Kinh tế tri thức là gì 349

Quảng Ninh hướng tới trở thành trung tâm kinh tế tri thức thông tin

 

Hướng tới một nền kinh tế tri thức thông tin, Quảng Ninh xác định tạo dựng chính quyền số, là bước đi tiếp theo của chính quyền điện tử, là xu thế tất yếu trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, sự bùng nổ mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và thực tiễn phát triển của tỉnh.

a
Khu vực điều khiển Trung tâm Điều hành thông minh tỉnh Quảng Ninh. Ảnh: Đỗ Phương

Từ nền tảng thành phố thông minh

Tiếp nối những thành công trong xây dựng chính quyền điện tử và cải cách hành chính giai đoạn 2012-2018, Quảng Ninh tiếp tục triển khai chính quyền điện tử và xây dựng chính quyền số trên cơ sở triển khai đề án thành phố thông minh và đề án chính quyền số tỉnh giai đoạn 2019-2025. Mặc dù đây là một trong những nhiệm vụ mới, phức tạp, chưa có khung tham chiếu, kinh nghiệm trong nước, nhưng Quảng Ninh rất quyết tâm, tích cực nghiên cứu triển khai, đảm bảo kế thừa đồng bộ với chính quyền điện tử và các dự án thành phần thuộc đề án thành phố thông minh mà tỉnh đang thực hiện.

Thành phố thông minh của Quảng Ninh sẽ lấy người dân và du khách làm trung tâm, vừa là người thụ hưởng, vừa là người đóng góp xây dựng, phát triển dịch vụ; đồng thời nâng cao năng lực quản lý, chất lượng và hiệu quả các hoạt động kinh tế – xã hội, tạo môi trường hấp dẫn, thu hút đầu tư, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của tỉnh. Trong 32 nhiệm vụ, dự án của Đề án triển khai mô hình thành phố thông minh tỉnh Quảng Ninh được phê duyệt điều chỉnh tại Quyết định số 3142-QĐ/UBND (ngày 15/8/2018) của UBND tỉnh, đến nay đã hoàn thành 3 dự án, tổng mức đầu tư trên 600 tỷ đồng; phê duyệt và đang thực hiện 7 dự án, nhiệm vụ, tổng mức đầu tư trên 1.800 tỷ đồng. Thời gian tới, tỉnh tiếp tục tổ chức các dự án, nhiệm vụ theo đề án đã duyệt.

Cùng với đó, Quảng Ninh tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định của tỉnh, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện cho việc triển khai xây dựng, phát triển chính quyền điện tử, chính quyền số và thành phố thông minh. Tỉnh đã ban hành kiến trúc thành phố thông minh tỉnh Quảng Ninh (phiên bản 1.0) là cơ sở để xây dựng, triển khai các dự án thành phố thông minh tại các thành phố Cẩm Phả, Uông Bí, Móng Cái. Đến nay 3 thành phố đã hoàn thiện, phê duyệt đề án nhân rộng mô hình thành phố thông minh để thực hiện.

Cán bộ Phòng Quản lý Trung tâm Tích hợp dữ liệu tỉnh trực hệ thống giám sát và cảnh báo sớm tấn công gây mất an toàn mạng.
Cán bộ Phòng Quản lý, Trung tâm Tích hợp dữ liệu tỉnh, trực hệ thống giám sát và cảnh báo sớm tấn công gây mất an toàn mạng.

Hướng tới nền kinh tế tri thức thông tin

Quảng Ninh là tỉnh đầu tiên trong nước triển khai thành công kết nối liên thông văn bản 4 cấp (trung ương, tỉnh, huyện, xã). Đến nay, tỉnh tiếp tục hoàn thành việc kết nối trục liên thông của tỉnh và trục liên thông văn bản chính phủ, đảm bảo việc gửi, nhận văn bản điện tử có ký số trên trục liên thông văn bản quốc gia. Hệ thống chính quyền điện tử tỉnh đã gửi, nhận văn bản điện tử liên thông đến 95 đơn vị, trong đó có 33 bộ, ban, ngành; 62 tỉnh, thành phố trong nước.

Quảng Ninh cũng là một trong những địa phương đi đầu thực hiện gửi, nhận văn bản điện tử đến đơn vị cấp 2 (đến các cục, vụ, viện của các bộ và các sở, ngành của tỉnh, thành phố). Để đảm bảo liên thông, trao đổi văn bản dữ liệu 4 cấp, hệ thống mạng diện rộng WAN của tỉnh sử dụng đường truyền số liệu chuyên dùng đã được mở rộng, hoàn thiện từ tỉnh đến cấp xã với 342 đơn vị, với 345 đường truyền, hoạt động ổn định, phục vụ trao đổi thông tin giữa các đơn vị. Đồng thời, đã kết nối với Chính phủ trên mạng truyền số liệu chuyên dùng.

Để phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước, tỉnh đang triển khai xây dựng các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, như: Doanh nghiệp; Atlas điện tử; đất đai; quản lý y tế; quản lý hộ tịch; cấp đổi giấy phép lái xe; quản lý phương tiện thủy nội địa; quản lý số liệu về cơ sở hạ tầng giao thông; quản lý cấp phép các hoạt động du lịch; quản lý cấp phép lĩnh vực môi trường; quản lý xuất nhập cảnh; quản lý dữ liệu về trẻ em trên địa bàn tỉnh; GIS chuyên ngành bưu chính viễn thông; khoa học công nghệ…, làm cơ sở nền tảng quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ công, giải quyết TTHC và phục vụ nghiệp vụ của các cơ quan, đơn vị, CB,CC,VC trên địa bàn tỉnh. Cùng với đó, duy trì hiệu quả hoạt động của hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến của tỉnh đến cấp xã, với 239 điểm cầu đảm bảo chất lượng HD để tổ chức các cuộc họp trực tuyến trên toàn tỉnh, đặc biệt phục vụ các địa phương tổ chức các cuộc họp trực tuyến với các xã, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Tra cứu thông tin tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh.
Tra cứu thông tin tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh.

Hướng tới trở thành trung tâm kinh tế tri thức thông tin của khu vực, Quảng Ninh cũng đang xây dựng, thành lập khu công viên CNTT tập trung của tỉnh tại phường Tuần Châu (TP Hạ Long), với diện tích khoảng 8,46ha. Dự án đã được phê duyệt Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 và đang trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư theo quy định. Đây dự kiến sẽ là khu tập trung các hoạt động nghiên cứu – phát triển, đào tạo, sản xuất và kinh doanh sản phẩm, dịch vụ khu CNTT, cung cấp hạ tầng, cung ứng dịch vụ khu CNTT cho các tổ chức, doanh nghiệp, các hoạt động khác liên quan đến CNTT. Việc phát triển công nghiệp CNTT, hình thành khu CNTT là một trụ cột quan trọng để phát triển dịch vụ thông minh sáng tạo, đặc biệt xây dựng khu phần mềm chính, là đòn bẩy và là điểm kết nối để tạo ra các năng lực mới về thành phố thông tin và sáng tạo.

Tại Kỳ họp thứ 12, HĐND tỉnh khóa XIII, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Thắng cho rằng: Phải tiếp tục hoàn thiện, phát triển kết cấu hạ tầng mềm, trong đó tăng cường ứng dụng CNTT vào công tác quản lý nhà nước, cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp và người dân với mô hình đô thị thông minh, chính quyền điện tử, thanh toán điện tử, dữ liệu số dùng chung… Có như vậy, tỉnh Quảng Ninh mới tạo ra sự khác biệt với những bứt phá mạnh mẽ hơn, hiệu quả.

Thu Chung

.

rút ngắn con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa

 

(VLR) Kinh tế tri thức (Knowledge Economy) mới xuất hiện ở VN trong vài năm gần đây. Loại hình kinh tế này vừa được sinh ra ở những nước công nghiệp phát triển thế giới mấy thập niên qua. Đã có nhiều thuật ngữ liên quan đến kinh tế tri thức được dùng, như: kinh tế dựa trên tri thức (Knowledge-based economy), nền kinh tế công nghệ cao (hight-technology) nền kinh tế mạng (network-economy), nền kinh tế số hóa (digital-economy),…

"

Kinh tế tri thức (Knowledge Economy) mới xuất hiện ở VN trong vài năm gần đây. Loại hình kinh tế này vừa được sinh ra ở những nước công nghiệp phát triển thế giới mấy thập niên qua. Đã có nhiều thuật ngữ liên quan đến kinh tế tri thức được dùng, như: kinh tế dựa trên tri thức (Knowledge-based economy), nền kinh tế công nghệ cao (hight-technology) nền kinh tế mạng (network-economy), nền kinh tế số hóa (digital-economy),…

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế thế giới (OECD) định nghĩa: “Là nền kinh tế mà trong đó sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, tạo ra việc làm cho tất cả các ngành kinh tế được gọi là nền kinh tế tri thức”. Tuy nhiên, định nghĩa trên mới chỉ nêu vai trò quyết định của tri thức và công nghệ đối với phát triển kinh tế của loài người, chưa phản ảnh đầy đủ khía cạnh xã hội của nền kinh tế này, song nó vẫn là yếu tố tất yếu của lịch sử nhân loại trong tương lai.

KINH TẾ TRI THỨC LÀ TẤT YẾU LỊCH SỬ

Ở góc độ kinh tế, nếu xét quá trình lịch sử của lực lượng sản xuất, chúng ta thấy rằng hàm lượng tri thức (chất xám) biểu hiện ngày càng rõ rệt và trình độ tri thức ngày càng cao trong việc kiến tạo xã hội loài người, có thể chia làm 3 thời kỳ lịch sử:
Thời kỳ nền kinh tế nông nghiệp
Nền kinh tế nông nghiệp, xuất hiện cách đây khoảng hơn 10 nghìn năm, từ lao động thủ công thời trung cổ, đại công trường thủ công thời phong kiến đến thời phục hưng và hiện nay. Công cụ sản xuất lúc bấy giờ là công cụ thủ công, năng lượng chủ yếu lànăng lượng cơ bắp con người, sức kéo của súc vật và các loại năng lượng sơ cấp khác. Tri thức được sử dụng trong nông nghiệp ở mức độ rất thấp cho nên khoa học – công nghệ (KH-CN) chậm phát triển.

Thời kỳ nền kinh tế công nghiệp

Là thời kỳ diễn ra hai cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai của thế giới (từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20). Sản xuất thủ công chuyển sang nền sản xuất dùng máy móc cơ khí, máy mọc điện cơ khí. KH-CN và tri thức của con người được phát triển mạnh mẽ là động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội loài người mở rộng. Nhiều nước công nghiệp ra đời. CNTB thịnh hành. Tuy nhiên, nền sản xuất đại công nghiệp chủ yếu vẫn dựa vào tài nguyên thiên nhiên, đặt ra cho loài người nhiều thách thức mới về tài nguyên, môi trường, thị trường, bất bình đẳng xã hội… Trong đó vấn đề cạn kiệt tài nguyên và biến đổi khí hậu tác động đến sinh thái trái đất là những vấn đề cấp thiết của hành tinh xanh.Để giải quyết những vấn đề nêu trên, thì KH-CN và “chất xám” của loài người phải phát triển hơn nữa để đáp ứng yêu cầu mới về đời sống và sản xuất xã hội.

Thời kỳ nền kinh tế tri thức

Nền kinh tế tri thức sinh ra trên cơ sở đồng vốn và tài nguyên thiên nhiên của nền kinh tế công nghiệp, chủ yếu dựa vào “tri thức” con người và KH-CN hiện đại, tạo ra của cải vật chất cho xã hội nhiều hơn, trình độ dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái đi dần vào ổn định. Khởi đầu là cuộc cách mạng KH-CN của thế giới và sự cho ra đời sản phẩm điển hình là máy tính điện tử (điện toán) “computer” vào giữa thế kỷ 20. Đặc trưng của giai đoạn này là phát triển hệ thống công nghệ cao (vi điện tử, máy tính xách tay, điện thoại di động nhiều chức năng, quang điện tử, laze, nanô, gen, tế bào gốc…) cùng với việc xuất hiện truyền thông vệ tinh, mở rộng xa lộ thông tin toàn cầu, cáp quang, truyền hình kỹ thuật số, sử dụng người máy thông minh, máy tính siêu tốc để quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh cũng như phục vụ cuộc sống dân sinh. Nổi bật là tri thức khoa học tự nhiên hòa quyện với tri thức khoa học xã hội thành một thể thống nhất, bảo đảm cho sự tái tạo cuộc sống loài người được bền vững. Vì vậy, sự hình thành kinh tế tri thức mang tính tất yếu lịch sử, cho dù nó có thể phát triển không đồng đều trên trái đất với nhiều sắc thái đa dạng.

Bảng so sánh đặc điểm ba nền kinh tế

"

RÚT NGẮN CON ĐƯỜNG CNH, HĐH HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

Bài học của một số quốc gia tương đồng

Phần Lan trước đây là nước nông – lâm nghiệp thuần túy, kém phát triển ở Bắc Âu. Năm 1950, dân nông thôn chiếm 90% dân số, đến nay chỉ còn 6% và tỷ trọng nông – lâm nghiệp đóng góp cho GDP quốc gia là 3%.Diện tích rừng và ao hồ của quốc gia này chiếm 80% lãnh thổ, thế mạnh trước đây là công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy.
Năm 1980 Phần Lan đi thẳng vào công nghệ cao và phát triển mạnh mẽ các ngành dịch vụ. Đến nay trở thành một trong những quốc gia hàng đầu của thế giới về CNTT. Tập đoàn NOIKA chiếm ½ thị phần điện thoại di động trên thế giới, với kim ngạch xuất khẩu khoảng 15% GDP/năm của quốc gia. Những doanh nghiệp của nước này đã đầu tư cho R&D (Research and Development) hàng năm 10% doanh thu, cao gấp đôi các quốc gia châu Âu khác. Phần Lan là nước điển hình có tốc độ chuyển nhanh từ nền sản xuất nông nghiệp sang nền kinh tế tri thức.

Hàn Quốc,là quốc gia kém phát triển ở châu Á trước đây, trước và trong thế chiến thứ hai (1940-1945) bị Nhật Bản chiếm đóng. Sau đó phải gánh chịu cuộc chiến tranh khốc liệt giữa hai khối Đông – Tây, kết thúc năm 1953, bị tàn phá nặng nề, coi như phải kiến thiết lại từ đầu.

Năm 1970 dân số nông nghiệp chiếm 70% dân số cả nước, nay chỉ còn 6%. Với thế mạnh là nhân công rẻ, lao động cần cù có kỹ năng cao, được Mỹ hỗ trợ tài chính và công nghệ hiện đại lúc ban đầu. Nước này đã đi thẳng vào phát triển công nghiệp nặng, công nghệ cao và dịch vụ tổng hợp hoàn chỉnh. Nét nổi bật là tốc độ nội địa hóa các sản phẩm công nghiệp phụ trợ, nên đã đưa Hàn Quốc từ điểm xuất phát không có gì vào năm 1960, đến năm 1993 trở thành cường quốc hàng đầu thế giới về đóng tàu biển, với hơn 110.000 công nhân chuyên nghiệp và 58 nhà máy đóng tàu tầm cỡ thế giới, đóng được tất cả các chủng loại tàu, có qui mô đến 300.000DWT, năm 2008 doanh thu công nghiệp đóng tàu Hàn Quốc đạt 43,1 tỷ USD.

Ngoài ra, từ năm 1990, nước này có chiến lược phát triển kinh tế tri thức và xã hội thông minh. Siêu xa lộ thông tin của Hàn Quốc đã nối kết với 14 triệu gia đình và hầu hết các trường học trong nước, cũng như hòa mạng khắp thế giới.

Đây có thể coi là nước điển hình đã rút ngắn bước phát triển từ kinh tế nông – công nghiệp sang nền kinh tế tri thức bằng con đường tắt nhờ biết sử dụng hiệu quả lao động chất xám và thành quả KH-CN hiện đại, kết hợp nhuần nhuyễn với việc tận dụng thời cơ và sự chuyển động của thế giới đa cực.

Tạo nguồn nhân lực kỹ năng cao để rút ngắn con đường CNH-HĐH

Ngay từ Đại Hội lần thứ 9 (2001), Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chủ trương từng bước phát triển kinh tế tri thức. Tại Đại hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ X (2006), đã khẳng định: “Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với việc phát triển kinh tế tri thức” và ở Đại Hội XI (2011) đã cụ thể hóa chủ trường này bằng nhiệm vụ cấp bách phải đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng cao cho CNH,HĐH đất nước. Như vậy, chủ trương và đường lối phát triển kinh tế tri thức là nhất quán và xuyên suốt trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

Đến nay, đã xuất hiện những mầm móng cơ bản cho phép thực hiện từng bước quá trình đưa quốc gia tiến dần đến nền kinh tế tri thức, được gắn kết với những thành quả quan trọng thời gian qua, như:Tăng trưởng GDP đều đặn trong hoàn cảnh kinh tế thế giới khủng hoảng;Sử dụng rộng rãi Internet và điện thoại di động phục vụ dân sinh;Phát triển thông tin và truyền thông vệ tinh, kỹ thuật số, cáp quang;Áp dụng công nghệ mới trong sản xuất công nghiệp. Dùng hệ thống CAM (Computer Aided Manufacture) trong sản xuất cơ khí và hệ thống CAD (Computer Aided Design) trong thiết kế sản phẩm;Riêng cảng biển quốc gia, logistics phát triển bùng nổ đã thúc đẩy tiến trình container hóa bắt nhịp được với các cảng trong khu vực và trên thế giới, bằng ứng dụng hệ thống CMS (Container Management System – Hệ thống quản lý container), hệ thống TOPX (Terminal Operation PacKage – Hệ thống điều hành khai thác tại cầu bến) và hệ thống định vị toàn cầu DGPS để cập nhật container.

Nhìn chung nếu so sánh với các quốc gia Đông Nam Á thì số công nhân tri thức (Knowledge Worker) tham gia trong lực lượng lao động của ta còn quá ít, năm 2000 chỉ đạt 5% so với Malaysia và Thái Lan từ 9-20%. Tuy nhiên, theo nhận xét của Ngân hàng thế giới (WB) thì VN là nước có nhiều tiềm năng đi nhanh đến nền kinh tế tri thức trong những quốc gia đang phát triển.

Đánh giá này vừa tạo ra cho chúng ta sự tự tin, đồng thời cũng buộc chúng ta suy nghĩ mối tương quan giữa VN và các quốc gia láng giềng. Theo thống kê, hiện nay VN có hơn 9.000 GS, PGS và trên 3 vạn TS, nhưng mỗi năm chỉ có khoảng 900 bài báo khoa học trên các tạp san quốc tế. Đó là năng suất cực kỳ khiêm tốn nếu nhìn theo chuẩn mực quốc tế mỗi giáo sư phải có ít nhất 1 bài báo khoa học mỗi năm, chưa kể đến những công trình khoa học cống hiến cho xã hội.

Tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) và WB xếp VN đứng 106/145 quốc gia về kinh tế tri thức (Knowledge Economy Index – KEI). Thứ bậc thấp như vậy là do VN yếu kém về giáo dục và nghiên cứu khoa học mà ai cũng nhận biết.

Trong thế giới ngày nay “giáo dục đào tạo” là vườn ươm hạt giống để logistics hình thành và “xã hội học tập” chính là mảnh đất màu mỡ cho phát triển kinh tế tri thức.Nếu VN phấn đấu nâng cao ngành giáo dục đào tạo hiệu quả hơn và tổ chức tốt xã hội học tập thì có thể rút ngắn con đường CNH, HĐH đất nước.

Kinh tế tri thức và toàn cầu hóa

 

(Kinh tế) – Kinh tế tri thức xuất hiện như một thời đại kinh tế mới, với một nguyên lý sáng tạo của cải hoàn toàn khác với các thời đại kinh tế nông nghiệp hoặc công nghiệp trước đó. Nó dựa trên sự dẫn dắt của nguồn lực trí tuệ và khả năng kết nối sâu, rộng trên không gian toàn cầu. Điều đó khiến cho toàn cầu hóa trở thành một quá trình khó đảo ngược, diễn tiến nhanh, sâu, rộng và vận hành trên cơ sở của chính nó – một nền kinh tế tri thức, mang bản chất toàn cầu. Trong bối cảnh của một thời đại như vậy, một nước đang phát triển như Việt Nam, dù có điểm xuất phát thấp, cũng sẽ bị đặt một cách tự nhiên vào “trường” tương tác của nền kinh tế tri thức và buộc phải xem xét lại các khía cạnh khác nhau của tư duy phát triển. Để tiến bước theo yêu cầu của thời đại, việc đổi mới thể chế nhằm tăng cường năng lực hội nhập thực sự vào nền kinh tế thế giới là không tránh khỏi.

1. Mở đầu

Toàn cầu hóa không phải là một hiện tượng hoàn toàn mới. Nó đã từng xuất hiện như một làn sóng lôi cuốn và kết nối các nguồn lực kinh tế của các quốc gia khác nhau ngay từ cuối thế kỷ thứ XIX. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hóa hiện nay đã mang một diện mạo khác hẳn trước. Nó dần trở thành một thuộc tính bên trong của kinh tế tri thức, hơn là một quá trình tồn tại song song với kinh tế tri thức. Nhờ vậy, nó góp phần định hình kinh tế tri thức không đơn giản chỉ như là một bước phát triển mới của lực lượng sản xuất mà như là một thời đại kinh tế mới, một cung cách sáng tạo của cải mới, chứa đựng những đảo lộn vô cùng to lớn trong mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội loài người. Từ đó, kinh tế tri thức có khả năng lôi cuốn mọi quốc gia vào quỹ đạo của nó, buộc chúng phải thích ứng bằng cách thay đổi cách thức và con đường phát triển của mình. Bàn luận về những vấn đề đó, bài báo này muốn rút ra một vài hàm ý có ý nghĩa đối với sự lựa chọn phát triển của Việt Nam.

2. Thời đại kinh tế tri thức

Một cách tổng quát, có thể coi tổng sản lượng mà một quốc gia có thể tạo ra trong một khoảng thời gian nào đó phụ thuộc vào các nguồn lực đầu vào mà quốc gia đó có thể huy động và khai thác. Nó có thể diễn đạt dưới dạng một hàm sản xuất của xã hội: Q = f (L, K, NR, T…), trong đó, Q là tổng sản lượng đầu ra, L là số lượng lao động cơ bắp, K: lượng vốn hiện vật, NR: lượng tài nguyên thiên nhiên, T: tri thức – công nghệ. Trong hàm sản xuất xã hội tổng quát này, tri thức là một nguồn lực của quá trình tạo ra của cải bên cạnh các nguồn lực khác: lao động (cơ bắp), vốn hiện vật, đất đai và các tài nguyên thiên nhiên khác.

Năng lực sản xuất của xã hội phụ thuộc vào tổng lượng các nguồn lực nói trên. Các nguồn lực có khả năng thay thế cho nhau cũng như bổ sung cho nhau. Các nguồn lực tự nhiên thường có giới hạn: diện tích đất đai dần dần bị con người khai thác hết và về cơ bản không còn khả năng mở rộng; trữ lượng các khoáng sản giảm dần, đặc biệt theo đà khai thác nhanh như hiện nay – việc tìm kiếm và phát hiện ra các mỏ khoáng sản mới vẫn có khả năng duy trì song cơ hội ngày càng hiếm. Dân số thế giới vẫn tăng lên song động thái là rõ ràng: ở các nước phát triển, dân số hầu như không tăng, còn ở các nước đang phát triển, sự gia tăng dân số đã vượt quá giới hạn cần thiết – trong trường hợp này, kiểm soát, hạn chế sự gia tăng dân số thậm chí còn có ý nghĩa tích cực hơn đối với phát triển. Chỉ có vốn và tri thức là có khả năng tích lũy và tăng lên không ngừng. Tuy nhiên, khác với tri thức, vốn luôn bị hao mòn đi trong quá trình sử dụng. Vì thế, người ta luôn phải dùng một bộ phận nguồn lực để tái tạo, bù đắp lượng vốn bị hao mòn trong quá trình sản xuất trước khi thực sự gia tăng quỹ vốn. Tri thức là một nguồn lực đặc biệt, khác hẳn các nguồn lực khác: không bị cạn kiệt như nhiều loại tài nguyên thiên nhiên; không phải là một lượng tương đối cố định như đất đai; không bị hao mòn trong tiêu dùng như vốn; thậm chí tri thức mới có khả năng được tạo ra ngay trong quá trình tiêu dùng hay sử dụng các tri thức cũ.

C.Mác cho rằng: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” [3, tr.269]. Dựa vào luận điểm có tính chất phương pháp luận này, chúng tôi cho rằng: các thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng dùng loại nguồn lực gì mà ở chỗ nguồn lực nào đứng ở vị trí trung tâm, có tính chất chi phối, quyết định so với các nguồn lực khác trong quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng của cải. Trong các thời đại kinh tế khác nhau, tương quan và vị thế của các nguồn lực cũng là khác nhau. Xét về tổng thể, các bộ phận cấu thành của các nguồn lực trong hàm sản xuất xã hội là giống nhau. Tuy nhiên, theo sự tiến triển của lịch sử, quy mô, chất lượng, tính chất của mỗi bộ phận này và mối quan hệ giữa chúng dần dần biến đổi. Ở mỗi giai đoạn của lịch sử, luôn luôn có những nguồn lực đứng ở vị trí tiên phong, dẫn dắt hay chi phối quá trình tạo ra của cải. Khi một nguồn lực nổi lên ở vai trò dẫn dắt, nó buộc các nguồn lực khác phải đóng vai phụ, thích ứng theo và điều này tạo nên một cấu trúc sản xuất, một hệ thống kinh tế có những đặc trưng riêng về cách thức tạo dựng của cải.

Trong thời đại kinh tế nông nghiệp, do con người chỉ mới tích lũy được nguồn tri thức ít ỏi nên tri thức chỉ có một vị trí khiêm tốn trong quá trình sản xuất. Để khai thác tự nhiên, tạo ra những cái cần cho sự sinh tồn và phát triển của mình, con người buộc phải sử dụng các nguồn lực sẵn có trong tự nhiên: sức lao động cơ bắp, đất đai. Từ phương thức hái lượm, săn bắt đến biết cấy trồng, chăn nuôi gia súc, tuy là những bước tiến lớn trên con đường phát triển song về cơ bản, sản xuất vẫn là sự khai thác tự nhiên một cách trực tiếp. Tri thức con người dùng trong sản xuất chỉ là các tri thức kinh nghiệm đơn giản, ít ỏi. Vốn tri thức nghèo nàn của một nền sản xuất lặp đi, lặp lại, dựa trên việc khai thác các nguồn lực sẵn có của tự nhiên về bản chất là dễ học hỏi, dễ chuyển giao. Tốc độ tạo ra tri thức cũng như sự biến đổi của nền sản xuất xã hội diễn ra rất chậm. Trong điều kiện đó, chỉ cần có được một số ít tri thức kinh nghiệm sống cơ bản, người ta có thể đủ dùng trong suốt cả cuộc đời. Vì thế, giáo dục dài hạn, qua trường học để “tạo ra” tri thức cho người lao động không phải là một yêu cầu thiết yếu của sản xuất (không phải ngẫu nhiên, trong các xã hội nông nghiệp, đại bộ phận dân cư là mù chữ). Công cụ sản xuất là những công cụ thô sơ, thủ công, sử dụng sức người hay động vật. Khả năng khai thác, chinh phục tự nhiên của xã hội hết sức hạn chế. Năng suất lao động thấp, cuộc sống của đại bộ phận dân chúng là nghèo khổ, luôn bị đe dọa bởi thiên tai hay các lực lượng tự nhiên. Của cải được tạo ra nhiều hay ít chủ yếu phụ thuộc vào việc khai thác lao động cơ bắp và đất đai. Đất đai, lao động thủ công – cơ bắp là phương tiện sinh tồn hàng đầu nên chiếm đoạt đất đai và nô lệ là đối tượng chủ yếu của các cuộc chiến tranh. Do dựa vào nông nghiệp thủ công nên dân chúng chủ yếu sống ở nông thôn, theo những cộng đồng nhỏ hẹp, tương đối khép kín, mang tính chất tự cung, tự cấp. Không gian kinh tế của xã hội là chật hẹp tương ứng với tính chất khó di chuyển hay di chuyển chậm chạp của các nguồn lực và sản phẩm của chúng do sự vận chuyển chủ yếu là dựa vào sức người hay sức súc vật. Xã hội ít biến đổi hay chỉ biến đổi một cách chậm chạp.

Trong thời đại kinh tế công nghiệp, với sự ra đời của máy móc, sức mạnh khai thác tự nhiên của con người tăng lên gấp bội. Con người dùng máy móc khác nhau để biến các tài nguyên thiên nhiên thành của cải, dùng ô tô, tàu hỏa hay các phương tiện cơ giới để đi lại, vận chuyển. Sức sản xuất của xã hội tăng lên nhanh chóng. Sản xuất ngày càng có tính chất hàng loạt, nhất là từ khi điện được phát minh để trở thành loại năng lượng tiện dụng, để thích ứng với năng lực to lớn của những máy móc. Nền sản xuất được chuyên môn hóa cao theo kiểu mỗi người đều cố gắng sản xuất cho người khác, cho thị trường. Các cộng đồng kinh tế nhỏ hẹp, tự cấp dần dần bị phá vỡ, nhường chỗ cho nền kinh tế mang tầm quốc gia. Các đô thị xuất hiện ngày càng nhiều, và càng ngày càng trở thành trung tâm của đời sống kinh tế – xã hội. Năng suất lao động được nâng cao cho phép xã hội dần dần vượt qua được ngưỡng sinh tồn, có tích lũy. Trên cơ sở tích lũy và đầu tư, dự trữ vốn của nền kinh tế ngày càng gia tăng và điều này tạo ra sự tăng trưởng dài hạn thực sự cho các nền kinh tế công nghiệp. Một xã hội có khả năng duy trì sự biến đổi liên tục, không ngừng trên nền tảng phát minh và ứng dụng khoa học, công nghệ cho đến lúc này mới thực sự hình thành. Tri thức giờ đây trở nên quan trọng hơn, có ảnh hưởng lớn hơn đến các tiến trình kinh tế. Tham gia vào quá trình này, người lao động cần được đào tạo và trang bị những kiến thức nhất định. Giáo dục đại chúng trở thành một thành tố thiết yếu của sản xuất xã hội.

Đương nhiên, với những biến đổi nói trên, trong các nền kinh tế công nghiệp, yếu tố dẫn dắt quá trình kinh tế không còn là đất đai hay sức lao động thủ công, cơ bắp. Khi sức mạnh của con người trong việc tạo dựng của cải được nhân lên gấp bội trong máy móc, việc tạo ra máy móc và những điều kiện để hệ thống sản xuất dựa máy móc hoạt động mới là quan trọng. Hệ thống năng lượng là một trong những điều kiện thiết yếu như vậy. Trong nền kinh tế nông nghiệp, năng lượng trực tiếp dựa trên sức người và sức động vật chỉ tạo ra được những sức mạnh hạn chế. Với việc phát minh ra máy hơi nước, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra là khởi đầu cho thời đại kinh tế công nghiệp. Hệ thống sản xuất dựa trên các động cơ hơi nước gắn liền với việc khai thác và sử dụng nguồn năng lượng từ than đá. Trong bước quá độ này, những đầu tàu đầu tiên của nền kinh tế thế giới là những nước mà người ta có thể dễ dàng tiếp cận đến nguồn năng lượng này như nước Anh và sau đó là nước Đức. Ở những nơi này, nguồn tài nguyên than đá là dồi dào, dễ khai thác, khiến cho việc triển khai kỹ thuật sản xuất mới trở thành hiện thực. Tầm quan trọng đối với sản xuất của các nguồn lực tự nhiên như đất đai, lao động cơ bắp chuyển dịch dần sang những loại tài nguyên thiên nhiên khác như than đá ở thời kỳ đầu cũng như dầu mỏ (năng lượng) hay sắt thép (nguyên liệu) ở thời kỳ sau. Có lẽ vì chú ý đến điều này mà một số nhà kinh tế gọi thời đại kinh tế công nghiệp là giai đoạn kinh tế tài nguyên – giai đoạn mà sự phát triển kinh tế dựa chủ yếu trên sự chiếm hữu và phân phối các tài nguyên thiên nhiên [8, tr.36 – 38]. Tuy nhiên cách nhìn nhận như vậy là không thỏa đáng. Vấn đề là ở chỗ phương thức tạo ra của cải của thời đại kinh tế nông nghiệp là dựa trên việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên một cách trực tiếp, gắn liền với sức mạnh cơ bắp tự nhiên của con người hay động vật. Trong giới hạn đó, đất đai dùng để trồng trọt hay chăn nuôi là tài nguyên thiên nhiên dễ khai thác nhất, và trở nên là quan trọng nhất. Trong nền kinh tế công nghiệp, với việc phát minh ra máy móc, một nguyên lý sản xuất của cải khác được tạo ra. Sức mạnh mà con người dùng để tác động vào tự nhiên trong quá trình sản xuất không còn là sức mạnh cơ bắp tự nhiên (của con người hay động vật). Nó bị thay thế bằng sức mạnh của máy móc. Chỉ trên cơ sở hệ thống máy móc mới, con người mới có khả năng khai thác các nguồn khoáng sản khác nhau trong lòng đất như than đá, dầu mỏ… để tạo ra nguồn năng lượng mới, to lớn gấp bội cho chính các hoạt động sản xuất của mình. Sản xuất với hệ thống máy móc, các động cơ hơi nước và các thiết bị cơ khí… làm cho con người ngay từ đầu đã có khả năng tạo ra lượng sản phẩm lớn gấp bội so với nhu cầu trực tiếp của những người sản xuất cho chúng. Chi phí vận chuyển than đá tốn kém làm cho hệ thống xe lửa chạy bằng máy hơi nước nói riêng và hệ thống công nghiệp dựa trên động cơ hơi nước lúc đầu chỉ xuất hiện ở những nơi có nguồn cung ứng than dễ khai thác như chúng ta đã nói. Tuy nhiên hệ thống này ngay từ đầu đã tiềm ẩn ưu thế của việc sản xuất với quy mô lớn, tập trung, có tính chất hàng loạt. Việc phát minh ra điện gắn với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai tuy tạo ra nhiều đảo lộn (một loạt ngành công nghiệp mới ra đời, đồng thời các ngành công nghiệp cũ phải đổi mới, thích hợp với nguồn năng lượng mới rẻ hơn, dễ sử dụng hơn, hiệu suất cao hơn), song lại càng nổi bật hơn ưu thế của phương thức sản xuất tập trung, hàng loạt. Khi sản xuất dựa trên các nguồn năng lượng phân tán ở sức người và sức động vật đã bị thay thế bởi một hệ thống sản xuất dựa trên sự khai thác tập trung các mỏ nguyên, nhiên liệu, thì các công việc sản xuất cũng dần dần bị tập trung trong các công xưởng, nhà máy quy mô lớn. Đến lượt chúng, các nhà máy, công xưởng này cũng có khuynh hướng tập trung trong những đô thị có số lượng dân cư lớn hơn nhiều so với các làng, xã nông thôn trước đây. Nguyên lý sản xuất tập trung, quy mô lớn đó đòi hỏi khối lượng vốn lớn, được tập trung hóa. Phương thức sản xuất dựa trên sự tập trung máy móc cơ khí – vốn hiện vật, và tương ứng với nó là sự tập trung vốn tài chính làm nổi bật lên vị trí và vai trò đích thực của nguồn lực vốn trong quá trình sáng tạo của cải ở thời đại kinh tế công nghiệp. Giờ đây yếu tố chi phối, dẫn dắt các quá trình sản xuất không còn là đất đai hay sức lao động cơ bắp mà là vốn. Tăng trưởng kinh tế bắt đầu thực sự diễn ra và nó bị quyết định bởi vốn, hay đúng hơn là khả năng tích lũy vốn. Chỗ nào tích lũy vốn nhanh hơn, chỗ đó tăng trưởng nhanh hơn, do đó thành công hơn về mặt kinh tế. Quyền lực kinh tế của mỗi người, mỗi doanh nghiệp hay thậm chí cả nền kinh tế nằm ở khả năng sở hữu vốn hay tư bản. Nắm giữ vốn là nền tảng để nắm giữ hay chi phối các nguồn lực khác, dù đó là đất đai, tài nguyên thiên nhiên hay là lao động có kỹ năng và tri thức. Các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn nhất cũng là các doanh nghiệp có khả năng đầu tư nhiều nhất cho các hoạt động nghiên cứu, triển khai. Kinh tế công nghiệp dựa trên nền tảng cơ khí hóa, điện khí hóa và sản xuất hàng loạt cho các nhu cầu phổ biến coi vốn là yếu tố sản xuất số một. Nếu ở bước khởi đầu, cách mạng công nghiệp nổ ra ở nước Anh thì vào giữa thế kỷ XX, quốc gia thành công với nền kinh tế công nghiệp như Nhật Bản lại là một nơi rất nghèo tài nguyên thiên nhiên. Điều đó cho thấy không nên coi kỷ nguyên công nghiệp là kỷ nguyên kinh tế tài nguyên thiên nhiên. Đó cũng chưa phải là kỷ nguyên của một nền kinh tế tri thức. Tri thức, dù đã có vai trò lớn hơn rất nhiều trong nền sản xuất của xã hội song vẫn chưa đủ sức tự bộc lộ mình. Sức mạnh của tri thức con người vẫn phải ẩn chứa trong quyền lực của vốn.

Sự bùng nổ của tri thức gắn liền với những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, vốn được chuẩn bị trong môi trường biến đổi không ngừng của xã hội công nghiệp, lại đặt loài người vào một bước chuyển căn bản, khác trước trong cung cách sản xuất và tổ chức đời sống xã hội. Máy tính và mạng internet tạo ra một cuộc cách mạng trong việc lưu giữ, trao đổi, chuyển giao, chia sẻ, tiếp cận thông tin và tri thức, khiến cho quá trình tạo ra tri thức được đặt trên một nền tảng mới. Công nghệ gen khiến cho người ta có thể can thiệp được vào các quá trình di truyền sinh học, tạo ra một nguyên lý khác để tổ chức các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, phòng chữa bệnh… Công nghệ nano tạo ra một nguyên lý mới để chế tạo các sản phẩm vật chất, sử dụng ít tài nguyên, thân thiện với môi trường đồng thời có nhiều tính năng ưu việt hơn hẳn so với các sản phẩm sản xuất ra theo lối thông thường. Tri thức giờ đây có thể được tạo ra chủ yếu trên cơ sở của chính nó, phụ thuộc trước hết vào số lượng và chất lượng của đội ngũ lao động tri thức hơn là vào sự tích lũy vốn. Tốc độ sản sinh nhanh của tri thức khiến cho các cơ cấu sản xuất biến đổi không ngừng với tốc độ cao. Trong hoàn cảnh này, sự tập trung vốn, quy mô lớn của các nhà máy đã từng là điều kiện hay biểu tượng của sự thành đạt trong xã hội công nghiệp trở nên ít quan trọng hơn, thậm chí có thể trở thành yếu tố cản trở sự thành công của doanh nghiệp nếu vì quy mô lớn, doanh nghiệp trở nên khó xoay sở hơn, khó điều chỉnh các hoạt động của mình một cách linh hoạt không ngừng. Tri thức đã đẩy vốn cũng như các yếu tố sản xuất khác xuống hàng thứ yếu. Nó trở thành yếu tố dẫn dắt sự phát triển. Thành công của doanh nghiệp, của nền kinh tế phụ thuộc trước hết và chủ yếu vào khả năng sáng tạo và ứng dụng tri thức. Không phải ngẫu nhiên, những doanh nghiệp thành công nhất, có sức phát triển nhanh nhất trong nền kinh tế thế giới hiện nay lại chính là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao. Như L.C. Thurow đã chỉ ra trong cuốn sách Sáng tạo của cải: “người giàu nhất thế giới, Bill Gates, không sở hữu một thứ của cải hữu hình nào – không đất đai, không vàng hay dầu mỏ, không có nhà máy, không có các quy trình công nghiệp, không có quân đội. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, người giàu nhất thế giới chỉ sở hữu tri thức mà thôi” [6, tr.4 – 5].

Như vậy, sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức không phải bắt nguồn từ chỗ tri thức là một nguồn lực của quá trình sản xuất mà là ở chỗ: trong nền kinh tế hiện đại đang định hình, tri thức đứng ở ngôi vị số một, dẫn dắt các quá trình tăng trưởng và phát triển.

Tóm lại, là kết quả của những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, theo lô gíc vận động bên trong của nền kinh tế thị trường, một nền kinh tế hoàn toàn mới, đại diện cho một cung cách sản xuất mới, một thời đại kinh tế mới đang hình thành. Người ta có thể gọi nền kinh tế mới này với những tên gọi khác nhau (nền kinh tế mới, nền kinh tế số, nền kinh tế thông tin, nền kinh tế mạng, nền kinh tế học hỏi suốt đời…), song dần dần người ta càng đi đến chỗ thừa nhận chung rằng, trong nền kinh tế này, việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành hoạt động chủ yếu, có tính quyết định của các quá trình tạo ra của cải. Do đó, nó được gọi là “nền kinh tế tri thức” hay “nền kinh tế dựa trên tri thức”.

3. Bản chất toàn cầu hóa của thời đại kinh tế tri thức

Trong nền kinh tế nông nghiệp, các hoạt động kinh tế có thể diễn ra trong phạm vi một cộng đồng kinh tế khép kín, nhỏ bé, có tính chất địa phương (làng xã). Giữa các địa phương không cần mối quan hệ kinh tế với nhau: chúng về cơ bản là những đơn vị kinh tế tự cung, tự cấp. Công cụ sản xuất thủ công, phương tiện đi lại, chuyên chở chủ yếu dựa vào sức người và sức động vật làm cho người ta khó di chuyển lao động, các yếu tố đầu vào cũng như các sản phẩm đầu ra. Điều này đã bó hẹp không gian của các quan hệ kinh tế lại trong một phạm vi địa lý nhỏ hẹp. Con người gắn chặt với đất đai với tư cách là nguồn lực đầu vào quan trọng nhất cho sự sinh tồn của họ. Tính cố định của đất đai và khả năng hạn chế trong việc khai thác đất đai bằng sức mạnh cơ bắp của con người quả là có ý nghĩa biểu tượng đối với tính bất động và hạn hẹp của hoạt động sản xuất nông nghiệp truyền thống. Có thể nói kinh tế nông nghiệp, về bản chất là nền kinh tế mang tính chất địa phương.

Trong nền kinh tế công nghiệp, sản xuất chủ yếu dựa vào máy móc với sức sản xuất cao hơn hẳn. Sự di chuyển các nguồn lực, các hàng hóa trở nên dễ dàng hơn, trong phạm vi một không gian rộng lớn hơn nhờ ô tô, tàu hỏa, máy bay hay tàu thủy. Điều này khiến cho các nền kinh tế địa phương trong phạm vi các làng, xã trở nên chật hẹp, không hiệu quả. Người ta có thể tiến hành sản xuất một cách hợp lý hơn trên cơ sở sự phân bổ nguồn lực trong phạm vi quốc gia và tạo ra sự liên kết, trao đổi giữa các địa phương. Tập trung, chuyên môn hóa sản xuất theo từng vùng địa phương và thực hiện phân công lao động trong một không gian quốc gia đã phá vỡ tính khép kín của các nền kinh tế địa phương, biến chúng thành những bộ phận hữu cơ của nền kinh tế chung. Trong nền kinh tế công nghiệp, các quan hệ kinh tế cũng dần phát triển để thậm chí có thể vượt ra khỏi phạm vị quốc gia. Song các quan hệ kinh tế đặc trưng, nổi trội vẫn là các quan hệ trong phạm vi quốc gia. Có thể nói, về bản chất, đó là nền kinh tế quốc gia.

Dựa trên công nghệ hiện đại, sự di chuyển vốn, ý tưởng, thông tin, hàng hóa hay tiền bạc trở nên dễ dàng trên phạm vi toàn cầu với tốc độ nhanh, chi phí thấp. Điều này khiến cho không gian kinh tế trong phạm vi quốc gia trở nên chật hẹp, các đường biên giới giữa các nước mờ dần và trở nên ít ý nghĩa về phương diện kinh tế. Các doanh nghiệp mà đại diện là các công ty xuyên quốc gia có thể tổ chức quá trình sản xuất trên phạm vi toàn cầu. Chúng có thể mua và sử dụng các đầu vào ở những nơi rẻ nhất và bán hàng ở những nơi được giá nhất trên phạm vi thế giới. Người ta thường nói đến hình tượng một công ty tổ chức lực lượng nghiên cứu, thiết kế sản phẩm ở một nước, mua nguyên liệu và chế biến các sản phẩm trung gian ở một nước, sử dụng lao động rẻ để lắp ráp ở một nước thứ ba và bán sản phẩm ra khắp thị trường thế giới. Thị trường tài chính toàn cầu là một thực thể hiện hữu, cho phép các giao dịch tài chính có thể diễn ra ở mọi nơi, các luồng vốn có thể di chuyển nhanh chóng, với khối lượng lớn từ quốc gia này sang quốc gia khác. Tình trạng di cư thể hiện sự di chuyển lao động trên phạm vi quốc tế càng ngày càng khó kiểm soát bởi các luật lệ quốc gia. Tự do hóa thương mại chỉ là sự thừa nhận khả năng di chuyển hàng hóa xuyên biên giới theo những quy tắc của một thị trường toàn cầu. Xu hướng toàn cầu hóa lôi cuốn các nước vào một tiến trình kinh tế chung, theo những luật chơi chung, buộc mỗi nước phải trở thành một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế thế giới thống nhất. Rõ ràng, nền kinh tế tri thức, về bản chất, là một nền kinh tế toàn cầu. Các nền kinh tế quốc gia có thể vẫn tồn tại, song không gian phát triển thực sự của chúng nằm trong nền kinh tế toàn cầu. Trong giai đoạn chuyển tiếp hiện nay, xu hướng toàn cầu hoá về mặt kinh tế dường như vẫn đi nhanh hơn các lĩnh vực khác. Các thể chế chính trị căn bản vẫn mang tính chất quốc gia. Lợi ích quốc gia ngắn hạn vẫn dung dưỡng chủ nghĩa bảo hộ dưới các hình thức khác nhau, thậm chí cả ở những nước phát triển. Tuy vậy, nhìn như một xu hướng, khi mà các quá trình toàn cầu hoá diễn tiến ngày càng nhanh, mạnh và không thể đảo ngược, không thể không khẳng định thời đại kinh tế tri thức là thời đại kinh tế toàn cầu.

Thật ra, toàn cầu hóa không phải là hiện tượng hoàn toàn mới. Trong Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới năm 2002 “Toàn cầu hóa, tăng trưởng và nghèo đói”, người ta coi quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra như là làn sóng toàn cầu hóa thứ ba. Trước đó, nền kinh tế thế giới đã chứng kiến hai làn sóng toàn cầu hóa. Làn sóng đầu tiên diễn ra trong khoảng thời gian từ năm 1880 đến năm 1914, được bắt đầu bằng một thỏa thuận về cắt giảm các hàng rào thuế quan giữa Anh và Pháp. Cơ sở của nó chính là nhờ sự cắt giảm trong chi phí vận tải nhờ công nghệ mới cho phép hình thành hệ thống đường xe lửa và tàu thủy chạy bằng động cơ hơi nước. Nhờ đó mà thương mại quốc tế gia tăng nhanh chóng, một lượng vốn lớn được chuyển từ Anh và một số quốc gia Châu Âu sang các nước đang phát triển cũng như hàng chục triệu người đã di cư từ Châu Âu đến Bắc Mỹ và Australia để khai phá những miền đất mới. Làn sóng toàn cầu hóa đầu tiên này bị gián đoạn bởi hai cuộc chiến tranh thế giới với sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 1980, toàn cầu hóa lại được phục hồi với làn sóng thứ hai. Tự do hóa thương mại một lần nữa được thúc đẩy với sự dỡ bỏ dần các hàng rào thuế quan giữa các nước. Tuy nhiên, phải đến năm 1980, hàng rào thuế quan về các hàng hóa chế tạo giữa các nước phát triển, về cơ bản mới được tháo dỡ. Trong khi đó các nước đang phát triển, mặc dù không tham gia được bao nhiêu vào việc xuất khẩu các hàng hóa chế tạo, vẫn phải đối mặt với những ngăn cản ngặt nghèo trong việc xuất khẩu các mặt hàng sơ chế, có khả năng cạnh tranh với các mặt hàng tương tự ở các nước phát triển. Các nước phát triển được hưởng lợi nhiều từ việc tập trung, chuyên môn hóa và phát huy lợi thế nhờ quy mô để sản xuất và xuất khẩu các hàng hóa chế tạo công nghiệp. Trong làn sóng này, các luồng di chuyển quốc tế của vốn và lao động không được phục hồi đáng kể.

Làn sóng toàn cầu hóa hiện đang diễn ra trong nền kinh tế thế giới mang một tính chất mới, khác biệt về chất so với những làn sóng trước đó. Nó dựa trên một nền tảng công nghệ hoàn toàn mới, gắn liền với cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại với sức mạnh đột phá khủng khiếp của nó. Lần đầu tiên, toàn cầu hóa gắn liền với quá trình tri thức hóa mạnh mẽ toàn bộ các hoạt động của các nền kinh tế, với sự khẳng định ngôi vị số một của tri thức trong các nguồn lực phát triển. Cái gọi là toàn cầu hóa trước đây vẫn dựa trên nguyên lý của nền kinh tế công nghiệp, đại cơ khí, sản xuất tập trung, hàng loạt. Nó vẫn lấy các nền kinh tế quốc gia làm chủ thể kinh tế chính để thực hiện các mối liên kết kinh tế quốc tế, chủ yếu là về thương mại. Làn sóng toàn cầu hóa mới dựa trên một nguyên lý khác hẳn – nguyên lý của nền kinh tế tri thức, lấy trí tuệ và sự kết nối làm nền tảng của sự sáng tạo của cải. Giờ đây, chính không gian kinh tế toàn cầu, chính nền kinh tế thế giới toàn cầu mà đại diện tiêu biểu là các công ty xuyên quốc gia mới là sân chơi chính, chủ thể kinh tế chính, có ý nghĩa chi phối. Trong bối cảnh các đường biên giới kinh tế quốc gia nhạt nhòa dần, các nền kinh tế quốc gia buộc phải trở thành các bộ phận cấu thành, phụ thuộc của một nền kinh tế chung. Như đã nói, kinh tế tri thức về bản chất là nền kinh tế toàn cầu, thì chỉ đến khi kinh tế tri thức định hình, toàn cầu hóa mới có hình thái xác định, chín muồi của nó. Kể từ đây nó sẽ trở thành một xu hướng không thể đảo ngược, tự vận hành trên cơ sở của chính mình, khác hẳn với những làn sóng toàn cầu hóa trước đây. Vì lẽ đó, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng, quá trình toàn cầu hóa thực sự đồng nghĩa với tiến trình định hình và phát triển nền kinh tế tri thức.

4. Một vài hàm ý

Trong nền kinh tế công nghiệp, khi không gian của các hoạt động kinh tế thích hợp là ở tầm vực quốc gia, hiển nhiên các nhà nước quốc gia đóng vai trò quan trọng. Nhà nước là người tạo ra và thực thi các luật lệ quốc gia, xây dựng và triển khai các chính sách phát triển quốc gia, phục vụ các lợi ích quốc gia. Sức mạnh của các nhà nước quốc gia là không thể nghi ngờ. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường thể chế và pháp lý cần thiết để cho các quan hệ kinh tế thị trường có thể vận hành được. Nhà nước cũng đứng ra cung cấp các hàng hóa công cộng quốc gia mà thị trường không cung cấp được hoặc cung cấp không hiệu quả. Nhà nước thực hiện các hoạt động điều tiết (chống độc quyền, kiểm soát ô nhiễm, khuyến khích giáo dục…) nhằm sửa chữa các thất bại thị trường. Các chính sách của nhà nước như chi tiêu và thuế khóa… có ảnh hưởng quan trọng đến việc bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, duy trì việc làm, ổn định hóa và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng như thực hiện công bằng xã hội.

Thời đại kinh tế tri thức – toàn cầu sẽ định vị lại vai trò của các nhà nước quốc gia. Khi các đường biên giới quốc gia ít có ý nghĩa kinh tế đối với sự di chuyển các nguồn lực và hàng hóa, khái niệm chủ quyền quốc gia tự nó đã thay đổi. Các nhân tố chung, có tính toàn cầu càng ngày càng can dự sâu vào đời sống của mỗi quốc gia, vào các quyết định quốc gia. Sự trồi sụt trong sản lượng dầu khai thác ở Trung Đông có thể làm chao đảo nền kinh tế của nhiều nước. Sự phá sản của một loạt ngân hàng/công ty ở Mỹ vào năm 2008 đã kéo nền kinh tế thế giới vào cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp khiến cho gần như cả Châu Âu và nhiều nước khác phải lo lắng. Thu nhập của người nông dân trồng cà phê ở Việt Nam hóa ra phụ thuộc chủ yếu vào sản lượng sản xuất và xuất khẩu cà phê ở Brasil. Khi các quốc gia hay công ty xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế/kinh doanh của mình, tình hình và môi trường kinh tế chung của nền kinh tế thế giới ngày càng là những biến số quan trọng nhất buộc phải tính tới trước tiên. Đó là chưa kể những vấn đề như môi trường, bệnh tật, đói nghèo, tội phạm… ngày càng trở thành mối quan tâm chung toàn cầu, chi phối cách quan tâm và xử lý của mỗi quốc gia. Trong một “sân chơi” chung, người ta càng ngày càng bị chi phối bởi các luật lệ chung, các giá trị, chuẩn mực chung, các quy tắc chung. Quyền lực độc lập của các nhà nước quốc gia, nhất là ở các nước nhỏ và nghèo bị thu hẹp lại một cách nghiêm trọng. Một mặt, nó bị thách thức bởi các thể chế quốc tế có tính cạnh tranh: các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức hay định chế quốc tế, như Liên Hợp Quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… các tổ chức phi chính phủ. Vai trò của các thể chế này tăng lên trong nền kinh tế toàn cầu đồng nghĩa với việc cắt giảm tương ứng quyền lực của các nhà nước quốc gia. Mặt khác, tính linh hoạt cần thiết nảy sinh từ sự biến đổi nhanh của các sự kiện kinh tế cũng buộc nhà nước càng ngày càng phải chia sẻ quyền lực của mình cho các tổ chức và thể chế phi nhà nước bên dưới trong nước. Các cộng đồng dân cư địa phương, các hiệp hội nghề nghiệp, các đoàn thể, các câu lạc bộ văn hóa hay thể thao… ngày càng có tiếng nói mạnh hơn trong việc ra quyết định hay thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội của nhà nước. Trong bối cảnh đó các chính sách điều tiết, kiểm soát các hoạt động kinh tế truyền thống (thuế, kiểm soát hành chính, kiểm soát cung ứng tiền, chính sách thương mại, đầu tư…) mà các nhà nước thường thực thi trước đây hiện nay ít mang tính độc lập hơn. Chẳng hạn, người ta giờ đây khó có thể nhân danh chủ quyền quốc gia để có thể đánh thuế cao vào hàng hóa nhập khẩu nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước. Hàng rào thuế quan của từng nước phải hạ xuống hay tháo dỡ theo chuẩn mực quốc tế chung. Việc đánh thuế thu nhập cá nhân cũng vậy. Nếu một nước đánh thuế thu nhập quá cao vào công dân của mình, những vận động viên hay ca sỹ tài năng của nước này sẽ có xu hướng chuyển sang hành nghề ở nước khác, nơi mà các mức thuế thu nhập được coi là dễ chịu hơn. Sự di chuyển dễ dàng này không cho phép một nước có thể áp dụng một chính sách thuế biệt lập, lệch quá xa mặt bằng chung theo đúng chủ quyền hình thức của mình. Về nguyên tắc, mỗi nước vẫn có chủ quyền trong việc xây dựng một chính sách tiền tệ quốc gia độc lập. Thế nhưng nếu chính sách đó khiến cho lãi suất trong nước trở nên thấp hơn nhiều so với lãi suất thế giới, những dòng tiền tiết kiệm trong nước có thể ồ ạt chảy ra ngoài, để đến với những nơi người ta được thụ hưởng mức lãi suất cao hơn. Chính sách kiểm soát vốn sẽ ngày càng khó hơn trước xu hướng tự do hóa tài chính, nhằm làm nguồn vốn thế giới được phân bổ hiệu quả hơn trên phạm vi toàn cầu, trong điều kiện thị trường và công nghệ hiện đại cho phép nó dễ dàng di chuyển. Trong thế giới toàn cầu hóa của kinh tế tri thức, khi mà mỗi nước buộc phải hội nhập quốc tế, “sân chơi” nhà không còn là “chỗ chơi” riêng của các doanh nghiệp hay công dân trong nước. Từ bỏ hay nhượng lại một phần chủ quyền quốc gia là sự đánh đổi bắt buộc vì sự phát triển trong điều kiện mới. Rõ ràng vai trò của các nhà nước quốc gia bị thu hẹp và buộc phải thay đổi.

Sự thay đổi vai trò của nhà nước quốc gia trong nền kinh tế tri thức, toàn cầu hóa dẫn đến một số hệ lụy, buộc người ta phải tư duy lại một số khái niệm cũ, quen thuộc trước đây. Những thuật ngữ như “độc lập”, “tự chủ”, “chủ quyền” hoặc là không còn thích hợp, hoặc phải mang một nội dung mới, khác trước. Trong một nền kinh tế có bản chất toàn cầu, mỗi nền kinh tế quốc gia không còn là một thực thể độc lập. Sự phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc vào nền kinh tế thế giới chung, đang định hình rất nhanh khiến cho mỗi nền kinh tế, kể cả những nền kinh tế lớn nhất như nền kinh tế Mỹ cũng trở thành không độc lập. Điều đó cũng giống như trong nền kinh tế của thời đại công nghiệp, từng làng, xã hay các cộng đồng kinh tế địa phương không còn là những đơn vị kinh tế độc lập, mặc dù trước đó, trong thời đại kinh tế nông nghiệp chúng quả là những thực thể độc lập. Sự tiến triển của Liên minh Châu Âu (EU) dường như cho chúng ta thấy một hình mẫu nào đó của việc chuyển giao dần quyền lực độc lập của các nhà nước quốc gia cho một thể chế lớn hơn tầm vực quốc gia. Sự hình thành Cộng đồng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (AC), đặc biệt với trụ cột Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) cũng đi th

TPHCM tập trung phát triển kinh tế tri thức, tăng trưởng xanh

 

 class=Sản xuất tại Công ty Cổ phần Công nghiệp hỗ trợ Minh Nguyên thuộc Khu Công nghệ cao TPHCM.

(Thanhuytphcm.vn) – UBND TPHCM vừa ban hành quyết định kế hoạch thực hiện Chương trình nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh của kinh tế TP đáp ứng yêu cầu hội nhập giai đoạn 2018 – 2020.

Theo đó, trong giai đoạn 2018 – 2020, TPHCM tập trung phát triển kinh tế tri thức, tăng trưởng xanh, áp dụng khoa học – công nghệ và hỗ trợ đổi mới sáng tạo để đột phá về năng suất lao động. Đồng thời, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế các khu vực và nội bộ ngành, thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ và gia tăng tỷ lệ nội địa hóa 4 ngành công nghiệp chủ lực. Huy động và sử dụng toàn diện, nâng cao hiệu quả các nguồn lực, sử dụng vốn ngân sách như vốn mồi để phát triển kinh tế TP.

Cùng với đó, TP thực hiện tốt chủ trương hội nhập quốc tế, tạo động lực để nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh, thúc đẩy hợp tác, liên kết vùng. Xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh cạnh tranh, thuận lợi, ổn định, an toàn, lấy người dân, doanh nghiệp là đối tượng phục vụ để trở thành điểm đến đầu tư lý tưởng và địa điểm có chất lượng sống tốt.

Bên cạnh đó, TP cũng tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, năng động, phục vụ tốt nhất nhu cầu của người dân và doanh nghiệp; đồng thời nâng cao chất lượng tăng trưởng phải đảm bảo an sinh xã hội, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng sống nhân dân.

UBND TPHCM yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các quận, huyện, Tổng Giám đốc, Giám đốc các doanh nghiệp thuộc TP căn cứ chức năng nhiệm vụ được giao và nội dung kế hoạch này xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện, hoàn thành trước ngày 1/12/2018, đồng thời gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư TP (Cơ quan Thường trực) để tổng hợp, báo cáo đề xuất Ban Điều hành Chương trình nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh của kinh tế TP đáp ứng yêu cầu hội nhập.

KINH TẾ TRI THỨC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC TẠI VIỆT NAM – Góc học tập – Khoa Quản trị kinh doanh

 

Kinh tế tri thức là gì

Nền kinh tế tri thức, còn gọi là kinh tế dựa vào tri thức (Knowledge – BasedEconomy) là nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức, trên cơ sở phát triển khoa học và công nghệ cao. “Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất phân phối và sử dụng tri thức và thông tin” (OECD 1996). “Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế” (APEC 2000)

Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế tri thức (Knowledge economy). Theo cách hiểu chung nhất, kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó việc sáng tạo và ứng dụng tri thức đóng vai trò quyết định trong việc sản xuất ra của cải vật chất.

Còn theo Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh: Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà việc sản sinh ra và khai thác tri thức có vai trò nổi trội trong quá trình tạo ra của cải.

Theo GS.VS Đặng Hữu: Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Đặc trưng của nền kinh tế tri thức

Dù có nhiều cách hiểu khác nhau, song có thể thấy, nền kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản sau:

1. Tri thức đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn quý nhất, là nguồn lực quan trọng hàng đầu quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.

2. Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động kinh tế có những biến đổi sâu sắc, nhanh chóng, trong đó cơ cấu sản xuất dựa ngày càng nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao.

3. Cơ cấu lao động trong kinh tế tri thức có những biến đổi so với nền kinh tế tri thức trước đó: Lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao (70-90%), nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa, sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành nhu cầu thường xuyên đối với mọi người.

4. Trong nền kinh tế tri thức, hàm lượng tri thức trong sản phẩm ngày càng cao, quyền sở hữu đối với tri thức trở nên quan trọng hơn những yếu tố như tài nguyên, đất đai.

5. Mọi hoạt động của kinh tế tri thức đều liên quan đến vấn đề toàn cầu hóa, có tác động sâu sắc đến nhiều mặt của đời sống xã hội trong mỗi quốc gia và trên toàn thế giới.

Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, các quốc gia có nền kinh tế và khoa học công nghệ phát triển đã đề ra những chương trình, chiến lược nhằm hướng nền kinh tế phát triển theo những đặc trưng của kinh tế tri thức. Có thể kể đến những ví dụ điển hình như: từ 1984 đến nay, mỗi năm chính phủ Mỹ chi hàng trăm tỷ USD cho hoạt động khoa học, công nghệ. Từ những năm 80 của thế kỷ XX, chính phủ Nhật đã dành cho chương trình vi điện tử hơn 100 tỷ USD. Những năm 90 đến nay, nước Nhật đã dành khoảng 3% tổng sản phẩm quốc dân cho hoạt động nghiên cứu và triển khai. Các nước Tây Âu cũng đẩy mạnh hoạt động vào lĩnh vực công nghệ cao, như: công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, điển hình là các nước Đức, Pháp, Italia, Anh, Ba Lan… Hiện nay theo số liệu của Ngân hàng thế giới, nếu xét chỉ số chi tiết và tổng hợp của kinh tế tri thức thì các nước Mỹ, Nhật, Singapore, Hồng Công đều ở vị trí hàng đầu. Chỉ số kinh tế tri thức (KEI) của Mỹ là 9,02; Nhật Bản là 8,42; Hồng Công là 8,33. Chỉ số sáng tạo của Mỹ là cao nhất: 9,47.

Nguyễn Đăng Tuyền

Lời giải cho bài toán phát triển kinh tế tri thức trong nông nghiệp

 

Kinh tế tri thức: Con đường ngắn nhất đưa nền kinh tế phát triển

Hội thảo khoa học “Vai trò của doanh nghiệp trong phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam” là nội dung trong Đề tài độc lập cấp nhà nước “Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam đến 2020” do Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà chủ trì phối hợp với Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN – Bộ Khoa học và Công nghệ và Tập đoàn TH tổ chức tại Hà Nội ngày 31/3 vừa qua.

Phát biểu tại Hội thảo, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân cho biết, trong 30 năm đổi mới, đất nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ, đạt nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội. Theo đó, phát triển kinh tế tri thức là con đường ngắn nhất, phương thức hữu hiệu nhất để đưa kinh tế xã hội nước ta tiến nhanh, bền vững và có cơ hội đạt được vị trí xứng đáng trong khu vực và trên thế giới.

Trong phát triển nền kinh tế tri thức, Bộ KH&CN đánh giá cao vai trò của doanh nghiệp, vì thế trong xây dựng cơ chế chính sách, Bộ đã ban hành và đề xuất ban hành các cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong ứng dụng công nghệ, đổi mới công nghệ. Bộ luôn lấy doanh nghiệp làm trung tâm, làm trọng tâm của quá trình đổi mới công nghệ quốc gia, là địa chỉ ứng dụng công nghệ quan trọng nhất và mang tính quyết định của nền kinh tế.

 src=
Bộ trưởng Bộ Khoa học&Công nghệ Nguyễn Quân.

“Quan điểm của Bộ KH&CN là luôn luôn hỗ trợ, khuyến khích, cùng với các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu, ứng dụng, làm chủ công nghệ nhập ngoại, sáng tạo ra công nghệ nội địa và tích cực đổi mới công nghệ, tạo ra sản phẩm mới có sự cạnh tranh, sẵn sàng hội nhập thế giới”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Theo xếp hạng về chỉ số kinh tế tri thức (KEI) của World Bank, trong năm 2012, Việt Nam xếp hạng 104/146 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng chín bậc so với năm 2000, tăng một bậc trong 18 quốc gia châu Á trong bảng và thuộc nhóm trung bình thấp. So với các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam chỉ đứng trên Indonesia, Lào, Campuchia, Myanmar. Về chỉ số sáng tạo toàn cầu (GII), năm 2011 Việt Nam xếp hạng 51/125 quốc gia và vùng lãnh thổ và năm 2012 là hạng 76/141.

Ở Việt Nam, trong thời gian qua theo chủ trương đổi mới, đã xuất hiện một số doanh nghiệp thành công phát triển dựa vào công nghệ và tri thức trên nhiều lĩnh vực như FPT, Viettel, tập đoàn TH, tập đoàn Sơn Kova…

Tại hội thảo, Tập đoàn TH đã đưa ra lời giải cho bài toán phát triển kinh tế tri thức trong nông nghiệp nông thôn với mô hình dự án sữa chăn nuôi bò sữa tập trung TH. Tập đoàn TH xác định: Để phát triển kinh tế trí thức trong nông nghiệp, đổi mới diện mạo nông thôn, nâng cao đời sống nông dân cần tăng lợi nhuận trên một ha canh tác, tạo ra những sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, có giá trị cao. Chìa khóa vàng cho mục tiêu này không gì khác, chính là ứng dụng công nghệ cao (CNC) vào sản xuất nông nghiệp.

Mô hình thành công từ Tập đoàn TH

Năm 2008, các sản phẩm sữa gặp phải sự cố melamine khi mà các hộ nông dân chủ yếu là ở Trung Quốc vì muốn tăng lợi nhuận cho mình đã cho thêm nước và melanin vào sữa tươi. Điều này đã khiến người tiêu dùng, đặc biệt là trẻ em có nguy cơ mắc chứng suy thận. Tuy Cơ quan chức năng khẳng định thị trường sữa Việt Nam không nhiễm độc hại này nhưng lúc ấy 92% sữa bột Việt Nam lúc đó được nhập khẩu từ nước ngoài mà chủ yếu là Trung Quốc.

 src=
Xe chuyên dụng của TH đang thu hoạch cỏ Mombasa tại Nghĩa Đàn…

Trước hiện thực ấy, TH Group đã quyết định đầu tư và ứng dụng công nghệ cao, đưa công nghệ đầu cuối hiện đại nhất của thế giới vào sản xuất nông lâm ngư nghiệp trong một chu kì khép kín để có được các loại thực phẩm xanh, sạch, tinh túy; quyết tâm trở thành nhà sản xuất thực phẩm sạch có nguồn gốc từ thiên nhiên đạt chuẩn Quốc tế ngay tại Việt Nam mà khởi đầu là dự án chăn nuôi bò sữa tập trung quy mô công nghiệp trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn, tình Nghệ An.

Dự án chăn nuôi bò sữa tập trung TH ra đời năm 2009 với một lộ trình đầu tư bài bản và chuyên nghiệp, bao gồm: quy hoạch vùng nguyên liệu, nhà máy sản xuất thức ăn, trang trại bò sữa và nhà máy chế biến lớn nhất Đông Nam Á cùng một hệ thống phân phối TH Truemart với những quy chuẩn công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới.

Cho đến nay, TH đã sở hữu trang trại lớn nhất Đông Nam Á, hiện đại bậc nhất thế giới tại Nghĩa Đàn, Nghệ Anh, dự án chăn nuôi bò và chế biến sữa của TH với tổng mức đầu tư 1,2 tỷ USD, trên tổng diện tích 37.000 ha và tổng đàn bò 137.000 con đã đi gần nửa chặng đường. Cụ thể, đàn bò đã đạt 45.000 con trên diện tích 8.1000 ha đất. Tập đoàn TH cũng đã khánh thành nhà máy sản xuất sữa tươi sạch TH từ năm 2013 với quy mô lớn dây chuyền sản xuất hiện đại giai đoạn I đạt công suất 200 nghìn tấn/năm. Tổng công suất thiết kế của nhà máy dự kiến sẽ đạt khoảng 500 nghìn tấn/năm vào năm 2017.

Tuy nhiên, khi bắt đầu con đường sữa tươi sạch ở Nghĩa Đàn, TH đã gặp phải nhiều khó khăn, thách thức, cản trở mà khó khăn lớn nhất đầu tiên phải vượt quan là nhận thức, tư duy. Nhưng bằng sự kiên định với con đường sữa sạch, sữa tươi sạch TH true MILK đã tạo được vị thế và niềm tin trong lòng người tiêu dùng.

Kế  hoạch đến năm 2015, TH đáp ứng 50% nhu cầu sữa tươi sạch trên thị trường. Doanh thu thuần của TH true Milk năm 013 là 3.700 tỷ đồng, dự kiến năm 2015 là 15.000 tỷ đồng và năm 2017 là 27.000 tỷ đồng.

Mô hình của TH góp phần khẳng định: Ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp chính là lời giải cho bài toán phát triển kinh tế tri thức trong nông nghiệp.

Nói về việc áp dụng công nghệ cao vào sản xuất, kinh doanh, PGS.TS Nguyễn Thị Hòe – Chủ tịch Tập đoàn Sơn Kova chia sẻ: “Với những chính sách về Khoa học-Công nghệ ở Việt Nam như hiện nay thì không thể phát triển khoa học, khó thương mại hóa các đề tài nghiên cứu, hiện tượng “chảy máu chất xám” sẽ không ngừng gia tăng. Đời sống của các nhà khao học còn quá thấp, không thể duy trì được chất xám để tạo sản phẩm cho xã hội. Một doanh nghiệp vừa thành lập đã liên tục gặp khó k hăn, chính sách thì tốt nhưng sự thật diễn ra không tốt, quá nhiều cơ chế trung gian kìm hãm sản xuất…

“Chúng tôi lập doanh nghiệp và nhà máy ở Singapore, Malaysia chưa bao giờ phải chi phí tiền tiêu cực dù chỉ là 1 đô la nhưng ở Việt Nam thì nhiều khoản chi… Như vậy làm sao các nhà khoa học, các doanh nghiệp có thể ứng dụng khoa học vào đời sống xã hội”, PGS.TS Nguyễn Thị Hòe nói.

Cao Nguyên

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

 

Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình CNH, HĐH trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức (KTTT), lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu”. Đây là chủ trương đúng đắn, thể hiện sự nhất quán, tư duy mới và quyết tâm chính trị của Đảng về phát triển KTTT ở nước ta hiện nay.

Đặc điểm chi phối lớn nhất của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế còn nghèo nàn, cơ sở vật chất, kỹ thuật lạc hậu, lại phải gánh chịu hậu quả nặng nề do chiến tranh và thiên tai. Do đó, tiến hành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước là tất yếu, nhằm tạo ra những tiền đề vật chất, kỹ thuật, con người, công nghệ, phương tiện, phương pháp hiện đại, nghĩa là tạo dựng lực lượng sản xuất hiện đại cho chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nếu tuần tự thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước rồi mới đi vào KTTT thì chúng ta sẽ bỏ lỡ thời cơ để phát triển; khoảng cách phát triển giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới không thể rút ngắn. Vì vậy, cần phải lồng ghép, đan xen cả hai quá trình CNH, HĐH và phát triển KTTT. Thực hiện tốt vấn đề này, chúng ta sẽ “giải được bài toán” tối ưu đối với sự phát triển đất nước.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cũng đã xác định rõ vai trò của KTTT là “yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH”. Trên cơ sở nhất quán khẳng định phát triển KTTT, gắn phát triển KTTT với quá trình CNH, HĐH, Đảng ta còn xác định nền tảng và động lực phát triển KTTT là phát triển giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ; chú trọng nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng chỉ rõ: “Phát triển KTTT trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ; xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ thông tin, truyền thông, công nghệ tự động, nâng cao năng lực nghiên cứu-ứng dụng gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”. Điểm mới trong tư duy của Đảng tại Đại hội XI là xác định rõ chủ trương và biện pháp phát triển KTTT, đó là, phát triển giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ; chú trọng nâng cao năng lực nghiên cứu-ứng dụng gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời “Xây dựng và triển khai lộ trình phát triển KTTT đến năm 2020”.

Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XII của Đảng xác định: “…lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu” để đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển KTTT. Điều này càng cho thấy sự nhất quán và tư duy mới của Đảng về phát triển KTTT ở nước ta hiện nay. Theo đó, KTTT là kinh tế dựa chủ yếu vào sự phát triển của khoa học, công nghệ cao (CNC), tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đánh giá nền kinh tế của một nước đạt đến trình độ KTTT hay chưa là dựa vào hàm lượng tri thức có trong sản phẩm và sản xuất CNC. Các ngành công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới, công nghệ hàng không-vũ trụ…được xem là những ngành CNC, đồng thời cũng là trụ cột của KTTT. Các ngành này được xem là những “đầu tàu” dẫn dắt KTTT bởi sự kích ứng và chi phối mạnh mẽ của nó đối với các ngành, các lĩnh vực khác trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Các ngành CNC có đặc điểm là tốc độ tăng trưởng cao và nhanh chóng; đóng góp to lớn vào nền kinh tế quốc dân và tạo việc làm mới; có khả năng cạnh tranh quốc tế; thời gian từ nghiên cứu khoa học đến sáng tạo công nghệ ngày càng rút ngắn hơn trước; có khả năng thâm nhập trực tiếp, nhanh chóng mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, quản lý); sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời khai thác nguồn tài nguyên tri thức để thay thế cho nguồn tài nguyên thiên nhiên đang cạn kiệt dần. CNC không những nối dài các giác quan và tăng sức mạnh vật chất của con người, mà còn mở rộng sức mạnh tư duy, là cơ sở và điều kiện để nâng cao năng lực nhận thức và cải tạo thế giới của con người. Để có các ngành CNC nói trên, đòi hỏi mỗi quốc gia phải xây dựng và phát triển các khu CNC-những “cái nôi” hình thành và phát triển CNC và ngành công nghiệp dựa trên CNC của đất nước. Nhiều khu CNC của nước ta được xây dựng trong thời gian qua đã và đang phát huy được vai trò quan trọng và tầm ảnh hưởng của nó. Qua mỗi kỳ đại hội, nhận thức, tư duy của Đảng ngày càng sáng rõ hơn, hoàn thiện hơn từ vai trò đến cách thức, biện pháp, lộ trình phát triển KTTT. Tư duy nhạy bén, sáng suốt của Đảng còn thể hiện ở chủ trương gắn kết chặt chẽ CNH, HĐH với KTTT, phát triển tuần tự, kết hợp với đi tắt đón đầu, đi ngay vào công nghệ hiện đại ở những lĩnh vực, những khâu cần thiết và có điều kiện, để phát triển đất nước nhanh và bền vững, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển. Điều đó khẳng định rõ ý chí, lòng quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến bước vững chắc vào kỷ nguyên KTTT. Tuy nhiên, để phát triển KTTT thực sự có hiệu quả, sát với điều kiện thực tế của nước ta, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, xây dựng Chiến lược phát triển KTTT từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030. Chiến lược cần đánh giá đúng thực trạng, xác định rõ quan điểm phát triển KTTT, chỉ rõ mô hình, mục tiêu, khâu đột phá và định hướng phát triển KTTT, đồng thời tổ chức thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển KTTT đã đề ra. Mô hình phát triển KTTT ở nước ta vừa mang tính tổng thể ở tầm vĩ mô, vừa phải cụ thể hóa sát với điều kiện, thế mạnh của đất nước, từng địa phương, cấp, ngành và từng lĩnh vực. Trong chiến lược cần xác định và triển khai lộ trình, bước đi và giải pháp thích hợp, xác định rõ những khâu, những bước đột phá, không dàn trải. Tháo gỡ mọi rào cản về cơ chế, chính sách, khắc phục tư duy lạc hậu, cách làm tùy tiện và thiếu khoa học. Phát triển mạnh mẽ khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao, nhằm tạo nền tảng, động lực phát triển KTTT. Cần xác định thời gian cụ thể từ 3-5 năm có kế hoạch đánh giá, rút kinh nghiệm, điều chỉnh kịp thời hướng phát triển, bổ sung thêm các giải pháp mới thích hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển KTTT của đất nước.

Hai là, thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển cao với đầy đủ các yếu tố hợp thành; thiết lập và vận hành hệ thống đổi mới quốc gia thực sự năng động; xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại, nhất là hạ tầng thông tin; đẩy mạnh cải cách hành chính hướng về phục vụ người dân và doanh nghiệp; tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, ổn định.

Ba là, xây dựng và phát huy lợi thế các khu CNC của quốc gia và các vùng, miền, đột phá mạnh mẽ vào công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới, công nghệ hàng không-vũ trụ, trên cơ sở những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua.

Bốn là, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm phát triển KTTT của khu vực và thế giới; tránh rập khuôn máy móc hoặc chối bỏ kinh nghiệm của các nước khác; khai thác, sử dụng tối ưu nguồn tri thức của con người Việt Nam và tri thức của nhân loại phục vụ phát triển KTTT.

Sự nhất quán và tư duy mới về phát triển KTTT của Đảng ta được thể hiện rõ qua các kỳ Đại hội Đảng. Điều đó khẳng định tầm trí tuệ của một Đảng cầm quyền trước những vận hội và thách thức lớn của thời đại. Để thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển KTTT, cần phải xác định rõ các giải pháp mang tính đồng bộ và đột phá, đồng thời kiên quyết thực hiện có hiệu quả các giải pháp đã đề ra.

Đại tá, TS NGUYỄN CÔNG SƠN (Phó chủ nhiệm Chính trị, Học viện Lục quân)

Nguồn: Báo QĐND

Có thể bứt phá từ kinh tế tri thức? – Báo Nhân Dân

 

Quá trình toàn cầu hóa nhanh chóng nhờ sự phát triển của tự do hóa thương mại và công nghệ thông tin đã thúc đẩy sự thay đổi của nền kinh tế thế giới từ nền kinh tế tiêu thụ nhiều tài nguyên sang nền kinh tế tri thức. Dòng luân chuyển tư bản, lao động, giao lưu văn hóa, khoa học, công nghệ và tri thức đã thúc đẩy nhân loại chung sống trong một “thế giới phẳng”. Lao động sáng tạo là nền tảng của phát triển và vị thế của tri thức đang được đặc biệt đề cao trong nhiều lĩnh vực. Rõ ràng, tiềm năng chất xám là vô hạn trong khi nguồn tài nguyên là hữu hạn.

Nền kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản là: tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn quý nhất, là nguồn lực quan trọng hàng đầu quyết định sự tăng trưởng và phát triển; cơ cấu sản xuất hậu công nghiệp ngày càng dựa nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao; hàm lượng tri thức trong sản phẩm ngày càng cao, quyền sở hữu đối với tri thức trở nên quan trọng hơn những yếu tố tài nguyên thiên nhiên; lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao (70-90%); nguồn nhân lực được tri thức hóa; sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành nhu cầu thường trực của cộng đồng.

Ngân hàng Thế giới đã phát triển một số chỉ số để đo lường mức phát triển của nền kinh tế tri thức. Những chỉ số này bao gồm chỉ số tri thức, chỉ số sáng tạo, chỉ số về giáo dục, công nghệ thông tin. Từ các chỉ số này được tổng hợp thành chỉ số chung gọi là chỉ số kinh tế tri thức (KEI). Các chỉ số này phản ánh phần nào tình trạng kinh tế tri thức của từng nước và cho phép ta so sánh với các nước khác.

Ngày nay chúng ta đang chứng kiến những thành tựu được tạo ra từ làn sóng thứ 3 của nền kinh tế tri thức là kinh tế phần mềm, một đặc điểm của kinh tế hậu công nghiệp. Trong đó: tri thức là yếu tố hàng đầu của nền sản xuất, thông tin là tài nguyên quan trọng nhất và sáng tạo là động lực phát triển.

Dựa vào chỉ số KEI, tháng 5-2011, UNESCO đã xếp hạng Việt Nam đứng thứ 106 trong 145 nước. Bảng xếp hạng cho thấy thang bậc kinh tế tri thức của Việt Nam thấp so với nhiều nước trong khu vực như In-đô-nê-xi-a: 103, Phi-li-pin: 89, Thái-lan: 63, Ma-lai-xi-a: 48 và Xin-ga-po: 19. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới thì chỉ số kinh tế tri thức (KEI) của Mỹ: 9,02; Xin-ga-po: 8,44; Nhật Bản: 8,42; Hồng Công: 8,33; Ma-lai-xi-a: 6,07; Thái-lan: 5,52 và Việt Nam: 3,51.

Trong hệ thống chỉ số kinh tế tri thức có chỉ số sáng tạo. Mới đây, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ toàn cầu đã công bố bảng xếp hạng chỉ số sáng tạo của gần 200 nước và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới; đứng đầu là Mỹ: 9,47 và Việt Nam: 2,72; xếp hạng này cũng cho thấy Việt Nam đang ở nửa dưới bảng xếp hạng chỉ số sáng tạo. Căn cứ vào những đặc trưng của nền kinh tế tri thức thì cơ cấu kinh tế – lao động của Việt Nam là lạc hậu: tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp trong GDP còn hạn chế.

Kinh tế Việt Nam hiện vẫn mang dấu ấn của kinh tế nông nghiệp đang chuyển dần sang kinh tế công nghiệp. Một trong những tiêu chí đang chuyển dần sang kinh tế công nghiệp. Một trong những tiêu chí quan trọng của kinh tế tri thức là sự ứng dụng công nghệ vào sản xuất kinh doanh và quản lý. Thì nay phần lớn doanh nghiệp ở ta đều thiếu thông tin về công nghệ. Việc đầu tư cho khoa học, công nghệ ở Việt Nam nếu so sánh với một số quốc gia trong khu vực là thấp chỉ khoảng 0,3% GDP, trong khi Ma-lai-xi-a là 1% và Xin-ga-po là 3%.

Nguyên nhân của nền kinh tế tri thức ở ta thấp là yếu kém về giáo dục và nghiên cứu khoa học. Trong khi, thực tế, sản phẩm nghiên cứu khoa học ngoài những bài báo công bố trên các tập san quốc tế còn thể hiện bằng sáng chế, một hình thức chuyển giao công nghệ. Chỉ tính từ năm 2000 – 2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng ký được 19 bằng sáng chế, còn riêng năm 2007 chẳng có bằng sáng chế nào. Cũng thời gian này, Thái-lan đăng ký được 310 bằng sáng chế, Xin-ga-po 3.644, In-đô-nê-xi-a có 85, Phi-li-pin 256, còn Ma-lai-xi-a có tới 901 bằng sáng chế…

Ngân sách Nhà nước mỗi năm đầu tư cho nghiên cứu khoa học của các bộ, ngành là hàng nghìn tỷ đồng, nhưng không có mấy công trình nghiên cứu có tầm cỡ thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng. Chưa kể nước ta có đội ngũ trí thức đông vào bậc nhất (tính theo tỷ lệ dân số) so với nhiều nước trong khu vực Đông-Nam Á và châu Á, với gần 9.000 giáo sư, phó giáo sư và hàng chục nghìn tiến sĩ, thạc sĩ. Thế nhưng, mỗi năm chỉ có khoảng 900 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Đó là một năng suất cực kỳ khiêm tốn. Theo chuẩn quốc tế, mỗi giáo sư phải có ít nhất một bài báo khoa học mỗi năm. Rõ ràng, trí thức ở nước ta “đông” mà chưa “mạnh”.

Nhìn tổng thể, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang chủ yếu dựa vào nguồn nhân công rẻ, ít được đào tạo và hiện đang làm ra nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng thấp. Số doanh nghiệp áp dụng và được chứng nhận ISO 9000 còn rất khiêm tốn. Không ít doanh nghiệp của ta “khăn gói” ra nước ngoài đấu thầu nhưng cánh cửa bị khép lại, bởi thiếu tiêu chuẩn đầu tiên là chứng chỉ ISO 9000. Không ít trường hợp hàng hóa Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài bị trả lại do thiếu tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn môi sinh, môi trường…

Cái thời tự tin dựa vào lợi thế “rừng vàng, biển bạc” hay nguồn nhân công rẻ đã qua rồi. Chúng ta đang tụt hậu khá sâu về năng lực cạnh tranh công nghệ. Vậy muốn bứt phá để phát triển nhanh, mạnh và bền vững phải chú trọng thúc đẩy kinh tế tri thức, trong đó các yếu tố công nghệ và tài sản trí tuệ sẽ đóng vai trò quyết định.

Tuy nhiên để phát triển nền kinh tế tri thức cần một đội ngũ trí thức mạnh. Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đã trở thành tư tưởng chiến lược của Đảng. Đây cũng là vấn đề khoa học và nghệ thuật dùng người. Cần trân trọng cống hiến của trí thức, tạo môi trường dân chủ, tự do thật sự, tránh đố kỵ hẹp hòi, để họ sáng tạo chuyên môn, kể cả phản biện những chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

* …tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn qu. nhất, là nguồn lực quan trọng hàng đầu quyết định sự tăng trưởng và phát triển; cơ cấu sản xuất hậu công nghiệp ngày càng dựa nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao; hàm lượng tri thức trong sản phẩm ngày càng cao, quyền sở hữu đối với tri thức trở nên quan trọng hơn những yếu tố tài nguyên thiên nhiên; lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao (70-90%)…

Leave your Comment