HIV AIDS là gì 462

Mục lục

NGUY CƠ NHIỂM HIV/AIDS VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA ĐỐI VỚI NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI CƠ SỞ

 

 Đặt vấn đề
Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới cũng như tại Việt Nam ngày một gia tăng. Trong khi chưa có vaccine phòng ngừa cũng như thuốc điều trị đặc hiệu thì một trong những vấn đề thời sự cần quan tâm hiện nay là làm thế nào giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm nhất là đối với các cán bộ y tế làm việc trong môi trường chăm sóc sức khỏe đều có nguy cơ bị lây nhiễm HIV/AIDS cao.Điều này cũng được thấy rõ đối với cả những nhân viên y tế trong việc phục vụ, thăm khám, tiếp nhận, chăm sóc bệnh nhân tại cơ sở điều trị bệnh tâm thần.Thực hiện chủ trương quy định của Bộ y tế về việc các cơ sở y tế trong cả nước bao gồm cả các bệnh viện chuyên khoa sâu đều phải có trách nhiệm trong việc tiếp nhận và điều trị những bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS có các bệnh cơ hội kèm theo trong đó có những bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS có những biểu hiện rối loạn tâm thần.

Chưa có thống kê nào chỉ rõ tỷ lệ phơi nhiễm HIV/ADS đối với nhân viên y tế trong ngành tâm thần cả nước nói chung và Bệnh Viện Tâm Thần Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng. Một điều nhận thấy là hàng ngày  số lượng bệnh nhân rối loạn tâm thần đến khám và điều trị ngày một gia tăng. Khó mà có thể phát hiện đối tượng bị nhiễm HIV/ADS trên những bệnh nhân rối loạn tâm thần trừ khi thân nhân bệnh nhân hoặc tự chính bản thân bệnh nhân khai báo khi trình kết quả thử Test HIV (+) tại cơ sở khám chuyên khoa cũng như việc phát hiện chỉ được thực hiện khi bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh Viện Tâm Thần khi có chỉ định của Bác sĩ cho tiến hành thử Test nếu nghi ngờ nhiễm HIV, đặc biệt trên các đối tượng nghiện ma tuý (chích), mại dâm, nghiện rượu, bệnh nhân tâm thần đi lang thang bị lạm dụng tình dục (cưỡng hiếp), bệnh nhân phẫu thuật có truyền máu kèm rối loạn tâm thần.

II.    Phân loại

2.1 Những bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS kèm rối loạn tâm thần

Đặc điểm:
+ Ở những bệnh nhân trên thường gặp ở các đối tượng : Nghiện ma tuý, các chất kích thích có sử dụng kim tiêm (chích chung), đồng tính luyến ái, lây truyền qua truyền máu, các vật sắc, nhọn và không được vô trùng (dụng cụ nha khoa, dụng cụ cắt móng tay và thẩm mỹ).
+    Những đối tượng trên sau khi xét nghiệm có kết quả HIV(+) và kể cả tiến triển tiếp theo thì ở những bệnh nhân này sẽ xuất hiện nhiều biến đổi tâm lý và tình trạng rối loạn tâm thần : Nhẹ thì lo lắng, hoảng hốt, buồn chán, thất vọng. Nặng thì la hét, kích động, hoảng loạn, thậm chí có hành vi tự sát.

2.2 Những bệnh nhân rối loạn tâm thần bị phơi nhiễm HIV.

Đặc điểm :
+    Những đối tượng trên thường gặp trong
– Tâm thần phân liệt : Hay gặp thể hoang tưởng (hoang tưởng được yêu F20.0-ICD 10), thể di chứng (F20.5 – ICD 10), có thể những bệnh nhân trên  do không được quản lý tốt hay đi lang thang dễ bị lạm dụng tình dục bởi những đối tượng nhiễm HIV.
– Rối loạn khí sắc giai đoạn hưng cảm. Trong cơn dễ đưa đến quan hệ tình dục không an toàn với những đối tượng nhiễm HIV.
– Bệnh nhân lạm dụng chất kích thích dễ đưa đến rối loạn tâm thần và trong cơn dễ sử dụng chất ma tuý qua đường chích mà phổ biến là sử dụng kim chung.
– Bệnh nhân rối loạn tâm thần do rượu có quan hệ với gái mại dâm nhiễm HIV.

2.3 Đối với nhân viên y tế làm việc tại cơ sở điều trị nội trú bệnh tâm thần

Đối tượng không chừa một ai, dễ nhận ra thấy đó là :
a.    Nhân viên bảo vệ : Là người trực tiếp trợ giúp cho thân nhân, thầy thuốc trong việc áp lực đưa bệnh nhân khám bệnh, kể cả cố định khi bệnh nhân tâm thần nhiễm HIV lên cơn kích động giãy giụa.

b.    Hộ lý : Là người trực tiếp chăm sóc, vệ sinh, ăn uống cho bệnh nhân  tâm thần nhiễm HIV theo chỉ định của thầy thuốc. Nguy cơ lây nhiễm qua sự cọ xát, trầy xước da, cơ thể khi bệnh nhân kích động, vùng vẫy.

c.    Điều dưỡng : Nguy cơ trong việc tiêm chích thuốc, truyền dịch do sơ xuất để kim đâm vào tay, do các sản phẩm tiết dịch, máu, bắn vào mắt, da.

d.    Bác sĩ :Do khi tiếp xúc thăm khám bệnh nhân
-trên đây là những nhận định chủ quan qua thực tế điều trị. Việc rút ra nhận xét cụ thể cần có nghiên cứu kỹ hơn trong thời gian tới.

III.Điều trị dự phòng đối với nhân viên y tế khi bị phơi nhiễm HIV

1.Nguyên tắc chung ;
+    Tư vấn cho người bị phơi nhiễm với máu, dịch cơ thể có nguy cơ lây nhiễm của người HIV (+).
+    Cần lấy máu thử ngay HIV và điều trị ngay không cần chờ kết quả xét nghiệm.
+    Thử lại HIV sau khi dùng thuốc 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng.
+    Tổn thương không làm xây sát da không cần điều trị mà chỉ cần rửa sạch da.

2.Phương hướng điều trị :
Điều trị nhằm mục tiêu :
+    Điều trị kháng retro virus (kháng HIV)
+    Điều trị chống nhiễm trùng cơ hội.
+    Chăm sóc, dinh dưỡng, nâng cao thể trạng.
Đánh giá mức độ phơi nhiễm và xử lý vết thương tại chỗ :

2.1.Đánh giá tính chất phơi nhiễm :

a.Kim đâm :
+    Cần xác định vị trí tổn thương.
+    Xem kích thước kim đâm (nếu kim to và rỗng thì nguy cơ lây nhiễm cao).
+    Xem độ sâu của vết kim đâm.
+    Nhìn thấy chảy máu khi bị kim đâm.

b.Da bị tổn thương từ trước và niêm mạc.
Da có các tổn thương do : Chàm, bỏng hoặc bị viêm loét từ trước.
Niêm mạc mắt hoặc mũi họng.

2.2 Xử trí ngay tại chỗ :
+    Da : Rửa kỹ bằng xà bông và nước sạch nên dùng xà bông lỏng hơn xà bông rắn để rửa tay.
+    Sau đó sát trùng bằng dung dịch Dakin hoặc nước Javel pha loãng 1/10 hoặc cồn 70? để tiếp xúc nơi bị tổn thương ít nhất 5 phút.
+    Mắt : Rửa mắt với nước cất hoặc huyết thanh mặn đẳng trương (0,9%), sau đó nhỏ mắt bằng nước cất liên tục trong 5 phút.
+    Miệng, mũi : Rửa mũi bằng nước cất, súc miệng bằng huyết thanh mặn đẳng trương (0,9%).

3.Điều trị dự phòng :
a.Thời gian điều trị tốt nhất là ngay từ những giờ đầu tiên (2 –3 giờ sau khi xảy ra tai nạn), muộn nhất không quá 7 ngày.

b. Nếu tổn thưởng chỉ xây xước da không chảy máu hoặc dịch máu của bệnh nhân bắn vào mũi họng thì phối hợp 2 loại thuốc trong thời gian 1 tháng. Các thuốc thuộc nhóm Nucleoside ức chế men sao chép ngược – NRTIS như Zidovudine (ZDV, AZT), Lamivudine (3TC) hoặc nhóm không phải nucleoside ức chế men sao chép ngược – NNRTIS) như Nevirapine (Viramure).

c. Nếu tổn thương sâu, chảy máu nhiều thì phối hợp 3 loại thuốc trong    thời gian 1 tháng nhất là tiếp xúc với nhiều máu có lượng HIV lớn. Có thể điều trị sau thời kỳ dài hơn khoảng 1 đến 2 tuần trong trường hợp nguy cơ lây nhiễm cao. Trong những trường hợp đó dù có thể không đề phòng được sự lây nhiễm HIV nhưng điều trị có thể làm giảm mức độ trầm trọng của các triệu chứng và làm chậm tiến triển bệnh. Điều cần nhớ là những hiểu biết về những loại thuốc dùng để khống chế nhiễm HIV thay đổi rất nhanh. Vì vậy chỉ nên dùng thuốc sau khi hỏi ý kiến bác sĩ được đào tạo và đã có kinh nghiệm điều trị một số bệnh nhân nhiễm HIV tại cơ sở chuyên khoa và điều trị bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS.

-Theo dõi sau tiếp xúc nghề nghiệp với nhiễm HIV là rất quan trọng. Cần làm xét nghiệm máu tìm kháng thể kháng HIV ngay sau khi tiếp xúc và cứ 6 tuần 1 lần – cho tối đa 6 tháng sau khi tiếp xúc. Điều này có thể phát hiện kháng thể sớm nhất trong trường hợp bị nhiễm. Đối với trường hợp dùng thuốc dự phòng nhiễm HIV sau tiếp xúc thì nên làm xét nghiệm máu trước khi bắt đầu điều trị và 2 tuần sau đó. Điều này nhằm tìm ra phản ứng phụ của thuốc nếu có. Điều không nên làm là cho máu trong khoảng từ 6 – 12 tuần sau khi tiếp xúc nghề nghiệp với HIV. Những người này cũng nên dùng bao cao su mỗi lần sinh hoạt tình dục để đề phòng lây nhiễm cho bạn tình.

IV.Các biện pháp phòng ngừa chung :
Các biện pháp phòng ngừa chung cần được thực hiện mọi lúc vì khó có thể biết ai là người nhiễm HIV khi chỉ nhìn bề ngoài.

Để đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế và thân nhân chăm sóc.

a.    Bệnh nhân AIDS, người nhiễm HIV kèm rối loạn tâm thần khi nhập viện vào điều trị nội trú cần để ở buồng riêng tuỳ đặc thù ở từng khoa với số lượng bệnh nhân nhiều hay ít. Mọi dụng cụ sinh hoạt cũng như dụng cụ chuyên môn phải được dùng riêng.

Cần hạn chế bệnh nhân tiếp xúc với người bệnh tâm thần khác khi không cần thiết. Chú ý cách ly để ngăn ngừa sự lây lan chứ không cách ly người bệnh.

Khuyến khích thân nhân đến chăm sóc người bệnh.

Không có chỉ định dùng riêng sách báo, bàn ghế, chén (bát) đũa.

b.    Đối với nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân :

–    Có nhân viên điều dưỡng, hộ lý chuyên khoa tâm thần được phổ biến kiến thức về nhiễm HIV/AIDS biện pháp chăm sóc và phòng ngừa.

–    Bao giờ cũng phải rửa tay trước và sau khi tiếp xúc trên người bệnh nhân.

–    Đi găng tay khi tiếp xúc với máu và các bệnh phẩm khác. Găng tay dùng một lần và đương nhiên cũng phải rửa tay trước và sau khi tháo găng tay.

–    Khi bị xây xát da hoặc nhiễm bệnh phẩm có máu dính vào phải rửa tay ngay bằng xà phòng (xà bông, cồn 70 hoặc cồn Iode).

–    Không được chuyền các dụng cụ sắc từ tay này sang tay khác. Đặt các dụng cụ đó lên mặt phẳng sao cho người khác không bị đâm phải.

–    Không cầm kim tiêm bằng tay, không sấy lại kim tiêm.

–    Không thổi ngạt bằng miệng -miệng.

c.    Thân nhân chăm sóc bệnh nhân phải được phép của chuyên môn. Người chăm sóc cần được đi găng đeo khẩu trang như nhân viên. Những người chăm sóc và nhân viên y tế trực tiếp phục vụ mà đang mang thai phải hết sức chú ý.

d.    Nhân viên trực tiếp phục vụ bệnh nhân, thân nhân chăm sóc phải được định kỳ kiểm tra HIV.

2    Ngăn ngừa lây truyền HIV sang đối tượng khác trong cơ sở điều trị.

2.1    Sử dụng máu và các chế phẩm của máu :
–    Hạn chế tối đa truyền máu và các dịch thay thế máu.
–    Kiểm tra HIV của người cho máu.
–    Chấp hành nghiêm túc các qui định của phòng truyền máu.
–    Cấm dùng máu, mô cơ quan, tinh dịch, nhau thai của người nhiễm HIV.

2.2    Sử dụng các dụng cụ trong chẩn đoán và điều trị :
–    Hạn chế tiêm truyền cho bệnh nhân. Đối với bệnh nhân nhiễm HIV kèm rối loạn tâm thần khi truyền dịch nếu có chỉ định để giúp nâng thể trạng cần cố định thật tốt mới tiêm truyền. Khi cần phải kim, bơm tiêm sử dụng một lần. Không dùng bấm tự động để lấy máu (dụng cụ dùng cho nhiều người). Nhân viên xét nghiệm khi lấy máu kể cả khi dùng pipet lấy máu phải dùng quả bóp, không dùng miệng hút. Không dùng kim châm cứu cho bệnh nhân nhiễm HIV.

–    Sàn nhà, mặt bàn bị thấm chất bài tiết của bệnh nhân hoặc máu thì phải đổ thuốc sát trùng phủ kín chổ đó rồi lau sạch bằng vải hoặc giấy thấm, sau đó cọ rửa bằng xà bông.

–    Đồ vải mà bệnh nhân sử dụng phải được thu lại rồi bỏ vào trong túi nilon và xử lý bằng hóa chất 20 phút trước khi gửi xuống nhà giặt.

–    Bông băng gạc sau mỗi lần dùng đều phải đem đốt, không hấp lại.

2.3    Lấy bệnh phẩm và vận chuyển bệnh phẩm :
–    Chỉ có nhân viên được giao trách nhiệm mới được lấy máu xét nghiệm HIV.
–    Phải có lọ bệnh phẩm riêng.
–    Bệnh phẩm được để trong hộp kín có nắp đậy chắc chắn khi vận chuyển.
–    Các thông tin về người xét nghiệm phải được giữ bí mật.

3    Xử lý và khám nghiệm tử thi :

3.1    Ở khoa nội trú :
–    Rửa tử thi bằng Na Hypochlorite 0,5% (thực tế rất khó thực hiện). Nhét bông vào các lỗ tự nhiên.
–    Bọc tử thi bằng vải niệm trắng, bọc nilon vàng ở ngoài.
–    Đưa tử thi vào túi nilon bịt kín.
–    Xe chở thi hài phải trải nilon, sau đó nilon để lại nhà xác.
–    Nhân viên làm công tác tử thi: đội mũ, khẩu trang, đeo găng, đi ủng, quần áo công tác.

3.2    Ở khoa giải phẫu bệnh lý :
–    Không mổ tử thi bệnh nhân AIDS.
–    Thiêu là tốt nhất.
–    Nếu cần mổ  tử thi thì :
+ Vải liệm và nilon vàng mở ra trên bàn mổ
+ Nhân viên mổ  xác có áo riêng.
+ Mổ  xong bọc thi hài bằng vải liệm trắng và nilon vàng, cho vào túi nilon trong.
+ Ngâm mẫu bệnh phẩm trong dung dịch cố định để lưu, không quá 48 giờ.

3.3    Khử trùng tẩy uế :
–    Dụng cụ mổ  xác : Rửa xà bông, tiệt trùng.
–    Tường, sàn bàn mổ : Lau dung dịch sát trùng chờ 60 phút mới cọ rửa.
–    Đồ  vải đưa vào túi nilon để xử lý riêng.

4    Tiệt khuẩn môi trường và các dụng cụ y tế sử dụng phục vụ bệnh nhân HIV/AIDS.

4.1    Phương pháp khử khuẩn :
a.Hơi nước (hấp bằng nồi hơi tự động) thích hợp cho các dụng cụ có thể dùng lại được.
–    Thời gian tối thiểu 15 phút kể từ khi các dụng cụ hấp đạt 121?C.
–    Nồi hấp không quá đầy.
–    Các nồi hấp phải được kiểm tra hiệu lực thường kỳ dựa theo các chỉ số sinh học.

b.Sấy khô : Khử khuẩn bằng nhiệt nóng khô là phương pháp thích hợp đối với các dụng cụ chịu được nhiệt độ 170?C, không phù hợp với các dụng cụ nhựa.

V.    Kết luận và đề nghị
–    Cần nâng cao sự hiểu biết về nguy cơ phơi nhiễm HIV đối với các cán bộ y tế làm việc trong môi trường chăm sóc sức khỏe tâm thần.
–    Có thái độ xử trí đúng và kịp thời khi bị lây nhiễm máu, vật phẩm của máu, sây sát kim tiêm qua da.
–    Cần tham vấn thường xuyên bởi Bác sĩ chuyên khoa điều trị về HIV/AIDS để tránh lo lắng, hoang mang cho nhân viên y tế.
–    Điều trị tích cực, kiểm tra máu định kỳ, tăng cường luyện tập để nâng cao sức đề kháng của cơ thể, phòng các bệnh cơ hội nhiễm trùng kèm theo.
–    Cần có chế độ chính sách đãi ngộ, chế độ bảo hiểm y tế đối với nhân viên y tế làm việc ở môi trường trên.

Tài liệu tham khảo :

1.  Bộ Y Tế (2000), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị nhiễm HIV/AIDS, NXB Y Học, Hà Nội, Tr. 25 – 27.
2.    Bộ môn truyền nhiễm (2002), Nhiễm HIV/AIDS – Học Viện Quân Y, NXB Y Học, Tr. 362 – 380.
3.    Hướng dẫn tham vấn về nhiễm HIV và bệnh SIDA (1993),Uy ban phòng chống SIDA, TP.HCM, tr.44-50.
4.    Nguyễn Hữu Chí (1996), Nhiễm HIV/AIDS, NXB TP.HCM, Tr. 55 – 60.
5.    Savitriramaiah – HIV&AIDS, NXB Tổng Hợp TP.HCM, Tr. 65 – 66.

Lúa mì, tác dụng chữa bệnh của Lúa mì

 


Tên khác

Tên thường gọi: Lúa mì còn gọi là Lúa miến.

Tên khoa học: Triticum aestivum L. (T. satiuum Lam.)

Họ khoa học: thuộc họ
Lúa – Poaceae.

Cây Lúa mì

(Mô tả, hình ảnh cây Lúa mì, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý…).

Mô tả:

Cây thảo sống hằng năm,
rễ hình sợi. Thân cao 0,8-1,5m, thẳng đứng, nhẵn, mọc thành
cụm thưa. Lá phẳng, hình mũi mác hay hình dải rộng, nhọn đầu,
bẹ nhẵn, lưỡi bẹ ngắn, nhụt. Cụm hoa là bông dày đặc, các
bông nhỏ đơn độc, xếp lợp trên cả hai mặt đối diện của cuống
chung, mang 3-5 hoa (thường là 4) mà hoa ở đỉnh không sinh
sản. Mày hình bầu dục rộng; mày hoa không đều nhau. Quả hình
bầu dục hay thuôn có lông ở đỉnh.

Bộ phận dùng:

Hạt – Semen
Tritici.

Nơi sống và thu hái:

Cây gây
trồng ở miền núi để lấy hạt làm lương thực, làm bánh; thân
lá dùng để nuôi súc vật hoặc để bện mũ, nón.

Thành phần hoá học:

Trong 1kg
hạt có 0,03mg Al2O3. Hạt còn chứa Mg, Mn, Zn, Fe, Cu. Cây
tưới chứa 0,02% acid oxalic.

Các chất khoáng: Ca, Mg, p, Fe, Na, K, Zn, V, Cu, s, Cl, Si, Be, Cd, Cr, Mn. Mo, Ni, Sr, T, Co và phytin – phospho các enzym: a – amylase, proteinase, peptidase, asparagin – synthetase, cytindin – deaminase, oxidase, lipoxidase, CO – enzym, acid glutamic decarboxylase (CA. 1976, 85, 37259.x).

Các vitamin: caroten, thiamin, riboflavin, acid nicotinic, cholin, tocophenol, xanthophyl (lutein). Các carbohydrat như tinh bột, cellulosa, hemicellulosa, levosin, sorleosa (CA, 1976, 85, 23392v).

Các protein như cytochrom c (một loại haemoprotein) các acid amin như: arginin, histidin, isoleucin, leucinlysin, methionin, phenylalanin, valin, threonin, tryptophan, adenin tyamin, cholin, betain.

Các chất màu: carotenoid. p – caroten (CA 1977,86, 111187m). Một lượng nhỏ flavonoid như: flavonoid A,B, tricin (5, 7, 4 – trihydroxy – 3, 5 – dimethyiflavon, rhodiolosid ranunculin, luteolin – c – glucosid (CA, 1964, 61, 218211), polysaccharid và phytosterol (CA, 1965, 63, 6016h) [Nayudamma Y et al., 1976, The wealth of India, vol. 10, p.360]; [Giang Tô tân y học viện 1975, Trung dược đại từ điển quyện I, tr. 422, 423, 448, 2284 quyển II, tr.2251, 2257, 2327, 1012, 1117, 1483, quyển IIl.tr. 1246, 1477, 1481].

Vị thuốc Lúa mì

(Tính vị, quy kinh, công dụng, liều dùng)

Tính vị, tác dụng:

Vị ngọt,
tính mát; có tác dụng làm mát, bổ, làm béo, tạo cảm giác
ngon miệng.

Công dụng:

Dùng chữa ỉa chảy
đi tiêu lỏng; rang lên sắc uống thì giải khát khỏi phiền
nhiệt. Thường dùng trong các trường hợp rối loạn chung về
sức khoẻ.

Ứng dụng lâm sàng chữa bệnh của Lúa mì

Chữa tiêu chảy ra nước

Bột mì rang cháy uống với nước cơm, hay với nước chè, liều lượng không hạn chế.

Chữa trẻ em ỉa
chảy kéo dài hay người tỳ hư đi tiêu lỏng, dùng bột Mì nấu
cháo hay làm bánh cho ăn.

Chữa trẻ em tiêu chảy kéo dài

Hạt lúa mì, ý dĩ, đều sao, sắc uống thay nước, hoặc tán bột, cho ăn hàng ngày thì khỏi [Lê Trần Đức, 1997: 1085-1087].

Tham khảo

Theo kinh nghiệm của nhân dân Tunisi, dùng rạ lúa mì sắc uống làm gầy người, sút cân [Lê Trần Đức, 1997: 1085-1087],

Theo kinh nghiệm của nhân dân Ấn Độ, hạt lúa mì có tác dụng làm mát, chứa dầu; bổ, tăng dục, nhuận tràng, làm cho béo, làm tăng sự ngon miệng và vị giác, có tác dụng trị đa tiết mật. ở Trung Quốc, hạt rang lên được coi là có tác dụng trị chứng ra nhiều mồ hôi, đặc biệt trong bệnh lao phổi ở phụ nữ [Kiritkar K.R. et al., 1998: 2700 – 2701],

Trong y học dân gian Italia, mầm lúa mì hâm trong dầu ô – liu, được dùng ngoài, xoa trên da đầu để chữa chứng rụng tóc (De Feo v., 1992). Hạt lúa mì sao cháy được dùng uống trị ho. Cám lúa mì sắc với nước hoặc ngâm trong nước lạnh, lấy nước bôi trên da trị viêm da. Hạt rang nóng, bọc trong gạc đắp trị bệnh khớp. Hạt lúa mì còn được dùng trị viêm họng (Pieroni A. et al., 2002; 2004; 2005). Nước sắc cám lúa mì dùng để rửa và tẩm gạc đắp với giấm trị bong gân. Bột lúa mi trôn với nước hoặc dầu ô – liu và đẳp để trị viêm đầu ngón tay, bỏng và vết thương. Dầu mầm lúa mì trộn với mật ong bôi lên vết bỏng làm mau lên sẹo vết bỏng. Đe một ít bột mì lên bụng ướt, hoặc uống bột mì hoà trong nước mỗi buổi sáng trong 5 ngày để làm giảm đau dạ dày, có tác dụng làm mát. Nhai bánh mì trong thời gian lâu và đắp lên đề hút mủ. Mành vụn bánh mì được tẩm ướt và đắp trị viêm tấy lợi. Hạt lúa mì nhai rồi đắp lên trên gai đâm ở da để lấy gai ra. Đắp bột mì với mạng nhện trị vết thương. Cho bò cái ăn cám lúa mì để tăng tiết sữa (Gwarrera P.M et al., 2005a; 2005b).

Hạt và cám lúa mì được dùng ngoài làm thuốc giảm đau. Đun cám với nước và giấm, bọc trong một miếng vài lanh để đắp. Đắp bột mì trên vết bỏng da. Trộn bột mì với mật ong và bôi để làm mụn mưng mù (Sherrer A.M et al., 2005). Lúa mì được dùng trong thú y để chữa bệnh đường tiêu hoá, bệnh về bộ máy vận động, bệnh da và vết thương và rối loạn sinh sàn ở gia súc (Uncini Manganelli R.E et al., 2001; Viegi L. et al., 2003).

Trong y học dân gian Israel, chồi cây lúa mì được dùng trị ung thư. sắc 200g chồi non trong một lít nước và uống mỗi lần 200ml, ngày 3 lần. Hạt lúa mì trị thiểu máu, sắc lOOg hạt, đun sôi trong một lít nước trong một giờ và uống mỗi lần 150 ml, mỗi ngày 3 lần. Hạt còn được dùng trị bệnh da; ngâm hạt trong nước trong một giờ rồi đắp vào vùng bị bệnh (Said o. et al., 2002).

Trong y học dân gian Tây Ban Nha, bánh mì nướng được dùng trị giun sán, để thanh lọc máu (dùng ăn) và để trị bệnh trĩ (dạng thuốc rửa) (Agelet A. et al., 2003). Trong thú ý, cám lúa mì được dùng làm thuốc sát trùng và chống viêm cho bò cái sau khi đẻ, dưới dạng nước sắc cùng với một số dược thảo (Bonet M.A et al., 2007).

Trong y học dân gian Croatia, hỗn hợp bột mì, bơ, trứng, đường và nước được nướng và ăn để lợi sữa. Quấy chín bột mì với sữa cho trẻ con ăn có tác đụng bổ (Pieroni A et al., 2003). Ở Arghentina nhân dân dùng bột mì để trị bướu cổ, để 3 thìa bột mì vào một miếng vải, rồi buộc chặt vào xung quanh phần trên của cổ, sao cho bột mì tiếp xúc trực tiếp với da. Thay bột mì hàng ngày cho tới khi khỏi. Đề gây nôn, trộn 3 thìa bột mì với 3 thìa sữa trong một cái bát, uống hỗn hợp này cho tới khi nôn (Scarpa G.F et al., 2004).

Nơi mua bán vị thuốc Lúa mì đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc Lúa mì ở đâu?

Lúa mì là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc Lúa mì được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc Lúa mì tại Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn:Gọi 18006834 để biết chi tiết

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Cơ sở 1: Số 482, lô 22C, Lê Hồng Phong, Ngô Quyền, Hải Phòng

Tag: cay Lua mi, vi thuoc Lua mi, cong dung Lua mi, Hinh anh cay Lua mi, Tac dung Lua mi, Thuoc nam

Thaythuoccuaban.com Tổng hợp

*************************

Các Vua Hùng khai sáng nghề trồng lúa nước

 

PTO-Nghiên cứu các dân tộc thời nguyên thủy, ta thường thấy nguồn thức ăn do thiên nhiên mang lại quyết định địa bàn sinh tụ. Khi bước ra khỏi cuộc sống nguyên thủy, con người tự chủ nguồn thức ăn thì điều kiện để sản xuất trở nên quyết định.

Truyền thuyết vua Hùng chọn đất đóng đô chính là phản ánh quá trình tìm kiếm môi trường trồng trọt cây lương thực, cuối cùng đã định cư ở vùng ngã ba sông Hồng – Lô – Đà để phát triển cây lúa nước, dùng cánh Đồng Lú 50 mẫu để huấn luyện cho dân (nay thuộc xã Minh Nông  thành phố Việt Trì). Trong khi dân tộc Lạc Việt tìm cách sử dụng các cánh đồng ngập nước quanh năm để cấy lúa đạo, thì dân tộc Hán quê hương ở vùng Thiểm Tây (phía Tây Bắc nước Trung Hoa) lại chuyên trồng  lúa tắc (tức lúa mì) trên đất khô.

Cách đây gần 5000 năm, tổ tiên ta tìm cách đưa cây lúa xuống đồng nước đáp ứng nhu cầu sinh lý của cây lúa là nước, lại hấp thu được mầu mỡ của đất bùn, không bị cỏ cây lấn lướt, nên đã cho mùa màng tươi tốt bội thu. Chính cây lúa nước đã mở ra thời đại Hùng Vương với dòng Vua làm ruộng Lạc.

Đồng điền tự nhiên thời trước chủ yếu là ruộng chiêm quanh năm ngập nước, có loại ngâm khá sâu gọi là chiêm trũng.

Ruộng chiêm này hồi đầu công nguyên người Hán sang đô hộ nước ta, gọi là ruộng Lạc. Tiếng Việt cổ phát âm nước là nác, ruộng nước = ruộng nác. (Đồng bào Mường vẫn còn gọi nước là nác). Người Hán cho đó là tên của ruộng nên phiên âm là Lạc điền. Từ Lạc điền mà họ gọi dân là Lạc dân, quan là Lạc tướng Lạc hầu, vua là Lạc vương.

Ở một số di chỉ Phùng Nguyên cách nay 4500 năm các nhà khảo cổ tìm thấy trấu thóc thành than. Đặc điểm là các di chỉ Hùng Vương đều nằm bên cạnh cánh đồng chiêm, nói cách khác ở nơi nào có đồng chiêm thì mới tìm thấy di chỉ Hùng Vương. Đặc điểm thứ hai là, hiện vật trong các di chỉ dù hết sức phong phú, số lượng rất lớn, nhiều chủng loại như đồ chặt cắt, đồ bếp núc, đồ trang sức… nhưng hoàn toàn vắng bóng công cụ vỡ lật đất như cầy cuốc. Lý do là thời Hùng Vương chỉ làm  ruộng chiêm quanh năm ngâm nước bùn ngấu, không cần đến nông cụ vỡ lật đất. Người ta chủ yếu dùng trang cào bằng tre gỗ do người kéo, hoặc bừa tre gỗ do trâu bò kéo, lướt qua dăm ba lượt cho sục bùn phẳng phiu rồi cấy. Dân cư ở liền kề với cánh đồng để tiện sản xuất và đánh bắt tôm cá cua ốc.

Nhờ làm ruộng Lạc dễ dàng năng suất cao mà dân ta no nê sung túc. Từ đó đẩy mạnh các nghề thủ công như đồ đá, đồ gốm, đồ gỗ , đồ đan lát tre nứa, dệt vải, đúc đồng, đóng thuyền đi sông biển. Đời sống tinh thần được nâng cao, phong tục tập quán, tín ngưỡng hội hè tết nhất nẩy sinh, hoạt động văn nghệ thể thao sôi nổi. Cuộc sống vui tươi ấy còn để lại dấu vết trên các di vật khảo cổ. Đồ gốm rất nhiều kiểu dáng, bề ngoài trang trí tới 35 mẫu hoa văn. Trống đồng, thạp đồng đầy hình họa chim thú và hoa văn hình học, đặc biệt là những mảng khắc chìm người hóa trang áo dài cách điệu nhẩy múa trên thuyền lớn. Đồ trang sức bằng đá ngọc hết sức tinh xảo gồm vòng tay, hoa tai, hạt chuỗi đeo cổ có rất nhiều trong các điểm được khai quật. Dựa vào sự thật lịch sử, người Việt cổ sáng tác ra các câu chuyện pha trộn với thần thoại như Thánh Gióng, Trầu Cau, Bánh dầy bánh chưng, Dưa hấu, Sơn Tinh Thuỷ Tinh… được lưu truyền qua mấy nghìn năm đến tận bây giờ.

Bộ lạc Văn Lang giầu mạnh, nhân dân sống no đủ hòa thuận, có sức hấp dẫn lớn đối với các bộ lạc xung quanh. Đó là điều kiện thuận lợi để Vua Hùng đứng lên thống nhất 15 bộ lạc thành lập nước Văn Lang, mà không qua chiến tranh thôn tính như nhiều nước khác trên thế giới.

Muốn sử dụng được đồng chiêm vào sản xuất lúa, ít nhất phải giải quyết được hai vấn đề: Làm thế nào đưa được hạt giống xuống đồng ruộng ngâm nước; làm thế nào kết hợp được điều kiện khí hậu thuỷ văn rất phức tạp nhưng lại rất có lợi với sinh trưởng của cây lúa chiêm.

Hai vấn đề này đã được Vua Hùng xử lý và để lại kinh nghiệm  cho dân ta. Thứ nhất là đem gieo hạt thóc trên cạn cho mọc thành cây mạ cao, rồi mới đem mạ cấy xuống ruộng nước. Thứ hai là tính toán áp thời vụ vào chu kỳ vận động của thiên nhiên, như câu sách cổ nói: “Theo nước triều lên xuống mà làm”. Tức là theo mùa lũ lụt và mùa khô cạn của các con sông Hồng, Lô, Đà, mà gieo mạ cấy lúa.

Cứ đến tháng 6 âm lịch là lũ lụt tràn về túa vào đồng, cơn này rút đi cơn khác lại về. Sang tháng 9 là hết lũ, sông cạn nước trong đồng rút ra để lại phù sa và tôm cá, rạ vụ đều ngấu thành bùn. Đợi đến tháng chạp đánh trâu ra đồng bừa cấy, hộ nghèo thì dùng trang cào đẩy. Ruộng sâu nước thì cấy giống chiêm bầu dài ngày trong tháng một, ruộng nông nước thì cấy giống chiêm chanh ngắn ngày hơn trong tháng chạp. Phải cấy xong trước tết để lúa trỗ vào trung tuần tháng 3 mới chắc hạt, giỗ sớm quá sẽ bị lép. Bằng giá nào cũng phải gặt gọn trong thời gian cuối tháng 4 đầu tháng 5 Có câu “Xanh nhà hơn già đồng”. Tất cả những kinh nghiệm canh nông này được Vua Hùng đúc kết đặt thành lịch thời vụ: Mở đầu vụ cấy đầu tháng một, khoá vụ cấy cuối tháng chạp. Sang tháng giêng là tết nhất chơi bời.

Vua còn quan sát bầu trời, chiêm nghiệm thấy chòm sao Thần Nông hình người đội nón xuất hiện ở phía Tây Nam bầu trời vào đêm rằm tháng 8, nếu hiện ra rõ ràng lấp lánh thì vụ chiêm đó được mùa, nếu lu mờ là mất mùa. Vì vậy Nhà vua lập đàn cầu cúng bên bờ Đồng Lú, quan niệm chòm sao đó là ông Thần Nông ở trên trời hộ mệnh cho cây lúa. Đàn này nhìn về hướng Tây Nam, phương vị của chòm sao Thần Nông. Vua lấy ngày mồng 1 tháng giêng làm lễ cầu ở đàn Thần Nông và mở đầu vụ cấy.

Sau khi triều đại Hùng Vương kết thúc, nhân dân làng Lú tiếp tục duy trì tín ngưỡng Thần Nông, cứ đến ngày mồng 1 tháng giêng âm lịch, ra đàn cầu cúng. Cầu xong ông chủ tế giả làm Vua Hùng lội xuống ruộng cấy mấy con mạ, để dân làng về ruộng nhà mình cấy theo lấy khước. Từ ngày giờ này mở đầu vụ cấy chiêm. Về sau do nhu cầu lương thực đòi hỏi, dân làng Lú làm thêm vụ lúa mùa, cũng cầu Thần Nông ở đàn này và làm hèm Vua Hùng dạy dân cấy lúa vào ngày mồng 1 tháng 6, mở đầu vụ cấy mùa.

Cách đây hơn ba mươi năm, chúng tôi đã điều tra trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phú (cũ), thấy rằng hầu hết các làng xã từ đồng bằng đến miền núi Thanh Sơn, Yên Lập, đều có đàn cầu Thần Nông bên cạnh cánh đồng lớn, hàng năm làm lễ xuống đồng. Có làng làm lễ cả hai vụ chiêm và mùa, có làng chỉ làm vụ chiêm. Một số làng không có đàn Thần Nông, nhưng vẫn giữ lệ, đến vụ cấy ông từ làm ván xôi con gà cúng ở đình, rồi ra thửa ruộng trước cửa đình cấy vài chục khóm mạ làm hèm, để mở đầu vụ cấy cho dân làng.

Từ đàn Thần Nông gốc tại Đồng Lú do Vua Hùng sáng lập đã lan tỏa cùng với kỹ thuật gieo mạ cấy lúa nước ra xung quanh, đến tận những vùng xa xôi. Nói cách khác, ở nơi nào cấy lúa nước thờ Thần Nông thì nơi đó đã tiếp thu phương pháp canh tác của các Vua Hùng.

Trước cách mạng tháng 8-1945, lễ hội Xuống đồng (Hạ điền) là một nghi lễ quan trọng của nông dân làng xã, gắn với lòng biết ơn các Vua Hùng khai canh ra nghề trồng lúa nước, là nét văn hóa lịch sử của dân tộc ta. Đáng tiếc là giai cấp phong kiến không đưa vào nghi lễ của triều đình, mà lại bắt chước phong kiến Trung Hoa cầu ông Hậu Tắc tổ của nhà Chu, làm hèm cầy đất trồng trọt khô.

Suốt thời phong kiến, ở nước ta song song tồn tai hai nghi lễ nông nghiệp xuất xứ khác nhau.

Nếu nhìn về hình thức thì lễ hội cày Tịch điền của vua Nguyễn ở kinh đô Huế rất hoành tráng và hấp dẫn. Bởi nhà vua có điều kiện vật chất cao, cờ quạt ngựa xe voi ngựa lính tráng súng ống ngợp trời. Nhưng nếu xét về giá trị lịch sử và bản sắc văn hoá, giá trị nhân văn và tinh thân dân tộc, thì lễ hội Hạ điền Đồng Lú mới là quốc hồn quốc túy.

Lịch sử cây lúa Việt Nam

 

Lịch sử phát triển nghề trồng lúa ở Việt Nam

Cây lúa Việt Nam hiện đại

Thu hoạch lúa ở Việt Nam

Tổng quan

Nguồn gốc cây lúa trồng Châu Á (Oryza sativa) và ở Việt Nam

Trên thế giới có hai loài lúa trồng được xác định từ thời cổ đại cho đến ngày nay. Đó là loài lúa trồng Châu Á (Oryza sativa) và loài lúa trồng Châu Phi (Oryza glaberrima).

Loài lúa trồng Châu Phi đã được xác định nguồn gốc ở vùng thung lũng thượng nguồn sông Niger (ngày nay thuộc Mali).

Loài lúa trồng Châu Á có nguồn gốc phát xuất đầu tiên ở đâu vẫn là đề tài tranh luận của các nhà khoa học thế giới và ngày càng sáng tỏ với những khai quật khảo cổ học có tính đột phá và những phương pháp phân tích hiện đại dựa trên cơ sở phân tích phóng xạ và AND.

Trước đây có 4 giả thuyết về nơi phát xuất đầu tiên của cây lúa trồng Châu Á, đó là: nguồn gốc Trung Quốc, nguồn gốc Ấn Độ, nguồn gốc Đông Nam Á và giả thuyết Đa trung tâm phát sinh.

1-Giả thuyết cây lúa trồng Châu Á có nguồn gốc từ Trung Quốc

Theo Giả thuyết này thì Trung Quốc là nước có bằng chứng liên quan đến cây lúa trồng sớm nhất trên thế giới được công nhận.

Để khẳng định lại điều này, trong năm 2011, một nỗ lực kết hợp của Đại học Stanford (Mỹ), Đại học New York (Mỹ), Đại học Washington (Mỹ) và Đại học Purdue (Mỹ) đã cung cấp bằng chứng để kết luận rằng lúa thuần ở Châu Á có nguồn gốc duy nhất ở thung lũng sông Dương Tử của Trung Quốc. Nhưng tùy thuộc vào đồng hồ phân tử được sử dụng bởi các nhà khoa học, thời gian xuất hiện cây lúa trồng đầu tiên ở Trung Quốc cách nay từ 8.200 đến 13.500 năm. Điều này phù hợp với các dữ liệu khảo cổ học nổi tiếng về đề tài này.

Tuy nhiên, trong năm 2003, ở Hàn Quốc khám phá nhiều hạt gạo cháy ở tỉnh Chungbuk có niên đại phóng xạ khoảng 15.000 năm (IRC, 2003); nhưng nước này không thể là trung tâm nguồn gốc phát sinh của cây lúa trồng Châu Á và Hàn Quốc không chứng minh được các hạt gạo khai quật đó là lúa hoang hay lúa trồng. Do đó cho đến hiện nay Trung Quốc vẫn là nước có bằng chứng cây lúa trồng sớm nhất thế giới.

2-Giả thuyết nguồn gốc cây lúa trồng từ Ấn Độ

Giả thuyết này được chứng minh dựa trên di vật cổ nhất là hạt lúa và vỏ trấu được tìm thấy trên đồ gốm và trầm tích phân bò ở Koldihwa, Uttar Pradhesh, có niên đại phóng xạ 6.570 và 4.530 B.C. (Vishnu-Mittre 1976; Sharma et al. 1980).

Với niên đại đó vẩn muộn hơn nhiều so với các di vật cây lúa tìm thấy ở Trung Quốc.

3-Giả thuyết nguồn gốc cây lúa trồng ở  vùng núi Đông Nam Á

Trong vùng Đông Nam Á (ĐNA) gồm cả Việt Nam, còn rất ít công cuộc khai quật trên diện tích rộng lớn để nghiên cứu so với các hoạt động khảo cổ qui mô tại hai quốc gia lớn: Trung Quốc và Ấn Độ. Vì vậy các giả thuyết về cây lúa trồng có nguồn gốc từ vùng ĐNA và các cuộc khảo cổ học quy mô của vùng này chưa có tiếng vang để tạo sức thuyết phục đối với các nhà khảo cổ học khác trên thế giới.

Giả thuyết cây lúa trồng có nguồn gốc ở Châu Á được chứng minh thuyết phục nhất bởi Higham (1989) báo cáo vỏ trấu và liềm gặt lúa bằng vỏ sò được tìm thấy ở Khok Phanom Di gần vùng vịnh Thái Lan, có niên đại phóng xạ 6.000-4.000 năm TCN. Di chỉ này có tương quan đến di chỉ văn hóa Hòa Bình ở Việt Nam. Nhưng niên đại vẩn thấp hơn các di vật cây lúa trồng ở Trung Quốc.

4-Giả thuyết đa trung tâm phát sinh cây lúa trồng Châu Á.

Giả thuyết này được chứng minh thuyết phục bởi Chang (1985), chuyên gia di truyền cây lúa của IRRI, ông xem xét lại tất cả tin liệu và các dữ kiện từ khoa học, khảo cổ, sinh học tiến hóa, hệ thống sinh học và lịch sử nông nghiệp để đưa ra kết luận rằng lúa trồng ở châu Á có thể bắt nguồn từ nhiều địa điểm một cách độc lập và đồng bộ, vì những nơi này hiện có nhiều loài lúa dại và lúa trồng cùng sống trong một môi trường. Những địa điểm này khởi đầu từ đồng bằng sông Ganges đến miền bắc Myanmar, miền đông bắc Thái Lan, bắc Lào, bắc Việt Nam, miền nam và tây nam Trung Quốc, và những vùng lân cận khác.

Điều này có thể suy diễn cho nền nông nghiệp sơ khai xuất hiện độc lập, vì sự di chuyển xuyên quốc gia hoặc lục địa còn rất giới hạn trong thời kỳ cách nay 10-8 thiên niên kỷ.

Giả thuyết này hợp lý hơn cả vì trước khi trồng lúa con người đã thu hoạch lúa hoang để làm lương thực. Khi lúa trồng phát triển vẩn đan xen với lúa hoang và lúa hoang mất dần và nhiều loài đã tiệt chủng.

Với giả thuyết này Việt Nam có thể là một trong những nơi phát sinh cây lúa trồng ở Châu Á.

Nền văn minh lúa nước ở Việt Nam

Văn minh lúa nước là những nền văn minh cổ đại xuất hiện từ cách đây khoảng 10.000 năm tại vùng Đông Nam Á và Nam Trung Hoa. Nền văn minh này đã đạt đến trình độ đủ cao về các kỹ thuật canh tác lúa nước, thuỷ lợi, phát triển các công cụ và vật nuôi chuyên dụng. Chính sự phát triển của nền văn minh lúa nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của những nền văn hoá đương thời như Văn hóa Hemudu, Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Hòa Bình .v.v. Cũng có những ý kiến cho rằng, chính nền văn minh lúa nước là chiếc nôi để hình thành cộng đồng dân cư có lối sống định cư định canh và các giá trị văn hoá phi vật thể kèm theo, đó chính là văn hóa làng xã.

Cây lúa nước chỉ có thể phát triển tốt khi sống ở những khu vực khí hậu phù hợp như các vùng nhiệt đới, và đặc biệt tốt, năng suất cao khi hàng năm các con sông lớn như sông Hồng, sông Mã… mang theo một lượng phù sa mới, bồi đắp hàng năm vào các mùa nước lũ.

Một số nhà khoa học khác không công nhận Đông Nam Á là trung tâm phát sinh nông nghiệp mà chỉ xếp hạng nó vào trung tâm thứ yếu. Họ cho rằng địa thế và khí hậu, cũng như chủng tộc, miền châu thổ sông Hồng cùng nguồn gốc trong tiền sử với Nam Trung Hoa. Nên vùng Đông Nam Á là nơi phát sinh thứ yếu của cây lúa trồng.

Một số khá đông các nhà nghiên cứu khác cho rằng Nam Trung Hoa là trung tâm chính yếu phát sinh trồng trọt song song với các trung tâm khác ở Trung Đông và Ấn Độ.

Đến nay, vẫn còn có nhiều sự bất đồng trong giới khoa học về các trung tâm sơ khởi nông nghiệp. Burkill và Sauer đưa ra nhiều chứng cứ cho rằng Á Đông chính là nguồn gốc của các thứ khoai, củ. Sau đó theo đường hàng hải, khoai Á Đông được phân tán đi các đảo ngoài Thái Bình Dương, Châu Phi và Châu Mỹ.

Vai trò của cây lúa đối với con người ở Việt Nam

Từ ngàn đời nay, cây lúa đã gắn bó với con người, làng quê Việt Nam, đồng thời cũng trở thành tên gọi cho một nền văn minh – nền văn minh lúa nước Sông Hồng.

Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hoá tinh thần của người Việt. Hạt lúa và người nông dân cần cù, mộc mạc là hình ảnh không thể thiếu trong bức tranh của làng quê Việt Nam bây giờ và mãi mãi sau này.

Là cây trồng quan trọng nhất thuộc nhóm ngũ cốc, lúa cũng là cây lương thực chính của người dân Việt Nam nói riêng và người dân Châu Á nói chung. Cây lúa, hạt gạo đã trở nên thân thuộc gần gũi đến mức từ bao đời nay người dân Việt Nam coi đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Từ những bữa cơm đơn giản đến các bữa tiệc sang trọng, không thể thiếu sự góp mặt của hạt gạo ở dạng này hay dạng khác.

Cây lúa Việt Nam không chỉ giữ vai trò to lớn trong đời sống kinh tế, xã hội mà còn có giá trị lịch sử, bởi lịch sử phát triển của cây lúa gắn liền với lịch sử phát triển của cả dân tộc Việt Nam, in dấu ấn trong từng thời kỳ thăng trầm của đất nước.

Trước đây, cây lúa, hạt gạo chỉ có thể đem lại sự no đủ cho con người thì ngày nay nó còn có thể làm giàu cho người nông dân và cho cả đất nước nếu chúng ta biết biến nó thành một thứ hàng hoá có giá trị.

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cây lúa cũng đang có những biến đổi để thích ứng với nhu cầu thực tế. Chính vì vậy, cần phải bảo tồn và phát triển, làm phong phú thêm nguồn gen thực vật quý giá này.

Lịch sử phát triển nghề trồng lúa ở Việt Nam

Cây lúa Việt Nam trong thời kỳ tiền sử (2 triệu năm TCN- đến 1000 năm SCN)

Trong thời kỳ tiền sử ở Việt Nam đã trải qua các nền văn hóa sau đây:

Bối cảnh xuất hiện cây lúa trồng ở Việt Nam trong thời kỳ tiền sử

Văn hóa Phùng Nguyên là một nền văn hóa tiền sử thuộc cuối thời đại đồ đá mới và sơ kỳ thời đại đồ đồng, khoảng 3.500 -2.500 năm TCN. Phùng Nguyên là tên một làng ở xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, nơi đầu tiên tìm ra các di chỉ của nền văn hóa này. Trong nền văn hóa Phùng Nguyên đã xuất hiện công cụ trồng lúa.

Trong thời đại đồ đồng nền văn minh lúa nước ở Việt Nam đã phát triển rực rở ở đồng bằng sông Hồng. Các di chỉ đồ đồng của người Việt rất phong phú với các di vật bằng đồng, trong đó nổi tiếng nhất là Trống đồng Ngọc Lũ.

Văn hoá Đồng Đậu là nền văn hóa thuộc thời kỳ đồ đồng ở Việt Nam cách ngày nay khoảng 3.000 năm, sau văn hóa Phùng Nguyên, trước văn hóa Gò Mun. Tên của nền văn hóa này đặt theo tên khu di tích Đồng Đậu ở Thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đến khoảng 1200 năm TCN-1000 năm SCN, sự phát triển của kỹ thuật trồng lúa nước và đúc đồ đồng trong khu vực sông Mã và đồng bằng sông Hồng đã dẫn đến sự phát triển của nền văn hóa Đông Sơn, nổi bật với các trống đồng Ngọc Lũ. Các vũ khí, dụng cụ và trống đồng được khai quật của văn hóa Đông Sơn minh chứng cho việc kỹ thuật đúc đồ đồng bắt nguồn từ đây, nhiều mỏ đồng nhỏ xưa đã được khai quật ở miền Bắc Việt Nam. Ở đây các nhà khảo cổ đã tìm thấy quan tài và lọ chôn hình thuyền, nhà sàn, và bằng chứng về phong tục ăn trầu và nhuộm răng đen.

Trong thời kỳ tiền sử này kể từ hậu kỳ đồ đá mới trải qua thời kỳ đò đồng, đồ sắt,  nền văn Minh lúa nước của Văn Lang, Âu Lạc phát triển rực rở. Nền văn hóa xóm làng phát triển mạnh mẽ. Từ đó làm cho người Việt sau này có ý thức bảo vệ được nền văn hóa đặc sắc riêng của mình, không bị đồng hóa suốt 1000 năm Bắc thuộc.

Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) – một nền văn minh lúa nước đã hình thành từ hàng nghìn năm, với diện tích tự nhiên khoảng 15.000 km2 được bồi tụ bởi phù sa của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình. Ðây là địa bàn cư trú của người Việt cổ, cũng là nơi hình thành nền văn minh lúa nước.

Qua nghiên cứu khảo sát các nền văn hóa trên, sự tiến bộ của nông cụ có liên quan đến nghề trồng lúa từ hậu kỳ đồ đá mới , đến đồ đồng, đồ sắt. Thời kỳ này trùng khớp với triều đại Hồng Bàng trong dã sữ Việt Nam.

Cây lúa Việt Nam trong thời kỳ Bắc thuộc (179 TCN-938 SCN)

Bối cảnh lịch sử: Trong thời kỳ Bắc thuộc,Việt Nam đã chịu sự thống trị của các triều đại phong kiến Trung Quốc như sau đây:

Thuộc Nhà Triệu (Nam Việt)
Thuộc Tây Hán

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Thuộc Đông Ngô (thời Tam Quốc)

Khởi nghĩa Bà Triệu

Thuộc Tấn
Thuộc Lưu Tống (Nam Bắc triều Trung Hoa)
Thuộc Tề (Nam Bắc triều Trung Hoa)
Thuộc Lương (Nam Bắc triều Trung Hoa)
Nhà Tiền Lý, quốc hiệu Vạn Xuân
Thuộc Tùy

Khởi nghĩa Mai Thúc Loan

Khởi nghĩa Phùng Hưng

Họ Khúc giành quyền tự chủ
Dương Đình Nghệ tiếp tục sự nghiệp của ba đời họ Khúc
Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất (chống quân Nam Hán)

Tình hình phát triển cây lúa ở Việt Nam trong thời kỳ Bắc thuộc

Về giống lúa, trải qua hàng ngàn đời, người nông dân đã chọn lọc những biến dị trong tự nhiên những giống lúa đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng cao. Cây lúa trở thành cây trồng chính ở đồng bằng sông Hồng suốt thời kỳ Bắc thuộc.

Mặc dù sử sách có ghi lại công lao của Thái thú Sĩ Nhiếp (137-226) thuộc cuối đời Đông Hán và đầu đời Tam Quốc đã có công truyền bá Nho giáo và dạy người Giao Chỉ (tên nước ta là một quận của Trung Quốc vào thời kỳ Bắc thuộc) về nghề trồng lúa nhưng về cơ bản cây lúa trồng ở nước ta phát triển từ nội sinh là chính.

Không những cây lúa cung cấp lương thực nuôi sống con người Việt Nam trong giai đoạn lịch sử này, mà nền văn minh lúa nước là nền tản tinh thần để phát triển xóm làng, phong tục và nền văn hóa đặc sắc của người Việt Nam.

Nhờ ý thức văn hóa dân tộc khởi nguồn từ nền văn minh lúa nước mà người Việt Nam không bị đồng hóa bởi người Tàu trong suốt 1000 năm Bắc thuộc.

Nhiều kinh nghiệm quý báo của thời kỳ này về nghề trồng lúa vẩn còn truyền tụng trong dân gian qua ca dao, tục ngữ vẩn còn lưu truyền cho đến hiện nay.

Cây lúa Việt Nam trong thời kỳ phong kiến độc lập ( 938-1858)

Bối cảnh lịch sử: Trong thời kỳ Phong kiến độc lập, Việt Nam đã trải qua các triều đại sau đây:

HIV/AIDS là gì? Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Tìm hiểu chung

HIV/AIDS là gì?

HIV/AIDS là hội chứng suy giảm miễn dịch do một loại virus có tên là HIV gây ra. Bệnh chủ yếu lây qua đường tình dục, máu và mẹ truyền qua con.

HIV có thể làm suy giảm hệ thống miễn dịch, do đó cho phép các bệnh cơ hội, vi khuẩn, virus khác tấn công cơ thể bạn. Không giống như các virus khác, cơ thể của bạn không thể thoát khỏi HIV. Một khi đã bị nhiễm HIV, có nghĩa là bạn phải sống chung với nó.

AIDS là giai đoạn cuối của bệnh HIV và được tạo ra bởi sự phát triển của các bệnh khác, chẳng hạn như ung thư và nhiều bệnh nhiễm trùng. AIDS là biểu hiện khi hệ thống miễn dịch của cơ thể của bạn quá yếu.


Triệu chứng thường gặp

Những dấu hiệu và triệu chứng của HIV/AIDS

Các triệu chứng của HIV/AIDS thường phải mất từ 2 – 15 năm mới xuất hiện rõ, vì vậy khi bị nhiễm virus trong giai đoạn sơ khởi, cơ thể chúng ta vẫn khỏe mạnh và hoạt động bình thường. Bệnh có khả năng lây nhiễm cho người khác. Hai nhóm triệu chứng đáng chú ý:

Nhóm triệu chứng chính:

  • Sụt cân trên 10% cân nặng;
  • Tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng;
  • Sốt kéo dài trên 1 tháng.

Nhóm triệu chứng phụ:

  • Ho dai dẳng trên 1 tháng;
  • Ban đỏ, ngứa da toàn thân;
  • Nổi mụn rộp toàn thân (bệnh Herpes);
  • Bệnh Zona (giời leo) tái đi tái lại;
  • Nhiễm nấm (tưa) ở hầu, họng, kéo dài hay tái phát;
  • Nổi hạch ít nhất là 2 nơi trên cơ thể (không kể hạch bẹn) kéo dài trên 3 tháng.

HIV sẽ tấn công hệ thống miễn dịch của bạn, do đó cho phép các bệnh khác, đặc biệt là nhiễm trùng cơ hội tấn công cơ thể.

Giai đoạn tiến triển của HIV là AIDS với biểu hiện của các bệnh nhiễm trùng cơ hội như:

  • Lao, viêm màn não.
  • Ung thư phổi, ung thư thận hoặc u lympho và sarcoma Kaposi.
  • Cytomegalovirus: Virus herpes này thường được truyền đi thông qua dịch cơ thể như nước bọt, máu, nước tiểu, tinh dịch và sữa mẹ.
  • Nấm Candida: Nhiễm nấm Candida là bệnh liên quan đến HIV thường gặp, gây viêm và phủ một lớp màu trắng dày trên niêm mạc miệng, lưỡi, thực quản hoặc âm đạo của người bệnh.
  • Nhiễm Cryptosporidium: Bệnh này do một loại ký sinh trùng đường ruột thường thấy ở động vật. Bạn có thể nhiễm Cryptosporidiosis khi dùng thực phẩm hoặc nước ô nhiễm. Các ký sinh trùng phát triển trong ruột và đường mật dẫn đến tiêu chảy mạn tính trầm trọng ở những người bị AIDS.

Khi nào cần gặp bác sĩ?

Bạn nên đến cơ sở y tế để được xét nghiệm và điều trị khi tiếp xúc trực tiếp với virus HIV/AIDS qua các đường tình dục, đường máu, mẹ sinh con hay khi cơ thể xuất hiện bất cứ dấu hiệu bệnh để được tư vấn kịp thời. Mỗi người có một cơ địa khác nhau, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ để có phương án điều trị thích hợp. Chẩn đoán và điều trị sớm sẽ giảm nguy cơ tăng nặng của bệnh.


Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân dẫn đến nhiễm HIV/AIDS

AIDS do virus HIV gây ra. HIV lây truyền qua 3 con đường:

  • Đường tình dục: Việc quan hệ với người nhiễm HIV/AIDS bằng các đường âm đạo, hậu môn hoặc miệng không dùng bao cao su sẽ làm virus HIV xâm nhập và lây truyền qua những vết rách trong các mô âm đạo, hậu môn, vết thương.
  • Mẹ bị nhiễm HIV lây truyền qua con trong quá trình sinh con.
  • Đường máu: Thông qua tiếp xúc trực tiếp với máu của người bị HIV.

HIV không lây truyền qua tiếp xúc hằng ngày như sờ, bắt tay, ôm qua các hoạt động như ho, hắt hơi, sử dụng hồ bơi hoặc bồn cầu, dùng chung ra trải giường, ăn chung hoặc dùng chung dụng cụ ăn uống với người nhiễm bệnh.

Động vật, muỗi hoặc côn trùng khác cũng không là tác nhân lây truyền HIV.


Nguy cơ mắc phải

Những ai có nguy cơ nhiễm HIV/AIDS?

Bất cứ ai đều có thể nhiễm HIV/AIDS khi tiếp xúc với virus qua các con đường lây bệnh như trên. Các nhóm có nguy cơ mắc cao nhất là:

Yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm HIV/AIDS, bao gồm:

HIV/AIDS lây truyền qua việc tiếp xúc các chất dịch cơ thể của bệnh nhân HIV, bao gồm máu, tinh dịch, dịch âm đạo và sữa mẹ. Các hành vi sau sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm HIV/AIDS:

  • Quan hệ tình dục bừa bãi, không an toàn: Quan hệ với nhiều người và không sử dụng biện pháp phòng ngừa (bao cao su) với người nhiễm HIV.
  • Dùng chung vật dụng có dính máu người nhiễm HIV: Khi dùng các thiết bị như dụng cụ cắt gọt, dao cạo, đồ cắt móng tay, kim tiêm, ống chích, thiết bị xăm mình đã nhiễm HIV và không được khử trùng thường xuyên.
  • Dẫm đạp phải mãnh vỡ, kim tiêm có chứa virus HIV.
  • Truyền máu không qua sàng lọc HIV.
  • Thai nhi có mẹ nhiễm HIV.
  • Vết thương hở, vết loét tiếp xúc với máu, tinh dịch hoặc dịch tiết âm đạo có chứa virus HIV.

Điều trị hiệu quả

Phương pháp xét nghiệm và chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS

Xét nghiệm phơi nhiễm HIV nhằm xác định xem bạn có nhiễm virus HIV hay không. Độ chính xác của xét nghiệm này phụ thuộc vào khoảng thời gian từ lúc bạn có khả năng phơi nhiễm với HIV (quan hệ tình dục không bảo vệ, dùng chung kim tiêm) đến khi làm xét nghiệm.

Vậy nên, bạn cần quan tâm đến các hoạt động từng trải qua có nguy cơ gây nhiễm virus cao. Xét nghiệm sẽ cho ra các kết quả:

  • Dương tính: Tìm thấy kháng thể HIV trong máu nhưng không có nghĩa bạn có AIDS. Tuy nhiên không ai biết chắc người nhiễm HIV khi nào sẽ phát triển thành AIDS.
  • Âm tính: Bạn không có các kháng thể tại thời điểm thử nghiệm. Tuy nhiên, nếu thời gian tính từ khi thực hiện các hoạt động có nguy cơ lây nhiễm đến lúc xét nghiệm ít hơn 3 tháng, bạn nên lặp lại xét nghiệm.

Lưu ý: Xét nghiệm âm tính không chứng tỏ bạn không có nguy cơ nhiễm HIV. Bất cứ lúc nào thực hiện các hoạt động có nguy cơ lây nhiễm, bạn đều có thể bị nhiễm bệnh.

Phương pháp điều trị HIV/AIDS hiệu quả

Hiện nay, HIV/AIDS không có cách chữa khỏi hoặc thuốc chủng ngừa. Chúng ta có thể sử dụng một số loại thuốc có thể giúp làm chậm sự tiến triển của bệnh. Bạn nên đến cơ sở y tế để được bác sĩ hoặc chuyên gia để được tư vấn về phương pháp điều trị có hiệu quả tốt nhất đối với bạn.

Bạn nên áp dụng các cách điều trị sau khi có kết quả dương tính với HIV:

  • Lắng nghe và thực hiện theo sự hướng dẫn của bác sĩ.
  • Thông báo cho bạn tình, những người đã quan hệ tình dục với bạn hoặc người có nguy cơ nhiễm HIV do bạn để có biện pháp xét nghiệm và phòng tránh.
  • Không dùng chung kim tiêm hoặc các hoạt động có thể lây nhiễm HIV cho người khác.
  • Điều trị tâm lý với bác sĩ chuyên khoa.
  • Sử dụng các loại thuốc có thể làm chậm tiến triển của bệnh.

Chế độ sinh hoạt phù hợp

Những thói quen sinh hoạt có thể giúp bạn hạn chế diễn tiến của HIV/AIDS

  • Duy trì lối sống tích cực, hạn chế sự căng thẳng. Hãy chọn cách bày tỏ những khó khăn trong cuộc sống với những người có thể hỗ trợ bạn.
  • Liên hệ ngay với bác sĩ khi cơ thể có những bất thường trong quá trình điều trị.
  • Xây dựng cho mình một lối sống lành mạnh, khoa học cũng như kiểm tra sức khỏe thường xuyên để duy trì một hệ thống miễn dịch tốt có khả năng chống lại virus.
  • Thực hiện và áp dụng chế độ dinh dưỡng đủ chất, khoa học.
  • Rèn luyện thể dục thường xuyên để tăng cường sức khỏe.
  • Chế độ nghỉ ngơi đầy đủ.
  • Hạn chế rượu bia, thuốc lá, chất kích thích; hạn chế tham gia các loại giải trí không lành mạnh như nghiện hút, mại dâm.

Mặc khác, khi bạn bị nhiễm HIV hãy đảm bảo việc không lây nhiễm cho người khác bằng việc ngăn chặn sự lây nhiễm như:

  • Quan hệ tình dục an toàn như bao cao su đối với quan hệ tình dục âm đạo, miệng hoặc hậu môn.
  • Không bao giờ sử dụng chung đụng kim tim, thiết bị y tế, kim xăm,…
  • Không bao giờ cho và truyền máu.
  • Thông báo cho người tiếp xúc với chất dịch cơ thể bạn để đi khám kịp thời.

Phương pháp phòng ngừa hiệu quả

  • Hoạt động tình dục an toàn.
  • Không dùng chung kim tiêm, đồ chơi tình dục, đồ cắt móng tay, dao cạo…
  • Nên chọn những nơi uy tính để làm phẫu thuật và xăm mình. Đảm bảo các vật dụng được sử dụng đã được tiệt trùng.
  • Khi người mẹ mang thai nhiễm HIV, nên thông báo sớm với bác sĩ để có phương pháp bảo vệ thai nhi không bị nhiễm bệnh.

  • Mọi thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải
    tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.

Trung Quốc trồng thành công lúa nước mặn, có thể nuôi sống 80 triệu người
Một nhóm các nhà khoa học Trung Quốc vừa thu hoạch đợt gạo đầu tiên từ giống lúa chịu mặn được trồng ở tỉnh Sơn Đông. Đây là sự kiện đánh dấu sự thành công của kế hoạch đầy tham vọng nhằm gia tăng sản lượng gạo để cung cấp lương thực cho thêm 80 triệu người.

939 – 967
968 – 980
1010 – 1225
1226 – 1400

Kháng chiến chống quân Minh

Nhà Hậu Lê (thời Lê Sơ), quốc hiệu Đại Việt, kinh đô Đông Kinh (Hà Nội) 1428 – 1527
1527 – 1595
1533 – 1592
“Lúa biển” đã được trồng thành công ở Trung Quốc

Loại lúa mới này chịu được kiềm, đã được các nhà khoa học giới thiệu cách đây một năm. Lúa được thu hoạch ở thành phố bờ biển Thanh Đảo, cho ra loại gạo có khả năng sinh trưởng ở bãi triều hoặc đất mặn.

Để tạo ra giống lúa này, các nhà nghiên cứu đã phải lai tạo từ rất nhiều giống lúa gạo khác nhau. “Nếu có thiên tai, Trung Quốc khó có thể dựa vào nhập khẩu thực phẩm vì có nhiều rào cản về hậu cần và dân số lớn. Nếu người Trung Quốc bị đói vì mùa màng thất bát do thiên tai, tình trạng này sẽ gây ra bất ổn xã hội và gây mất ổn định cho thế giới”, hãng tin RT dẫn lời Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển lúa chịu mặn Thanh Đảo, ông Trương Quốc Đông.

Ông Trương cho biết thêm, sẽ nỗ lực để biến hơn 65.000 km2 đất ngập mặn thành đất trồng lúa. Nếu cứ 667 m2 đất trồng được tối thiểu 300 kg gạo thì toàn bộ số đất ngập mặn sẽ đem về 30 triệu tấn gạo. Số gạo này đủ để nuôi 80 triệu người dân Trung Quốc.

Theo RT, để thử nghiệm trồng loại “lúa biển” này, các nhà nghiên cứu đã lấy nước từ biển Hoàng Hải, pha loãng rồi dẫn vào các ruộng phục vụ nghiên cứu.

Các nhà khoa học cho biết, giống lúa này chưa thực sự sống được tại vùng nước biển thuần túy. Hiện tại, công nghệ lai tạo, gây giống lúa mới chỉ có thể cho phép trồng chúng tại các vùng nước ngọt pha nước mặn.

Trước đó, các nhà khoa học Trung Quốc cũng đã trồng và thu hoạch thành công lúa chịu mặn trên một sa mạc ở Dubai.

Xã Cư Knia: Cỏ dại xâm lấn lúa nước
Do người dân tự ý mua giống nên hiện nay một số chân ruộng xuất hiện sự xâm lấn của cỏ dại. Nhiều hộ đang vất vả đi cắt bỏ cỏ dại để cho cây lúa phát triển.

 width=

Cỏ dại xen lẫn cây lúa

 width=

Bà con nông dân đang đi cắt cỏ dại để cây lúa có điều kiện phát triển

 width=

Vụ Đông Xuân 2018-2019, xã Cư Knia, huyện Cư Jút gieo cấy được trên 370 ha lúa nước. Đến thời điểm này, mặc dù các hồ đập trên địa bàn xã, mực nước xuống thấp hơn mọi năm, nhưng nhờ có phương án chủ động tích trữ nước để “né hạn” nên đến nay các cánh đồng của xã Cư Knia vẫn chưa  xảy ra hạn hán như nhiều địa phương khác trong tỉnh. Tuy nhiên, theo UBND xã Cư Knia thì do phần đông người dân tự ý mua giống nên hiện nay một số chân ruộng xuất hiện sự xâm lấn của cỏ dại. Không chỉ cạnh tranh với cây lúa các điều kiện sinh trưởng như phân bón, nước, ánh sáng, cỏ dại còn là nơi cư trú, ký chủ trung gian của nhiều loại sâu bệnh, dịch hại, làm giảm năng suất, chất lượng và giá trị của hạt lúa./.

Văn Trọng

Đài TT Huyện Cư Jút

Nghề trồng lúa nước của dân tộc Kinh
Theo các tài liệu khảo cứu, khu vực đồng bằng sông Hồng được bồi tụ bởi phù sa của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình chính là nơi tụ cư đầu tiên của người Việt cổ. Tổ tiên người Việt cũng là những người đầu tiên thuần hóa cây lúa dại thành cây lúa trồng. Người Việt tận dụng ưu thế điều kiện tự nhiên của một xứ nóng ẩm, mưa nhiều, nhiều ao hồ, sông nước, nên đã chọn nghề trồng lúa nước để sinh sống. Cũng rất tự nhiên, người Việt lấy lúa gạo làm nguồn lương thực cơ bản, trồng rau củ và đánh bắt cá theo mô hình tự cung tự cấp. Do đó, bữa ăn của người Việt chủ yếu là: cơm (nấu từ lúa gạo) và các loại rau, thuỷ sản.

Nghề trồng lúa nước của dân tộc Kinh - ảnh 2
Bữa ăn của người Việt (Ảnh: vietgiaitri.com)

Trong lịch sử phát triển, dân tộc Kinh là dân tộc có nhiều kinh nghiệm trồng lúa nước, làm thủy lợi, đắp đê, đào mương, kỹ thuật tăng vụ, gối vụ để trồng nhiều vụ lúa trong một năm. Gắn bó với với nghề trồng lúa nước, cuộc sống của người dân sống dựa vào thiên nhiên, phụ thuộc vào các điều kiện của thiên nhiên nên dần hình thành nhiều phong tục, tập quán, tín ngưỡng tâm linh đặc trưng như: tục thờ cúng tổ tiên, tục thờ Tứ Pháp (thờ thần mưa, gió, sấm, chớp) tạo thành nét văn hoá độc đáo của dân tộc Kinh. Rất nhiều loại hình văn hoá nghệ thuật như: hát chèo, nghệ thuật múa rối nước…đã khẳng định tính sáng tạo của cư dân của nền văn minh vùng châu thổ Sông Hồng.

Là cư dân có nguồn gốc bản địa lâu đời, người Việt luôn đi tiên phong trong việc chinh phục thiên nhiên, mở mang vùng đất mới phát triển nghề trồng lúa. Theo thời gian, những vựa lúa lớn ở Việt nam ở khu vực đồng bằng sông Hồng ở phía bắc, khu vực đồng bằng ở Bắc trung bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long ở Nam Bộ đều có tỷ lệ đông đảo người Kinh định cư và sản xuất. Nghề trồng lúa nước ở Việt Nam góp phần nuôi sống bao thế hệ, nhưng nghề trồng lúa chỉ thực sự có bước chuyển, khi cách đây hơn 20 năm Nhà nước Việt Nam ban hành chính sách giao khoán đất ruộng và trao quyền tự chủ cho nông dân. Tính thực tiễn của chính sách này đã đem lại bước đột phá cho ngành sản xuất lúa gạo. Giáo sư, tiến sỹ Võ Tòng Xuân, cho biết: “Ở Việt Nam từ năm 1989 đã bắt đầu xuất khẩu gạo, chuyển từ giai đoạn thiếu lương thực sang giai đoạn có gạo xuất khẩu. Ở đây có sự kết hợp giữa khoa học làm ra được giống lúa mới cho năng suất cao với sự đầu tư của nhà nước làm các công trình thuỷ lợi  và việc ban hành các chính sách phù hợp đã khuyến khích bà con nông dân sản xuất ra nhiều lúa gạo để làm giàu cho gia đình và đã có dư để xuất khẩu”.

 

Nghề trồng lúa nước của dân tộc Kinh - ảnh 3
Việt Nam đã trở thành một trong những nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo (Ảnh: internet)

 

Với những chính sách phát triển phù hợp, chỉ trong vòng 2 thập kỷ, từ một nước thiếu ăn, Việt Nam đã trở thành một trong những nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo. Năm 2012, Việt Nam đã xuất khẩu trên 7 triệu tấn gạo, là nước đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo. Những năm gần đây, việc triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới gắn các tiêu chí cụ về quy hoạch, xây dựng những cánh đồng mẫu lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa cũng đã và đang tạo bước chuyển mới , góp phần tăng năng suất và giá trị xuất khẩu lúa gạo. Chủ trương hiện đại hoá nghề trồng lúa đang được bà con nông dân khắp các địa phương hưởng ứng. Bà Nguyễn Thị Tám, nông dân ở xã Yên Nội, huyện Quốc Oai, Hà Nội, cho biết: “Việc đưa máy vào đồng ruộng rất cần với người nông dân ở xã chúng tôi. Đưa máy móc vào đồng ruộng giảm đi sức lao động cho nông dân nói chung và gia đình tôi nói riêng. Đưa máy vào ruộng đồng cũng giảm được nhiều khâu chi phí, chẳng hạn như khâu làm mạ hay khâu tưới nước”.

 

Nghề trồng lúa nước của dân tộc Kinh - ảnh 4
Nghề trồng lúa nước đem lại cuộc sống no đủ cho người nông dân (Ảnh: internet)

 

Trước đây, cây lúa, hạt gạo chỉ có thể đem lại sự no đủ cho con người, thì ngày nay đã trở thành thứ hàng hoá có giá trị làm giàu cho người nông dân. Những chính sách hợp lý tạo chuyển biến tích cực trong sản xuất lúa gạo cùng những tín hiệu tích cực của thị trường xuất khẩu, khiến bà con nông dân ngày càng yên tâm, gắn bó với nghề sản xuất lúa gạo. Ông Nguyễn Hữu Lài, nông dân trồng lúa ở An Giang, một tỉnh nằm trong vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long, chia sẻ: “Ngày xưa chúng tôi còn làm lúa riêng lẻ, chưa đồng loạt với nhau, mỗi nơi một loại giống, nhưng bây giờ chúng tôi làm tập trung làm mẫu hình đồng đều, có nghĩa là  lúa cùng một giống. Giờ mỗi khi đi thăm đồng thấy điều kiện này nọ đâm nghiền, nên thích thú lắm”.
Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, dân tộc Kinh hiện đã có mặt tại khắp các tỉnh, thành trong cả nước. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, cây lúa, hạt gạo Việt nam không chỉ là nguồn lương thực nuôi sống con người, mà ở đó nền văn minh lúa nước sông Hồng tiếp tục toả sáng và là nền tảng xây dựng nền văn hóa mang đậm bản sắc Việt Nam./.

Leave your Comment