Hệ tuần hoàn là gì 90

 

Mục lục

Sức khỏe mạch máu và sự quan trọng của việc lưu thông huyết mạch

 

Khi mạch máu suy yếu và không được lưu thông có thể gây tê liệt tứ chi, nhồi máu cơ tim và đột quỵ não.

Mạch máu là gì? Đóng vai trò gì?

Mạch máu là phần quan trọng của hệ tuần hoàn, hệ thống kín dẫn máu từ tim đến các cơ quan trong cơ thể và rồi trở về tim. Hệ thống mạch gồm có động mạch, tĩnh mạch và vi tuần hoàn. Vi tuần hoàn (mao mạch) là nơi tiếp giáp giữa động mạch và tĩnh mạch, đơn vị nhỏ nhất của hệ mạch máu.

 width=

Mạch máu giống như những đường ống dẫn oxy và dưỡng chất đến từng tế bào, đảm bảo nguồn sống cho các tế bào, các cơ quan trong cơ thể. Nếu mạch máu bị tắc nghẽn hoặc bị thu hẹp lại, thì máu sẽ lưu thông chậm lại, ùn ứ. Khi đó các tế bào, các cơ quan sẽ bị cạn kiệt dưỡng chất, suy kiệt dần dần gây ra các bệnh lý về tim mạch và có thể dẫn đến đột quỵ.

Vì sao mạch máu có thể kém lưu thông?

Tình trạng mạch máu kém lưu thông thường gặp ở người có mỡ máu cao, tăng huyết áp và đái tháo đường. Nguyên nhân là do mỡ xấu lưu thông trong mạch máu và lắng đọng tại thành mạch gây mảng xơ vữa, dần dần chít hẹp hết thành khiến thành mạch; lúc này mạch máu cũng giảm khả năng thẩm thấu và khả năng co bóp để đẩy máu lưu thông máu khắp cơ thể.

Những đối tượng dễ gặp vấn đề về lưu thông máu là người cao tuổi, người có thói quen sử dụng rượu, bia, người thường sử dụng những thực phẩm giàu chất béo xấu, người ít vận động thể chất, người thừa cân khiến cho hàm lượng chất béo xấu trong máu tăng cao và vượt ra khỏi vùng an toàn cho cơ thể.

 width=

Mạch máu kém lưu thông gây ra hệ lụy gì?

Mạch máu đóng vai trò quan trọng để vận hành sự sống của toàn bộ cơ thể. Chỉ cần một bộ phận không được cung cấp máu sẽ có thể gây ra sự tê liệt trên toàn cơ thể. Mảng xơ vữa sẽ khiến thành mạch xơ hóa dễ gây đứt vỡ; mạch máu co bóp kém sẽ khiến cho lượng máu trở về tim suy giảm gây hiện tượng tăng huyết áp và lâu dần là suy tim.

Chưa kể mảng xơ vữa nằm ở động mạch vành nuôi tim sẽ gây ra thiếu máu cơ tim, mảng xơ vữa nằm ở động mạch chủ dẫn máu lên não sẽ gây thiếu máu não hoặc cũng có trường hợp thành mạch quá yếu có thể đứt vỡ bất cứ lúc nào gây tai biến vỡ mạch não.

Không những vậy mỡ máu xấu còn phát động hình thành cục máu đông, cục máu di chuyển theo dòng máu và sẽ dừng ở động mạch hẹp nhất và gây tắc ở đó. Nếu ở não sẽ khiến một vùng não không được nuôi dưỡng, người bệnh có thể cảm thấy choáng váng, tê một bên người, líu lưỡi, đó chính là hiện tượng đột quỵ do thiếu máu não. Nếu cục máu đông gây tắc ở động mạch vành sẽ dẫn đến nhồi máu cơ tim. Rối loạn mỡ trong máu còn khiến cho mỡ bám vào gan gây ra gan nhiễm mỡ mà hậu quả cuối cùng là xơ gan.

Giữ gìn sức khỏe mạch máu và phương pháp lưu thông huyết mạch

Việc lưu thông huyết mạch chính là bí quyết chăm sóc và cải thiện sức khỏe mạch máu, giúp ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm tại tim mạch và não bộ. Lưu thông huyết mạch chính là phương pháp dọn dẹp sạch các mảng bám trong long mạch, ngăn ngừa mỡ xấu tiếp tục tích tụ tại thành mạch, tăng tính thấm và độ đàn hồi co giãn của thành mạch, giúp máu lưu thông tốt hơn, nhịp tim được điều hòa.

WHO khuyến cáo để làm được việc này mỗi người cần thay đổi thói quen ăn uống và vận động cơ thể xen lẫn nghỉ ngơi hợp lý.

Ngoài ra ở những trường hợp có mỡ máu cao dẫn tới chứng lưu thông kém ở mạch máu nên tìm cách hạ cholesterol cao, hạ triglycerides, hạ LDL – c và tăng mỡ tốt HDL – c để bảo vệ cơ thể khỏi nguy cơ tim mạch.

 width=

Hiện đông đảo người tiêu dùng trên thị trường đều tin dùng sản phẩm tpbvsk Hamomax nhờ tính hiệu quả cao và đã có nhiều nghiên cứu chứng minh dược chất saponin có trong thảo dược quý Nần nghệ có tác dụng hạ nhanh … từ đó giúp cho mạch máu luôn khỏe mạnh và máu được lưu thông khắp cơ thể, tạo nên một hệ tuần hoàn khỏe mạnh.

Không chỉ giúp làm sạch mỡ xấu toàn cơ thể, tpbvsk Hamomax còn giúp bào mòn các mảng xơ vữa và cục máu đông đã hình thành trong mạch máu nhờ tinh chất flavonoid có trong thành phần lá Đỏ ngọn. Sản phẩm cũng giúp ngăn chặn tình trạng huyết áp cao, hạ đường huyết rất tốt nhờ có sự góp mặt của thảo dược Giảo cổ lam trong thành phần. Hiện Hamomax được sản xuất trực tiếp tại đơn vị sản xuất dược phẩm uy tín hàng đầu trong cả nước là công ty Cổ phần Dược Khoa (Trước đây là công ty Dược Khoa  – trường ĐH Dược HN) và được Bộ Y Tế cấp phép lưu hành trên toàn quốc.

CHƯƠNG TRÌNH KHUYẾN MÃI HOT NHẤT TRONG NĂM


logo-text
đặt mua combo nhận ngay ưu đãi

Giá niêm yết

chỉ còn 203.000 VNĐ/Hộp

slogan

Chỉ có thể là HAMOMAX

 width=

Sau khi đăng ký mua sản phẩm, bộ phận CSKH của HAMOMAX sẽ liên hệ với quý khách để xác nhận thông tin, và giao sản phẩm tận nơi cho quý khách trong thời gian sớm nhất!

“Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”

1. NSND Quang Thọ, Hà Nộinghe sy quang tho
  • Mỡ máu cao
  • Cống hiến cho sự nghiệp nghệ thuật chừng ấy năm, đến giờ tôi vẫn tràn đầy năng lượng để thỏa mãn niềm đam mê ca hát. Tôi thấy mình đúng khi lựa chọn chế phẩm Hamomax để chăm sóc sức khỏe, bạn thấy đấy, gần 70 tuổi mà tôi không hề mắc các bệnh mỡ máu, mỡ gan, huyết áp… như đa số người tầm tuổi này hay mắc phải”.
  • Xem hành trình hạ và ổn định mỡ máu cao của NSND Quang Thọ tại đây.
2. Bác Định, 81 tuổi – Hà Nội
hamomax nan vang bac dinh anh moi
  • Tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, đã điều trị tại bệnh viện Việt Xô. Bác sĩ cho về nhà và kết luận “chỉ sống được vài năm nữa thôi, bệnh tình gay go lắm rồi”.
  • Sau 3 tháng sử dụng: Huyết áp ổn định; bệnh mạch vành, đau nhức chân đều bay hết. Thần thái tinh nhanh, dáng người nhanh nhẹn, có thể uống 5 vại bia 1 lúc, …
  • Xem hành trình hạ và ổn định mỡ máu của Bác Định tại đây
3. Bác Lương, 57 tuổi – Phú Thọphieu xet nghiem truoc edited
4. Chú Phương, 46 tuổi, Quảng Namchu phuong 2

TPBVSK HAMOMAX HỖ TRỢ HẠ MỠ MÁU, GIẢM MỠ GAN, BÌNH ỔN HUYẾT ÁP HIỆU QUẢ

 width=

Giá: 203.000đ/hộp

Có thể bạn quan tâm:

Chăm Sóc Hệ Tuần Hoàn: Những Sự Thật Cần Biết

 

Hệ tuần hoàn làm nhiệm vụ vận chuyển oxy cùng các dưỡng chất đi khắp cơ thể và lấy cacbonic cùng chất thải để bài tiết ra ngoài. Vì vậy hãy luôn chăm sóc hệ tuần hoàn đúng cách để vòng tuần hoàn máu được hoạt động một cách thông suốt.

Vai trò của động mạch và tĩnh mạch

Động mạch là những mạch máu chuyên chở máu từ tim đến những bộ phận khác của cơ thể. Động mạch có thành mạch dày và đàn hồi để có thể đưa máu đi với một áp lực lớn. Các động mạch lớn được phân nhánh và chia thành những tiểu động mạch hẹp hơn. Những tiểu động mạch này kết nối với các mao mạch, là các mạch máu nhỏ có thành mạch mỏng cho phép oxy, các dưỡng chất, dịch lỏng đi vào và ra khỏi các mô. Mao mạch được kết nối với tĩnh mạch nhỏ để đưa máu vào các tĩnh mạch lớn trở về tim.

Chứng xơ vữa động mạch nguy hiểm như thế nào?

Nguyên nhân gây xơ vữa động mạch có liên hệ mật thiết với tuổi tác, thói quen hút thuốc, lối sống thiếu vận động và chế độ dinh dưỡng không có lợi cho sức khỏe (như chứa quá nhiều chất béo và ít các hoạt chất chống oxy hóa từ trái cây, rau củ). Chứng xơ vữa động mạch thường xảy ra ở những người có lượng cholesterol trong máu cao, huyết áp cao mà không được điều chỉnh và tiểu đường được kiểm soát kém.

Nguyên nhân của chứng giãn tĩnh mạch

Ở chân có các tĩnh mạch dài với hàng loạt van cho phép máu chảy lên trên, ngược với sức hút của trọng lực. Khi các van này bị suy yếu, máu sẽ bị ứ đọng trong lòng mạch, các tĩnh mạch dưới da giãn ra và xoắn lại. Tĩnh mạch bị giãn gây cảm giác đau, tê, phù ở cổ chân và bàn chân, ngứa, chảy máu và viêm tĩnh mạch.

Để phòng tránh giãn tĩnh mạch chân, bạn không nên đứng quá lâu vì sẽ làm cho máu tích tụ ở chân. Khi ngồi, hãy kê bàn chân lên cao đến mức có thể để giảm tụ máu ở chân. Người bị giãn tĩnh mạch chân cần mặc quần bó hoặc mang vớ y khoa để giúp cảm thấy dễ chịu hơn.

Những phương pháp chăm sóc hệ tuần hoàn đúng cách

Bên cạnh việc tuân thủ chế độ ăn uống lành mạnh chung, chúng ta cần:

– Giảm muối có thể làm hạ huyết áp và giảm tiến trình xơ vữa động mạch; nên tránh những thực phẩm mặn rõ (như đồ chiên giòn, thịt heo/cá muối, đồ ngâm nước muối…) và bỏ thói quen nêm thêm muối trong quá trình nấu nướng hoặc trong bữa ăn.

– Tránh nhiệt độ quá lạnh – đây là nguyên nhân khiến cho các mạch máu nhỏ co thắt lại, làm giảm dòng chảy của máu đến các vùng ngoại vi, đặc biệt là ngón tay và ngón chân. Nhiệt độ quá lạnh có thể gây cước (ngứa, da tím vì viêm) và hội chứng Raynaud (các động mạch nhỏ ở ngón tay và ngón chân bị thắt lại).

Lời khuyên của chuyên gia!

Luôn tìm đến bác sĩ nếu bạn nhận thấy tuần hoàn máu kém, chuột rút hoặc đau chân kéo dài.

Thực phẩm chức năng tốt cho hệ tuần hoàn

  • Các hoạt chất chống oxy hóa giúp hạ huyết áp và giảm xơ vữa động mạch. Dầu cá omega-3 có tác dụng làm loãng máu, có thể cải thiện tuần hoàn máu đến các vùng ngoại vi.
  • Axit folic giúp hạ thấp lượng homocystein, một axit amin có thể làm tổn thương lớp lót động mạch; vitamin B12 và B6 cũng có hiệu quả tương tự.
  • Cao bạch quả & chiết xuất tỏi giúp cải thiện tuần hoàn máu đến các vùng ngoại vi.
  • Pycnogenol & chiết xuất từ lá nho đỏ (red vine leaf extract) có thể cải thiện tuần hoàn tĩnh mạch và giảm phù mắt cá chân.
  • Co-enzyme Q10 gia tăng sự hấp thu oxy ở các tế bào và có thể làm giảm cơn đau do tuần hoàn kém.
  • Thuốc bổ sung canxi & ma-giê có thể làm giảm chứng co thắt cơ, chuột rút (vọp bẻ). Ban đầu, các ngón tay/ngón chân bị trắng bệt, tê và ngứa; lúc dòng máu trở lại sau khi bị nghẽn tắc, các ngón tay/ngón chân trở nên tái xanh rồi chuyển sang đỏ chói kèm theo triệu chứng đau và bỏng rát. Do đó hãy luôn giữ ấm các chi bằng găng tay, nón, khăn choàng, vớ dày và băng làm ấm cổ chân mỗi khi thời tiết quá lạnh. Vận động thường xuyên, đặc biệt là đi bộ, vì sự co giãn của cơ chân sẽ làm lưu lượng máu chảy qua chân nhiều hơn đến 1/3.

TRIỆU CHỨNG HỌC HỆ TUẦN HOÀN

 


1.Triệu chứng cơ năng

1.1.
Khó thở:
Là dấu hiệu thường gặp, bao giờ cũng có và có sớm trong suy tim. Có 3 loại
khó thở:

1.1.1.
Khó thở khi gắng sức:
bình thường người bệnh không cảm thấy khó thở, chỉ khi gắng sức mới khó thở:
như khi mang xách nặng, chạy vội, lên thang gác.khó thở càng rõ khi gắng sức
càng nhiều.

1.1.2.
Khó thở thường xuyên:
luôn cảm thấy khó thở, khi nằm càng khó thở, phải ngồi dậy để dễ thở hơn.
Nghỉ ngơi cũng khó thở, khi vận động khó thở càng tăng hơn.

1.1.3.
Khó thở xuất hiện từng cơn:
khi suy tim cấp đưa đến những cơn khó thở đột ngột như: cơn hen tim, phù
phổi cấp.


1.2.Đánh trống ngực

Cảm giác tim đập mạnh, dồn dập. Gặp trong các bệnh cơ tim, van tim, tăng
huyết áp, cường tuyến giáp.


1.3.Đau vùng trước tim

Có khi đau âm ỉ, có khi đau nhói ở vùng mũi tim, đau ở ngực trái, lan lên
vai rồi xuống cánh tay, cẳng tay, ngón tay. Gặp trong các bệnh đau thắt
ngực, nhồi máu cơ tim.


1.4.Ho và ho ra máu

Ho và ho ra máu là do tình trạng ứ máu ở mao mạch phổi. Ho ra máu thường gặp
trong bệnh hẹp van 2 lá làm ứ máu ở phổi, khi bệnh nhân gắng sức, phổi xung
huyết đưa đến ho ra máu, thường ho ra từng ít một khi nghỉ ngơi thì bớt đi.


1.5.Phù

Phù do tim là do ứ máu ở ngoại biên. Phù thường ở vùng thấp trước và về
chiều như ở mắt cá chân, mu bàn chân, nghỉ ngơi thì giảm hay hết phù nhưng
về sau khi suy tim càng nặng thì phù nhiều hơn, phù toàn thân, phù cả ngày
lẫn đêm có thể có nước màng bụng, màng phổi


1.6. Xanh tím

Do thiếu O2, tăng CO2 trong máu, xanh tím xuất hiện ở
môi, đầu ngón tay, chân, nặng hơn tím toàn thân


1.7. Ngất

Là tình trạng mất tri giác trong thời gian ngắn do giảm tuần hoàn và hô hấp
trong thời gian đó.


2.Khám thực thể


2.1. Khám toàn thân

2.1.1.Thể trạng:

-Thể trạng: gầy, béo, cân nặng.

-Màu sắc da, niêm mạc: tím tái, xanh xao, và ng…

-Phù: mức độ vị trí phù, hoặc không phù.

-Tuyến giáp: tuyến giáp to, có rung miu, có tiếng thổi, gặp
trong bệnh Basedow.

2.1.2.Mạch máu:

-Tĩnh mạch cổ: là biểu hiện ra ngoại biên của áp lực trong
các buồng tim phải. Trong suy tim tĩnh
mạch cổ nổi rõ.

-Nghiệm pháp phản hồi gan – tĩnh mạch cổ: Để bệnh nhân nằm
quay mặt sang trái, thở đều, thầy thuốc đặt bàn tay ấn lên vùng hạ sườn
phải. Bình thường tĩnh mạch cổ chỉ nổi lên chút ít rồi trở lại như cũ, khi
có suy tim phải thì tĩnh
mạch cổ nổi lên to lên trong suốt thời gian làm nghiệm pháp.

-Động mạch cảnh: đập mạnh và chìm sâu trong hở van động mạch
chủ (mạch corrigan).

-Đo huyết áp động mạch và huyết áp tĩnh mạch.

2.1.3.Đầu chi và móng:

Phát hiện ngón chân, ngón tay dùi trống trong suy tim, trong một số bệnh tim
bẩm sinh. Thay đổi hình dạng móng tay khum vồng lên như mặt kính đồng hồ
trong một số bệnh tim mạch. Có thể gặp chín mé trong viêm tắc động mạch đầu
ngón tay, trong viêm màng trong tim nhiễm khuẩn.


2.2.Khám tim

Tư thế người bệnh và thầy thuốc: Người bệnh nằm ngửa, bộc lộ vùng ngực. Thầy
thuốc ngồi phía dưới, bên trái hay bên phải người bệnh. Khám theo trình tự
nhìn, sờ, gõ, nghe

2.2.1. Nhìn:

-Lồng ngực: lồng ngực biến dạng gồ ra trước trong bệnh tim từ
bé; trong bệnh tâm phế mạn có thể có lồng ngực lệch, vẹo.

-Mõm tim: bình thường mõm tim đập gian sườn 4 trên đường
trung đòn trái. Khi tim to mõm tim đập ra ngoài đường trung đòn, hay xuống
dưới gian sườn 5, 6, trường hợp dày dính màng tim và màng phổi, mõm tim bị
kéo về phía dày dính…

2.2.2.
Sờ:

Thầy thuốc áp tay lên thành ngực bệnh nhân vùng trước tim.

-Sờ có thể xác định được vị trí mõm tim, cường độ, nhịp điệu,
tần số tim.

-Sờ được rung miêu trong trường hợp tiếng thổi hay tiếng rung
quá lớn

2.2.3.
Gõ:

Để xác định vị trí và kích thước của tim trên lồng ngực. Gõ từ trên xuống
dưới (từ khoảng gian sườn 2 xuống), từ ngoài vào trong (từ đường nách trước
vào phía xương ức). Bình thường diện đục của tim bên phải không vượt quá bờ
phải xương ức, diện đục bên trái không quá đường trung đòn trái. Trong suy
tim, hay tràn dịch màng tim, diện đục tim to ra

2.2.4. Nghe:

-Bình thường: Mõm tim đập gian sườn 4 trên đường trung đòn,tầnsố60- 90

lần/ phút, đều, trùng với mạch quay, nghe được 2 tiếng Ti& T2 +
T: nghe như tiếng bùm: trầm, dài; do đóng van nhĩ
thất.

+
T2: nghe như tiếng tặc: cao, ngắn, do đóng van động mạch.


Bất thường về tiếng tim: Ti&T2 đập yếu trong dịch
màng tim, suy tim, viêm cơ tim.

+
T ở mõm đanh trong hẹp van 2 lá + T2 mạnh ở ổ van động mạch chủ
trong tăng huyết áp + Tiếng ngựa phi: nhịp 3 tiếng trong suy tim.


Các tiếng bất thường:

+
Tiếng thổi tâm thu ở mõm tim: Nghe như tiếng phụt hơi nước trong thời kỳ tâm
thu, do máu phụt ngược lên tâm nhĩ trong bệnh hở van 2 lá

+
Tiếng rung tâm trương ở mõm tim: nghe như tiếng vê dùi trống trên mặt trống
căng trong kỳ tâm trương trong bệnh hẹp van 2 lá .

+
Khi nghe được tiếng thổi tâm thu, cần nhận định phân biệt 2 loại tiếng thổi

 

Tiếng thổi cơ năng

 

Tiếng thổi thực thể

 


Do bệnh thiếu máu, cao huyết áp

 


Do bệnh van tim

 


Thường nhẹ êm dịu. Không có rung miu

 


Thường mạnh, rõ (trừ tiếng thổi tâm trương)

 


Không chiếm hết thì tâm thu

 


Chiếm hết thì tâm thu

 


Thay đổi âm sắc hoặc mất đi khi thay đổi tư thế

 


Không thay đổi khi thay đổi tư thế

-Vị trí nghe các ổ van tim

ô
van 2 lá: trùng với mõm tim ô van 3 lá: sụn sườn thứ 6 bờ phải xương ức ô
van động mạch chủ: gian sườn 2 cách bờ phải xương ức 1,5cm ô van động mạch
phổi: gian sườn 2 cách bờ trái xương ức 1,5cm


3.Phương pháp cận lâm
sàng


3.1.Chụp XQ

XQ tim phổi thẳng: nhận định được bóng tim, tim to toàn bộ hay to một phần
như thất trái to, nhĩ trái to,.

Hình ảnh X. quang tim mạch bình thường tư thế thẳng:

Bên tim phải có 2 cung:

Cung trên: tĩmh mạch chủ trên Cung dưới: nhĩ phải

Bên trái tim có 3 cung:

Cung trên: quai động mạch chủ Cung giữa: thân động mạch phổi Cung dưới: thất
trái

Hình 4

1.Cung
tĩnh mạch chú trên

2. Cung nhĩ
phải

3. Cung động
mạch chù

4. Cung động
míich phòi s. Cung thất Irál

a + b. Đường kính ngang
cùa lim


3.2.Điện tâm đồ

Là một thăm dò cận lâm sàng cơ bản về tim mạch. Điện tâm đồ giúp chẩn đoán,
theo dõi các bệnh mạch vành, rối loạn nhịp tim.


3.3.Siêu âm tim

Là phương pháp thăm dò cho thấy được hình thái và hoạt động của tim, van
tim, các mạch máu lớn.


3.4.Thông tim

Phát hiện được các lỗ thông tại tim

Đo được áp lực trong các buồng tim, thành phần khí trong các buồng tim.

Hướng dẫn cách Thăm khám hệ tuần hoàn, chuẩn, chính xác 99%

 

Ds. Thân Thiện
14/07/2019

Triệu chứng thường gặp ở hệ tuần hoàn:

Các bệnh về tuần hoàn bao gồm tim và các mạch máu, có nhiều triệu chứng chức năng. Những dấu hiệu chức năng chính thường gặp là:

Khó thở

Là dấu hiệu thường gặp, bao giờ cũng có và có sớm. Tùy theo nguyên nhân và giai đoạn của suy tim, khó thở có nhiều mức độ và hình thái khác nhau.

Có 3 giai đoạn khó thở:

Khó thở khi gắng sức:

Người bệnh không cảm thấy khó chịu, chỉ khi gắng sức mới khó thở: mang xách nặng, chạy vội, lên thang gác… khó thở càng rõ khi cố gắng càng nhiều.

Khó thở thường xuyên:

Luôn cả thấy khó thở, khi nằm càng khó thở, phải ngồi dậy để dễ thở hơn. Tư thế bệnh nhân luôn phải ngồi dựa vào tường vào ghế, có khi nằm phủ phục.

Nghỉ ngơi cũng khó thở, khi vận động khó thở càng tăng hơn.

Khó thở xuất hiện từng cơn:

Khi suy tim cấp, đưa đến những cơn khó thở đột ngột như:

Cơn hen tim: Người bệnh như nghẹt thở, thở nhanh, nông, tim đập nhanh – khám không có dấu hiệu về hen phế quản mà có dấu hiệu suy tim trái.

Phù phổi cấp: Khó thở đột ngột, dữ dội, đau tức ngực, phải ngồi dậy để thở, khạc ra nhiều bọt màu hồng – khám có dấu hiệu suy tim trái.

Hướng dẫn cách Thăm khám hệ tuần hoàn
Hướng dẫn cách Thăm khám hệ tuần hoàn

Đánh trống ngực

Cảm giác tim đập mạnh. Trống ngực là do thay đổi nhịp tim nhanh, chậm, ngoại tâm thu, bệnh nhân cảm thấy tim đập rộn ràng, lúc đều, lúc không làm cho sợ hãi, lo lắng, nghẹt thở. Gặp trong các bệnh tim: bệnh van tim, cơ tim, bệnh tăng huyết áp, cường tuyến giáp.v.v…

Cảm giác đánh trống ngực hết, khi nhịp tim trở lại bình thường.

Đau vùng trước tim

Có khi đâu âm ỉ, có khi đau nhói ở vùng mỏm tim, có khi sờ vào cũng thấy đau; đau có thể ở bên ngực trái hoặc lan lên vai rồi xuống cánh tay; cẳng tay và các ngón tay. Gặp trong các bệnh: cơn đau thắt ngực do co thắt động mạch vành, nhồi máu cơ tim, viêm màng ngoài tim.

Ho và khạc ra máu

Trong bệnh hẹp lỗ van 2 lá máu ứ ở phổi, khi bệnh nhân gắng sức, phổi bị xung huyết, đưa đến ho ra máu; thường lượng máu ra ít một và nghỉ ngơi thì bớt đi.

Trong phù phổi cấp, bệnh nhân khạc ra bọt  màu hồng, kèm theo hốt hoảng đau ngực, khó thở nhiều.

Phù

Phù tim thường bắt đầu ở vùng thấp trước, thường là một dấu hiệu chậm, khả năng bù của tim đã giảm và có máu ứ ở ngoại biên. Lúc đầu, phù tim xuất hiện thường về buổi chiều rõ hơn: phù hai mắt cá chân, mu bàn chân, nằm nghỉ ngơi thì giảm hoặc hết phù, nhưng dấu hiệu suy tim vẫn còn (gan to, tĩnh mạch cổ nổi). Trong suy tim nặng thì phù toàn thân hoặc ứ đọng trong các màng bụng, màng phổi.

Dấu hiệu xanh tím

Phản ánh tình trạng thiếu ôxy, màu sắc da và viêm mạc bệnh nhân có thể xanh tím xảy ra lúc đầu ở môi, móng tay, móng chân, sau khi làm việc nặng; về sau dấu hiệu xanh tím có thể xuất hiện toàn thân. Một số bệnh tim bẩm sinh cũng gây dấu hiệu xanh tím như bệnh Fallot 4 v.v…

Ngất

Là tình trạng mất tri giác và cảm giác trong thời gian ngắn, đồng thời giảm rõ rệt hoạt động tuần hoàn và hô hấp trong thời gian đó.

Ngất thường xảy ra đột ngột, trước đó người bệnh cảm thấy chóng mặt hoa mắt, toát mồ hôi rồi ngã xuống, không còn biết gì nữa.

Khám thấy: Mặt nhợt nhạt, chân tay bất động, thở yếu hoặc ngừng thở, tiếng tim nhẹ hoặc ngừng đập, mạch sờ không thấy. Nếu không cứu chữa kịp có thể tử vong.

Các triệu chứng khác

Mệt: không phải là đặc hiệu của bệnh tim mạch, song có ý nghĩa khi xảy ra ở một bệnh nhân tim mạch. Do giảm cung lượng tim là cơ lực giảm sút.

Đái ít: thường xảy ra ở người suy tim, dịch ứ trệ gây phù.

Tê các ngón: do rối loạn chức năng trong bệnh của động mạch, làm co thắt mạch máu ở các ngón. Nếu đi xa, có cảm giác chuột rút ở bắp chân, đau bắp chân, phải xoa bóp cho đỡ đau.

Khám thực thể hệ tuần hoàn

Khám thực thể hệ tuần hoàn là khám theo trình tự một cách hệ thống tim mạch và các bộ phận có liên quan, từ đó có thể biết được các bệnh do tim mạch gây ra và các cơ quan khác ảnh hưởng tới tim mạch như thế nào.

Khám toàn thân

Thể trạng:

  • Thể trạng gầy, béo, cân nặng.
  • Màu sắc da, niêm mạc: tím tái, xanh nhợt, vàng…
  • Phù: mức độ vị trí phù hoặc không phù.
  • Tuyến giáp: tuyến giáp to, có rung miu, có tiếng phổi, gặp trong bệnh Basedow.

Các mạch máu:

Tĩnh mạch cảnh (cổ): là biểu hiện ra ngoại biên của áp lực trong các buồng tim phải. Trong suy tim, tĩnh mạch cảnh nổi rõ nhất.

Nghiệm pháp phản hồi gan – tĩnh mạch cổ: Để bệnh nhân nằm quay mặt sang trái, thở đều – thầy thuốc đặt bàn tay áp lên vùng hạ sườn phải. Bình thường tĩnh mạch cảnh chỉ nổi lên chút ít rồi trở lại như cũ; khi có suy tim phải thì tĩnh mạch cảnh nổi to lên trong suốt thời gian làm nghiệm pháp.

Động mạch cảnh: Đập mạnh và chìm sâu trong hở van động mạch chủ (mạch Corigăng).

Đo huyết áp động mạch và huyết áp tĩnh mạch.

Các chi và móng ngón:

Phát hiện móng chân, móng tay dùi trống trong suy tim, trong một số bệnh tim bẩm sinh; thay đổi hình dạng móng tay khum vồng lên như mặt kính đồng hồ trong một số bệnh về tim mạch; có thể gặp chín mé trong viêm tắc động mạch đầu ngón tay, trong viêm màng trong tim nhiễm khuẩn.

Khám tim

Tư thế người bệnh: Nằm ngửa, cởi bỏ áo vùng ngực, thở đều, tư thế nghỉ ngơi, thoải mái. Người thầy thuốc ngồi bên trái người bệnh.

Khám theo trình tự: Nhìn, sờ, gõ, nghe.

Nhìn:

Quan sát lồng ngực, vùng đập tim của tim:

Mỏm tim: Bình thường, mỏm tim đập ở khoảng liên sườn 4 trái, trên đường qua giữa xương đòn trái. Khi thất trái giãn to, mỏm tim đập ở dưới thấp, khoảng liên sườn 5 hoặc 6 chếch ra phía đường nách trước.

Lồng ngực: Bình thường đập đều đặn, hai bên cân bằng. Nếu người bệnh đã có tim to từ nhỏ, lồng ngực có thể bị biến dạng, nhô ra phía trước. Trong bệnh tâm phế mạn tính, lồng ngực cũng có thể lệch, vẹo.

Sờ:

Sờ vùng trước tim, bàn tay thầy thuốc áp lên thành ngực, xác định vị trí và mỏm tim đập. Trong bệnh hẹp van 2 lá, có thể sờ thấy rung miu tâm trương; trong bệnh hở van 2 lá có thể thấy rung miu tâm thu; trong bệnh còn ống động mạch sẽ thấy rung miu liên tục, mạnh vào cuối tâm thu.

Gõ:

Gõ tim để xác định vị trí và kích thước tim trên lồng ngực. Gõ từ phía trên xuống phía dưới, từ ngoài vào trong: từ khoảng liên sườn 2 trái, lần lượt xuống phía dưới, từ đường nách trước vào phía xương ức, tìm giới hạn vùng đục tương đối và tuyệt đối. Bình thường diện đục bên phải lồng ngực không quá bờ phải xương ức và diện đục bên trái không vượt quá xương đòn trái.

Nghe:

Nghe tim là phần quan trọng nhất trong việc khám tim vì nó cung cấp nhiều triệu chứng có giá trị chẩn đoán.

Cách nghe tim: Dùng ống nghe có loa nghe, loại màng trống

Nghe tim ở 3 tư thế: Bệnh nhân nằm ngửa, nằm nghiêng trái, ngồi hoặc đứng.

Một số biện pháp có thể làm khi cần như: Nghiệm pháp gắng sức: chạy tại chỗ, bảo bệnh nhân nhịn thở để phân biệt tiếng cọ màng tim hay tiếng cọ màng phổi…

Nghe ở các ổ tim:

Có 4 ổ van
tim chính:

  • Ổ van hai lá: Vị trí mỏm tim, ở kẽ liên sườn 4-5, trên đường giữa xương đòn trái.
  • Ổ van ba lá: Ở vùng sụn sườn thứ 6, sát bờ trái mũi ức.
  • Ổ van động mạch chủ: Ở kẽ liên sườn 2 bên phải, cách bờ phải xương ức 1,5cm.
  • Ổ van động mạch phổi: Ở kẽ liên sườn 2 bên trái, cách bờ trái xương ức 1,5cm.
  • Ngoài ra, còn có ổ Frb – Botkin ở liên sườn 3 trái, cách bờ trái xương ức 3cm.

Tiếng tim bình thường:

Mỗi chu
chuyển tim có 2 tiếng: T1 và T2.

Tiếng thứ nhất – T1: Trầm, dài “bùm” nghe đồng thời với lúc mạch đập – sau đó là im lặng ngắn.

Tiếng thứ hai – T2: Ngắn, thanh “tặc” đồng thời với lúc mạch chìm, sau đó là im lặng dài.

T1 nghe rõ ở
mỏi tim, T2 nghe rõ ở đáy tim.

Khi nghe
tim, chú ý đến các yếu tố cường độ và nhịp điệu của tim. Trong sinh lý bình thường,
tiếng tim nghe rõ, cường độ tim đập mạnh khi gắng sức, khi hồi hộp xúc động:
khi chơi thể thao, nhịp tim đập nhanh hơn, nhưng vẫn đều đặn. Khi nghỉ ngơi tiếng
tim trở lại bình thường.

Các dấu hiệu bệnh lý:

Tiếng T1 và T2 thay đổi về cường độ và nhịp điệu, gặp trong các bệnh sau:

  • Cả 2 tiếng đều yếu: gặp trong suy tim, viêm cơ tim, tràn dịch màng ngoài tim, viêm màng trong tim.
  • T1 ở mỏm tim mạnh hơn bình thường: gặp trong bệnh hẹp van hai lá.
  • T2 ở đáy tim, nghe mảnh ở ổ động mạch chủ: gặp trong bệnh tăng huyết áp.
  • T1 và T2 cường độ bằng nhau và biên độ bằng nhau gọi là nhịp tim thai, phản ánh một tình trạng suy tim nặng, tiên lượng xấu.
  • Tiếng ngựa phi: tim nhịp 3 đặc biệt, sinh ra do suy thất trái (rõ ở mỏm tim), hoặc suy thất phải (ở cạnh mũi ức) biểu hiện suy cơ tim nặng.

Các tiếng thổi ở tim:

Tiếng thổi
xuất hiện trong dòng máu xoáy mạnh và theo thời gian di chuyển sang một chu
chuyển tim, ra có 2 loại tiếng thổi:

Tiếng thổi tâm thu: lúc tim co bóp. Tiếng thổi tâm
trương: lúc tim giãn nghỉ.

Muốn phân biệt 2 loại tiếng thổi dựa vào:

  • Mạch: Tiếng thổi cùng một lúc với mạch đập là tiếng thổi tâm thu, nếu sau mạch là tiếng thổi tâm trương.
  • Tiếng tim: Nếu tiếng thổi thay thế hoặc tiếp theo ngay sau T1 là tiếng thổi tâm thu, nếu thay thế hoặc ngay sau T2 là tiếng thổi tâm trương.

Khi xuất hiện tiếng thổi ở tim, cần nói rõ các tính chất
sau đây của một tiếng thổi:

  • Ở thì nào (tâm thu hay tâm trương)
  • Nghe rõ nhất ở ổ van nào?
  • Hướng lan truyền của tiếng thổi
  • Tiếng thổi thay đổi như thế nào khi bệnh nhân
    thay đổi tư thế
  • Âm sắc (êm dịu, ráp, phụt mạnh).

Tùy theo có thương tổn hay không có thương tổn ở van
tim, người ta chia tiếng thổi ra:

  • Tiếng thổi thực tổn: Các van tim bị hở hoặc hẹp
    như trong bệnh hở van hai lá, hở van động mạch chủ.
  • Tiếng thổi chức năng: Tiếng thổi do các lỗ van rộng
    ra mà không có tổn thương, do tim giãn ra, như trong bệnh thiếu máu.

Tiếng thổi tâm thu có thể là thực tổn, gặp trong các bệnh
hẹp, hở lỗ van tim hoặc là chức năng trong các bệnh như thiếu máu. Còn tiếng thổi
tâm trương luôn luôn là một tiếng thổi thực tổn.

Các tiếng bất thường khác:

Clac mở van hai lá: Gặp trong bệnh hẹp van 2 lá xuất hiện đầu thời kỳ tâm trương, nghe gọn, đanh, rõ nhất ở vùng mỏm tim. Tiếng Clac mở là do áp lực nhĩ trái cao, làm mở van hai lá đã có tổn thương xơ dính cũ.

Tiếng rung tâm trương: Là dấu hiệu quan trọng trong hẹp van 2 lá – nghe rõ ở mỏm tim, nghe như tiếng vê dùi trống; không đều, thô và mạnh, tiếng rung tâm trương thường xảy ra sau T2, sau tiếng Clac mở van 2 lá.

Tiếng cọ màng ngoài tim: Nghe thô như hai miếng da cọ vào nhau, nghe thấy ở giữa tim không lan. Thường gặp trong viêm màng ngoài tim.

X.quang tim mạch

Chiếu – chụp (chụp các tư thế thẳng, chếch phải trước, chếch trái trước và nghiêng 900). Chụp thường hoặc chụp có kèm theo uống thuốc cản quan qua thực quản. Mục đích để phát hiện hình ảnh X.quang tim mạch bình thường hoặc bất thường.

Hình ảnh X.quang tim mạch bình thường tư thế thẳng:

Bên tim phải có 2 cung:

  1. Cung trên: tĩnh mạch chủ trên
  2. Cung dưới: nhĩ phải.

Bên tim trái có 3 cung:

  1. Cung trên: quai động mạch chủ
  2. Cung giữa: thân động mạch chủ
  3. Cung dưới: thất trái.

Tư thế chếch phải trước:

Phần tiếp xúc với cơ hoành là thất phải.

Điểm D: điểm gặp giữa tĩnh mạch chủ trên và nhĩ phải.

Điểm D’: điểm gặp giữa nhĩ phải và cơ hoành

Điểm G: điểm gặp giữa động mạch phổi và thất trái

Điểm G’: điểm gặp giữa thất trái và cơ hoành.

Trong trường hợp bệnh lý hẹp hở van tim, hình ảnh các cung tim đều thay đổi.

Điện tâm đồ:

Hiện nay đã trở thành một trong những thăm dò cơ bản về tim mạch, giúp cho thầy thuốc lâm sàng trong việc chẩn đoán và theo dõi bệnh về tim mạch: các bệnh van tim, loạn nhịp, bệnh động mạch vành…

Siêu âm tim

Là một phương pháp thăm dò, cho thấy rõ hình thái và hoạt động của tim, cũng như các mạch máu lớn có liên quan đến tim.

Ngoài ra còn có các phương pháp cận lâm sàng khác.

Tâm thanh cơ đồng đồ:

Đường ghi các tiếng tim và hoạt động co giãn tim và các mạch máu lớn.

Phương pháp thông tim huyết động:

Để giúp chẩn đoán và điều trị các bệnh về tim và mạch máu trong các bệnh viện chuyên khoa.

Chia sẻ tới mọi người

rn rn

rn rn rn rn

rn

rn rn rn rn "};
/* */

Chuyên khoa Tim mạch, khám chữa bệnh tim mạch hệ tuần hoàn

 

Chuyên khoa tim mạch Hello Doctor khám, chẩn đoán và chữa trị các bệnh lý bất thường về tim và liên quan đến hệ tuần hoàn bao gồm: tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim, bệnh động mạch vành, bệnh van tim, suy tim, xơ vữa động mạch, đột quỵ...

☎ Gọi Bác sĩ

유 Chat facebook

Mỗi năm, theo thống kê của tổ chức y tế thế giới, hơn 17 triệu người bị các bệnh về tim mạch cướp đi mạng sống. Số liệu này khẳng định rằng, bệnh tim mạch là bệnh rất nguy hiểm và ảnh hưởng trực tiếp tới mạng sống con người.

Để đảm bảo an toàn cho bản thân, khi gặp các dấu hiệu bất thường, bạn nên gặp ngay bác sĩ để nhận các tư vấn, hoặc thăm khám, xét nghiệm, chẩn đoán để có hướng điều trị bệnh.

Những nguy cơ khiến bạn mắc bệnh tim mạch

Trong các yếu tố nguy cơ tim mạch, có những yếu tố không thể can thiệp như tuổi tác và di truyền, song có nhiều yếu tố có thể can thiệp và dự phòng được như:

  • Tăng, cao huyết áp
  • Rối loạn Lipid máu
  • Thừa cân, béo phì
  • Giảm dung nạp đường/ đái tháo đường (tiểu đường)
  • Thói quen không tốt: ít vận động, hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia - chất có cồn, ăn mặn…

Do đó việc chẩn đoán sớm, phát hiện kịp thời và điều trị tích cực các yếu tố nguy cơ tim mạch góp phần hạn chế các biến chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống, và kéo dài tuổi thọ.

Tham khảo các bệnh về tim mạch.

Các biện pháp cơ bản để tránh bị các bệnh tim mạch

  • Xây dựng và làm quen với chế độ ăn hợp lý: hạn chế mỡ động vật, hạn chế rượu bia, ăn nhạt, ăn nhiều rau quả tươi, ăn thủy hải sản…
  • Giảm cân nếu bạn thừa cân, béo phì.
  • Luyện tập thể dục đều đặn, mỗi ngày ít nhất 45 phút, 5 ngày/ tuần, tùy theo tình trạng sức khỏe
  • Nếu bạn hút thuốc, hãy ngừng ngay.
  • Sinh hoạt điều độ, tránh căng thẳng stress.
  • Khám sức khỏe định kỳ để phát hiện, đánh giá yếu tố nguy cơ tim mạch và các bệnh kèm theo bởi vì bạn khỏe mạnh ở một thời điểm nào đó không đảm bảo rằng bạn không có bệnh suốt đời.

Những triệu chứng nguy hiểm cần nhớ và chăm sóc y tế ngay lập tức

1. Cơn đau thắt ngực

Cơn đau điển hình: Đau đột ngột, thường ở sau xương ức hoặc vùng trước tim, đau như co thắt tim hoặc đau tức, đè nén buộc bệnh nhân ngừng hoạt động, thậm chí ngừng thở. Đau có thể lan ra cánh tay hay vai, sau lưng, kèm theo vã mồ hôi, lo lắng. Cơn đau mất đi nhanh chóng khi ngừng hoạt động hoặc ngậm thuốc giãn mạch vành.

2. Nhồi máu cơ tim

Cơn đau giống như cơn đau thắt ngực nhưng kéo dài trên 20 phút, có khi nhiều giờ, ngậm thuốc giãn mạch vành không đỡ. Có trường hợp đau ở vùng thượng vị, bệnh nhân tím tái, khó thở, buồn nôn, vã mồ hôi.

3. Tai biến mạch máu não

  • Tê hay yếu bại nửa người, có khi chỉ ở một bên mặt, tay, hoặc chân.
  • Choáng váng, nói khó hoặc không hiểu lời người khác nói.
  • Đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân…

Nếu bạn, người thân hoặc ai đó có bất kỳ triệu chứng trên, hãy gọi cấp cứu ngay, hoặc lập tức đến bệnh viện.

Bác sĩ chuyên gia tim mạch

Bác sĩ chuyên khoa tim mạch Phan Thị Kim Ngân

Hệ thống máy móc y khoa phục vụ cho tầm soát bệnh tim mạch

Hệ thống trang thiết bị hiện đại để kiểm tra hệ tuần hoàn bao gồm: tim, mạch máu nhằm phát hiện sớm các bệnh liên quan của bệnh nhân.

 class=

Thông tin hỗ trợ hoặc liên hệ:

Địa chỉ: 152/6 Thành Thái, P12, Q10, HCM hoặc Số 5, Ngõ 95, Ngách 4, Hoàng Cầu, Đống Đa
Hotline: (+84) 19001246
Email: info@chaobs.com

Gọi Bác sĩ

유 Chat facebook

Mối liên hệ giữa tình trạng tăng huyết áp và bệnh lý thận

Luôn có một mối liên hệ giữa tăng huyết áp và bệnh thận. Các bệnh lý về thận như suy thận có thể gây tăng huyết áp và tăng...

Tăng huyết áp kháng trị là gì? Khi nào thì cần phải điều trị?

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng người tuổi càng cao thì càng khó kiểm soát mức huyết áp, nhiều người đã phải sử dụng thuốc để kiểm...

2 phương pháp xét nghiệm giúp chẩn đoán các bệnh tim mạch

Xét nghiệm máu sẽ cho biết một số thông tin gợi ý về tình trạng sức khỏe tim mạch của bạn. Và một số chất khác trong máu giúp cho...

Những điều cần biết về bệnh tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai

Một quan niệm sai lầm phổ biến là tăng huyết áp hiếm khi ảnh hưởng đến phụ nữ. Tuy nhiên, gần một nửa người trưởng thành mắc bệnh tăng huyết áp là phụ nữ....

Bệnh tim - biến chứng tim mạch của bệnh cao huyết áp

Bệnh tim là biến chứng nguy hiểm của bệnh cao huyết áp, dễ gây ra tình trạng tử vong. Nó bao gồm một nhóm các rối loạn như suy tim, bệnh tim...

Biện pháp để sống chung với bệnh suy tim

Một khi đã được chẩn đoán rằng bạn có tình trạng suy tim, sẽ có rất nhiều điều bạn phải thay đổi trong lối sống nhằm giúp nâng cao sức khỏe. Những...

8 sai lầm mà người có bệnh lý tim mạch thường mắc phải

Rất nhiều người đang mắc các bệnh lý về tim mạch có những suy nghĩ sai lệch về căn bệnh của mình, từ đó dẫn tới những điều không mong muốn. Hãy thử...

Tức giận hay lo âu quá mức làm tăng nguy cơ đau tim

“Tuy yếu tố tức giận không có nhiều liên quan đến bệnh đau tim, nhưng với các dữ liệu thu thập được, chúng tôi vẫn cho rằng tức giận làm tăng...

Những khả năng kỳ diệu của hệ tuần hoàn — THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN Tháp Canh

 

Những khả năng kỳ diệu của hệ tuần hoàn

 

HÃY tưởng tượng một căn nhà có hệ thống ống nước rất tinh vi, đến độ chất lỏng chảy qua đó có thể mang theo thực phẩm, nước, khí oxy và các chất phế thải một cách an toàn. Hơn thế nữa, các ống nước này có khả năng tự sửa chữa và bành trướng theo nhu cầu thay đổi của căn nhà. Một thiết kế lỗi lạc làm sao!

 

Tuy nhiên, hệ thống “ống nước” của thân thể bạn còn làm nhiều hơn thế nữa. Ngoài việc giúp điều hòa nhiệt độ của thân thể, nó còn mang theo cả một dàn hoóc-môn phức tạp, hay những chất truyền tin hóa học, và các tuyến phòng thủ mạnh để chống lại bệnh tật. Cả hệ thống cũng mềm mại và dẻo, khiến nó chịu được các va chạm và uốn uyển chuyển theo những bộ phận khác trong cơ thể. Không kỹ sư nào có thể thiết kế một hệ thống như vậy được, nhưng đó là điều mà Đấng Tạo Hóa làm khi Ngài tạo các tĩnh mạch, động mạch và mao mạch của cơ thể con người.

 

Các bộ phận chính của hệ tuần hoàn

 

Hệ tuần hoàn thật ra là hai hệ thống làm việc cùng nhau. Một là hệ tim mạch, bao gồm tim, máu, và tất cả các mạch máu. Hệ kia là hệ bạch huyết​—một mạng lưới mạch dẫn dịch dư gọi là bạch huyết, từ các mô của thân thể trở lại dòng máu. Nếu có thể nối các mạch máu trong cơ thể một người lớn, đầu này giáp đầu kia, thì nó dài 100.000 kilômét và có thể chạy vòng quanh trái đất hai lần rưỡi! Hệ thống đại quy mô này mang máu cần cho sự sống, chiếm 8 phần trăm trọng lượng cơ thể, đến hàng tỉ tế bào.

 

Nguồn năng lực đằng sau hệ tim mạch dĩ nhiên là tim. Kích thước bằng một bàn tay nắm lại, mỗi ngày tim bơm khoảng 9.500 lít máu đi khắp thân thể​—⁠tương đương với việc nâng trọng lượng một tấn lên cao 10 mét mỗi ngày!

 

Đi một vòng hệ tim mạch

 

Máu lưu thông như thế nào? Hãy bắt đầu với máu thiếu oxy. Máu này chảy về tim qua hai tĩnh mạch lớn​—⁠tĩnh mạch chủ trên và dưới. (Xem hình). Những tĩnh mạch này đổ vào phòng đầu tiên của tim, tâm nhĩ phải. Tâm nhĩ phải ép máu vào một phòng nhiều cơ, tâm thất phải. Từ đây máu đi lên phổi xuyên qua ống phổi và hai động mạch phổi​—⁠hai động mạch duy nhất mang máu thiếu oxy. Điều này thường là việc của tĩnh mạch.

 

Ở phổi, máu nhả khí cacbon đioxit và nhận khí oxy. Rồi chạy xuống tâm nhĩ trái qua bốn tĩnh mạch phổi​—bốn tĩnh mạch duy nhất mang máu giàu oxy. Tâm nhĩ trái đổ xuống phòng mạnh nhất của tim, tâm thất trái, từ đó máu nhiều oxy được bơm ra khắp cơ thể qua động mạch chủ. Hai tâm nhĩ co cùng lúc rồi tới hai tâm thất, tạo nên một nhịp đập của tim. Bốn van phía trong tim bảo đảm máu chảy một chiều qua tim.

 

Vì phải bơm máu đi khắp tứ chi của thân thể, cơ bắp tâm thất trái mạnh hơn tâm thất phải khoảng sáu lần. Áp suất tạo thành có thể gây ra sự phình mạch (thành động mạch bị nong hoặc phình) hay thậm chí gây ra các đột quỵ trong não có thể chết nếu không nhờ một cơ quan tinh xảo hấp thu các áp suất đột khởi.

 

Tính đàn hồi của động mạch

 

Động mạch lớn nhất của cơ thể, động mạch chủ, và những nhánh chính của nó tạo thành “các động mạch có tính đàn hồi”. Phần trong thành các động mạch này rộng, khiến máu chảy dễ dàng. Nó cũng có các vách bằng cơ dầy đan với các lớp đồng tâm làm bằng elastin, một chất protein như cao su. Khi tâm thất trái bơm máu vào các động mạch này, chúng dãn ra hoặc phồng lên, hấp thu áp suất cao và đẩy máu tới nhóm động mạch kế, là các động mạch cơ; thành của những động mạch này cũng có elastin. Nhờ thiết kế đặc biệt này nên đến lúc máu chảy tới các mao mạch mỏng manh, thì áp huyết đã ổn định.*

 

Những tiểu động mạch có đường kính trung bình khoảng 1 centimét tới 0,3 milimét. Do các sợi thần kinh đặc biệt đều khiển, các mạch máu này co dãn, giúp điều hòa dòng máu chảy, khiến hệ tuần hoàn rất linh hoạt. Ví dụ, trong trường hợp chấn thương hay báo động, các dây thần kinh áp suất trong vách động mạch báo tới não, rồi não truyền lệnh cho các động mạch thích hợp giảm bớt lượng máu chảy tới các vùng ít quan trọng như da và chuyển hướng máu về các cơ quan chính yếu. Báo New Scientist nói: “Các động mạch có thể ‘cảm nhận’ dòng máu chảy và phản ứng”. Vậy thì có gì lạ không nếu các động mạch được gọi là “các ống dẫn khôn ngoan”?

 

Lúc máu ra khỏi động mạch nhỏ nhất​—⁠các tiểu động mạch⁠—​áp suất của nó ổn định, khoảng 35 milimét thủy ngân. Áp suất thấp và ổn định ở đây là tối cần thiết vì các tiểu động mạch nhập với các mạch máu nhỏ nhất trong các mạch máu, đó là mao mạch.

 

Các hồng cầu đi hàng một

 

Trong các mao mạch rất nhỏ với đường kính là 8 đến 10 micron (1 phần triệu của 1 mét), các hồng cầu chảy qua theo hàng một. Mặc dù thành mao mạch chỉ dày bằng một lớp tế bào, nó vận chuyển chất dinh dưỡng (bằng huyết tương, phần lỏng của máu) và khí oxy (bằng hồng cầu) tới các mô kế cận. Đồng thời khí cacbon đioxit và các phế thải khác tan ra từ các mô nhập lại mao mạch để được loại ra. Bằng một cơ nhỏ li ti giống như nút dây gọi là cơ thắt, các mao mạch cũng có thể điều hòa hướng máu chảy qua nó tùy theo nhu cầu của các mô xung quanh.

 

Từ tiểu tĩnh mạch vào tĩnh mạch rồi tới tim

 

Lúc máu rời khỏi mao mạch, nó chảy vào các tĩnh mạch li ti, gọi là tiểu tĩnh mạch. Khoảng 8 đến 100 micron đường kính, các tiểu tĩnh mạch hợp lại thành tĩnh mạch đem máu trở về tim. Khi về đến các tĩnh mạch, máu mất gần hết áp suất, vì vậy thành tĩnh mạch mỏng hơn thành động mạch. Nó cũng có ít elastin hơn. Thế nhưng lòng nó rộng hơn, do đó các tĩnh mạch chứa tới 65 phần trăm máu của cơ thể.

 

Để bù vào việc áp huyết thấp, các tĩnh mạch đưa máu trở về tim một cách tinh vi. Thứ nhất, nó được trang bị với các van đặc biệt giống hình cái chén để ngừa trọng lực rút máu khỏi tim. Thứ hai, nó dùng cơ xương của thân thể. Như thế nào? Ví dụ, khi bạn bước đi, các cơ của chân cong lại, ép các tĩnh mạch gần đó. Điều này đẩy máu về tim xuyên qua các van một chiều. Cuối cùng áp suất trong bụng và lồng ngực, biến đổi theo nhịp thở, giúp các tĩnh mạch trút máu vào tâm nhĩ phải.

 

Hệ tim mạch rất công hiệu, ngay cả khi cơ thể ở trạng thái nghỉ nó có thể đưa khoảng 5 lít máu về tim mỗi phút! Đi bộ thì khoảng 8 lít, và một người chạy đường trường có thể có tới 37 lít máu qua tim mỗi phút​—⁠gấp 7 lần lượng máu lúc nghỉ!

 

Trong vài trường hợp các van tĩnh mạch có thể bị rỉ vì di truyền, hoặc vì chứng béo phì, có thai hay đứng lâu. Khi các van này yếu, máu tụ lại bên dưới van, làm cho tĩnh mạch dãn ra và trở thành bệnh căng dãn tĩnh mạch. Cũng vậy, việc rặn như khi sanh con hoặc đi tiêuđi ngoài làm tăng áp suất trong bụng, cản trở máu trở về từ các tĩnh mạch hậu môn và ruột già. Điều này có thể gây ra bệnh trĩ.

 

Hệ bạch huyết

 

Khi mao mạch đưa chất bổ tới các mô và nhận chất thải, nó cho chất lỏng nhiều hơn là nhận lại. Các chất protein quan trọng của máu rỉ vào các mô. Vì vậy thân thể cần đến hệ bạch huyết. Hệ này thu tất cả các chất lỏng thừa, gọi là bạch huyết, và đưa nó trở lại dòng máu bằng một tĩnh mạch lớn nơi chân cổ và một cái khác trong ngực.

 

Cũng như với động mạch và tĩnh mạch, có nhiều loại mạch bạch huyết. Cái nhỏ nhất gọi là mao mạch bạch huyết, xuất hiện ở mạng mao mạch. Nhờ có tính dễ thấm cao độ, các mạch nhỏ li ti này hấp thu các chất lỏng thừa và hướng nó tới các mạch tích trữ bạch huyết lớn hơn, để đưa bạch huyết tới các thân mạch bạch huyết. Các thân này hợp lại thành các ống bạch huyết, từ đó đổ vào các tĩnh mạch.

 

Bạch huyết chỉ chảy một chiều​—⁠về hướng tim. Vì vậy các mạch bạch huyết không hợp thành một vòng như hệ tim mạch. Các cơ của mạch bạch huyết yếu, nhờ vào nhịp đập của các động mạch gần đó và hoạt động của tứ chi, giúp đẩy dòng bạch huyết lưu thông trong hệ. Bất cứ sự tắc nghẽn nào của các mạch bạch huyết sẽ làm chất lỏng tụ lại trong vùng bị tắc, làm sưng gọi là phù nề.

 

Các mạch bạch huyết cũng là những đường xâm nhập của sinh vật gây bệnh. Cho nên Đấng Tạo Hóa đã trang bị hệ bạch huyết với những hệ thống phòng thủ hữu hiệu, tức các cơ quan bạch huyết gồm: các hạch bạch huyết nằm rải rác theo các mạch tích trữ bạch huyết, lách, tuyến ức, amyđan, ruột thừa, và các màng lympho (màng Peyer) trong ruột non. Các cơ quan này giúp sản xuất và tích trữ các lympho bào, tức những tế bào chính của hệ miễn dịch. Do đó, một hệ bạch huyết lành mạnh góp phần làm thân thể lành mạnh.

 

Cuộc thăm viếng hệ tuần hoàn của chúng ta kết thúc ở đây. Tuy nhiên, ngay cả cuộc viếng thăm ngắn này cũng đủ cho thấy một thiết kế diệu kỳ, phức tạp và hữu hiệu đáng kinh ngạc. Hơn thế, hệ tuần hoàn lặng lẽ làm nhiệm vụ bất tận của nó, mà bạn không hề biết tới​—⁠trừ phi nó bệnh. Vậy hãy chăm sóc hệ tuần hoàn của bạn, rồi nó sẽ chăm sóc bạn.

 

[Chú thích]

 

Huyết áp được đo bằng khoảng tăng của cột thủy ngân, bằng milimét. Độ cao và thấp của áp suất do tim đập và nghỉ được gọi là huyết áp tâm thu và tâm trương. Các áp huyết này của mỗi người mỗi khác, tùy theo tuổi tác, giới tính, tình trạng căng thẳng tinh thần và thể chất, và mệt mỏi. Huyết áp của phụ nữ thường thấp hơn đàn ông, áp huyết trẻ em thấp hơn và người già cao hơn. Mặc dù có những ý kiến khác nhau đôi chút về áp huyết, nhưng một người trẻ mạnh khỏe có thể có từ 100 đến 140 milimét thủy ngân áp huyết tâm thu và 60 tới 90 milimét áp huyết tâm trương.

 

[Khung/​Hình nơi trang 26]

 

Hãy chăm sóc các động mạch của bạn!

 

Xơ cứng động mạch là nguyên nhân chính gây tử vong ở nhiều nước. Hình thức thông thường nhất là xơ vữa động mạch, khi các mảng chất béo giống như bột yến mạch (vữa động mạch) đóng lại bên trong các động mạch. Những lớp chất béo này làm hẹp lại lòng động mạch, khiến động mạch dễ bị tắc nghẽn toàn diện khi các mảng đến giai đoạn hiểm nghèo và vỡ ra. Những cục máu trôi hoặc sự co thắt cơ của thành động mạch cũng có thể gây ra sự tắc nghẽn toàn diện.

 

Một tình trạng đặc biệt nguy hiểm là sự kết tụ của mảng trên thành các động mạch vành, là động mạch nuôi cơ của tim. Vì vậy cơ tim không nhận đủ máu, gây ra một triệu chứng là cơn đau thắt​—ngực tức và đau âm ỉ, thường nổi lên do gắng sức. Nếu một động mạch vành bị tắc toàn diện, có thể đưa tới một cơn đau tim và cơ tim bị chết. Một cơn đau tim trầm trọng có thể khiến tim ngừng đập hẳn.

 

Những yếu tố khiến một người có nguy cơ mắc bệnh xơ vữa động mạch bao gồm hút thuốc lá, căng thẳng về tình cảm, tiểu đường, chứng béo phì, thiếu tập thể dục, áp huyết cao, ăn nhiều chất béo, và các yếu tố di truyền.

 

[Hình]

 

Lành mạnh

 

Kết tụ ở mức trung

 

Tắc nghẽn ở mức cao

 

[Biểu đồ]

 

(Để có thông tin đầy đủ, xin xem ấn phẩm)

 

Động mạch vành

 

[Biểu đồ nơi trang 24, 25]

 

(Để có thông tin đầy đủ, xin xem ấn phẩm)

 

Hệ tim mạch

 

Máu giàu oxy

 

→ PHỔI →

 

TIM TIM

 

Tâm thất phải Tâm thất trái

 

↑ ↓

 

TĨNH MẠCH ĐỘNG MẠCH

 

↑ ↓

 

TIỂU TĨNH MẠCH TIỂU ĐỘNG MẠCH

 

→ MAO MẠCH →

 

Máu thiếu oxy

 

Máu thiếu oxy

 

Dẫn vào từ cơ thể Dẫn vào từ cơ thể

 

TĨNH MẠCH CHỦ TRÊN TĨNH MẠCH CHỦ DƯỚI

 

↓ ↓

 

TÂM NHĨ PHẢI

 

 

TÂM THẤT PHẢI

 

van

 

 

Dẫn ra phổi

 

ĐỘNG MẠCH PHỔI

 

Máu giàu oxy

 

Dẫn vào từ phổi

 

 

TÂM NHĨ TRÁI

 

van

 

 

TÂM THẤT TRÁI

 

 

ĐỘNG MẠCH CHỦ

 

 

Dẫn ra cơ thể

 

[Biểu đồ nơi trang 25]

 

(Để có thông tin đầy đủ, xin xem ấn phẩm)

 

Tim đập như thế nào

 

1. Trạng thái nghỉ

 

2. Tâm nhĩ co bóp

 

3. Tâm thất co bóp

 

[Hình nơi trang 25]

 

Các tế bào máu chảy qua 100.000 kilômét mạch máu

 

[Hình nơi trang 26]

 

Hình mao mạch, các hồng cầu đi theo hàng một

 

[Nguồn tư liệu]

 

Lennart Nilsson















Leave your Comment