Duy tân minh trị là gì 56

Ra mắt bộ sách kỷ niệm 150 năm Minh Trị Duy Tân (1868-2018)

 

Thông tin này được đưa ra tại Tọa đàm và ra mắt độc giả Việt Nam “Bộ sách kỷ niệm 150 năm Minh Trị Duy Tân” ở Nhật Bản 1868 – 2018 diễn ra ngày 6/2 tại Hà Nội. Sự kiện do Công ty Sách Omega Việt Nam (Omega+) phối hợp với Công ty Sách Alpha (Alpha Books), Trung tâm Hợp tác Trí tuệ Việt Nam (VICC), Tạp chí Tia Sáng và Vinabook tổ chức.

Sách do Nhà xuất bản Thế giới chịu trách nhiệm biên tập và xuất bản.

Với chủ đề “Minh Trị Duy Tân – Những cải cách nền tảng”, TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) đã chia sẻ với đông đảo độc giả và đại biểu tham dự Tọa đàm về những tác động kinh tế của cuộc cải cách cũng như liên hệ với Việt Nam.

 src=

Buổi tọa đàm và ra mắt sách tại Hà Nội (Ảnh: HNV)

Có thể thấy, cuộc cải cách đã đưa nền kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh mẽ trong 30 năm cuối thế kỉ XIX, đưa nước Nhật trở thành một cường quốc quân sự. Nhờ thế, Nhật Bản đã phát triển đất nước theo con đường hiện đại hóa và tránh được sự xâm lược của các nước phương Tây vào thời Cận đại.

Theo TS Nguyễn Đức Thành, cho dù cuộc cách mạng này đã trải qua 150 năm nhưng những bài học từ sự kiện quan trọng làm đổi thay nước Nhật sẽ vẫn còn nguyên giá trị và đáng để đất nước Việt Nam ta, đang trên con đường tiến đến văn minh cần tham chiếu và học hỏi.

Trước đó, ngày 4/2, bộ sách cũng được giới thiệu và ra mắt tại TP Hồ Chí Minh với chủ đề “Minh Trị Duy Tân – Văn minh phương Tây và tinh thần Nhật Bản”./.

Trình bày nội dung cơ bản của cuộc Duy tân Minh Trị.

 

Giải bài tập câu hỏi thảo luận số 1 trang 6 SGK Lịch sử 11

Đề bài

Trình bày nội dung cơ bản của cuộc Duy tân Minh Trị.

Dựa vào sgk Lịch sử 11 trang 5, 6 để trả lời.

Lời giải chi tiết

Nội dung cơ bản của cuộc Duy tân Minh Trị:

Tháng 1-1868, sau khi lên ngôi, Thiên hoàng Minh Trị đã thực hiện một loạt cải cách tiến bộ nhằm đưa Nhật Bản thoát khỏi tình trạng một nước phong kiến lạc hậu. Cuộc Duy tân Minh Trị được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa – giáo dục,…

– Về chính trị:

+ Thủ tiêu chế độ Mạc phủ, thành lập chính phủ mới, trong đó đại biểu của tầng lớp quý tộc tư sản hóa đóng vai trò quan trọng, thực hiện quyền bình đẳng giữa các công dân.

+ Năm 1889, Hiến pháp mới được ban hành, chế độ quân chủ lập hiến được thiết lập.

– Về kinh tế: Thống nhất thị trường, tiền tệ, cho phép mua bán ruộng đất, tăng cường phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống,…

– Về quân sự:

+ Tổ chức và huấn luyện quân đội theo phương Tây, thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự thay cho chế độ trưng binh.

+ Công nghiệp đóng tàu chiến được chú trọng, tiến hành sản xuất vũ khí, đạn dược và mời chuyên gia quân sự nước ngoài,…

– Về giáo dục: thi hành chính sách giáo dục bắt buộc, chú trọng nội dung khoa học – kĩ thuật, cử học sinh giỏi đi du học ở phương Tây,…

⟹ Cuộc Duy tân Minh Trị đã làm thay đổi bộ mặt của Nhật Bản, đưa Nhật Bản phát triển theo con đường TBCN.

Loigiaihay.com

>>Học trực tuyến Lớp 11 trên Tuyensinh247.com, mọi lúc, mọi nơi tất cả các môn. Các thầy cô giỏi nổi tiếng, dạy hay dễ hiểu

Kinh nghiệm của Nhật Bản phát triển nguồn nhân lực từ 150 năm trước

 

VOV.VN – Giáo sư Shinichi Kitaoka chia sẻ ý tưởng hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cao từ kinh nghiệm của Nhật Bản, góp phần vào sự phát triển của Việt Nam.

Giáo sư Shinichi Kitaoka – Chủ tịch Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) vừa có buổi thuyết trình về “Chính sách phát triển nguồn nhân lực của Nhật Bản thời kỳ Minh Trị Duy Tân, ý nghĩa và tác động của nó đối với sự phát triển của Nhật Bản”. Buổi thuyết trình do Ban Tổ chức Trung ương, Đại sứ quán Nhật Bản và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp tổ chức ngày 14/9, tại Hà Nội.

Coi trọng việc đào tạo nguồn nhân lực

Chủ tịch JICA khẳng định, Việt Nam và Nhật Bản đã có mối quan hệ thân thiết từ lâu đời. Việt Nam và Nhật Bản đều có tâm thức chung trong ý thức tự chủ, tiếp nhận kiến thức mới một cách có điều kiện, không bị lai căng hay ảnh hưởng bởi các nền văn hóa khác, đặc biệt là Trung Quốc.

kinh nghiem cua nhat ban phat trien nguon nhan luc tu 150 nam truoc hinh 1
Giáo sư Shinichi Kitaoka – Chủ tịch Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) thuyết trình tại Ban Tổ chức Trung ương sáng 14/9.

Thời kỳ Minh Trị Duy Tân (năm 1868) tại Nhật Bản là một biến đổi chính trị rất lớn. Sự kiện này đã kết thúc một giai đoạn lịch sử dài hơn 700 năm dưới sự thống trị của dòng họ võ sỹ, Giáo sư Shinichi Kitaoka cho biết, Minh Trị Duy Tân là kết quả của một quá trình đấu tranh, chuyển hóa xã hội diễn ra hết sức nhanh chóng trên quần đảo Nhật Bản, với vai trò quan trọng của chính các võ sỹ có vị thế thấp trong việc xóa bỏ chế độ cầm quyền của chính tầng lớp võ sỹ (hệ thống phong kiến tản quyền tại các địa phương).

“Thời kỳ Minh Trị Duy Tân, Nhật Bản là quốc gia đầu tiên của châu Á đã vận hành đất nước bằng hệ thống Hiến pháp. Công cuộc Minh Trị Duy Tân lúc đó đã đưa Nhật Bản chiến thắng hai cuộc chiến tranh “thoát Á, nhập Âu”. 5 lời thề của Chính phủ Minh Trị năm 1868 là: Phát triển chế độ Nghị viện; Mọi chính sách được quyết định dựa trên việc thảo luận công khai; Tìm kiếm tri thức mới của thế giới nhằm chấn hứng đất nước cũng như nền tảng của chế độ triều đình; “Phế phiên lập huyện” – xóa bỏ tầng lớp võ sỹ cầm quyền cát cứ ở các địa phương và “Phú quốc cường binh” đã tạo ra một quốc gia Nhật Bản giàu có và hùng mạnh”, Giáo sư Shinichi Kitaoka chỉ rõ.

Giáo sư Shinichi Kitaoka cũng khẳng định, chính sách coi trọng việc đào tạo nguồn nhân lực con người đã được Nhật Bản đề xuất từ thời kỳ Minh Trị, thể hiện rất rõ trong chính sách chú trọng việc phổ cập giáo dục phổ thông. Đặc biệt là các cấp tiểu học đã được hình thành từ chính các trường học trong các ngôi chùa do các nhà sư dạy dỗ. Trên cơ sở của các trường học này, kiến thức chung của người Nhật Bản đã được nâng cao, làm cơ sở cho việc giáo dục Phổ thông Trung học và Đại học.

Coi trọng và chia sẻ kiến thức

Một bước đi quan trọng của Nhật Bản trong phát triển nguồn nhân lực thời kì Minh Trị Duy Tân được Giáo sư Shinichi Kitaoka đề cập, đó chính là Nhật Bản khi không có nhiều tiềm lực về tài chính nhưng lại được sự ủng hộ mọi người dân. Toàn thể nhân dân Nhật Bản đã cùng đồng lòng, đồng sức xây dựng các trường học, đặc biệt là các trường cấp Đại học.

Chủ tịch Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) – Giáo sư Shinichi Kitaoka là một chuyên gia về chính trị Nhật Bản. Ông từng là Hiệu trưởng Trường Đại học Quốc tế Nhật Bản; đảm nhiệm các chức vụ Giáo sư của Viện Nghiên cứu chính sách quốc gia sau Đại học (GRIPS) trong các năm 2012 – 2015; Giáo sư nghiên cứu sau Đại học về Luật và Chính trị của Đại học Tokyo (1997 – 2004; 2006 – 2012); Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền, Phó Đại diện thường trực của Nhật Bản tại Liên Hợp quốc (2004 – 2006); Giáo sư về Luật và Chính trị của Đại học Rikkyo (1985 – 1997).

Giáo sư Shinichi Kitaoka đã được nhận nhiều Danh hiệu và Giải thưởng như Huy chương với dải ruy băng màu tím cho những thành tựu học thuật năm 2011./.

“Nhật Bản thời kỳ đó đã mời nhiều Giáo sư người nước ngoài đến thỉnh giảng với chính sách mời gọi, tuyển dụng và coi trọng tài năng của người nước ngoài. Những học sinh tham gia học kiến thức từ các chuyên gia nước ngoài đều chăm chỉ, nhiệt huyết tiếp thu kiến thức một cách tối đa. Chỉ trong một thời gian ngắn, những học sinh này đã trở thành những nhân vật nòng cốt, kế cận để tiếp tục phát triển giáo dục, khoa học công nghệ và là những nhà giáo dục thay thế cho đội ngũ Giáo sư người nước ngoài”, Giáo sư Shinichi Kitaoka chia sẻ.

Theo Giáo sư Shinichi Kitaoka, năm 2018, kỷ niệm 150 năm ngày ra đời thời kỳ Minh Trị Duy Tân, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản đã đưa ra sáng kiến, tạo điều kiện trang bị kiến thức cho những thanh niên có năng lực tại các nước đang phát triển, mới phát triển có nhiều điều kiện hơn trong việc tiếp thu nền học vấn cao hơn.

Các học viên này có quyền lưu học và Nhật Bản tạo điều kiện cho họ có cơ hội để có kiến thức trở về xây dựng đất nước của mình. Chính sách này phát huy tinh thần của Minh Trị Duy Tân 150 năm trước và tinh thần hỗ trợ học vấn này đã được Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đồng ý và tạo điều kiện tốt nhất.

“JICA đã mời các thanh niên trẻ có tiềm năng tại các trường Đại học có tiếng ở Nhật Bản xây dựng, tổ chức các chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho học viên nhiều quốc gia. Một trong những quốc gia đang được Nhật Bản quan tâm đó chính là Việt Nam. Nhật Bản mong muốn cùng Việt Nam đưa ý tưởng này đến thành công, góp phần vào sự phát triển của Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới”, Giáo sư Shinichi Kitaoka cho biết./.

Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Umeda Kunio: Kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Nhật Bản – Việt Nam, 150 năm thời kỳ Minh Trị Duy Tân. Việt Nam đang xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn với đề xuất Nhật Bản hỗ trợ cải cách hành chính và đào tạo nguồn nhân lực.

Thủ tướng Shinzo Abe đã khẳng định, hỗ trợ Việt Nam trong cải cách hành chính và đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, thông qua việc tạo cơ hội học tập với hơn 800 cán bộ lãnh đạo của Việt Nam. Chính phủ Nhật Bản đang triển khai hỗ trợ Việt Nam thông qua nhiều hình thức đào tạo nhân lực và chia sẻ kinh nghiệm góp phần cải cách nền hành chính của Việt Nam.

Với mục tiêu đào tạo cán bộ của Đảng và Chính phủ Việt Nam, từ tháng 9/2018, Nhật Bản bắt đầu tiếp nhận 60 Học viên Thạc sỹ sang Nhật Bản học Chương trình Tiến sỹ, cùng nhiều khóa đào tạo, thăm quan tại Nhật Bản dành cho khoảng 100 cán bộ nguồn và nhóm đầu tiên sẽ sang Nhật Bản vào tháng 10 năm nay./.

Theo Nguyễn Quỳnh/VOV.VN

Sách lý giải về thành công của nước Nhật

 

 src=Tác giả cuốn Nhật Bản duy tân 30 năm đã đưa ra nhiều nguyên nhân khiến nước Nhật trở nên thành công như bây giờ

Cuộc Cải cách Minh Trị ở Nhật Bản năm 1868 là sự kiện có tính bước ngoặt cho việc xây dựng một nhà nước Nhật Bản hiện đại và là chủ đề hấp dẫn đối với giới nghiên cứu Việt Nam. Sự kiện này đã đánh dấu sự mở đầu cho một tiến trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa kéo dài 30 năm, đưa Nhật Bản từng bước trở thành một quốc gia phát triển độc lập, hiện đại và hùng cường trong khu vực.

Khi xét về thời kỳ này người ta thường nhắc đến Thiên hoàng Minh Trị, người đặt nền móng cho sự “thần kỳ Nhật Bản”. Tuy nhiên, phía sau vai trò của Thiên hoàng có hay không những căn nguyên, những đóng góp của các nhân vật khác? Và tại sao trong rất nhiều quốc gia khu vực có chung hoàn cảnh lịch sử, điều kiện xã hội như Nhật Bản lại không có được bước phát triển thần kỳ đó?

Nhà khảo cứu lịch sử Đào Trinh Nhất đã từng lý giải tất cả những thắc mắc này qua cuốn sách Nước Nhật Bổn 30 năm duy tân nay được tái bản thành Nhật Bản duy Tân 30 năm và vừa ra mắt bạn đọc trong tháng 5/2015.

Sách lý giải về thành công của nước Nhật

Bằng ngòi bút phê bình sắc sảo pha chất ký sự lịch sử và cách làm việc nghiêm túc, thận trọng, tác giả đã thu thập được những thông tin chính xác, hệ thống về điều kiện địa lý tự nhiên, đặc điểm chủng tộc, các sự kiện lịch sử cùng những nhân vật quan trọng trong giai đoạn này của Nhật Bản. Cuốn sách cũng phân tích rõ lý do tại sao Nhật Bản có thể bắt kịp các nước phương Tây chỉ trong vòng 30 năm trong khi phương Tây phải mất 300-400 năm để đạt được trình độ như vậy.

Một điều thú vị là trong quá trình lý giải các nguyên nhân đó, bằng cái nhìn thận trọng dựa trên những căn cứ xác thực, không vu vơ, không tưởng tượng, tác giả đã đặt quốc gia này trong hệ quy chiếu với các nước trong khu vực, như Trung Quốc, Nam Dương… trong đó có Việt Nam, để thấy rõ căn nguyên tại sao chúng ta đã không thể chuyển mình ngoạn mục như Nhật Bản.

Theo Đào Trinh Nhất, dân tộc Nhật Bản trước hết nhờ sự tin tưởng mình là Thần quốc mà được bền bỉ lâu dài, xưa nay không bị ngoại hoạn; lại nhờ có địa lý hun đúc khiến cho người Nhật có nhiều đức tính tốt: tự tôn, coi trọng danh dự, thượng võ, hiếu chiến, coi cái chết như không và đặc biệt là biết dung hòa tốt. Sau hết nhờ chế độ phong kiến đắp đổi đã thao luyện tinh thần, trí hóa cho họ, cho nên đến khi gặp thời thế phong trào duy tân của họ được nhanh chóng thực hiện và gặt hái thành công.

Ngoài ra, người Nhật cũng chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo Trung Hoa nhưng họ biết tiếp thu có chọn lọc, không mù quáng theo khoa cử, kinh nghĩa, thi phú và sĩ phu không bị danh lợi của cử nhân, tiến sĩ làm cho mê muội. Họ cũng không mê tín, không tin phong thủy, bói toán, không đốt vàng mã, không tin quỷ thần. Vì thế, khi thấy có Tây học văn minh thì họ không chần chừ, nghi ngại mà theo ngay.

Điển hình cho sự khác biệt về tư tưởng này là phụ nữ Nhật Bản có địa vị, được tôn trọng từ rất sớm. Nếu Việt Nam chỉ có duy nhất một vị vua nữ là Lý Chiêu Hoàng, và cũng chỉ tại vị được hơn một năm, ở Trung Hoa có duy nhất Nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên; thì ở Nhật có tới mấy đời Thiên hoàng là nữ.

Cũng theo tác giả Đào Trinh Nhất, mô hình cai trị ở Nhật Bản lúc bấy giờ có phần giống với thời vua Lê chúa Trịnh ở Việt Nam. Suốt mấy trăm năm, Thiên hoàng ở ngôi chỉ như phỗng đá, làm vua hư danh vậy thôi, bao nhiêu đại quyền trong nước đều bị các Tướng quân thay nhau nắm giữ. Mặc dầu vậy, đời Mạc phủ nào cũng vẫn dốc lòng tôn kính hộ vệ Thiên hoàng, luôn tỏ ra tuân thủ các nguyên tắc của đạo lý truyền thống, bởi trên danh nghĩa Thiên hoàng vẫn là người có quyền uy cao, đồng thời là biểu tượng cho sự trường tồn và thống nhất dân tộc.

Ngoài Thiên hoàng Minh Trị (Fukuzawa Yukichi) tác giả Đào Trinh Nhất còn giúp chúng ta biết đến vai trò của Đức Xuyên Khánh Hỷ (Tokugawa Yoshinobu), vị Tướng quân cuối cùng đã đóng vai trò quan trọng trong việc nhanh chóng kết thúc chế độ Mạc phủ, trao lại chính quyền cho Thiên hoàng, cũng như tầng lớp tinh hoa của Nhật Bản, những người ngay từ khi tiến hành cuộc duy tân đã biết mấu chốt của cải cách phải bắt đầu từ học thuật tư tưởng.

Giới nghiên cứu ngày nay cũng đồng quan điểm với tác giả Nhật bản duy tân 30 năm khi cho rằng, một những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự thành công của cuộc cải cách Minh Trị là vai trò của những nhà lãnh đạo mà nổi bật nhất là vai trò của “Duy tân tam kiệt”, bao gồm ba tay chí sỹ Saigo Takamori (Tây Hương Long Thịnh), Okubo Toshimichi (Đại Cửu Bảo Lợi Thông), Kido Takayoshi (Mộc Hộ Hiếu Doãn).

Đây được xem là nhóm lãnh đạo đầu tiên đã có công lèo lái đất nước trong những năm đầu sau cuộc cải cách. Đó là những cánh tay đắc lực đã giúp Thiên hoàng thực hiện những chính sách cải cách về kinh tế, chính trị và quân sự hết sức hiệu quả, góp phần xây dựng chính quyền trung ương và tạo ra một thời kỳ phát triển vượt bậc về văn hóa, luật pháp và quân sự. Các nội dung này cũng được tác giả khảo cứu kỹ lưỡng trong các chương sau chót của cuốn sách.

Đã gần 80 năm trôi qua nhưng Nhật Bản duy tân 30 năm vẫn còn nguyên giá trị thời sự để chúng ta hoàn toàn có thể tự tin mà xếp cạnh những công cuộc kiến tạo quốc gia của cả phương Đông lẫn phương Tây như “Quốc gia khởi nghiệp”, “Đài Loan – Tiến trình hóa rồng” hay “30 năm sóng gió”…

Đào Trinh Nhất (1900-1951) tự Quán Chi, là một học giả, nhà nghiên cứu văn hóa – lịch sử, chính trị – xã hội tài năng. Trong 30 năm cầm bút, ông đã để lại khá nhiều tác phẩm tiêu biểu như: Thế lực khách trú và vấn đề di dân Nam Kỳ (1920), Việt sử giai thoại (1934), Nhật Bản duy tân 30 năm (1936), Phan Đình Phùng – một vị anh hùng có quan hệ đến lịch sử hiện thời (1936), Việt Nam Tây thuộc sử (1937), Đông Kinh nghĩa thục (1938)…

Các tác phẩm của ông là tài liệu tham khảo với nhiều phát hiện quý trong quá trình khảo cứu, sưu tầm, thể hiện các góc nhìn đánh giá, phân tích sự kiện khách quan, có giá trị cao về khoa học.

T.Lê

Trình bày nội dung cơ bản của cuộc Duy tân Minh Trị

 

Chi tiết
Chuyên mục: Bài 1: Nhật Bản

Cuối năm 867 đầu năm 1868, chế độ Mạc phủ bị sụp đổ. Thiên hoàng Minh Trị sau khi lên ngôi đã tiến hành một loạt cải cách tiến bộ toàn diện – Cuộc Duy tân Minh Trị với nội dung cơ bản:

– Chính trị: xác lập quyền thống trị của quý tộc, tư sản ; ban hành Hiến pháp năm 1889, thiết lập chế độ Quân chủ lập hiến.

– Về kinh tế : thống nhất thị trường, tiền tệ, phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống.

– Về quân sự : tổ chức và huấn luyện quân đội theo phương Tây, thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, phát triển công nghiệp quốc phòng.

– Về giáo dục : thi hành chính sách giáo dục bắt buộc, chú trọng nội dung khoa học – kĩ thuật, cử học sinh ưu tú du học ở phương Tây.

→ Cuộc Duy tân Minh Trị đã làm thay đổi bộ mặt quốc gia Nhật Bản, đưa Nhật Bản phát triển theo con đường TBCN. Cuộc Duy Tân Minh Trị có ý nghĩa như một cuộc Cách mạng tư sản.

(Nguồn: trang 6 sgk Lịch Sử 11:)

Nhật Bản duy tân 30 năm

 

Những giá trị mới cho sự phát triển của Việt Nam từ cuộc Cách mạng Minh Trị tại Nhật Bản

 

Những giá trị mới cho sự phát triển của Việt Nam từ cuộc Cách mạng Minh Trị tại Nhật Bản

“Minh Trị Duy tân 150 năm: Nhìn từ Việt Nam” là tên hội thảo quốc tế do Trường Đại học Kinh tế phối hợp với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Việt-Nhật (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Waseda, Nhật Bản, tổ chức ngày 22/11.

Hội thảo được tổ chức nhân kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Nhật Bản (21/9/1973-21/9/2018), 150 năm thực hiện cải cách Minh Trị của Nhật Bản.

Theo ông Umeda Kunio, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam, Minh Trị Duy Tân là một chuỗi cải cách mà Nhật Bản đã thực hiện để hiện đại hóa đất nước tiến lên bước mới.

Về chính trị, Nhật Bản đã tiến hành áp dụng chế độ nội các, xây dựng hiến pháp và thành lập các hội đồng tư vấn chính sách. Đồng thời, cải cách công nghiệp và phát triển ngành đường sắt, bưu điện, thành lập các trường đại học sư phạm và cải cách nhiều lĩnh vực khác nhau…

Đại sứ Umeda Kunio chia sẻ, sự phát triển của Nhật Bản là đã bình đẳng hóa cơ hội trong thời Minh Trị Duy tân. Nhật Bản đã bỏ chế độ về nhân thân là sĩ-nông-công-thương và phát triển con người dựa trên sự cạnh tranh một cách tự do dựa vào năng lực cá nhân để người tài góp phần xây dựng quốc gia.

Nhật Bản cũng đã tiếp thu tri thức từ phương tây, giúp người Nhật Bản có một tinh thần võ sĩ đạo nhưng có tri thức của phương tây. Quá trình cải cách này đã được sự ủng hộ của toàn thể quốc dân.

Đại sứ Umeda Kunio đánh giá, Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi bước ngoặt, nền kinh tế vĩ mô đang phát triển tốt và Việt Nam tràn đầy năng lượng để phát triển, bước vào ngưỡng cửa của các nước phát triển. Do đó, Nhật Bản mong muốn sẽ hỗ trợ Việt Nam thực hiện thành công sự cải cách hành chính, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động. “Nhật Bản và Việt Nam có chung nhiều lợi ích chiến lược, sự phát triển của Việt Nam góp phần vào sự phát triển và ổn định của khu vực châu Á, trong đó có Nhật Bản”, ông Umeda Kunio nói.

Quang cảnh Hội thảo quốc tế
Quang cảnh Hội thảo quốc tế “Minh Trị Duy tân 150 năm: Nhìn từ Việt Nam”

Phát biểu tại Hội thảo, PGS-TS. Nguyễn Hồng Sơn, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, quan hệ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản đang ở trong giai đoạn tốt nhất từ trước đến nay. Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam và là đối tác thương mại đứng thứ 3 của Việt Nam. Năm 2018, Nhật Bản vượt qua Hàn Quốc, trở thành quốc gia có vốn đầu tư lớn nhất vào Việt Nam. Quan hệ hợp tác giữa hai nước ngày càng được tăng cường trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục và quốc phòng.

“Trong bối cảnh đó, trao đổi, thảo luận và chia sẻ những bài học kinh nghiệm được rút ra từ Minh Trị Duy tân của các nhà khoa học Nhật Bản và Việt Nam không chỉ giúp tăng cường trong học thuật mà còn giúp thế hệ trẻ và nhân dân hai nước có được những hiểu biết sâu sắc hơn về tiền đề và ý nghĩa của cuộc cách mạng này đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Nhật Bản. Qua đó góp phần củng cố và thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam Nhật Bản”, PGS-TS. Nguyễn Hồng Sơn bày tỏ.

Hội thảo gồm 2 phiên: “Nhìn lại cuộc cải cách Minh Trị của Nhật Bản” và “Ý nghĩa của Minh Trị duy tân và sự phát triển kinh tế của Việt Nam.”

Với chủ đề “Nhìn lại cuộc cải cách Minh Trị của Nhật Bản,” tham luận của các đại biểu đã làm rõ, luận giải một số nguyên nhân, tiền đề, động lực thúc đẩy phong trào cải cách và đưa cuộc cải cách đến thành công.

Có thể nói, trong tiến trình phát triển của lịch sử Nhật Bản, thời kỳ Minh Trị có một ý nghĩa trọng đại. Nhờ có thành tựu của công cuộc cải cách mà Nhật Bản có thể tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trở thành cường quốc tư bản đầu tiên ở châu Á.

Các đại biểu khẳng định cải cách Minh Trị với vai trò và ý nghĩa lịch sử của nó, đã trở thành nhân tố thiết yếu trong việc thúc đẩy tiến trình phát triển của lịch sử Nhật Bản thời kỳ hiện đại.

Trên bình diện châu Á, những thành tựu của công cuộc cải cách còn có nhiều ảnh hưởng với các quốc gia khu vực. Không ít quốc gia châu Á đã hướng về đảo quốc và muốn đi theo con đường phát triển của Nhật Bản.

Các học giả cũng đưa ra nhiều bình luận về các cách đánh giá khác nhau về Minh Trị Duy tân trong giới khoa học xã hội Nhật Bản.

Bên cạnh đó, các học giả đã trình bày một số liên hệ với tiến trình phát triển của Việt Nam trong cùng thời kỳ với Minh Trị duy tân và thảo luận về các nguyên nhân không thành công của Việt Nam.

Các đại biểu và diễn giả tham dự Hội thảo
Các đại biểu và diễn giả tham dự Hội thảo

Về chủ đề “Ý nghĩa của Minh Trị duy tân và sự phát triển kinh tế của Việt Nam,” các tham luận đi sâu vào các thành tựu cải cách về kinh tế từ thời Minh Trị Duy tân.

Bắt đầu từ sự thay đổi trong nhận thức và tư duy của thế hệ lãnh đạo Nhật Bản, người Nhật đã đón nhận những tư tưởng, tri thức tiến bộ của nhân loại, đưa đất nước Nhật Bản giành được những kỳ tích trên con đường phát triển, xây dựng đất nước.

Riêng trong lĩnh vực kinh tế, những bài học mà cuộc cải cách này mang lại vẫn có ý nghĩa lớn đối với quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế của các quốc gia. Đó là các bài học phát huy lợi thế cạnh tranh của ngành dệt may và một số ngành công nghiệp khác, từ đó cải thiện cơ cấu thương mại; tiếp thu công nghệ, tri thức nước ngoài để thực hiện công nghiệp hóa đất nước; thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân; sự hợp lý và nhất quán trong việc ban hành chủ trương, chính sách của nhà nước; nhanh chóng thích nghi về thể chế khi hội nhập kinh tế quốc tế.

Nhật Bản có hai lần cố gắng theo kịp Tây phương: Thời Minh Trị Duy tân và thời phục hưng hậu chiến cùng với giai đoạn chuẩn bị phát triển cao độ. Cả hai lần đều phát huy tinh thần dân tộc và hình thành năng lực xã hội mạnh mẽ. Chính trị gia, quan chức, doanh nhân và trí thức cùng hướng vào mục tiêu theo kịp Tây phương. Từ giai đoạn thu nhập trung bình thấp, phải có một giai đoạn phát triển mạnh mẽ, mỗi năm 9-10% và kéo dài vài chục năm mới theo kịp các nước tiên tiến. Phát triển với tốc độ thấp hoặc  trung bình cần thời gian rất dài và có thể mất cơ hội.

Theo PGS-TS. Nguyễn Anh Thu, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế – ĐHQGHN, Hội thảo góp phần tăng cường sự hiểu biết về những thay đổi kinh tế, văn hóa và xã hội của Nhật Bản trong công cuộc thực hiện cải cách Minh Trị và ý nghĩa hiện đại của cải cách Minh Trị đối với các nền kinh tế Châu Á, trong đó có Việt Nam.

Đồng thời, nâng cao nhận thức và hiểu biết về hiện trạng quan hệ hợp tác kinh tế toàn diện giữa Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh hội nhập và phát triển trên cơ sở nhìn nhận từ ý nghĩa hiện đại 150 năm thực hiện cải cách Minh Trị.

Qua đó, xây dựng một mạng lưới học thuật với các nhà khoa học, học giả của Đại học Quốc gia Hà Nội, đại học Waseda, Nhật bản và một số trường đại học, viện Nghiên cứu của Nhật Bản, Việt Nam.

“Hội thảo đưa ra những góc nhìn mới, những giá trị mới cho sự phát triển của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu”, PGS-TS. Nguyễn Anh Thu khẳng định.

Thời kỳ Minh Trị: Lịch sử quân sự Nhật Bản, Chính quyền Minh Trị, Trận Hakodate, Minh Trị Duy tân, Trận Toba-Fushimi, Trận thành Utsunomiya – Livros na Amazon Brasil

 

Nguồn: Wikipedia. Các trang: 34. Chương: Lịch sử quân sự Nhật Bản, Chính quyền Minh Trị, Trận Hakodate, Minh Trị Duy tân, Trận Toba-Fushimi, Trận thành Utsunomiya, Kuroda Kiyotaka, Sứ tiết Iwakura, Các điều ước bất bình đẳng, Kazoku, Phiên phiệt, Hải chiến vịnh Miyako, Phế phiên, lập huyện, Kido Takayoshi, Hải chiến vịnh Hakodate, Seikanron, Trận Aizu, Hải chiến Awa, Trận Hokuetsu, Trận Ueno, Trận Kōshū-Katsunuma, Trận đèo Bonari. Trích: Lịch sử quân sự Nhật Bản mô tả cuộc chiến tranh phong kiến kéo dài nhằm tiến tới việc ổn định trong nước, sau đó cùng với việc viễn chinh ra bên ngoài cho tới khi phát triển thành chủ nghĩa đế quốc. Rồi lên đến cực điểm trong hai cuộc thế chiến và cuối cùng kết thúc với sự kiện Nhật Bản đầu hàng quân Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ 2. Kể từ đó, hiến pháp Nhật Bản đã ngăn cấm việc sử dụng lực lượng quân sự để tiến hành chiến tranh với bất kỳ quốc gia nào khác. Ngoại trừ tính từ lúc quân Đồng Minh chiếm đóng Nhật Bản sau Thế chiến II, theo các tài liệu lịch sử ghi nhận thì đảo quốc Nhật Bản chưa bao giờ bị một thế lực ngoại xâm nào xâm chiếm thành công hoàn toàn. Theo nghiên cứu của giới khảo cổ học gần đây thì những cư dân ban đầu tại Nhật Bản đã biết sử dụng và chế tạo những công cụ bằng đá như mũi dao, mảnh lưỡi gươm, những cái nạo, lưỡi dao và rìu thông qua những di vật để lại trong những hang hốc con người ở và những bộ xương người được đào lên cho thấy vết tích của một cuộc chiến tranh sơ khai giữa các bộ tộc, bộ lạc khác nhau ở quần đảo Nhật Bản. Một số nhà lý luận tin rằng trong khoảng thời gian ngắn sau thời kỳ Yayoi ngựa được một số nhóm dân cư mang từ bán đảo Triều Tiên sang miền nam đảo Kyushu, sau đó dần dần lan rộng ra đến phía bắc đảo Honshu, Ngựa cưỡi và công cụ bằng sắt lần đầu tiên được người Triều Tiên truyền bá và giới thiệu tại đảo quốc này. Vào cuối thời kỳ Jomon (khoảng 300 TCN) đã xuất hiện làng mạc và thị trấn được bao quanh bởi tường thành và các hàng rào bằng gỗ do bạo lực gia tăng trong hoặc gi…

 

Leave your Comment