chuẩn bị đến lượt được đệ trình lên viên Tư mã – người phụ trách nhà khách của triều đình. Thái Sử Từ không lộ vẻ hốt hoảng, lại gần làm quen với sứ giả của Châu mục rồi hỏi dò việc dâng tấu chương. Sứ giả thật thà nói hết. Thái Sử Từ dọa ông ta nên cẩn thận trong lời lẽ tấu trình triều đình và tỏ ý muốn xem hộ để sửa chữa giúp. Viên sứ giả không nghi ngờ gì bèn đưa tấu chương cho ông xem. Ông rút luôn dao nhỏ trong người ra rạch nát tấu chương.

Viên sứ giả làm ầm ĩ lên, Thái Sử Từ khuyên ông ta đằng nào làm mất tấu chương cũng bị tội, nên rủ ông ta cùng trốn. Viên sứ giả tin là thật, vội cùng Thái Sử Từ trốn khỏi Lạc Dương. Ra khỏi thành được một quãng, ông chia tay viên sứ giả rồi lén quay trở lại kinh thành dâng tấu chương của Thái thú lên. Vì vậy triều đình xử Thái thú thắng trong vụ này.

Vì vụ việc này Thái Sử Từ trở nên nổi tiếng, do đó viên Châu mục rất hận ông. Sợ bị trả thù, ông bỏ trốn đến Liêu Đông.

Cứu Khổng Dung

 width=
Thái Sử Từ. Ảnh minh họa

Danh sĩ Khổng Dung làm tướng quốc nước Bắc Hải, nghe tiếng Thái Sử Từ muốn kết giao. Nhiều lần Khổng Dung đến thăm và biếu quà cho mẹ ông.

Lực lượng Khăn Vàng hoạt động mạnh trong vùng. Để đề phòng, Khổng Dung điều quân ra đóng ở Đô Xương, liền bị tướng Khăn Vàng là Quản Hợi bao vây. Đúng lúc đó Thái Sử Từ trở về nhà. Nghe lời mẹ, ông phóng ngựa đến thành Đô Xương, nhân lúc quân Quản Hợi lơi lỏng bèn vượt vòng vây vào trong thành gặp Khổng Dung.

Khổng Dung muốn cầu viện Lưu Bị ở Bình Nguyên, bèn cử Thái Sử Từ cầm thư đi cầu cứu. Nhưng lúc đó quân Khăn Vàng vây thành rất chặt. Thái Sử Từ bèn dùng kế.

Ông xin Khổng Dung cho 2 kỵ binh, sai cầm bia đỡ tên. Trời sáng, ông đeo cung tên lên ngựa, mở cửa thành dẫn 2 kỵ binh đi ra. Quân Khăn Vàng tưởng Thái Sử Từ định phá vây, bèn điều động binh mã đến. Ông cưỡi ngựa đến bên hào thành, bảo 2 kỵ binh giơ khiên lên, rồi bắn 2 phát tên về hai phía. Tên trúng vào khiên. Xong 3 người trở vào thành.

Đến hôm sau ông lại làm như vậy. Sang sáng ngày thứ ba, ông lại làm một lần nữa. Quân Khăn Vàng thấy Thái Sử Từ có vẻ không muốn ra, nên không để ý nữa. Nhân lúc lơi lỏng, ông phóng ngựa chạy như bay. Khi quân Khăn Vàng phát hiện ra thì đã muộn. Mấy người đuổi theo đều bị ông bắn tên ngã ngựa.

Thái Sử Từ đến Bình Nguyên, gặp Lưu Bị cầu cứu. Lưu Bị nhận lời, mang 3000 quân lại cứu Khổng Dung. Quân Khăn Vàng thấy có viện binh bèn rút lui. Khổng Dung qua được nạn đó càng quý trọng Thái Sử Từ.

Giao chiến với Tôn Sách

 width=
Tạo hình Tôn Sách trong phim Tân Tam quốc diễn nghĩa.

Thứ sử Dương Châu là Lưu Do có quen với Thái Sử Từ. Ông đến Khúc A gặp Lưu Do đúng lúc Tôn Sách mang quân đánh Lưu Do. Có người khuyên Lưu Do phong Thái Sử Từ làm đại tướng đối phó với Tôn Sách nhưng Lưu Do lại coi thường ông, cho rằng ông chưa có uy tín, chỉ cho làm do thám.

Trong lúc Thái Sử Từ đi do thám cùng một kỵ binh, đến Thần Đình thì gặp Tôn Sách cùng 13 kỵ binh hộ vệ. Thái Sử Từ liều chết chiến đấu cùng Tôn Sách. Hai người đánh nhau dữ dội. Tôn Sách tóm được yên ngựa, lột được áo bào của ông, còn ông cũng lấy được mũ của Tôn Sách. Khi đang đánh nhau hăng thì quân sĩ hai bên cùng kéo đến, hai người mới buông nhau ra.

Tôn Sách đánh Lưu Do ngày càng chiếm ưu thế, chỉ còn vùng phía tây huyện Kinh chưa hàng phục. Thái Sử Từ bèn mang quân đóng ở huyện Kinh, nhiều người Sơn Việt đến quy phục. Tôn Sách đích thân mang quân đến đánh, Thái Sử Từ bại trận và bị bắt.

Tôn Sách tỏ ý ngưỡng mộ dụ hàng. Tôn Sách đã nói với Thái Sử Từ: Trung nghĩa cũng phải cần đặt đúng chỗ, chết không đáng sợ nhưng hãy chết vì lí tưởng của mình, chết vì minh chủ mà mình tôn thờ chứ không phải mớ đạo lí ngu trung mà thánh hiền gieo rắc trong đầu… Ngay sau đó, Tôn Sách đã cắt dây trói cho Thái Sử Từ.

Thái Sử Từ chỉ biết thốt lên răng: “Rất thâm thúy và sâu xa, nhưng… ý trời cho ta tìm lại được chính mình”. Ông đã đầu hàng Tôn Sách, được phong làm Chiết xung trung lang tướng.

 width=
Tôn Sách.

Sau đó Tôn Sách đánh Lưu Do, chiếm được Khúc A. Lưu Do bỏ chạy tới quận Dự Chương nhờ thái thú Hoa Hâm, sau đó lâm bệnh qua đời (198). Hơn 1 vạn quân của Lưu Do chạy tản mát. Tôn Sách muốn Thái Sử Từ đi chiêu mộ họ và làm thêm 2 việc: thăm dò thái độ của Hoa Hâm – thủ hạ của Lưu Do làm Thái thú Dự Chương, còn đang trấn giữ thành, mặt khác quan tâm tới gia quyến Lưu Do. Nhiều thủ hạ của Tôn Sách cho rằng ông sẽ bỏ trốn theo Hoàng Tổ ở Giang Hạ hoặc bày mưu cho Hoa Hâm chống lại Tôn Sách, nhưng Tôn Sách rất tintưởng ông, cho rằng nhất định sẽ quay lại. Ông hẹn với Tôn Sách sẽ trở về sau 60 ngày.

Nhiều người vẫn bàn tán Thái Sử Từ sẽ đi hẳn. Nhưng Thái Sử Từ không phụ Tôn Sách. Cuối cùng ông trở lại đúng hẹn, tập hợp được nhiều quân sĩ trở về, và báo cho Tôn Sách biết Hoa Hâm chỉ là người yên phận có thể chiêu dụ. Tôn Sách mang quân tới gần thành Dự Chương, sai Ngu Phiên vào dụ Hoa Hâm đầu hàng. Quả nhiên Hoa Hâm chịu hàng. Vì việc này Tôn Sách càng tín nhiệm ông.

Phò tá họ Tôn

 width=
Thái Sử Từ nổi tiếng với tài bắn cung. Ảnh minh họa

Cháu Lưu Biểu là Lưu Bàn có thế lực khá mạnh, ở giáp địa giới với Tôn Sách. Tôn Sách cho Thái Sử Từ là đô úy huyện Kiến Xương, lập doanh trại ở Hải Môn chống Lưu Bàn. Từ đó Lưu Bàn không dám sang xâm phạm.

Sau đó ông cùng Tôn Sách đi đánh Ma Đãi Bảo Đôn. Có quân lính bên địch trèo lên đài cao ôm cột chửi bới. Thái Sử Từ lắp tên bắn một phát, tên xuyên qua tay tên lính cắm chặt vào cột nhà. Mọi người đều khen ông bắn giỏi.

Tôn Sách chết (200), Tôn Quyền lên thay, tiếp tục dùng ông cai quản khu vực phía nam để chống Lưu Bàn.

Năm 206, Thái Sử Từ lâm bệnh qua đời, thọ 41 tuổi. Trước khi qua đời ông rất tiếc vì mình chưa lập được công trạng lớn.

Trong Tam quốc diễn nghĩa, cái chết của ông được hư cấu về thời gian. Theo đó, Thái Sử Từ mất năm 209 sau trận Xích Bích (cũng được ghi là 41 tuổi), khi theo Tôn Quyền đánh Hợp Phì, bị tướng của Tào Tháo là Trương Liêu đánh bại – ông bị trúng tên và qua đời.

Tổng hợp

Tam quốc diễn nghĩa: Nếu Lã Bố không hủy hôn ước, Tào Tháo chưa chắc đã chiếm được ưu thế

 

Tam quốc diễn nghĩa: Sự thật việc dũng tướng Hạ Hầu Đôn bị thương, nuốt trọn con ngươi

Hạ Hầu Đôn (? –220), tự là Nguyên Nhượng là công thần khai quốc nhà Tào Ngụy thời Tam quốc trong lịch sử Trung Quốc. Ông là anh họ của Hạ Hầu Uyên và cũng là một trong những tướng trung thành với Tào Tháo, góp công trong những trận đánh với Lưu Bị, Tôn Quyền, Lã Bố.

Leave your Comment