Hy lạp cổ đại là gì 226

Mục lục

Nằm lòng 3 kỹ năng siêu việt này, mọi thứ bạn mong muốn trong cuộc sống đều có thể đạt được dễ dàng

 

Tin tức, bài viết mới nhất về

    • Nằm lòng 3 kỹ năng siêu việt này, mọi thứ bạn mong muốn trong cuộc sống đều có thể đạt được dễ dàng

      22/09/2019 23:47

      Trong thế giới ngày nay, điều duy nhất mà chúng ta chắc chắn đó là mọi thứ sẽ luôn biến đổi. Nhưng theo lời khuyên của Jeff Bezos, chúng ta nên tập trung vào những thứ bất biến, chứ…

      Tags: nhà triết học, Hy Lạp cổ đại, sách kinh doanh, người nổi tiếng, khoa học máy tính, nhân vật nổi tiếng, siêu kỹ năng, thói quen, chuyên gia, huấn luyện viên

       

    • 39 câu nói nổi tiếng của Aristotle đáng để những người thành công ghi nhớ và học hỏi
    • Chỉ bằng một từ, triết gia người Hy Lạp có thể giúp bạn tìm được hạnh phúc bình dị giữa cuộc đời bộn bề khó khăn
    • Akrasia – hiệu ứng lý giải "căn bệnh" trì hoãn của nhân loại và 3 chiến lược đánh bại thói quen "thích lập kế hoạch nhưng không chịu hành động" ở người trẻ
    • Quá trình huấn luyện chiến binh Sparta khắc nghiệt: xa cha mẹ từ khi 7 tuổi, chịu đói rét thường xuyên, 30 tuổi mới được lấy vợ
    • Ấn tượng với bộ sưu tập Bulgari Monete - Bí mật lịch sử La Mã trong một "kiệt tác đếm thời gian"
    • Lọc sạch chất độc ra khỏi máu bằng vài thìa hỗn hợp chanh tỏi nhà ai cũng có

 

10 sự thật về Hy Lạp cổ đại | TN InfoWay ShareWay

 

Người Hy Lạp cổ đại không chỉ nổi tiếng với những thành tựu toán học,

khoa học..vv. và còn thêm những sự thật khác.

Nền dân chủ của Hy Lạp cổ đại là nền dân chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Nền dân chủ này kéo dài 185 năm.
1.Nền tảng của dân chủ (cải thiện) ngày nay bắt nguồn từ dân chủ của Hy

Lạp cổ đại. Hy Lạp có nền dân chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại.

Theo ước tính, khoảng 40 - 80% dân số thành bang Athens nổi tiếng của Hy Lạp là tầng lớp nô lệ nghèo khổ.
2.Theo ước tính, khoảng 40 – 80% dân số thành bang Athens nổi tiếng của

Hy Lạp là tầng lớp nô lệ nghèo khổ. Athens (Hy Lạp cổ:Ἀθῆναι, Athēnai;

Hiện tại:Αθήνα, Athína) là thủ đô và là thành phố lớn nhất Hy Lạp, là một

trong những thành phổ cổ nhất thế giới với lịch sử được ghi chép ít nhất là 3000 năm.

Ngày nay, Athens là thành phố lớn thứ 8 châu Âu và đang nhanh chóng trở

thành một trung tâm kinh doanh hàng đầu ở trong Liên minh châu Âu. Dân số

thành phố Athens là 3,3 triệu người và dân số vùng đô thị là 3,8 triệu, làm trung

tâm của cuộc sống chính trị, văn hóa, công nghiệp, tài chính, kinh tế ở Hy Lạp.

Nội thành thành phố có diện tích 39 km² còn vùng đô thị có diện tích 412 km².

Athens Cổ đại là một thành bang hùng mạnh. Là một trung tâm nghệ thuật, học thuật và triết học, là địa điểm có Hàn lâm Học viện của nhà văn hào Platon và vườn Lyceum của nhà văn hào Aristotle. Athens cũng là nơi sinh của Socrates, Pericles, Sophocles và nhiều nhà triết học, nhà văn, nhà chính trị nổi tiếng của thế giới cổ đại. Athens được xem như là cái nôi của nền Văn minh phương Tây và là nơi sinh của khái niệm dân chủ,phần lớn là do ảnh hưởng của những thành tựu chính trị và văn hóa của thành phố này trong các thế kỷ 5 và 4 trước Công nguyên đối với phần còn lại của lục địa châu Âu.

Di sản của thời kỳ cổ đại vẫn còn hiển hiện ở trong thành phố, qua mô tả của một số tượng đài và công trình nghệ thuật; nổi tiếng nhất là Đền Parthenon ở trên Acropolis, như là một điểm nổi bật sử thi của nền văn minh phương Tây. Thành phố này cũng lưu giữ nhiều tượng đài La Mã và Byzantine, cũng như một số nhỏ các tượng đài Ottoman còn lại thể hiện bề dày lịch sử của thành phố này qua các thời kỳ lịch sử đầy biến động. Những công trình nổi bật của thời kỳ hiện đại cũng góp mặt ở thành phố này, có thời gian xây dựng năm 1830 (thời gian thành lập nhà nước Hy Lạp), thể hiện ở Quốc hội Hy Lạp (thế kỷ 19) và Bộ tam Athens (Thư viện, Trường đại học và Viện Academia).

Athens là thành phố đăng cai Thế vận hội hiện đại đầu tiên vào năm 1896, và 108 năm sau thành phố lại là chủ nhà của Thế vận hội mùa Hè, với thành công lớn

Vào thời kỳ kinh tế phát triển nhất, thế kỷ 5 - 4 TCN, Hy Lạp là quốc gia có nền kinh tế vượt trội nhất thế giới.
3.Vào thời kỳ kinh tế phát triển nhất, thế kỷ 5 – 4 TCN, Hy Lạp là quốc gia

có nền kinh tế vượt trội nhất thế giới.

Vào thời cổ đại, một số nhóm đối tượng Hy Lạp từng thực hiện việc khỏa thân, không mặc quần áo.
4.Vào thời cổ đại, một số nhóm đối tượng Hy Lạp từng thực hiện việc khỏa thân, không mặc quần áo.

Trẻ em ở các thành bang Hy Lạp tiếp nhận nền giáo dục khác nhau.
5.Trẻ em ở các thành bang Hy Lạp tiếp nhận nền giáo dục khác nhau. Cụ thể, trẻ em trai 7 tuổi ở Athens sẽ bắt đầu đi học từ năm 7 tuổi. Tuy nhiên, nếu các bé trai sinh ra ở Sparta thì sẽ đến học tập, huấn luyện ở các doanh trại để trở thành những chiến binh trọn đời.

Thời Hy Lạp cổ đại, từ "idiot" (kẻ ngốc) dùng để chỉ những người không phải chính trị gia.
6.Thời Hy Lạp cổ đại, từ “idiot” (kẻ ngốc) dùng để chỉ những người không phải chính trị gia.

Đối với người Hy Lạp cổ đại, hành động ném một quả táo về phía đối phương được coi là tuyên bố tình yêu với người đó.
7.Đối với người Hy Lạp cổ đại, hành động trao một quả táo về phía đối phương được coi là tuyên bố tình yêu với người đó.

Những thành tựu trong lĩnh vực toán học của các nhà toán học nổi tiếng Hy Lạp cổ đại như Pythagoras (trong ảnh), Euclid và Archimede vẫn được sử dụng đến ngày nay.
8.Những thành tựu trong lĩnh vực toán học của các nhà toán học nổi tiếng Hy Lạp cổ đại như Pythagoras (trong ảnh), Euclid và Archimede vẫn được sử dụng đến ngày nay.

Người Hy Lạp thường mua nô lệ bằng muối.
9.Người Hy Lạp thường mua nô lệ bằng muối.

Nhà thiên văn học người Hy Lạp Aristarchus ở Samos được coi là người đầu tiên đề xuất mô hình có tên gọi là Nhật tâm vào khoảng thế kỷ 3 TCN. Theo đó, ông đưa ra giả thuyết Mặt Trời là trung tâm của hệ Mặt Trời.
10.Nhà thiên văn học người Hy Lạp Aristarchus ở Samos được coi là người đầu tiên đề xuất mô hình có tên gọi là Nhật tâm vào khoảng thế kỷ 3 TCN. Theo đó, ông đưa ra giả thuyết Mặt Trời là trung tâm của hệ Mặt Trời.

(Theo Kiến thức)

Kiến trúc La Mã – Hy Lạp cổ đại là gì? So sánh 2 nền kiến trúc

 

Ngày đăng: 2019-10-19

Nhắc tới kiến trúc cổ đại trên thế giới, có lẽ không thể nào không nhắc tới kiến trúc Hy Lạp và kiến trúc La Mã. Đây được coi là 2 nền kiến trúc “ vĩ đại” của thế giới thời xưa và cũng là nền kiến trúc ảnh hưởng tới rất nhiều tới kiến trúc ngày nay. Hãy cùng chophaochi.vn để tìm hiểu rõ hơn về hai nền kiến trúc này các bạn nhé.

Có thể bạn quan tâm:

Tìm hiểu về kiến trúc Hy Lạp cổ đại

Sự ra đời và hình thành của kiến trúc Hy Lap cổ đại trải dài trên một vùng đất rộng lớn như miền Nam bán đảo Balkans, Sicila, Pháp, khu vực Tiểu Á, Ai Cập…

Sự ra đời của kiến trúc này là từ những nhu cầu của người dân sống trong khu vực. Trong thời gian đó, những phong tục tập quán như thường xuyên tổ chức lễ hội, thi đấu thể thao, bình luận văn chương hay là những cuộc họp chợ, mua bán trao đổi kéo theo việc xây dựng những công trình kiến trúc để đáp ứng được những nhu cầu đó.

Kiến trúc Hy Lạp cổ đại

Công trình kiến trúc Hy Lạp cổ đại

Chúng ta có thể kể tới đó là những quần thể kiến trúc như Quảng trường công cộng Agoda với nhiều đền đại được xây dựng trên những khu đồi cao. Với quần thể kiến trúc Agoda thường sở hữu những dạng bất quy tắc, tuy nhiên tới cuối thế kỷ thứ 4 TCN trở đi thì kiến trúc có sự thống nhất hơn, và những công trình có các hàng cột thức hai tầng bao vây.

Kiến trúc Hy Lạp cổ đại với những công trình ấn tượng

Trong thời kỳ hưng thịnh nhất của kiến trúc Hy Lạp cổ đại, người dân còn xây dựng lên các nhà hát ngoài trời với những thềm dốc ở các khu vực chân núi nhứ Acrôpl ở Athena hay ở Bergama, Paestum.

Tìm hiểu về kiến trúc La Mã cổ đại

Có lẽ chúng ta đã nghe nhiều về cái tên La Mã cổ đại rồi – một đế chế hùng mạnh của một thời huy hoàng xa xưa.

Vào thế kỷ thứ 8 TCN, bán đảo Italia được chia làm 3 vùng: Phía nam là người dân gốc người Hy Lạp; Khu vực trung tâm là thuộc người dân La Tinh và phía Tây Bắc là thuộc dân Etruscan. Cho tới giữa thế kỷ 8 TCN thì liên minh giữa các quốc gia mới được ra đời và đứng đầu quốc gia là thành bang dân tộc Etruscan, lấy ROMA làm thủ đô tạo nên tiền đề cho sự phát triển của kiến trúc La Mã cổ đại.

Kiến trúc La Mã cổ đại

Người La Mã đã phát minh và xây dựng, hình thành nên những kiến trúc mới phục vụ nhu cầu thời bấy giờ. Kiến trúc của người La Mã cổ đại thường sử dụng những khung vòm, hay các mái vòm kết hợp với những vật liệu khác nhau mang tới những thành tựu về kiến trúc vô cùng ấn tượng cho tới ngày nay.

Sự khác nhau giữa kiến trúc Hy Lạp và kiến trúc La Mã cổ đại

Nói về sự ra đời thì kiến trúc La Mã ra đời sau kiến trúc Hy Lạp, tuy nhiên 2 nền kiến trúc này đều có sự tương đồng do sự giao thoa giữa 2 nền văn minh. Nền văn minh La Mã được xây dựng và phát triển dựa trên nền móng của Hy Lạp cổ đại.

Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về sự giống và khác nhau giữa hai nền kiến trúc ngay sau đây:

Sự khác biệt về kiến trúc cột:  Người Hy Lạp cổ đại sử dụng kiến trúc cột như là cách để thể hiện vẻ đẹp lý tưởng, tinh tế, khỏe khoắn. Người Hy Lạp chủ yếu sử dụng 3 kiến trúc cột đó là: Cột Lonic; cột Doric và cột Corinth. Với mỗi loại cột này đều có những đặc trưng khác nhau và thể hiện tầm quan trọng khác nhau trong mỗi công trình.

Còn đối với kiến trúc La Mã cổ đại thì đã phát triển thêm các kiểu cột mới Tuscan (Là thiết kế đơn giản hơn của cột Doric) và cột Composte ( là loại cột với hoạt tiết tổng hợp nhiều hoa văn hơn cột Corinthian).

Về quy mô: Kiến trúc La Mã cổ đại có quy mô lớn với rất nhiều những công trình kiến trúc đồ sộ thể hiện quyền lực và sự bền vững. Còn với những công trình kiến trúc HY Lạp cổ đại lại thể hiện sự hài hòa giữa kiến trúc và hình thức.

Về tổ hợp không gian: Kiến trúc La Mã cổ đại có vẻ đẹp thu hút hơn ấn tượng hơn và phức tạp hơn. Những công trình đáp ứng được nhiều nhu cầu đa dạng hơn trong cuộc sống. Kiến trúc La Mã được đánh giá cao hơn về mặt tiến bộ của kỹ thuật xây dựng qua đó mang lại những không gian lớn hơn, hiệu quả hơn.

Qua bài viết này, hi vọng mọi người đã hiểu thêm về hai nền kiến trúc La Mã và Hy Lạp cổ đại và những điểm giống và khác nhau của nền kiến trúc này.

Đừng bỏ lỡ:

Hãy lưu lại trang website chophaochi.vn của chúng tôi để nhận được những thông tin bổ ích, hấp dẫn và hiệu quả nhất.

Hy Lạp cổ đại – VOER

 

Hy Lạp cổ đại là thời kì lịch sử Hy Lạp bao trùm toàn bộ khu vực Địa Trung Hải và biển Đen và kéo dài gần một nghìn năm, đến khi Kitô giáo xuất hiện. Các nhà sử học coi nó là nền tảng văn hóa cho văn minh phương Tây. Văn hóa Hy Lạp có ảnh hưởng rất lớn trong Đế chế La Mã, và ảnh hưởng này cũng được truyền đi khắp các vùng trong châu Âu.

Văn minh của người Hy Lạp cổ đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngôn ngữ, chính trị, hệ thống giáo dục, triết học, khoa học, nghệ thuật, và kiến trúc của thế giới cận đại, thúc đẩy phong trào Phục Hưng tại Tây Âu cũng như làm sống lại các phong trào tân Cổ điển tại châu Âu và châu Mỹ thế kỷ 18 và 19.

“Hy Lạp cổ đại” là thuật ngữ để chỉ khu vực nói tiếng Hy Lạp vào thời cổ đại. Nó không chỉ đơn thuần chỉ bán đảo Hy Lạp ngày nay về mặt địa lý, mà còn chỉ các khu vực văn hóa Hy Lạp vào thời cổ đại của người Hy Lạp: Kypros và quần đảo Aigeus, dải bờ biển Aigeus của Anatolia (được biết đến vào thời đó là Ionia), Sicilia và miền nam Ý (biết đến như Magna Graecia), và một số vùng khác nơi người Hy Lạp cổ định cư như ven biển Illyria, Thrake, Ai Cập, Cyrenaica, miền nam xứ Gaule, đông và đông bắc bán đảo Iberia, Iberia, và Taurica.

Cho đến nay các tư liệu lịch sử vẫn chưa được khám phá hết nên thời kỳ bắt đầu và kết thúc chưa được xác định rõ ràng và chính xác. Thông thường thì người ta coi nó là toàn bộ lịch sử Hy Lạp trước thời Đế chế La Mã. Một số học giả còn tính cả các thời kỳ của nền văn minh Mycenae sụp đổ vào khoảng năm 1100 TCN, mặc dù phần lớn cho rằng Minoa có ảnh hưởng lớn và khác so với văn hóa Hy Lạp và nên được phân loại riêng biệt.

Theo các sách giáo khoa của Hy Lạp ngày nay, “thời cổ đại” kéo dài khoảng 1.000 năm (từ thảm họa của Mycenae đến tận khi người La Mã) chiếm Hy Lạp) và được phân ra làm bốn thời kỳ, dựa theo phong cách nghệ thuật, kiến trúc cũng như loại hình chính trị. Dòng lịch sử của Hy Lạp cổ đại bắt đầu với Thời kỳ Tối tăm của Hy Lạp (1100–800 TCN). Trong thời kỳ này những nhà tạo hình đã sử dụng phối hợp giữa các đường hình học như hình vuông, hình tròn, đường thẳng để tạo hình lọ hai quai và các đồ gốm sứ khác. Thời kỳ Cổ xưa (800–500 TCN) là những năm mà các nghệ sĩ tạo ra các kiểu tượng lớn với dáng khắc khổ, thô cứng và “nụ cười cổ đại” huyền ảo. Trong Thời kỳ Cổ điển (500–323 TCN) những nhà tạo hình đã hoàn toàn hảo hoá những chuẩn mực “kinh điển”, như đền Parthenon. Những năm Hy Lạp hóa sau cuộc chinh phạt của Alexandros Đại Đế (323–146 TCN), cũng được biết đến như thời Alexandria, nền văn minh Hy Lạp đã mở rộng đến Ai Cập và Bactria.

Thông thường, nền văn minh cổ Hy Lạp được coi là thời điểm bắt đầu Thế Vận Hội vào năm 776 TCN, nhưng nhiều nhà sử học cho là vào khoảng 1000 TCN. Cũng theo tư liệu cổ thì thời kỳ Hy Lạp cổ kết thúc vào thời điểm Alexandros Đại Đế chết vào năm 323 TCN. Nhưng theo các nghiên cứu khảo cổ thì có còn tồn tại mãi đến thời kỳ Đạo Cơ Đốc vào thế kỷ 3.

Người Hy Lạp được cho là đã di chuyển về phía nam về phía bán đảo Balkan thành vài đợt vào cuối thiên niên kỷ 3 TCN, lần cuối vào lúc cuộc xâm lăng của người Dorian. Thời kỳ từ 1600 TCN đến khoảng 1100 TCN được miêu tả trong Lịch sử của Hy Lạp Mycenae là triều đại của vua Agamemnon và cuộc chiến thành Troia được kể trong các bản anh hùng ca của Homer. Thời kỳ từ 1100 TCN đến thế kỷ 8 TCN là một “thời kỳ tối tăm” với không một tư liệu nào được giữ lại, và rất hiếm bằng chứng khảo cổ còn lại. Các tư liệu cấp hai và ba như Lịch sử của Herodotus, Mô tả về Hy Lạp của Pausanias, Bibliotheca của Diodorus và Chronicon của Jerome, miêu tả sơ lược lịch sử và danh sách các vua của thời kỳ này. Lịch sử của Hy Lạp cổ đại thường được kết thúc với sự chấm dứt của triều đại Alexandros Đại Đế, người chết năm 323 TCN. Những sự kiến sau đó được miêu tả trong Hy Lạp thời cổ.

Cần xem xét cẩn thận nguồn tham thảo khi tìm hiểu về lịch sử Hy Lạp cổ đại. Những sử gia và chính trị gia có tác phẩm tồn tại đến nay như Herodotus, Thucydides, Xenophon, Demosthenes, Platon và Aristotle, phần nhiều là người thành Athena hay ủng hộ Athena. Điều đó giải thích vì sao ta biết về lịch sử và chính trị của Athena nhiều hơn những thành phố khác, và tại sao chúng ta hầu như không biết mấy về các nơi khác. Hơn nữa những người này hầu như chỉ tập chung viết về chính trị, quân sự và lịch sử ngoại giao, và bỏ qua kinh tế và xã hội. Do vậy tất cả lịch sử về Hy Lạp cổ đại cần được nghiên cứu thận trọng với những hạn chế từ các tư liệu tham khảo này.

Vào thế kỷ thứ 8 TCN Hy Lạp cổ đại bắt đầu trỗi dậy từ Thời kỳ Tăm tối sau khi nền văn minh Mycenae sụp đổ. Nhiều văn bản bị mất và chữ viết Mycenae bị lãng quên, nhưng người Hy Lạp sau đó đã dùng bảng chữ cái Phoenici và tạo ra bảng chữ cái Hy Lạp và từ khoảng 800 TCN những ghi chép bắt đầu xuất hiện. Hy Lạp cổ đại bị phân chia thành nhiều cộng đồng tự quản nhỏ, điều này phản ánh hình dạng địa lý của Hy Lạp, nơi mà các đảo, thung lũng và đồng bằng bị chia cắt nhau bởi biển cả hay các dãy núi.

Cùng với sự phục hồi về mặt kinh tế, dân số đã tăng trưởng vượt quá giới hạn cung cấp của đất trồng trọt. Từ khoảng 750 TCN người Hy Lạp bắt đầu 250 năm mở rộng, thiết lập thuộc địa về mọi hướng. Về hướng đông, bờ biển Aegea thuộc Tiểu Á được chiếm làm thuộc địa đầu tiên, tiếp theo là Kypros, những vùng ven biển của Thrace, vùng biển Marmara và vùng phía nam Biển Đen. Cuối cùng thuộc địa của Hy Lạp mở tới tận phía đông bắc vùng Ukraina ngày nay. Về phía tây, Albania, Sicilia và nam Ý được thiết lập thuộc địa, sau đó là vùng ven biển phía nam của Pháp, Corsica, và kết thúc ở đông bắc Tây Ban Nha. Những thuộc địa của Hy Lạp cũng được lập tại Ai cập và Libya. Syracuse, Napoli, Marseille và Istanbul ngày nay đã bắt đầu từ những thuộc địa của Hy Lạp là Syracusa, Neapolis, Massilia và Byzantium.

Vào thế kỷ thứ 6 TCN Hy Lạp đã trở thành một khu vực văn hóa và ngôn ngữ rộng lớn hơn nhiều so với diện tích địa lý của Hy Lạp hiện nay. Những vùng đất thuộc địa của Hy Lạp không bị kiểm soát về mặt chính trị vẫn duy trì những kết nối tôn giáo và thương mại với những thành phố thiết lập ra chúng.

Người Hy Lạp tổ chức thành những xã hội độc lập cả ở quê nhà và bên ngoài, và thành phố (polis) trở thành đơn vị chính quyền cơ bản của Hy Lạp.

Những thành phố Hy Lạp cổ ban đầu theo chế độ quân chủ, mặc dù rất nhiều thành phố khá nhỏ và danh xưng “vua” (basileus) dành cho người đứng đầu những thành phố này là quá trang trọng. Hy Lạp cổ đại không có nhiều đất canh tác và quyền lực nằm trong tay thiểu số tầng lớp địa chủ, những người này hình thành nên một tầng lớp quý tộc chiến binh thường xuyên gây chiến giữa các thành phố để giành đất và nhanh chóng chấm dứt chế độ quân chủ. Cũng khoảng thời gian này nổi lên một tầng lớp thương nhân (với sự xuất hiện tiền xu vào khoảng 680 TCN) dẫn đến mâu thuẫn giai cấp tại các thành phố lớn. Từ 650 TCN trở đi, các tầng lớp quý tộc đánh nhau không phải để bị lật đổ và thay thế bởi những lãnh chúa thường dân, gọi là tyrranoi (từ này không nên hiểu theo nghĩa ngày nay là một nhà độc tài hay bạo chúa–tyrant).

Vào thế kỷ thứ 6 TCN có một số thành phố đã nổi lên tại Hy Lạp cổ: Athena, Sparta, Corinth và Thebes. Mỗi thành phố đó đều kiểm soát những vùng nông thôn phụ cận và những thành thị nhỏ quanh nó, và Athena và Corinth đã trở thành những trung tâm quyền lực về hàng hải và thương mại. Athena và Corinth cũng ganh đua nhau để chi phối nền chính trị Hy Lạp liên tục nhiều thế hệ.

Tại Sparta, tầng lớp quý tộc sở hữu đất đai nắm quyền lực, và hiến pháp do Lycurgus (Sparta) đưa ra (vào khoảng 650 TCN) đã củng cố chặt chẽ quyền lực của tầng lớp này đồng thời đem lại cho Sparta một chế độ quân phiệt dưới một nền quân chủ lưỡng chế. Sparta chi phối các thành phố khác của bán đảo Peloponnesus, ngoại trừ Argus và Achaia.

Tại Athena, ngược lại, chế độ quân chủ được bãi bỏ vào năm 683 TCN, và những cải cách của Solon đã lập nên một hệ thống chính phủ ôn hòa của tầng lớp quý tộc. Tiếp sau đó là chính thể chuyên chế của Peisistratos với những người con trai của ông, những người này đã biến Athena thành một trung tâm quyền lực mạnh về hàng hải và thương mại. Khi gia đình Peisistratos bị lật đổ, Cleisthenes thiết lập một nền dân chủ đầu tiên trên thế giới (500 TCN), trong đó quyền lực được nắm bởi hội đồng các công dân nam giới của thành phố. Tuy nhiên cần phải nhớ rằng chỉ một phần thiểu số những nam giới cư trú được coi là công dân thành phố, tức là không tính đến người nô lệ, người nô lệ được giải phóng và những ai không phải cư dân của thành Athena.

Tại vùng Ionia (hiện nay là vùng biển Aegea thuộc Thổ Nhĩ Kỳ), những thành phố của Hy Lạp cổ, bao gồm những trung tâm lớn như Miletus và Halicarnassus, đã không thể duy trì nền độc lập của họ và bị Đế chế Ba Tư kiểm soát vào giữa thế kỷ thứ 6 TCN. Năm 499 TCN, người Hy Lạp tại đây đã tiến hành cuộc khởi nghĩa Ionia, và Athena cùng vài thành phố khác của Hy Lạp cổ đã tiếp viện.

Năm 490 TCN, hoàng đế Darius I đã tàn phá các thành phố ở Ionia và điều một hạm đội để tiêu diệt người Hy Lạp. Người Ba Tư cập bến ở Attica và đã bị quân Hy Lạp cổ, dưới sự chỉ huy của tướng thành Athena là Miltiades, đánh bại tại trận Marathon. Gò đất mai táng người Athena chết trong trận này vẫn có thể thấy được ở Marathon.

Mười năm sau, người kế tục Darius, hoàng đế Xerxes I đã cử một đội quân lớn bằng đường bộ tới Hy Lạp. Sau khi bị vua Sparta Leonidas I giữ chân tại trận Thermopylae, Xerxes đã tiến vào Attica, chiếm và đốt thành Athena. Nhưng người Athena đã rút khỏi thành phố bằng đường biển, và dưới sự chỉ huy của Themistocles họ đã đánh bại hạm đội Ba Tư tại trận Salamis. Một năm sau, người Hy Lạp, dưới sự chỉ huy của tướng thành Sparta là Pausanius, đã đánh thắng quân Ba Tư tại Plataea.

Hạm đội Athena sau đó quay sang đuổi người Ba Tư ra khỏi biển Aegea, và năm 478 TCN họ đã chiếm được Byzantium. Kết quả là Athena đã thâu tóm tất cả các chính quyền trên các đảo và vài liên minh trên đất liền vào một khối gọi là Liên minh Delos (vì của cải của họ được cất giấu trên hòn đảo linh thiêng mang tên này). Người Sparta, mặc dù cũng tham gia chiến tranh nhưng sau đó lại rút lui, để cho Athena trở thành mộ trung tâm quyền lực về hàng hải và thương nghiệp không thể khuất phục.

Chiến tranh Hy Lap-Ba Tư đã tạo ưu thế cho Athena thống trị Hy Lạp cổ trong suốt một thế kỷ. Athena đã làm chủ hoàn toàn trên biển, và cũng đứng đầu về sức mạnh thương nghiệp, mặc dù thành Corinth cũng là đối thủ cạnh tranh đáng gờm. Người lãnh đạo Athena, lúc đó là Pericles, đã dùng những cống nạp của các thành viên liên minh Delos để xây dựng đền Parthenon, và những công trình kiến trúc lớn của Athena cổ đại. Vào giữa thế kỷ thứ 5 TCN, liên minh này đã trở thành Đế chế Athena, đánh dấu bởi việc chuyển giao kho báu từ Delos đến Parthenon vào năm 454 TCN.

Sự giầu có của Athena đã lôi cuốn những người tài từ khắp nơi đổ về Hy Lạp, và cũng tạo ra một tầng lớp giầu có rỗi rãi, và trở thành những người bảo trợ cho nghệ thuật. Nhà nước Athena cũng bảo trợ cho việc học hành và nghệ thuật, đặc biệt cho kiến trúc. Athena trở thành trung tâm của văn học, triết học (xem Triết học Hy Lạp cổ) và nghệ thuật (xem Rạp hát Hy Lạp cổ). Một số tên tuổi lớn nhất của lịch sử văn hóa và trí thức phương Tây đã sống ở Athena trong thời kỳ này: các nhà viết kịch Aeschylus, Aristophanes, Euripides và Sophocles, các nhà triết học Aristotle, Plato và Socrates, các nhà sử học Herodotus, Thucydides và Xenophon, nhà thơ Simonides và nhà điêu khắc Pheidias. Theo ngôn từ của Pericles, thành phố trở thành “trường học của Hy Lạp”.

Những vùng khác của Hy Lạp ban đầu chấp nhận sự lãnh đạo của Athena trong cuộc chiến triền miên chống lại người Ba Tư, nhưng sau khi nhà chính trị bảo thủ Cimon mất quyền vào năm 461 TCN, Athena trở thành một chính quyền theo đường lối đế quốc ngày càng mở. Sau khi Hy Lạp giành chiến thắng ở trận Eurymedon năm 466 TCN, người Ba Tư không còn là mối đe dọa nữa, và vài nơi như Naxos, đã cố rút khỏi liên minh nhưng vẫn bị quy phục. Những người lãnh đạo mới của Athena, Pericles và Ephialtes, đã khiến mối quan hệ giữa Athena và Sparta trở lên xấu hơn, và năm 458 TCN chiến tranh đã nổ ra. Sau vài năm không kết quả, 30 năm hòa bình đã được ký kết giữa Liên minh Delos và Liên minh Peloponnesus (bao gồm Sparta và liên minh của họ). Thời gian này trùng với trận đánh cuối giữa Hy Lạp cổ và Ba Tư, một trận đánh ngoài biển Salamis tại Kypros, sau đó là Hiệp ước Hòa bình Callias (450 TCN) giữa Hy Lạp cổ và Ba Tư.



Alcibiades

Năm 431 TCN chiến tranh nổ ra giữa Athena và Sparta cùng những đồng minh. Nguyên nhân trực tiếp đến từ tranh chấp giữa Corinth và một trong những thuộc địa của nó, Corcyra (ngày nay là Corfu), mà Athena đã can thiệp vào. Nguyên nhân sâu xa là sự bực bội của Sparta và những đồng minh của nó trước việc Athena ngày càng có ảnh hưởng lớn trong Hy Lạp cổ. Cuộc chiến kéo dài 27 năm, một phần bởi Athena (sức mạnh hải quân) và Sparta (sức mạnh lục quân) khó phối hợp được với nhau.

Chiến lược ban đầu của Sparta là xâm lấn Attica, nhưng dân thành Athena đã kịp lùi về trong thành của của họ. Sự bùng phát của dịch bệnh trong thành phố đã gây ra những tổn thất nặng nề, trong đó có cả Pericles. Cùng thời gian này hải quân Athena đã tấn công Peloponnesus, chiến thắng trong các trận đánh tại Naupactus (429 TCN) và Pylos (425 TCN). Tuy nhiên cả hai bên đều không giành được một chiến thắng quyết định. Sau vài năm chiến tranh không đem lại kết quả, người lãnh đạo ôn hòa của Athena là Nicias đã ký kết Hòa ước Nicias (421 TCN).

Tuy nhiên, sự đối đầu giữa Sparta và một liên minh của Athena là Argos vào năm 418 TCN lại làm bùng lên cuộc chiến. Tại Mantinea, Sparta đã đánh bại hợp quân Athena và liên minh của họ. Chiến tranh lại tiếp tục, và Alcibiades đã lên nắm quyền lực tại Athena. Năm 415 TCN Alcibiades đã thuyết phục Quốc hội Athena mở rộng cuộc viễn chinh chống Syracuse, một liên minh của Peloponnesus ở Sicilia. Mặc dù Nicias là người hoài nghi về cuộc viễn chinh Sicilia, ông ta cũng được chỉ định theo Alcibiades để chỉ huy cuộc viễn chinh. Do bị buộc tội, Alcibiades đã trốn đến Sparta và thuyết phục Sparta gửi cứu viện đến Syracuse. Kết quả là cuộc viễn chinh hoàn toàn thất bại và toàn bộ đội quân viễn chinh bị giết. Nicias đã bị hành quyết bởi những người bắt sống ông ta.

Sparta giờ đây đã dựng xong một đội quân (với sự trợ giúp của quân Ba Tư) và thách thức thủy quân Athena, và cũng tìm được người lãnh đạo tài giỏi là Lysander, người đã có một bước đi chiến lược ban đầu là chiếm Hellespont, kho lương của Athena. Bị đe dọa vì nạn đói, Athena đã gửi một đội quân cuối cùng còn lại đến đối đầu Lysander, và bị đánh bại tại Aegospotami (405 TCN). Việc mất nốt đội quân này đã khiến Athena sụp đổ hoàn toàn. Năm 404 TCN Athena đã cầu hòa, nhưng Sparta đã cương quyết chiếm đóng Athena và chiếm lấy lực lượng và của cải còn lại của Athena ở hải ngoại. Đảng phái chống dân chủ đã lên nắm quyền lực tại Athena với sự ủng hộ của Sparta.

Cuộc chiến Peloponnesus kết thúc đã đem lại cho Sparta vị thế bá chủ của Hy lạp cổ, nhưng cái nhìn hẹp hòi của những chiến binh xuất sắc Sparta lại không thích hợp với vị thế bá chủ đó. Chỉ trong vài năm, đảng dân chủ đã lấy lại sức mạnh tại Athena và những thành phố khác. Năm 395 TCN những người lãnh đạo Sparta đã cách chức Lysander và Sparta đã mất ưu thế về thủy quân. Athena và Argos, cùng với hai đồng minh của Sparta trước đây là Thebes và Corinth, đã tuyên chiến với Sparta tại Trận Corinth, và trận chiến đã kết thúc bất phân thắng bại năm 387 TCN. Cùng năm Sparta đã khiến dân Hy Lạp sốc khi kí kết Hiệp ước Antalcidas với Ba Tư, đồng nghĩa với việc dâng hai thành phố của Hy Lạp là Ionia và Cyprus; như vậy đã đảo ngược một trăm năm lịch sử chiến thắng của quân đội Hy Lạp trước người Ba Tư. Sparta sau đó còn làm yếu đi sức mạnh của Thebes, từ đó dẫn đến trận chiến trong đó Thebes quay sang liên minh với kẻ thù cũ của họ là Athena.

Khi đó các tướng lĩnh Epamminondas và Pelopidas của Thebes đã có một chiến thắng quyết định tại Leuctra (371 TCN). Kết quả của cuộc chiến là sự chấm dứt quyền uy tối cao của Sparta và sự trỗi dậy của Thebes, tuy vậy đó Athena cũng đã khôi phục được sức mạnh trước đây của mình vì ưu thế của Thebes chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Với cái chết của Epaminondas tại Mantinea (362 TCN) Thebes đã mất người lãnh đạo vĩ đại, và những người kế vị ông ta đã sai lầm khi lao vào cuộc chiến mười năm với Phocis. Năm 346 TCN người Thebes thỉnh cầu Philip II xứ Macedonia giúp họ đánh quân Phocis, như vậy đã lần đầu tiên đưa Macedonia can thiệp vào Hy Lạp cổ.

Vương quốc Macedonia (ngày nay là Macedonia) được thành lập vào thế kỷ thứ 7 TCN từ các bộ lạc ở phía bắc của Hy Lạp cổ. Trước đầu thế kỷ thứ 4, họ chỉ đóng một vai trò không đáng kể vào chính trị Hy Lạp cổ nhưng Philip, một người có nhiều tham vọng và đã được đào tạo ở Thebes, muốn có một vai trò lớn hơn. Đặc biệt, ông ta muốn được chấp nhận như một lãnh đạo mới của Hy Lạp để lấy lại những thành phố Hy Lạp tại châu Á từ người Ba Tư. Bằng việc chiếm lấy những thành phố Hy Lạp như Amphipolis, Methone và Potidaea, ông ta đã kiếm soát các mỏ vàng và bạc ở Macedonia. Điều này giúp ông có được những nguồn lực để thực hiện tham vọng của mình.

Philip đã đặt sự thống trị của Macedonia lên các thành Thessaly (352 TCN) và Thrace, và vào năm 348 TCN ông ta kiểm soát toàn bộ phần phía bắc của Thermopylae. Ông đã sử dụng sự giầu có để mua chuộc những chính trị gia Hy Lạp và lập ra “Đảng Macedonia” ở khắp các thành phố Hy Lạp. Sự can thiệp của ông vào cuộc chiến giữa Thebes và Phocis, đã đem lại cho ông ta sự thừa nhận là người lãnh đạo Hy Lạp, và cho ông ta cơ hội để trở thành nhân vật có ảnh hưởng trong chính trường Hy Lạp. Nhưng bất chấp sự ngưỡng mộ thực sự của ông ta dành cho Athena, người lãnh đạo Athena Demosthenes, trong một loại những bài diễn thuyết nổi tiếng (philippic) đã khích động các thành bang Hy Lạp ngăn cản sự thăng tiến của ông.



Philip II, vua của thành Macedonia. Hiện vật Cabinet des médailles, Thư viện quốc gia Pháp

Năm 339 TCN Thebes, Athens, Sparta và những bang Hy Lạp khác đã liên minh chống lại Philip và trục xuất ông ta khỏi những thành phố Hy Lạp mà ông chiếm ở miền bắc. Tuy nhiên Philip tấn công trước, tiến sâu vào Hy Lạp và đánh bật liên minh này tại Chaeronea năm 338 TCN. Sự kiện này thường được coi là chấm dứt thời kì thành-bang Hy Lạp cổ như những đơn vị chính trị độc lập, mặc dù trên thực tế Athena và những thành phố khác vẫn tồn tại như những bang độc lập tận đến thời La Mã.

Philip đã cố chinh phục Athena bằng việc xu nịnh và quà cáp, nhưng cách này không thật sự thành công. Ông ta tổ chức những thành phố thành Liên minh Corinth và loan báo sẽ tiến hành một cuộc xâm lược Ba Tư để giải phóng những thành phố Hy Lạp và trả thù các cuộc xâm lấn của Ba Tư vào đầu thế kỷ trước. Tuy nhiên ông đã bị ám sát (336 TCN) trước khi thực hiện ý đồ này.

Người con trai 20 tuổi Alexandros của Philip kế thừa ông ta, và ngay tức khắc thực thi những kế hoạch của cha mình. Khi nhận thấy Athena suy sụp, Alexandros mong mỏi khôi phục lại truyền thống của Athena bằng cách tiêu diệt vua Ba Tư. Ông đi đến Corinth để được liên minh các thành phố Hy Lạp công nhận ông là lãnh tụ của người Hy Lạp, sau đó đi về phía bắc để thu thập lực lượng. Đội quân ông đưa đi đánh Đế chế Ba Tư về cơ bản là người Macedonia, nhưng nhiều người cùng lý tưởng ở các thành phố khác của Hy Lạp cũng đầu quân. Nhưng trong khi Alexandros tiến hành chiến dịch ở Thrace, ông nghe nói những thành phố của Hy Lạp có nổi loạn. Ông lập tức trở lại phía nam, chiếm Thebes và phá trụi thành phố này như một lời cảnh báo đến những thành phố Hy Lạp khác rằng sức mạnh của ông ta sẽ không thể kháng cự được.

Năm 334 TCN Alexandros tiến ngang qua châu Á và đánh bại quân Ba Tư tại sông Granicus. Chiến thắng này cho phép ông kiểm soát vùng biển Ionia, và ông đã mở một cuộc diễu hành chiến thắng qua những thành phố Hy Lạp được giải phóng. Sau khi sắp xếp xong mọi việc tại Anatolia, ông tiến về phía nam đến Syria qua Cilicia, nơi ông đã đánh bại Darius III của Ba Tư tại Issus (333 TCN). Sau đó ông lại tiến vào Ai Cập qua Phoenicia, nơi ông chỉ gặp một sự kháng cự nhỏ, và người Ai Cập đã chào đón ông như một người giải phóng họ khỏi ách thống trị của người Ba Tư.

Darius lúc đó sẵn sàng đàm phán hoà bình và Alexandros có thể trở về quê hương ăn mừng chiến thắng, nhưng ông ta vẫn quyết tâm xâm chiếm Ba Tư để trở thành bá chủ thế giới. Ông tiến về đông bắc ngang qua Syria và Lưỡng Hà, tiếp tục đánh bại Darius tại Gaugamela (331 TCN). Darius chạy trốn và đã bị chính những người theo ông ta giết chết, lúc này Alexandros trở thành hoàng đế của Đế chế Ba Tư, chiếm Susa và Persepolis mà không gặp phải sự kháng cự nào.

Trong lúc đó, những thành phố của Hy Lạp tiếp tục cố gắng thoát khỏi sự kiểm soát của Macedonia. Tại Megalopolis năm 331 TCN, nhiếp chính của Alexandros là Antipater đánh bại người Sparta, những người này đã từ chối gia nhập liên minh Corinth hay công nhận quyền lực của Macedonia. Alexandros tiếp tục di chuyển, ngang qua những nơi mà bây giờ là Afghanistan và Pakistan đến lưu vực sông Ấn Độ, và vào năm 326 TCN ông đã tới Punjab. Ông ta đã có thể tiến xuống sông Hằng để vào Bengal nhưng đội quân của ông cho rằng họ đang ở nơi tận cùng của thế giới, nên đã không tiến thêm nữa. Alexandros miễn cưỡng quay trở về, và chết vì một cơn sốt tại Babylon năm 323 TCN, khi đó ông mới 33 tuổi.

Đế chế Alexandros sớm tan vỡ sau khi ông chết, nhưng những cuộc viễn chinh của ông đã làm thay đổi thế giới Hy Lạp một cách lâu dài. Hàng ngàn người đi cùng hay sau ông đã đến định cư ở những thành phố mới của Hy Lạp mà ông đã lập ra khi chinh chiến, trong đó có thành phố mang tên ông là Alexandria ở Ai Cập. Các vương quốc nói tiếng Hy Lạp cũng được thiết lập ở Ai Cập, Syria, Iran và Bhalika. Thời kỳ Hy Lạp hoá đã bắt đầu.

Những nét đặc trưng của xã hội Hy Lạp cổ đại là sự chia phân chia giữa người tự do và nô lệ, vai trò khác nhau giữa nam giới và nữ giới, sự ít phân biệt địa vị xã hôi dựa trên gốc gác ra đời, và sự quan trọng của tôn giáo. Lối sống của người Athena là phổ biến trong thế giới Hy Lạp so với chế độ đặc biệt của Sparta.

Cấu trúc xã hội

Chỉ có những người tự do mới có quyền làm cư dân thành phố và được bảo vệ đầy đủ bởi luật pháp trong một thành-bang. Trong hầu hết các thành bang, không giống như La Mã, sự nổi trội trong xã hội không cho phép những quyền lợi đặc biệt. Chẳng hạn, sinh ra trong một gia đình nào đó không có nghĩa là có những đặc quyền. Vài gia đình kiểm soát chức năng tôn giáo cộng đồng, nhưng nói chung điều này không có nghĩa là có quyền lực nào đó trong chính quyền. Tại Athena, dân chúng được chia thành bốn tầng lớp dựa theo sự giầu có. Người ta có thể thay đổi tầng lớp của mình nếu có nhiều tiền hơn. Tại Sparta, tất cả các nam công dân của thành phố đều được xác định là “bình đẳng” nếu họ kết thúc việc học hành của họ. Tuy vậy, các vua người Sparta lãnh đạo tôn giáo và quân đội của thành bang thường đến từ hai gia đình khác nhau.

Nô lệ không có quyền lực và địa vị. Họ có quyền có gia đình và tài sản riêng, tuy nhiên không có quyền chính trị. Năm 600 TCN chế độ chiếm hữu nô lệ đã trải rộng khắp Hy Lạp. Đến thế kỷ thứ 5 TCN, nô lệ chiếm đến một phần ba số dân ở một số thành bang. Nô lệ bên ngoài Sparta hầu như không bao giờ nổi dậy bởi vì họ thuộc nhiều quốc tịch khác nhau và tản mát khó có thể tổ chức lại với nhau.

Hầu hết các gia đình đều sở hữu nô lệ làm người giúp việc nhà và lao động tay chân, ngay cả những gia đình nghèo cũng có thể có một hay hai nô lệ. Những người sở hữu không bao giờ được phép đánh đập hay giết hại nô lệ. Những người sử hữu thường hứa sẽ trả tự do cho những nô lệ trong tương lai để họ làm việc chăm chỉ hơn. Không như ở La Mã, những người nô lệ được trả tự do không thể trở thành những công dân thành phố.

Thay vào đó, họ gia nhập vào thành phần các metic, bao gồm những người từ nước ngoài hay những thành bang khác được cho phép sinh sống trong thành bang này.

Những thành bang cũng được pháp luật cho phép sở hữu nô lệ. Những nô lệ cộng đồng này có sự độc lập lớn hơn so với những nô lệ do các gia đình sở hữu, tự kiếm sống và làm những công việc chuyên môn. Trong Athena, những nô lệ cộng đồng được đào tạo để theo dõi việc làm ra tiền giả, trong khi những nô lệ tại các đền thờ thì làm việc như những kẻ phục dịch của vị thần trong đền.

Sparta có một dạng nô lệ đặc biệt gọi là helot. Helot là những tù nhân của cuộc chiến Hy Lạp do các thành bang sở hữu và đưa vào các gia đình. Helot chuyên đi kiếm thực phẩm và làm những công việc vặt nội trợ cho các gia đình, cho phép phụ nữ có thể tập trung nuôi dạy con cái tốt hơn và nam giới có thời gian để huấn luyện thành lính hoplite. Những ông chủ của họ thường xuyên đối xử rất khắc nghiệt với họ nên rất hay có những cuộc nổi dậy.

Lối sống



Một nô lệ Hy Lạp. Hiện vật bảo tàng Louvre

Trong suốt một thời gian dài, lối sống trong các thành-bang Hy Lạp gần như không thay đổi đáng kể. Người Hy Lạp tại các thành phố thường ở trong những khu nhà với những căn hộ thấp hoặc những ngôi nhà dành cho một gia đình, tuỳ theo thu nhập. Nhà ở, chung cư, và đền đài thường nằm quanh các agora (chợ). Công dân cũng sống trong các làng nhỏ và các nông trại nằm trong vùng nông thôn của thành bang. Tại Athena, nhiều người sống bên ngoài hơn là bên trong cổng thành.

Một hộ gia đình Hy Lạp tương đối đơn giản, thường có phòng ngủ, phòng chứa đồ đạc, và bếp được bố trí ở sân nhỏ bên trong nhà. Mỗi hộ thường có cha mẹ và con cái, tuy nhiên thường không có họ hàng sống chung. Đàn ông trong nhà có trách nhiệm đi làm nuôi sống gia đình hoặc đầu tư vào đất đai và buôn bán. Đàn bà có nhiệm vụ quản lý chi tiêu trong nhà và nô lệ, lấy nước từ các vòi nước công cộng mang về nhà, nấu nướng, chăm sóc con cái. Đàn ông có phòng riêng để tiếp khách vì khách nam giới không được phép vào trong phòng phụ nữ và trẻ em. Những người đàn ông giàu có đôi khi có thể mời bạn bè đến dự symposium (tiệc uống). Người ta lấy ánh sáng từ những ngọn đèn dùng dầu olive, và sưởi bằng các lò than củi. Đồ đạc trong nhà ít và đơn sơ, thường gồm ghế, bàn, và giường bằng gỗ.

Thực phẩm Hy Lạp cổ đại cũng hết sức đơn giản. Người nghèo thường ăn cháo lúa mạch bỏ thêm hành, rau và phô mai hay dầu ôliu. Chỉ có ít người được ăn thịt thường xuyên, ngoại trừ khi được phân phối miễn phí từ các buổi hiến tế động vật tại các lễ hội của thành bang. Các lò nướng bánh bán bánh mì nóng hằng ngày, còn các tiệm nhỏ hơn thì có bán đồ ăn nhanh. Rượu pha thêm nước là thức uống được ưa chuộng.

Trang phục người Hy Lạp ít thay đổi theo thời gian. Cả đàn ông và phụ nữ đều mặc trang phục quấn đơn giản. Trang phục thường có các hoạ tiết nhiều màu và có thắt dây nịt. Người Hy Lạp mặc áo choàng và đội mũ khi trời lạnh, và khi trời ấm thường mang dép thay cho giầy da. Phụ nữ dùng đồ trang sức và mỹ phẩm – đặc biệt là chì bột, để tạo ra nước da sáng. Đàn ông thường để râu đến khi Alexander đại đế đưa ra mốt cạo râu.

Thuốc men tại Hy Lạp cổ đại khá hạn chế. Hippocrates đã tách biệt mê tín với việc chữa trị bằng thuốc vào thế kỷ thứ 5 TCN. Các vị thảo dược được dùng để giảm đau, và thầy thuốc có thể thực hiện một số phẫu thuật đơn giản. Tuy thế họ vẫn chưa chữa được các bệnh truyền nhiễm, do đó những người khoẻ mạnh vẫn có thể tử vong bất kỳ lúc nào khi mắc bệnh.

Để có sức khoẻ và sẵn sàng cho nghĩa vụ quân sự, đàn ông phải thường xuyên luyện tập. Hầu như mỗi thành-bang đều có ít nhất một gymnasium, bao gồm một khu nhà để tập luyện nhiều môn, đường chạy, bể bơi, phòng thuyết trình và khuôn viên, và chỉ mở cửa cho đàn ông vào. Các lễ hội thành bang thường có nhiều trò giải trí. Thần linh thường được cúng tế trong các cuộc đua tài trong âm nhạc, ca kịch và văn thơ. Người Athena hay ba hoa rằng thành phố của họ tổ chức lễ hội gần như mỗi ngày. Các lễ hội toàn Hy Lạp lớn được tổ chức tại Olympia, Delphi, Nemea và Isthmia. Các vận động viên và nhạc sĩ thắng trong các cuộc tranh tài này thường trở nên giàu có và nổi tiếng. Cuộc tranh tài phổ thông và cũng là tốn kém nhất là môn đua xe ngựa.

Giáo dục

Trong phần lớn lịch sử Hy Lạp, giáo dục là tư thục, ngoại trừ ở Sparta. Trong suốt thời kỳ Hy Lạp hoá, một số thành-bang mở các trường công. Chỉ có các gia đình khá giả mới mời được thầy về nhà. Con trai được học đọc, viết và trích giảng văn học. Họ cũng được học hát và chơi một thứ nhạc cụ cũng như được huấn luyện để trở thành vận động viên và phục vụ quân đội. Họ học không phải để có việc làm mà để trở thành một công dân hữu ích. Con gái cũng học đọc, học viết và số học để có thể quản lý được gia đình. Họ gần như không bao giờ được học tiếp sau thời niên thiếu.

Một số ít nam thanh niên tiếp tục học sau thời niên thiếu. Khi còn là thiếu niên thì họ học triết học với chức năng là môn học hướng dẫn cách sống, và thuật hùng biện để có thể nói năng thuyết phục người khác khi ở trong nghị trường. Vào thời kỳ Cổ điển, việc đào tạo như thế này là cần thiết cho một thanh niên có tham vọng. Một phần quan trọng trong giáo dục một thiếu niên khá giả là quan hệ yêu đương thầy trò với một người lớn tuổi. Người thiếu niên học bằng cách quan sát thầy mình thuyết trình về c

Làm sao người Hy Lạp cổ đại biết Trái Đất có hình cầu?

 

Làm sao người Hy Lạp cổ đại biết Trái Đất có hình cầu?

 

Chỉ với một cây gậy, Eratosthenes đã đo được đường cong 360 độ của Trái Đất với sai số đáng kinh ngạc.

 

Có một nhóm người trên thế giới thực sự tin Trái Đất là phẳng. Họ cho rằng những tấm ảnh hành tinh chúng ta chụp từ vệ tinh đã được chính phủ dàn xếp nhằm thuyết phục mọi người Trái Đất hình cầu. Bằng chứng của họ là đường chân trời chẳng xuất hiện đường cong nào cả.

Điều thú vị là, ngay từ 2.000 năm trước, chẳng cần bất cứ vệ tinh nào, con người đã biết Trái Đất là một khối cầu.

Bởi vì Trái Đất phải có dạng tròn

Người Hy Lạp cho rằng Trái Đất dạng tròn trước cả khi họ có bằng chứng thuyết phục. Triết gia kiêm nhà toán học lỗi lạc Pythago là người đầu tiên đưa ra giả thuyết Trái Đất hình cầu những năm 500 TCN, dù rằng ông chỉ dựa trên góc nhìn thẩm mĩ của riêng mình: Hình cầu là dạng hoàn hảo nhất.

Một thế kỷ sau, nhà triết học Plato cũng đưa ra ý kiến tương tự, đồng thời khiến cho nhận định này trở nên phổ biến.

bfd37cf1676a4e29bab84f10cdf6d4ee_1

Ngay từ thời cổ đại, một số học giả đã tin tưởng Trái Đất có dạng hình cầu. Ảnh: Curiosity.

Khi bắt đầu đi vào chứng minh Trái Đất hình tròn, Aristotle là triết gia người Hy Lạp tiên phong trong vấn đề này. Trong cuốn sách ”Trên thiên đàng” (On the Heavens), viết vào năm 350 TCN, ông đã đưa ra một vài bằng chứng chứng minh Trái Đất hình cầu.

Ông chỉ ra rằng chúng ta có thể nhìn thấy bóng của Trái Đất trên Mặt Trăng trong các kì nguyệt thực. Nó luôn có dạng tròn bất kể Trái Đất ở vị trí nào trên vòng xoay của nó.

Trong luận điểm khác, ông thấy rằng vị trí các vì sao sẽ khác nhau khi chúng ta nhìn ở những nơi khác nhau trên Trái Đất. Những vì sao ở Ai Cập ko thể thấy được ở Cyprus cách đó 1.000 km.

eratosthenes

Eratosthenes là một trong những người tiên phong trong việc dùng thực nghiệm để tính toán đường cong Trái Đất. Ảnh: Famous Mathematicians.

“Điều đó chứng minh, Trái Đất không chỉ có dạng tròn mà ắt hẳn nó còn là một khối cầu với kích thước không lớn lắm. Nếu không, chỉ cần thay đổi địa điểm một chút thôi, không thể nhận ra sự khác biệt nhanh chóng và rõ ràng như vậy”, ông viết.

Một học giả khác sau đó đã củng cố giả thuyết của Aristotle: Không chỉ chứng minh Trái Đất hình cầu, người này còn tính toán chu vi của nó chỉ bằng bóng đổ của một thanh que dưới ánh Mặt trời.

Người đàn ông và cây gậy

Eratosthenes là một trong những học giả nổi tiếng bật nhất vào thời của ông, nghiên cứu hầu hết lĩnh vực về khoa học. Năm 240 TCN, ông được bổ nhiệm làm thủ thư tại thư viện Alexandria – một trung tâm tài liệu vô cùng lớn, có thể ví như Google thời nay.

Một trong những tham vọng của ông là vẽ được bản đồ toàn thế giới. Để thực hiện nó, Eratosthenes biết rằng ông cần phải xác định kích thước của Trái Đất.

Ông từng nghe kể về câu chuyện một cái giếng tại thành phố Syene (nay là Aswan, Ai Cập) có những tính chất rất riêng biệt. Vào buổi trưa trong ngày hạ chí, ngay lúc Mặt trời trên đỉnh đầu, ánh sáng chiếu thẳng xuống đáy giếng mà không để lại bất kì cái bóng nào.

Để kiểm tra xem điều tương tự có xảy ra tại Alexandria hay không, Eratosthenes đặt một cây gậy thẳng đứng cũng vào ngày hạ chí lúc giữa trưa, nó để lại cái bóng với một góc 7,2 độ.

Eratosthenes nhận ra ông có thể làm một vài phép toán đơn giản để tính ra được chu vi của Trái Đất, điều ông cần biết là khoảng cách giữa Alexandria và Syene.

4650049D8B1DF6

Eratosthenes kết luận rằng khoảng cách từ Alexandria tới Syene bằng khoảng 7/360 chu vi Trái Đất. Ảnh: Schoolphysics.

Cách thức đo lường khoảng cách lúc đó còn khá thô sơ, ông đã thuê những người đi rừng kì cựu, có thể biết chính xác số bước đi của họ, và đo khoảng cách giữa 2 thành phố là 5.000 stadia (khoảng 800-900km).

Với những số liệu này, Eratosthenes thực hiện phép tính nhanh. Khi Mặt trời vuông góc tại Syene và tạo góc 7,2 độ tại Alexandria, khoảng cách giữa hai thành phố vào khoảng 800-900km, vậy một vòng Trái Đất 360 độ sẽ ứng với 40.000km.

Dù giả định của ông bị lỗi, khoảng cách đưa ra cũng chưa chính xách, tính toán cuối cùng đưa ra chỉ lệch khoảng 75 km. Ngày nay, chúng ta biết rằng đường xích đạo Trái Đất là 40.075km, và kích thước sẽ nhỏ hơn một chút nếu đo theo đường kinh tuyến từ cực Bắc xuống cực Nam. Kết quả không tệ với một anh chàng cùng cây gậy của mình.

Đại Việt/Theo Zing

Tin tức, sự kiện liên quan đến Hy Lạp cổ đại : Quỹ Vì Tầm Vóc Việt nhận giải thưởng tại Hàn Quốc

 

Thông tin bạn đọc
Thông tin của bạn đọc sẽ được bảo mật an toàn và chỉ sử dụng trong trường hợp toà soạn cần thiết để liên lạc với bạn.


Mật khẩu không đúng.

Thông tin đăng nhập không đúng.

Tài khoản bị khóa, vui lòng liên hệ quản trị viên.

Có lỗi phát sinh. Vui lòng thử lại sau.

Hoặc đăng nhập bằng:

Hoặc đăng ký bằng:

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

 

Nền văn minh Hy Lạp cổ đại khởi đầu từ thế kỷ XII đến thế kỷ IX trước Công nguyên và kéo dài đến cuối thời kỳ cổ đại. Phong cách, văn hóa thời ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tương lai của nhân loại.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Cùng điểm qua những quan điểm, thuần phong mỹ tục độc đáo, khác biệt đầy ấn tượng của người Hy Lạp xưa.

Nô lệ chiếm chủ yếu trong dân số

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Theo ước tính, khoảng 40 – 80% dân số Athens thời cổ đại đều là tầng lớp nô lệ nghèo khổ. Một cá nhân sẽ trở thành nô lệ vì nhiều lý do, họ bị đối xử tệ bạc và làm phục dịch cho chủ nô. Không sở hữu bất kỳ nô lệ nào sẽ được cho là dấu hiệu của nghèo hèn trong xã hội.

Phụ nữ và nô lệ không có quyền công dân

Hy Lạp cổ đại đã cho ra đời nền dân chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại nhưng thực chất đó là chế độ chuyên chế của thiểu số, tăng cường quyền lực cho cánh đàn ông.

Phụ nữ không được quyết định, bị cấm tham gia vào chính trị và chỉ được ra khỏi nhà khi có người giám hộ theo sau.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Nô lệ là tầng lớp xã hội thấp kém nhất nên họ không được ban cho bất kỳ quyền lợi gì, không được sử dụng tên thật và phải làm theo chỉ đạo của chủ nhân.

Con người có thể sống lại sau khi chết

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Người Hy Lạp cổ đại rất mê tín, họ tin rằng người chết có thể đội mồ sống dậy. Thế nên khi mai táng họ thường thiêu xác hay đặt đá, đồ gốm sứ ở tay chân, dầu của tử thi nhằm ngăn ngừa người chết cử động mà sống lại.

Tạo ra hình thức sơ khai của máy tính

Cỗ máy Antikythera thường được gọi là “chiếc máy tính” đầu tiên trên thế giới, nó được tạo nên từ các nhà nhà thiên văn học Hy Lạp vào khoảng cuối thế kỷ II trước Công nguyên.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Cỗ máy có các bánh răng và chữ khắc, được sử dụng như một chiếc đồng hồ chiêm tinh và xem lịch, giúp theo dõi thời gian trong Thế vận hội Olympic.

Chính trị gia bị bỏ phiếu cho lưu đày

Những người đàn ông quyền lực sử dụng hệ thống dân chủ thông qua phiếu bầu để loại bỏ các chính trị gia quá hùng mạnh. Công dân sẽ bỏ phiếu ẩn danh, nếu đủ phiếu bầu người chỉ định sẽ phải bị lưu đày tối thiểu 10 năm.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Đây là hình thức châm ngòi cho các cuộc chiến quyền lực, thanh trừng lẫn nhau giữa các phe phái chính trị trong Hy Lạp thời ấy.

Pha loãng rượu vang

Nhiều nền văn hóa rượu vang hiện đại bắt nguồn từ các hoạt động tại các ngày nghỉ lễ, bữa tiệc của người Hy Lạp cổ đại.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Rượu thường được pha chế với nước theo công thức một phần rượu, bốn phần nước. Cách pha loãng này nhằm hạn chế tình trạng người dân say rượu làm càn.

Tập thể dục khỏa thân

Người Hy Lạp cổ sẽ lột bỏ xiêm y, hoàn toàn khỏa thân khi luyện tập, thi đấu cùng nhau.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Đàn ông khỏa thân như là một sự tôn vinh, bày tỏ tấm lòng thành với các vị thần và chứng minh vẻ đẹp hình thể để được nổi tiếng và ngưỡng mộ.

Nô lệ được mua bằng muối

Thời kỳ ấy muối là một loại gia vị quý giá, được giao dịch như tiền tệ để mua bán.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Nô lệ cũng được mua theo một lượng muối nhất định, lượng muối trao đổi sẽ phụ thuộc vào sức lực và cơ thể khỏe mạnh của nô lệ.

Vũ trụ Nhật tâm

Vào khoảng thế kỷ 3 TCN, nhà thiên văn học người Hy Lạp Aristarchus của Samos đã đưa ra mô hình Nhật tâm. Theo đó, ông cho rằng Mặt trời là trung tâm vũ trụ và của Hệ Mặt trời.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Giả thuyết thiên văn này trái ngược với thuyết địa tâm, cho rằng Trái Đất nằm ở trung tâm. Tư tưởng đi trước thời đại của Aristarchus đã được Copernicus, Galileo và Kepler ủng hộ vào khoảng thế kỷ 16 và 17. Điều này dẫn đến một cuộc tranh cãi lớn về vấn đề vũ trụ học và tôn giáo.

Những bé trai ở Sparta sẽ thành chiến binh

Từ năm 7 tuổi, trẻ em ở các bang Hy Lạp sẽ bắt đầu tiếp nhận các hình thức giáo dục khác nhau.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Ở Athens, trẻ em sẽ được đi học còn bé trai sinh ra ở Sparta sẽ phải rời khỏi gia đình và đến các doanh trại. Chúng sẽ được huấn luyện trở thành những chiến binh trọn đời, chiến đấu phục vụ cho vua chúa.

Phụ nữ ở Sparta bị bắt cóc bởi chồng tương lai của họ

Trong văn hóa của người Sparta, phụ nữ sẽ được cạo đầu và ăn mặc như đàn ông trước khi được chồng tới bắt cóc (đón) về làm vợ.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Những chiến binh của Sparta vẫn sống trong doanh trại khi đã lấy vợ. Họ chỉ được đoàn tụ với với vợ con khi tròn 30 tuổi.

Phụ nữ có chồng bị cấm xem Thế vận hội

Xã hội Hy Lạp cổ đại cho rằng thể thao thể hiện sức mạnh nên chỉ dành cho nam giới nên phái yếu không được phép tham gia và theo dõi các môn thi đấu ở Thế vận hội.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Những ai bị bắt gặp sẽ bị xử tử. Đây là điều luật áp dụng cho phụ nữ đã xuất giá, có chồng con.

Sử dụng voi trong chiến tranh

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Trong cuộc chiến Pyrros vào năm 280 – 275 trước Công nguyên, người Hy Lạp đã sử dụng voi để vận chuyển và chiến đấu chống lại người La Mã. Họ sử dụng voi để tăng cường sức mạnh, gây áp đảo với đoàn quân La Mã.

Không phải bất kỳ đứa trẻ nào sinh ra cũng được nuôi dưỡng

Khi một đứa trẻ sinh ra, người cha sẽ kiểm chứng tình trạng sức khỏa và cơ thể của nó. Nếu đứa trẻ mang dị tật, yếu đuối, thậm chí là bé gái sẽ bị vứt bỏ.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Điều này rất phổ biến ở Sparta, những đứa trẻ sinh ra với điều kiện khiếm khuyết sẽ bị bỏ cho chết đói trong hang động trên núi, chúng không được phép sống.

Lông mày liền nhau được xem là điểm quyến rũ của phụ nữ

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Vào thời Hy Lạp cổ đại nếu người phụ nữ sở hữu cặp lông mày liền nhau sẽ được xem là xinh đẹp, quyến rũ.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Những ai không có đôi lông mày rậm rạp này thì sẽ dán thêm lông thú hay tô vẽ bằng bột màu.

Hôn nhân và sinh con được coi là một nghĩa vụ

Hôn nhân và việc sinh con đẻ cái được cho là một nghĩa vụ phải thực hiện đối với công dân Hy Lạp cổ đại.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Việc đại sự này sẽ do những người cha quyết định con trai hay con gái họ sẽ được gả cho ai. Độ tuổi kết hôn của phụ nữ là 14-18 tuổi còn đàn ông là khoảng 20 -30 tuổi.

Cho phép ly hôn

Ly hôn được phép xảy ra tại xã hội Hy Lạp cổ. Nếu hôn nhân tan vỡ, người chồng muốn ly hôn thì anh ta chỉ cần đuổi vợ ra khỏi nhà và phải trả lại nhà vợ toàn bộ tiền bạc, của hồi môn đã nhận khi tổ chức lễ cưới hỏi.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Còn phụ nữ muốn ly dị chồng thì cần có một nam nhân đại diện thực hiện thủ tục thay thế, thông thường người này là cha hoặc anh trai của cô ấy.

Nghĩa vụ quân sự là bắt buộc

Trong xã hội Hy Lạp cổ đại phái mạnh có quyền lựa chọn các nghề nghiệp khác nhau nhưng được coi trọng nhất là đi lính.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Ở Athens, đàn ông được yêu cần phục vụ ít nhất là hai năm trong quân đội. Tại Sparta, nam giới sinh ra được huấn luyện để thành chiến binh, họ chỉ được nghỉ hưu hoàn toàn khi đã tròn 60 tuổi.

Giáo dục phụ nữ khác xa so với nam giới

Nam giới được nhận hình thức giáo dục chính thức còn phái nữ không được học tập, họ chỉ được dạy bảo để trở thành người nội trợ, một số gia đình giàu có sẽ cho con gái học đọc hoặc viết.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Tuy nhiên ở Sparta thì khác, con trai được rèn luyện đi lính còn con gái sẽ được tiếp nhận nền giáo dục tiến bộ, được khuyến khích thể hiện bản thân trong khiêu vũ và ca hát, sáng tạo nghệ thuật hay thi đấu điền kinh.

Tục lệ cúng tế

Nghi lễ hiến tế có hai loại bao gồm: hiến tế đổ máu và không đổ máu.

Những sự thật thú vị ít ai biết về Hy Lạp cổ đại

Nghi lễ đổ máu là dùng động vật, giống đực sẽ tế các nam thần còn giống cái để tế nữ thần. Sau khi buổi hiến tế kết thúc, thịt con vật sẽ được chia cho mọi người. Nghi lễ không đổ máu sẽ dùng rau củ và ngũ cốc dâng lên, sau đó sẽ được đốt cháy.

“Lịch sử mỹ thuật Hy Lạp La Mã”

 

Designers thường xuyên phải đối mặt với nhu cầu đa dạng của khách hàng. Trong quá trình thiết kế, để đưa ra sản phẩm chất lượng, sẽ có những đề tài đòi hỏi designer phải có kiến thức về các các nền mỹ thuật, kiến trúc nhất định. Ví dụ như yêu cầu thiết kế về chủ đề Pharaoh và Cleopatra sẽ đòi hỏi designer phải có kiến thức mỹ thuật về Ai Cập. Hay một đơn đặt hàng thiết kế theo trường phái La Mã cổ đại nhưng vẫn đảm bảo tính đơn giản hiện đại thì hiểu biết về kiến trúc La Mã là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu….

Trong thực tế, cảm hứng từ những nền mỹ thuật lớn luôn quay trở lại và là đề tài, nguồn cảm hứng lớn cho các thiết kế đương đại. Kiến thức mỹ thuật càng phong phú thì ý tưởng thiết kế sẽ càng đa dạng. Ví dụ như với đề tài tạo hình game chiến binh thì hình tượng những vị thần trong thần thoại Hy Lạp cổ đại sẽ là một gợi ý thú vị. Hoặc khi khách hàng yêu cầu thiết kế bộ nhận diện thương hiệu gốm sứ cung đình, thì kiến thức mỹ thuật của các triều đại phong kiến Việt Nam sẽ là cơ sở để designer thiết kế bộ nhận diện phù hợp.

Nhằm đem đến những kiến thức mỹ thuật của các nền văn minh lớn, là nền tảng để designer thiết kế những sản phẩm đa dạng, có chất lượng cao,  Arena Multimedia tổ chức chuỗi workshop bổ trợ kiến thức cho học viên. Mở đầu chuỗi workshop bổ trợ kiến thức này là workshop:

“Lịch sử mỹ thuật Hy Lạp La Mã”

Thời gian: Sáng thứ 7 – 8h30-12h — ngày 7/11

Địa điểm : phòng hội trường tầng 4 –Arena Multimedia 80 Trúc Khê, Đống Đa, Hà Nội.

lich-su-my-thuat-hi-lap-la-ma

Tại sao lại là “Mỹ thuật Hy Lạp La Mã cổ đại”?

Mỹ thuật Hy Lạp La Mã cổ đại là một trong những nền mỹ thuật giàu giá trị và có sức ảnh hưởng to lớn đến nghệ thuật thế giới. Trên nền tảng của nghệ thuật Hy Lạp La Mã, nghệ thuật Phục hưng đã kế thừa và phát triển một cách rực rỡ, để lại những giá trị và thành tựu đặc sắc, đưa nghệ thuật Tây Âu lên tầm giá trị thời đại.

Một số di sản tiêu biểu của Mỹ thuật Hy Lạp La Mã cổ đại:

arena-multimedia-workshop-my-thuat-hllm-1

arena-multimedia-workshop-my-thuat-hllm-2

Những bức phong cảnh ấn tượng mang màu sắc thần thoại

arena-multimedia-workshop-my-thuat-hllm-3

Bích họa sự ra đời của Venus – thế kỷ 1 TCN

arena-multimedia-workshop-my-thuat-hllm-4

Colosseum – Đấu trường La Mã là một trong những công trình kiến trúc tráng lệ nhất thế giới

arena-multimedia-workshop-my-thuat-hllm-5

Đền thờ Parthenon với những nét kiến trúc tiêu biểu của nghệ thuật Hy Lạp

Đánh giá về vai trò của nghệ thuật Hy Lạp La Mã, các nhà lý luận nghệ thuật, các nhà văn hóa đều cho rằng nghệ thuật Hy Lạp cổ đại chính là thời kỳ hoàng kim của các thể loại nghệ thuật. Thẩm mỹ nhân văn và các tiêu chuẩn, đường nét, hình khối trong nghệ thuật Hy Lạp La Mã là nguồn cảm hứng bất tận cho rất nhiều nghệ sĩ trên toàn thế giới.

Workshop “Mỹ thuật Hy Lạp La Mã cổ đại?” sẽ mang đến những kiến thức dễ hiểu, cô đọng, đầy đủ và khái quát nhất về vẻ đẹp và đặc trưng của nền Mỹ thuật Hy Lạp La Mã rực rỡ xa xưa. Là nền tảng để designer thiết kế những sản phẩm đa dạng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng. Và biết đâu những kiến thức này sẽ là nguồn cảm hứng cho thiết kế tới của bạn thì sao?

arena-multimedia-workshop-my-thuat-HLLM-6

Arena Cinema sẵn sàng cho buổi Worshop diễn ra

Diễn giả lần này, Họa sĩ Nguyễn Đức Hòa có gì đặc biệt?

Bác Nguyễn Đức Hòa là:

– Nhà nghiên cứu lịch sử Mỹ thuật hàng đầu Việt Nam.

– Cựu giảng viên các trường: Đại học Mỹ thuật Hà Nội, Trường Đại học Mỹ thuật Tp Hồ Chí Minh Trường ĐH Sân khấu Điện ảnh….

– Giám khảo uy tín trong giới nghệ thuật,

– Nhà biên soạn sách nổi tiếng,

– Nhà cố vấn trang phục dựng film hàng đầu Việt Nam

– Một trong những họa sĩ đương đại Việt Nam xuất sắc nhất!

Vì số lượng ghế ngồi có hạn, nên bạn nhớ đăng ký ngay với phòng đào tạo để “xí” chân nhé!

(Phương Dung)

Leave your Comment