Đồng bằng sông Hồng là gì 100

Chi tiết – Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh

 

Người dân tham quan gian trưng bày các sản phẩm đồ đồng Đại Bái tại Hội chợ Thương mại Bắc Ninh năm 2018.

Theo đó, “Hội chợ công thương Đồng bằng sông Hồng – Bắc Ninh 2019” (gọi tắt là Hội chợ) dự kiến diễn ra từ ngày 15/10 đến 21/10 tại Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc. Tại Hội chợ sẽ trưng bày khoảng 300 gian hàng, trong đó, 50 gian hàng trưng bày các sản phẩm tiêu biểu, sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề của tỉnh; 200 gian hàng trưng bày, giới thiệu, quảng bá và bán các sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề… trong và ngoài tỉnh; 50 gian hàng dành cho khu thương mại, ẩm thực, dịch vụ tổng hợp. Ngoài ra, Hội chợ sẽ dành một phần diện tích cho các doanh nghiệp có nhu cầu trưng bày các sản phẩm có kích thước lớn.

Trong thời gian diễn ra Hội chợ sẽ có nhiều hoạt động được tổ chức như: chương trình giao lưu, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, thương hiệu, công nghệ mới, xúc tiến thương mại, bán buôn, bán lẻ, ký kết hợp đồng hợp tác, chuyển giao công nghệ, phân phối của các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã, các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cùng với đó, tổ chức một số Hội nghị kết nối cung cầu, nâng cao năng lực quản lý cho các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn, hợp tác xã, doanh nghiệp…

Đây là hoạt động nằm trong chương trình Khuyến công Quốc gia do Bộ Công thương và UBND tỉnh chỉ đạo tổ chức nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, du lịch, đầu tư của các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Hồng. Bên cạnh đó, quảng bá, giới thiệu sản phẩm của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, đặc sản của vùng miền và tạo điều kiện tốt cho các đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tăng cường liên doanh liên kết, phát triển sản xuất công nghiệp, mạng lưới phân phối, tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, giới thiệu, quảng bá những tiềm năng thế mạnh, thành tựu kinh tế xã hội của tỉnh đã đạt được trong những năm qua, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại.

Điều hành kinh tế cấp tỉnh khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đông Bắc Bộ

 

BNEWS.VN Hội thảo “Chia sẻ thực tiễn tốt trong việc điều hành kinh tế khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đông Bắc Bộ” do tỉnh Hưng Yên và Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức diễn ra ngày 19/6

 src=

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Đinh Tuấn – TTXVN

“Nâng cao chất lượng điều hành, xóa bỏ các rào cản, để cải thiện môi trường kinh doanh thông thoáng giúp doanh nghiệp phát triển ổn định, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh” là vấn đề được bàn luận tại hội thảo “Chia sẻ thực tiễn tốt trong việc điều hành kinh tế khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đông Bắc Bộ” diễn ra ngày 19/6. Hội thảo do tỉnh Hưng Yên và Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp tổ chức.

Hội thảo bàn luận 2 chủ đề chính gồm: phát triển kinh tế địa phương trong bối cảnh mới và chia sẻ thực tiễn tốt trong cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Theo đó các chuyên gia kinh tế, đã phân tích nhiều thực tiễn về kinh tế khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đông Bắc Bộ.

Theo ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế VCCI, điều tra năm 2018 cho thấy, chi phí không chính thức tiếp tục được cắt giảm; môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp tư nhân đang dần bình đẳng hơn; thủ tục hành chính đang thay đổi theo hướng tích cực.

Qua kết quả điều tra PCI cho thấy, khu vực Đồng bằng Sông Hồng và Đông Bắc Bộ là nơi có mức độ phát triển doanh nghiệp tương đối khá tốt, có tới 30% tổng số doanh nghiệp trên cả nước đầu tư. Điểm số trung bình của 10 lĩnh vực điều hành trong PCI 2018 cho thấy, khu vực Đồng bằng Sông Hồng và Đông Bắc Bộ là nơi được các doanh nghiệp đánh giá tương đối tốt ở khía cạnh tính minh bạch của môi trường kinh doanh, ứng dụng công nghệ trong đăng ký doanh nghiệp, đào tạo lao động, thiết chế pháp lý và an ninh trật tự.

Tuy nhiên ở các lĩnh vực khác lại không được các doanh nghiệp đánh giá cao. Năm 2018, điểm số PCI trung bình của khu vực Đồng bằng Sông Hồng đạt 63,32 điểm, Đông Bắc Bộ đạt 60,61 điểm.

Theo đó, vẫn cần tới những nỗ lực nhiều hơn để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp. Phải tăng cường công khai minh bạch hơn nữa, nâng cao chất lượng lao động và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; cải cách mạnh mẽ các thủ tục hành chính sau đăng ký doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp dân doanh vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Các cơ quan chức năng cần có những biện pháp chính sách hiệu quả và kịp thời, hướng tới một khu vực doanh nghiệp tư nhân hoạt động hiệu quả, phát triển mạnh mẽ và bền vững trong thời gian tới.

Các chuyên gia kinh tế cũng đã chia sẻ các kinh nghiệm, các mô hình tốt, cách làm hay để các tỉnh trong khu vực có thêm thông tin, cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư trong thời gian tới.

Các đại biểu đã chia sẻ thực tiễn của các tỉnh, thành phố điển hình như: xây dựng chính quyền điện tử hướng tới nền hành chính hiện đại và hiệu quả của tỉnh Thừa Thiên Huế; kinh nghiệm về nâng cao chất lượng điều hành, cải thiện môi trường kinh doanh nhằm thúc đẩy phát triển doanh nghiệp của thành phố Hà Nội; kinh nghiệm áp dụng sáng kiến Bộ chỉ số đánh giá năng lực điều hành cấp Sở, Ban, Ngành và địa phương (DDCI) của tỉnh Bắc Ninh…

Đáng chú ý là những kinh nghiệm hay trong chính sách hỗ trợ thu hút đầu tư của tỉnh Quảng Ninh, địa phương dẫn đầu chỉ số PCI năm 2018 về chính sách thu hút đầu tư.

Theo bà Vũ Thị Kim Chi, Phó Trưởng ban Xúc tiến đầu tư tỉnh Quảng Ninh, yếu tố quyết định dẫn đến sự thành công trong DCCI của Quảng Ninh chính là vai trò, sự chỉ đạo quyết liệt trong điều hành của chính quyền, luôn biết lắng nghe tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp với phương châm “theo bước chân nhà đầu tư”. Qua đó, chọn lọc đưa ra những giải pháp cụ thể thiết thực nhằm tháo gỡ khó khăn vướng mắc, tạo môi trường thuận lợi nhất cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.

Về phía tỉnh Hưng Yên, ông Nguyễn Văn Phóng, Chủ tịch UBND tỉnh cho biết, để nâng cao Chỉ số PCI tỉnh chỉ đạo quyết liệt các sở, ngành điều chỉnh giảm thời gian nhiều thủ tục hành chính, cắt giảm tối đa điều kiện đăng ký cấp phép hoạt động. Chỉ số cải cách thủ tục hành chính còn ở mức trung bình so với các tỉnh, thành và có chuyển biến tốt. Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính năm 2018 xếp hạng 3. Chỉ số sẵn sàng ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ICT xếp hạng 9 năm 2018.

Tỉnh Hưng Yên luôn nhìn nhận đánh giá cao chỉ số PCI, coi chỉ số này chính là tiếng nói quan trọng của các doanh nghiệp dân doanh về môi trường kinh doanh, là kênh thông tin tham khảo tin cậy của nhà đầu tư về địa điểm đầu tư, là một động lực cải cách quan trọng đối với môi trường kinh doanh của tỉnh./.

Hạn hán ở Đồng bằng Sông Hồng và một số giải pháp phòng chống | Dung

 

Hạn hán ở Đồng bằng Sông Hồng và một số giải pháp phòng chống

Nguyễn Thị Kim Dung, Đào Kim Lưu

 

Abstract

SUMMARY
The drought of Red River Delta and mitigating solutions
From 2003 to recent, drought has been occurring widely in Red River Delta. Decreasing of flow of main river system, climate change and the operation unproperly of the upper reservoirs had led to water shortage
of the downstream. In addition, increasing of water demand, degradation of water quality, and drought crisis management had made drought become more severely. The article focus on evaluating current
status, the main reason for the drought of Red River Delta and propose some solution for preventing and reducing consequences of drought, focusing problems as followed :
– Water resources integrated management : integrated exploiting plan, distribution properly, and protection of water resources.
– Engineering non-engineering solutions : building multi-purpose constructions at the upstream, applying water-saving irrigation method, seasonal cropshifting, building early warning system, as well as drought management.

 

DOI: https://doi.org/10.15625/0866-7187/32/3/1023
Display counter:
Abstract : 31 views.

PDF : 20 views.

Refbacks

  • There are currently no refbacks.

Vietnam Journal of Earth Sciences, ISSN: 0866 – 7187

Contact address:

tcckhvtd@vjs.ac.vn; vjesmail@gmail.com; phantrongt@yahoo.com

Index: Google Scholar; NRSJ (Norway); Crossref; GeoRef (American Geosciences Institute); VCG; Scilit (Switzerland), Copernicus International; Asean Citation Index; CiteFactor

© Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)

hành động khí hậu tại vùng đồng bằng sông Hồng Archives

 

HẢI PHÒNG, 25/02/2016 – Các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động về biến đổi khí hậu, đại diện các đối tác phát triển quốc tế, các quan chức chính phủ Việt Nam ở cấp trung ương và cấp tỉnh (trong đó bao gồm một số tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng là … Đọc thêm»

Nhiều mô hình, cách làm hay trong công tác bảo vệ môi trường

 

Tại Hội nghị tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010-2020 vừa được tổ chức tại tỉnh Nghệ An ngày 17/8/2019, Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, đến hết tháng 7/2019, vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ đã có 2.402/3.474 xã (đạt 69,1%) được công nhận đạt chuẩn NTM (tăng 48% so với cuối năm 2015, đạt tỷ lệ cao nhất trong cả nước), cao hơn nhiều so với mức đạt chuẩn của cả nước (50,26%). Tuy nhiên, bên cạnh kết quả ấn tượng đạt được, điều đáng chú ý là sự đột phá trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền vận động người dân nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ và xây dựng cảnh quan môi trường nông thôn của hệ thống chính trị các cấp trong vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ trong quá trình xây dựng NTM.

 src=
Vận hành lò đốt rác thải tại xã Nghĩa Hùng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Ảnh: Báo Nam Định.

Đến nay, hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ đã xây dựng và đang triển khai quy hoạch xử lý chất thải rắn sinh hoạt, trong đó xác định những điểm xử lý chất thải tập trung phù hợp với đặc thù của từng địa phương. Giai đoạn 2011- 2015, Nam Định là tỉnh đi đầu cả nước trong việc xây dựng lò đốt chất thải rắn sinh hoạt quy mô cấp xã gắn với mô hình thu gom, vận chuyển, làm giảm đáng kể lượng rác chôn lấp (hiện nay, hệ thống lò đốt rác cấp xã hầu hết đã và đang được cải tạo, nâng cấp để đảm bảo tiêu chuẩn). Từ năm 2016 đến nay, với định hướng xử lý chất thải rắn tập trung quy mô lớn, nhiều địa phương đã đầu tư hệ thống xử lý bài bản, hiệu quả, quy mô cấp huyện, liên huyện, như: Nghĩa Đàn (Nghệ An), Cẩm Xuyên, Can Lộc (Hà Tĩnh), Hưng Yên, Uông Bí (Quảng Ninh), Tam Điệp (Ninh Bình), Thanh Liêm (Hà Nam),… Hoạt động phân loại rác tại nguồn đã được nhiều tỉnh như: Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hà Tĩnh,… tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện. Riêng tỉnh Hà Tĩnh, nhiều huyện đã phân loại được 30-40% lượng rác thải phát sinh, giảm đáng kể lượng rác phải xử lý và nâng cao rõ rệt ý thức của người dân trong thu gom, xử lý chất thải.

Chất thải nông nghiệp được các địa phương quan tâm và có hình thức tái sử dụng hoặc xử lý phù hợp. Nhiều địa phương xây dựng được các mô hình hiệu quả, như: mô hình ép phân ở tỉnh Thái Bình, tỉnh Hưng Yên; mô hình nuôi lợn tiết kiệm nước và tái sử dụng chất thải sau chăn nuôi ở tỉnh Nam Định; mô hình tận dụng phân gia súc sản xuất giun trùn quế ở thành phố Hà Nội; mô hình tận dụng rơm rạ để trồng nấm ở nhiều địa phương (Bắc Ninh, Nam Định, Hà Nam); mô hình cánh đồng không vỏ bao gói thuốc bảo vệ thực vật tại huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; mô hình kết hợp xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật của cơ sở xử lý chất thải nguy hại ETC tại tỉnh Nam Định vừa tiết kiệm chi phí đầu tư, vừa giảm tác động đến môi trường,…

Một số địa phương như: thành phố Hà Nội, tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh Quảng Ninh,… đã bước đầu quan tâm đến việc thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt nông thôn, tìm giải pháp phù hợp với đặc thù phân bố dân cư và điều kiện thực tế từng địa phương, trong đó, đã có những mô hình xử lý nước thải tập trung quy mô lớn ở huyện Hoài Đức (thành phố Hà Nội), thị xã Từ Sơn (tỉnh Bắc Ninh) và mô hình xử lý nước thải phân tán quy mô hộ, nhóm hộ tại một số huyện của tỉnh Hà Tĩnh. Đây chính là cơ sở quan trọng để nghiên cứu, đánh giá, nhân rộng trong xây dựng NTM sau năm 2020.

Phong trào trồng cây xanh, trồng hoa, vẽ bích họa trên các tuyến đường đang phát triển mạnh mẽ ở các địa phương. Nhiều nơi đã có định hướng xây dựng cơ sở hạ tầng – cảnh quan đa năng, đa mục tiêu (mô hình công viên – bãi rác ở huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; mô hình trạm bơm – công viên Vĩnh Trị ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định); các tuyến đường trồng cây, hoa có giá trị kinh tế, vừa tạo cảnh quan môi trường xuất hiện ngày càng phổ biến (mô hình trồng cây dó bầu dọc hàng rào để lấy trầm hương; trồng hàng rào mướp, hàng rào lá mơ ở nhiều địa phương của tỉnh Hà Tĩnh). Những thay đổi từ quan điểm xây dựng cảnh quan không chỉ cho đẹp, mà còn có giá trị kinh tế hay xây dựng các công trình hạ tầng phải đảm bảo tính thẩm mỹ đã và đang biến nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ trở thành những “miền quê đáng sống”./.

Nhật Nam

Nhận định nào sau đây không đúng với Đồng bằng Sông Hồng?

 

 

Nhận định nào sau đây không đúng với Đồng bằng Sông Hồng? | VietJack.com

 

 

 


 

Câu Hỏi:

Nhận định nào sau đây không đúng với Đồng bằng Sông Hồng?

A. Mật độ dân số cao nhất

B. Năng suất lúa cao nhất

C. Đồng bằng lớn nhất

D. Là một trung tâm kinh tế

Đáp án:

Đồng bằng sông Hồng là đồng bằng châu thổ và cũng là vùng có mật độ dân số cao nhất nước ta, năng suất lúa cao nhất và là một trong hai trung tâm kinh tế, văn hóa, thể thao,… lớn nhất nước ta hiện nay.

Đáp án: C.

Thời gian tạo câu hỏi: 12/09/2019

Lượt xem: 278

0 câu hỏi trong bài học này

Các khóa học giúp nâng cao kiến thức Lớp 9

Các khóa học khác giúp nâng cao kiến thức

CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ DỊCH VỤ GIÁO DỤC VIETJACK
Địa chỉ trụ sở chính: Số 3, ngõ 113 Nguyễn Chính, Phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ văn phòng giao dịch: Phòng 1412, Tòa G4, Five Star, số 2 Kim Giang, Phường Kim Giang, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
2015 © All Rights Reserved.

 

Lê Văn Minh. Đồng bằng sông Hồng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù

 

Tạo sản phẩm du lịch đặc thù từ những giá trị đặc thù

Căn cứ vào những giá trị đặc thù về tài nguyên du lịch của vùng ĐBSH, căn cứ vào những điều kiện khác về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ…, có thể định hướng phát triển một số sản phẩm du lịch đặc thù của vùng như sau:

Dựa trên các giá trị của nền văn minh sông Hồng gắn với các giá trị văn hóa làng xã (cây đa – bến nước – sân đình) có thể xây dựng sản phẩm đặc thù “Du lịch về với nền văn minh sông Hồng”: trải nghiệm cuộc sống của người dân Bắc Bộ (homestay); du lịch sinh thái nông nghiệp (tham quan, nghiên cứu, trải nghiệm các thành tựu nông nghiệp, nông thôn); tham quan, nghiên cứu làng cổ, phố cổ, đình, đền, chùa, các di tích văn hóa lịch sử…

Dựa trên giá trị các di sản thế giới như Hoàng thành Thăng Long, Tràng An, dân ca quan họ, Lễ hội Gióng, ca trù, bia đá tiến sĩ Văn Miếu – Quốc Tử Giám có thể hình thành sản phẩm “Du lịch – nơi hội tụ các di sản thế giới”: tham quan nghiên cứu các di sản thế giới; du lịch sinh thái, trải nghiệm sông nước ở di sản thế giới Tràng An; thưởng thức, trải nghiệm dân ca quan họ, ca trù; du lịch tham quan, nghiên cứu trải nghiệm Lễ hội Gióng.

Dựa trên các giá trị Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam xây dựng sản phẩm “Về với ngôi nhà chung của các dân tộc Việt Nam”: tham quan nghiên cứu các giá trị văn hóa dân tộc (kiến trúc nhà ở, trang phục, ẩm thực, truyền thống, phong tục…) trong không gian văn hóa của làng; trải nghiệm cùng cộng đồng các dân tộc đang sinh sống, làm việc tại làng (homestay); du lịch ẩm thực, mua sắm (thưởng thức các món ăn dân tộc, mua sắm hàng thủ công truyền thống dân tộc); du lịch sự kiện (ngày hội văn hóa các dân tộc Việt Nam, giao lưu văn hóa giữa các dân tộc…).

Dựa trên các giá trị về vị thế của thủ đô Hà Nội có thể xây dựng các sản phẩm du lịch MICE;  du lịch tham quan, nghiên cứu; du lịch ẩm thực, mua sắm…

Dựa trên các giá trị văn hóa – tâm linh (Lễ hội chùa Hương, Tây Thiên, chùa Bái Đính, đền Trần, Phủ Giầy…) xây dựng các sản phẩm du lịch hành hương, trải nghiệm các lễ hội tâm linh; du lịch tham quan, nghiên cứu; du lịch “thiền”, du lịch “tĩnh tâm”; du lịch ngắm cảnh, sinh thái (Hương Sơn, Tây Thiên); du lịch sự kiện (Lễ hội Phật đản…)…

Dựa trên giá trị của hệ thống các di tích văn hóa, lịch sử; các bảo tàng; khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng các sản phẩm du lịch tham quan nghiên cứu; du lịch giáo dục truyền thống yêu nước; du lịch tưởng niệm, tri ân.

Những việc cần làm

Để xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù vùng ĐBSH, thiết nghĩ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:

Nâng cao vai trò quản lý nhà nước, vai trò của Hiệp hội Du lịch trong chỉ đạo phát triển du lịch và phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù

Nâng cao năng lực quản lý chuyên ngành Du lịch của các cấp, đặc biệt là cấp quận, huyện trong quản lý nhà nước về du lịch trên từng địa bàn. Cần chú trọng nâng cao năng lực quản lý trong xây dựng và quản lý quy hoạch, quản lý đầu tư phát triển và xây dựng sản phẩm du lịch, quản lý công tác xúc tiến quảng bá, đào tạo bồi dưỡng, quản lý môi trường du lịch…

Các tỉnh, thành phố chỉ đạo việc tăng cường cơ chế liên kết, hợp tác, phối hợp trong hoạt động du lịch giữa các ngành ở địa phương; giữa các địa phương trong vùng. Qua đó tạo ra những sản phẩm du lịch có chất lượng, độc đáo, hấp dẫn và có sức cạnh tranh, tạo ra sự thúc đẩy tương hỗ nhằm phát triển du lịch có hiệu quả.

Hiệp hội du lịch ở các tỉnh, thành phố trong vùng cần nâng cao vai trò chỉ đạo, cầu nối giữa các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn để phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù cho mỗi địa phương và cho toàn vùng.

Liên kết, hợp tác trong phát triển sản phẩm du lịch đặc thù

Liên kết, hợp tác trong xây dựng các chương trình du lịch (tour) chung của toàn vùng: Bên cạnh việc chủ động xây dựng và phát triển các chương trình du lịch riêng mang tính đặc thù của mỗi địa phương, các tỉnh, thành phố trong vùng cần phối hợp xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, các chương trình du lịch chung của toàn vùng.

Liên kết, hợp tác trong đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù: Hiện nay, việc đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch ở hầu hết các địa phương trong vùng ĐBSH còn dàn trải, thiếu tập trung để tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh cao; đầu tư còn thiếu sự hợp tác giữa các địa phương nên dẫn đến sự trùng lặp về sản phẩm. Do vậy, việc hợp tác trong nghiên cứu đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù của vùng cần tránh sự trùng lặp về sản phẩm.

Liên kết, hợp tác trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch có chất lượng cao: Nguồn nhân lực du lịch của các tỉnh, thành phố trong vùng ĐBSH còn thiếu về số lượng, kém về chất lượng, do vậy liên kết, hợp tác trong đào tạo là rất quan trọng. Thông qua sự hợp tác này sẽ góp phần nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ du lịch, tạo ra được một mặt bằng chung về chất lượng sản phẩm du lịch trong vùng, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

Liên kết, hợp tác trong xây dựng một chương trình quảng bá xúc tiến, xây dựng thương hiệu để giới thiệu hình ảnh Du lịch ĐBSH như một điểm đến hấp dẫn: Đây là một nội dung liên kết, hợp tác quan trọng cần sớm được triển khai trong thực tế bởi kết quả của sự liên kết, hợp tác này sẽ đem lại nhiều lợi ích chung, đồng thời giảm được chi phí cho quảng bá xúc tiến của mỗi địa phương.

Tạo cơ chế thu hút đầu tư vào các sản phẩm du lịch đặc thù

Đối với việc phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù ở vùng ĐBSH, việc vận dụng để nghiên cứu xây dựng và ban hành những cơ chế chính sách ưu đãi đặc thù đối với các doanh nghiệp là rất quan trọng. Để thực hiện tốt giải pháp này, UBND các tỉnh, thành phố trong vùng cần vận dụng những điều kiện cụ thể của địa phương để xây dựng cơ chế chính sách ­đặc thù về việc ưu đãi thuế; ưu tiên, miễn giảm thuế; cho chậm tiền thuế có thời hạn; giảm tiền thuế đất; cho vay với lãi suất ­ưu đãi… đối với các doanh nghiệp đầu tư­ vào việc phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù, hấp dẫn; đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh du lịch mới có khả năng tạo nên thương hiệu cho du lịch địa phương và vùng, có khả năng thu hút và tăng thời gian lưu trú cũng như chi tiêu của khách du lịch. Đây là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án du lịch có khả năng tạo ra các sản phẩm du lịch đặc thù.

Khuyến khích và hỗ trợ cộng đồng tham gia phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị tài nguyên

Là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành và xã hội hóa cao, hoạt động phát triển du lịch ở ĐBSH cần gắn liền với sự tham gia của cộng đồng dân cư – nơi có tài nguyên du lịch, đặc biệt đối với cộng đồng là chủ nhân của các làng nghề truyền thống, chủ nhân của các di sản văn hóa phi vật thể thế giới. Trong việc thực hiện giải pháp này, cần có chính sách khuyến khích và hỗ trợ cộng đồng tham gia đầu tư phát triển du lịch ở chính nơi họ sinh sống (đặc biệt ở làng cổ Đường Lâm, các làng nghề truyền thống, các nghệ nhân ca trù, dân ca quan họ…); có cơ chế chính sách khuyến khích và hỗ trợ ban đầu tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia vào các hoạt động du lịch (cả trực tiếp và gián tiếp) nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (vốn đầu tư, lao động và kinh nghiệm…) trong cộng đồng dân cư để đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ du lịch như dịch vụ homestay, hướng dẫn du lịch, sản xuất và bán các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, cung cấp lương thực, thực phẩm…; chú trọng phát triển mô hình du lịch cộng đồng gắn với nông nghiệp nông thôn (phát triển mô hình nông nghiệp công nghệ cao…), gắn với các làng nghề truyền thống…, coi đó là phương thức tiếp cận quan trọng để phát triển du lịch và sản phẩm du lịch đặc thù.

Xúc tiến, quảng bá các sản phẩm du lịch đặc thù

Tổ chức các chương trình giới thiệu sản phẩm du lịch đặc thù vùng ĐBSH ở nước ngoài: Các Sở Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong vùng chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan (Hiệp hội Du lịch Việt Nam, các Hiệp hội Du lịch địa phương…) tổ chức các chương trình xúc tiến du lịch; giới thiệu các sản phẩm du lịch, các điểm đến ở mỗi địa phương, các chương trình khám phá di sản văn hóa thế giới, khám phá nền văn minh sông Hồng… ở các thị trường trọng điểm (Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Mỹ…) nhằm thu hút khách du lịch nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài về thăm ĐBSH.

Tham gia các hội chợ du lịch quốc tế ở nước ngoài: Mỗi địa phương trong vùng (hoặc liên kết giữa các tỉnh, thành phố) chủ động lựa chọn và tham gia các hội chợ du lịch quốc tế quy mô lớn, có uy tín. Tại các hội chợ này có thể xây dựng và giới thiệu gian hàng riêng theo chủ đề của mỗi tỉnh, thành phố hoặc liên kết giới thiệu chung cho toàn vùng ĐBSH…

Quảng bá hình ảnh Du lịch ĐBSH trên các phương tiện thông tin đại chúng quốc tế: cần phối hợp lồng ghép với hoạt động tuyên truyền quảng bá hình ảnh Du lịch ĐBSH với du lịch cả nước, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (hoặc Tổng cục Du lịch) thực hiện.

Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế, tổ chức, tham gia các hội nghị, hội thảo ở nước ngoài nhằm xúc tiến du lịch vùng ĐBSH: Các tỉnh, thành phố chỉ đạo các đơn vị liên quan chủ động tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế về xúc tiến đầu tư, xúc tiến phát triển du lịch (trong nước hoặc nước ngoài); hoặc tham gia hội thảo, hội nghị quốc tế về xúc tiến du lịch trong khu vực, trên thế giới; tranh thủ những diễn đàn du lịch, kinh tế quốc tế để tăng cường hoạt động tuyên truyền quảng bá cho du lịch từng địa phương nói riêng và toàn vùng nói chung…

Nguồn: Tạp chí Du lịch http://www.vtr.org.vn

Hội nghị giao ban KH&CN các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Hồng lần thứ XII

 

giaoban 1

Liên kết vùng về khoa học và công nghệ (KH&CN) là một trong những nội dung được các đại biểu đặc biệt quan tâm, thảo luận sôi nổi tại Hội nghị giao ban KH&CN các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) lần thứ XII, do Bộ KH&CN phối hợp với UBND tỉnh Hải Dương tổ chức ngày 26/4/2019 tại thành phố Hải Dương.

Nhìn lại kết quả hoạt động KH&CN của các tỉnh, thành phố vùng ĐBSH, Vụ trưởng Vụ Phát triển KH&CN địa phương Nguyễn Văn Liễu cho biết, sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng thời gian qua thể hiện rõ vai trò đồng hành của KH&CN trong sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa. Các địa phương đã xác định được danh mục sản phẩm chủ lực, sản phẩm có lợi thế, đặc thù để đề ra chương trình phát triển; xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Nhiều dự án, đề án KH&CN liên kết giữa doanh nghiệp với các tổ chức khoa học trong và ngoài địa bàn đã được tổ chức triển khai. Tuy nhiên, việc liên kết giữa các sở trong hoạt động KH&CN còn chưa được như mong muốn, chưa đề xuất và thực hiện được các nhiệm vụ KH&CN lớn để giải quyết các vấn đề liên tỉnh, liên vùng. Chẳng hạn, hoạt động của hệ thống các trung tâm ứng dụng, trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng của các địa phương trong vùng chưa được kết nối chia sẻ, hầu như đang hoạt động riêng lẻ nên chưa phát huy tối đa các nguồn lực, nhất là hệ thống trang thiết bị đã được đầu tư; chưa có được các nhiệm vụ xây dựng, bảo hộ tài sản trí tuệ của các sản phẩm có tính liên tỉnh, liên vùng.
Tại Hội nghị, không chỉ xoay quanh việc khai thác thông tin, kết nối cung cầu công nghệ, mà nhiều vấn đề mang tính liên vùng khác như nâng cao hiệu quả đầu tư, sản xuất theo chuỗi giá trị, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với các nông sản chủ lực cùng được trồng ở nhiều tỉnh… cũng đã được các đại biểu cùng nhau thảo luận và tìm phương án tháo gỡ.
Phát biểu tổng kết Hội nghị, Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc đánh giá cao sự cố gắng, cũng như những kết quả đã đạt được trong hoạt động KH&CN của từng địa phương và cả vùng ĐBSH. Thứ trưởng chia sẻ, Hội nghị lần này đã bàn tới các vấn đề về nâng cao hiệu quả đầu tư, sở hữu trí tuệ, chuỗi giá trị, liên kết giữa các tỉnh, thành phố, liên kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, cơ quan quản lý… Đồng thời nhận xét, Hội nghị giao ban KH&CN vùng ĐBSH ngày càng đi vào thực chất hơn, bàn đến những vấn đề gần gũi, mang hơi thở cuộc sống hơn, đây là những tín hiệu tích cực. Trên cơ sở ghi nhận những đề xuất, kiến nghị của các đại biểu, Thứ trưởng Phạm Công Tạc đề nghị các địa phương đẩy mạnh hơn nữa hoạt động KH&CN, tăng cường phối hợp với các cơ quan nghiên cứu trong vùng để giải quyết các vấn đề có tính liên vùng, nhanh chóng đưa các tiến bộ khoa học đến gần người dân hơn. Bộ KH&CN luôn đồng hành cùng các địa phương, các tổ chức KH&CN trong vùng để việc ứng dụng KH&CN đạt được hiệu quả cao nhất, thiết thực đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội vùng ĐBSH nói riêng, đất nước nói chung. Thứ trưởng bày tỏ mong muốn, trong các Hội nghị sắp tới, những nội dung được đưa ra thảo luận sẽ gần gũi với cuộc sống, ngày càng hữu ích hơn, đây chính là nhiệm vụ của ngành KH&CN.
Tin và ảnh: HA

Leave your Comment