Chuyển động trái đất là gì 308

Mục lục

Tập bản đồ Địa Lí 6 Bài 8: Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời

 


Tập bản đồ Địa Lí 6 Bài 8: Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời

Bài 1 trang 12 Tập bản đồ Địa Lí 6: Quan sát hình 1, em hãy cho biết:

– Hướng chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời (theo chiều thuận hay ngược chiều kim đồng hồ?)

– Nửa cầu Bắc ngả về phía Mặt trời nhiều nhất vào ngày nào?

– Nửa cầu Nam ngả về phía Mặt trời nhiều nhất vào ngày nào?

– Cả hai nửa cầu Bắc và Nam hướng về phía Mặt Trời như nhau vào những ngày nào?

– Từ sau ngày 21 tháng 3 đến trước ngày 23 tháng 9, nửa cầu nào ngả về phía Mặt Trời nhiều hơn? Lúc đó là mùa………….. của nửa cầu……….. và là mùa ………… của nửa cầu……………..

– Từ sau ngày 23 tháng 9 đến trước ngày 21 tháng 3 năm sau, nửa cầu nào ngả về phía Mặt Trời nhiều hơn? Lúc đó là mùa………….. của nửa cầu……….. và là mùa ………… của nửa cầu……………..

Lời giải:

– Hướng chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời: Theo chiều ngược chiều kim đồng hồ.

– Nửa cầu Bắc ngả về phía Mặt trời nhiều nhất vào ngày hạ chí (22/6).

– Nửa cầu Nam ngả về phía Mặt trời nhiều nhất vào ngày đông chí (22/12).

– Cả hai nửa cầu Bắc và Nam hướng về phía Mặt Trời như nhau vào những ngày: xuân phân (21/3) và thu phân (23/9).

– Từ sau ngày 21 tháng 3 đến trước ngày 23 tháng 9, nửa cầu Bắc ngả về phía Mặt Trời nhiều hơn. Lúc đó là mùa hè của nửa cầu Bắc và là mùa đông của nửa cầu Nam.

– Từ sau ngày 23 tháng 9 đến trước ngày 21 tháng 3 năm sau, nửa cầu Nam ngả về phía Mặt Trời nhiều hơn. Lúc đó là mùa đông của nửa cầu Bắc và là mùa hè của nửa cầu Nam.

Bài 2 trang 12 Tập bản đồ Địa Lí 6: Đánh dấu X vào ô trống thể hiện ý em cho là đúng nhất.

Trong một năm ánh sáng Mặt Trời chiếu:

Vuông góc một lần ở chí tuyến Bắc, một lần ở chí tuyến Nam.
Vuông góc 2 lần ở các vĩ tuyến nằm giữa 2 chí tuyến.
Không vuông góc với các vĩ tuyến nằm ngoài 2 chí tuyến
Tất cả các ý trên

Lời giải:

Trong một năm ánh sáng Mặt Trời chiếu:

Vuông góc một lần ở chí tuyến Bắc, một lần ở chí tuyến Nam.
Vuông góc 2 lần ở các vĩ tuyến nằm giữa 2 chí tuyến.
Không vuông góc với các vĩ tuyến nằm ngoài 2 chí tuyến
x Tất cả các ý trên

Bài 3 trang 13 Tập bản đồ Địa Lí 6: Đánh dấu X vào ô trống thể hiện ý em cho là đúng.

Ngày 21 tháng 3 và ngày 23 tháng 9 là hai ngày

ở hai nửa cầu Bắc và Nam có thời gian chiếu sáng như nhau
Ở các vĩ độ đều có góc chiếu sáng như nhau
Ở các vĩ độ đều nhận được một lượng nhiệt như nhau
Tất cả các ý trên

Lời giải:

Ngày 21 tháng 3 và ngày 23 tháng 9 là hai ngày

x ở hai nửa cầu Bắc và Nam có thời gian chiếu sáng như nhau
Ở các vĩ độ đều có góc chiếu sáng như nhau
Ở các vĩ độ đều nhận được một lượng nhiệt như nhau
Tất cả các ý trên

Bài 4 trang 13 Tập bản đồ Địa Lí 6: Đánh dấu X vào ô trống thể hiện ý em cho là đúng.

Ngày 21 tháng 3 và ngày 23 tháng 9 là hai ngày

Mặt Trời chiếu vuông góc ở xích đạo và chí tuyến
Hai nửa cầu Bắc và Nam đều hướng về phía Mặt trời như nhau.
Cả hai nửa đều nhận được một lượng nhiệt và ánh sáng như nhau
Tất cả các ý trên

Lời giải:

Ngày 21 tháng 3 và ngày 23 tháng 9 là hai ngày

Mặt Trời chiếu vuông góc ở xích đạo và chí tuyến
x Hai nửa cầu Bắc và Nam đều hướng về phía Mặt trời như nhau.
x Cả hai nửa đều nhận được một lượng nhiệt và ánh sáng như nhau
Tất cả các ý trên

Sự chuyển động của Trái Đất quay quanh Mặt Trời

 

Ngày, tháng nào nửa cầu Bắc chúc nhiều nhất về phía Mặt Trời ; vào ngày đó thời gian chiếu sáng, góc chiếu sáng và lượng nhiệt nhận được ở nửa cầu Bắc so với nửa cầu Nam như thế nào.

Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời

 

BÀI 6
Sự CHUYỂN ĐỘNG CỦA
TRÁI ĐẤT QUANH MẶT TRỜI
CÂU HỎI Tự LUẬN
Câu 1
Thế nào là sự chuyển động tịnh tiến của Trái Đất?
Trả lời
Khi trái Đất chuyển động trên quỹ đạo quanh Mặt Trời, trục Bắc-Nam của Trái Đất lúc nào cũng giữ nguyên độ nghiêng và hướng nghiêng của trục không đổi, sự chuyển động như thế gọi là sự chuyển động tịnh tiến
Câu 2
Hãy điền vào hình vẽ dưới đây
+ Ngày, tháng của 4 vị trí Trái Đất trên quỹ đạo
+ Các ngày: hạ chí, đông chí, xuân phân, thu phân •
+ Các mùa
+ Hướng chuyển động của Trái Đất trên quỹ đạo quanh Mặt Trời
123°27’
f 0° 23°27’
Câu 3
Dựa vào hình 23 (trang 25, SGK): Sự vận động của Trái Đất quanh Mặt trời và các mùa ở Bắc bán cầu
Hãy điền vào các chỗ 	 trong bảng dưới đây các mùa (tính
theo dương lịch) ở Bắc bán cầu và Nam bán cầu
Thời gian
Bắc bán cầu
Nam bán cầu
Từ 21 tháng 3 đến 22 tháng 6
•
Từ 22 tháng 6 đến 23 tháng 9
Từ 23 tháng 9 đến 22 tháng 12
Từ 22 tháng 12 đến 21 tháng 3
Câu 4
Tại sao Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời lại sinh ra hai thời kì nóng và lạnh luân phiên nhau ở hai nửa cầu trong một năm?
Trả lời
Chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời sinh ra hai thời kì nóng và lạnh luân phiên ở hai nửa cầu trong một năm do:
Khi chuyến động trên quỹ đạo quanh Mặt Trời, trục Bắc Nam của Trái Đất nghiêng và không đổi hướng, nên trong một năm:
+ Nửa năm đầu (từ ngày 21 tháng 3 đến ngày 23 tháng 9)
Nửa cầu Bắc ngả về phía Mặt Trời, có góc chiếu sáng lớn, nên'nhận được nhiều ánh sáng và nhiệt, nửa cầu bắc có mùa nóng
Nửa cầu Nam không ngả về phía Mặt Trời, có góc chiếu sáng nhỏ, nên nhận được ít ánh sáng và nhiệt hơn nửa cầu Bắc, nửa cầu Nam có mùa lạnh
+ Nửa năm sau (từ ngày 23 tháng 9 đến ngày 21 tháng 3) thì có hiện tượng ngược lại
Câu 5
Vì sao nước ta quanh năm nóng và sự phân hóa bốn mùa không rõ rệt? Hãy kể tên 5 quốc gia có hiện tượng mùa tương tự như miền Nam nước ta
Trả lời
Do nước ta nằm gần xích đạo, trong khu vực quanh năm có góc chiếu sáng của Mặt Trời lớn, nên nhận được nhiều ánh sáng và nhiệt, khí hậu quanh năm nóng và sự phân hóa bôn mùa không rõ rệt như các nước ỏ' khu vực ôn đới
Năm quốc gia có hiện tượng mùa tương tự như miền Nam nước ta là: Lào, Ma-lai-xi-a, Thái Lan, Phi-lip-pin, Cam-pu-chia
Câu 6
Vào những ngày nào trong năm, hai nửa cầu Bắc và Nam đều nhận được một lượng ánh sáng và nhiệt như nhau? Tại sao có hiện tượng như thế?
Trả lời
Vào hai ngày 21 tháng 3 và 23 tháng 9 (dương lịch), hai nửa cầu Bắc và Nam đều nhận được một lượng ánh sáng và nhiệt như nhau
Có hiện tượng như thế do vào hai ngày này, hai nửa cầu Bắc và Nam đều có góc chiếu sáng của Mặt Trời như nhau
Câu 7
Nếu trục Bắc -Nam của Trái Đất không đổi hướng và đứng thẳng (vuông góc với mặt phảng quỹ đạo) khi Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời, thì hiện tượng mùa trên Trái Đất sẽ như thế nào?
Trả lời
Nếu trục Bắc - Nam của Trái Đất không đổi hướng và đứng thẳng trên quỹ đạo khi Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời, thì trên Trái Đất người ta không phân biệt được các mùa
Câu 8
Trả lời bằng cách điền vào chỗ 	 của câu
Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời theo một quỹ đạo có
hình	
Thời gian Trái Đất chuyển động giáp một vòng quanh Mặt
Trời là 	
Chuyển động trên quỹ đạo quanh Mặt Trời, Trái Đất lúc nào
cũng giữ nguyên độ nghiêng và hướng nghiêng của trục Bắc - Nam không đổi, sự chuyển động đó gọi là 	
Sự phân bố lượng nhiệt, ánh sáng và cách tính mùa ở hai
nửa cầu Bắc và Nam 	
Hai nửa cầu Bắc và Nam đều nhận được một lượng nhiệt và
ánh sáng như nhau vào các ngày 	
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
(Khoanh tròn chỉ một chữ cái trước đáp án chọn)
Câu 1
Ớ Bắc bán cầu, theo dương lịch, ngày nào là ngày hạ chí?
A. 21 tháng 3	B. 22 tháng 6
c. 23 tháng 9	D. 22 tháng 12
Câu 2
Ở Bắc bán cầu, ngày 23 tháng 9 (dương lịch) là ngày A. xuân phân	B. thu phân
c. hạ chí	D. đông chí
Câu 3
Ngày bắt đầu các mùa ở Bắc bán cầu theo âm - dương lịch chênh với ngày bắt đầu các mùa theo dương lịch khoảng
A. 15 ngày	B. 25 ngày
35 ngày	D. 45 ngày
Câu 4
Hai bán cầu có góc chiếu như nhau vào các ngày
21 tháng 3 và 22 tháng 6
22 tháng 6 và 22 tháng 12
21 tháng 3 và 23 tháng 9
23 tháng 9 và 22 tháng 12
Câu 5
Vào ngày nào Nam bán cầu nhận được lượng nhiệt và ánh sáng Mặt Trời ít nhất?
A. 21 tháng 3	B. 23 tháng 9
c. 22 tháng 6	D. 22 tháng 12
Câu 6
Vào ngày nào Bắc bán cầu nhận được lượng nhiệt và ánh sáng Mặt Trời nhiều nhất?
A. 21 tháng 3 c. 23 tháng 9
B. 22 tháng 6
22 tháng 12
Câu 7
Nguyên nhân của hiện tượng mùa khác nhau ở hai bán cầu của Trái Đát là
Trải Đất vừa tự quay, vừa chuyển động quanh Mặt Trời
Sự chuyển động tịnh tiến của Trái Đất quanh Mặt Trời
c. Trái Đất có hình dạng khối cầu và chuyển động quanh Mặt Trời
D.Trục Bắc - Nam của Trái Đất thay đổi hướng khi Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời
in. ĐÁP ÁN
Câu 8
elip gần tròn
365 ngày 6 giờ
sự chuyển động tịnh tiến
hoàn toàn trái ngược nhau
21 tháng 3 và 23 tháng 9 Câu hỏi trắc nghiệm
1 B, 2 B, 3 D, 4 c, 5 c, 6 B, 7 B

Hiện tượng tự quay của Trái Đất – Wikipedia tiếng Việt

 

 src=

Một hình ảnh động hiển thị vòng quay của Trái Đất quanh trục của nó

 src=

Trời đêm trên dãy Himalaya Nepal, cho thấy đường của sao khi Trái Đất quay.

Hiện tượng tự quay của Trái Đất là sự quay của hành tinh Trái Đất xung quanh trục của nó. Trái Đất quay từ phía tây sang phía đông. Nhìn từ sao Bắc cực Polaris, Trái Đất quay ngược chiều kim đồng hồ.

Bắc Cực, cũng được biết đến là Cực Bắc địa lý, là điểm ở Bán cầu Bắc mà trục quay của Trái Đất gặp bề mặt. Điểm này khác với Cực Bắc từ của Trái Đất. Nam Cực là điểm còn lại mà trục quay của Trái Đất gặp bề mặt, ở Châu Nam Cực.

Trái Đất quay một vòng khoảng 24 giờ so với Mặt Trời và 23 giờ, 56 phút và 4 giây so với các ngôi sao (xem phần dưới). Hiện tượng tự quay của Trái Đất giảm nhẹ với thời gian; vì vậy, một ngày trong quá khứ ngắn hơn. Điều này là do hiệu ứng thủy triều Mặt Trăng tác động lên Trái Đất. Đồng hồ nguyên tử cho thấy một ngày trong thời hiện đại chậm hơn khoảng 1,7 mili giây so với một thế kỷ trước,[1] từ từ tăng tốc độ Giờ Phối hợp Quốc tế được điều chỉnh bởi giây nhuận. Phân tích về ghi chép thiên văn học trong lịch sử cho thấy xu hướng chậm lại 2,3 mili giây mỗi thế kỷ từ thế kỷ thứ 8 TCN.[2]

Trong số những người Hy Lạp cổ đại, một vài trường phái Pythagoras tin rằng có Trái Đất tự quay thay vì sự quay vòng ngày đêm của thiên đường. Có lẽ người đầu tiên là Philolaus (470–385 TCN), mặc dù hệ thống của ông ấy phức tạp, bao gồm một phản-Trái Đất quay hàng ngày quanh một ngọn lửa trung tâm.[3]

Một bức tranh thông thường hơn được ủng hộ bởi Hicetas, Heraclides và Ecphantus trong thế kỷ thứ 4 TCN, những người cho rằng Trái Đất quay nhưng không cho rằng Trái Đất quay quanh Mặt Trời. Trong thế kỷ thứ 3 TCN, Aristarchus của Samos gợi ý về thuyết nhật tâm.

Tuy nhiên, Aristotle trong thế kỷ thứ 4 chỉ trích về ý tưởng của Philolaus là dựa vào lý thuyết hơn là quan sát. Ông ấy đưa ra ý tưởng một quả cầu định tinh quay quanh Trái Đất.[4] Điều này được chấp nhận bởi hầu hết những người sau đó, cụ thể là Claudius Ptolemy (thế kỷ thứ 2 SCN), người nghĩ rằng Trái Đất sẽ bị phá hủy bởi bão nếu nó quay.[5]

Năm 499 SCN, nhà thiên văn học người Ấn độ Aryabhata viết rằng Trái Đất tròn quay quanh trục của nó hàng ngày, và dịch chuyển biểu kiến của sao là một chuyển động tương đối gây ra bởi sự quay của Trái Đất. Ông ấy cung cấp sự tương đồng sau: “Chỉ khi một người trên thuyền đi trên một hướng nhìn những vật tĩnh trên bờ như đang di chuyển về hướng ngược lại, tương tự như một người ở Lanka những định tinh có vẻ đi về hướng tây.”[6][7]

Trong thế kỷ thứ 10, một số nhà thiên văn học Hồi giáo chấp nhận rằng Trái Đất quay quanh trục của nó.[8] Al-Biruni, Abu Sa’id al-Sijzi (d. circa 1020) phát minh một thước trắc tinh gọi là al-zūraqī dược trên ý tưởng được tin bởi một số người đương thời của ông ấy rằng “chuyển động chúng ta nhìn thấy là do dịch chuyển của Trái Đất và không do bầu trời.”[9][10] Sự phổ biến của quan điểm này sau đó được xác nhận bởi nguồn tham khảo từ thế kỷ thứ 13 mà cho rằng: “Theo những nhà hình học [hoặc kỹ sư] (muhandisīn), Trái Đất đang ở trong chuyển động tròn bất biến, và cái được cho là chuyển động của thiên đàng thược tế là do chuyển động của Trái Đất và không phải là các ngôi sao.”[9] Các luận án đã được viết để tranh luận về khả năng của nó, gồm những lời bác bỏ hoặc thể hiện nghi ngờ về tranh cãi phản đối nó của Ptolemy.[11] Tại đài thiên văn Maragha và Samarkand, sự quay của Trái Đất được tranh luận bởi Tusi (b. 1201) và Qushji (b. 1403); lý lẽ và bằng chứng họ sử dụng giống với những gì Copernicus sử dụng để ủng hộ chuyển động của Trái Đất.[12]

Ở châu Âu Trung Cổ, Thomas Aquinas chấp nhận quan điểm của Aristotle[13] và do đó, một cách miễn cưỡng, cả John Buridan[14] và Nicole Oresme[15] trong thế kỷ thứ 14. Mãi đến khi Nicolaus Copernicus thông qua hệ thống nhật tâm năm 1543 đã xác minh hiện tượng tự quay của Trái Đất. Copernicus chỉ ra rằng Trái Đất dịch chuyển dữ dội, và sự dịch chuyển của các ngôi sao cũng vậy. Ông ấy công nhận đóng góp của môn đồ Pythagoras và đưa ra ví dụ chuyển động có liên quan. Đối với Copernicus đây là bước đầu trong việc tạo ra mô hình đơn giản hơn về các hành tinh xoay quanh Mặt Trời ở tâm.[16]

Tycho Brahe, người đưa ra các quan sát chính xác mà các định luật của Kepler dựa vào đó, sử dụng thành quả của Copernicus làm nền tảng của hệ thống cho rằng Trái Đất tĩnh. Năm 1600, William Gilbert ủng hộ mãnh liệt sự tự quay của Trái Đất trong luận án của ông về từ trường Trái Đất[17] và do đó tác động đến nhiều người đồng nghiệp của ông ấy.[18] Những người như Gilbert mà không thẳng thắn ủng hộ hoặc bác bỏ chuyển động của Trái Đất xung quanh Mặt Trời thường được gọi là “người bán Copernicus”.[19] Một thế kỷ sau Copernicus, Riccioli tranh cãi về mô hình Trái Đất quay do thiếu quan sát sự lệch hướng về phía đông của cát vật rơi xuống;[20] sự lệch hướng này sau đó được gọi là hiệu ứng Coriolis. Tuy nhiên, cống hiến của Kepler, Galileo và Newton tổng hợp ủng hộ cho lý thuyết về sự quay của Trái Đất.

Ngày Mặt Trời thực[sửa | sửa mã nguồn]

Chu kỳ tự quay của Trái Đất so với Mặt Trời (từ trưa thực đến trưa thực) là ngày Mặt Trời thực của nó. Nó phụ thuộc vào chuyển động quỹ đạo của Trái Đất và do đó bị ảnh hưởng bởi thay đổi trong độ lệch tâm và độ nghiêng của quỹ đạo Trái Đất. Cả hai đều thay đổi sau hàng nghìn năm nên sự thay đổi hàng năm của ngày mặt trời thực cũng thay đổi. Thông thường, nó dài hơn ngày Mặt Trời trung bình trong hai gian đoạn của năm và ngắn hơn trong hai giai đoạn còn lại.[n 1] Ngày Mặt Trời thực có xu hướng dài hơn gần điểm cận nhật khi Mặt Trời di chuyển biểu kiến theo mặt phẳng hoàng đạo qua góc lớn hơn bình thường, cần khoảng 10 giây dài hơn để làm vậy. Ngược lại, nó là khoảng 10 giây ngắn hơn gần điểm viễn nhật. Nó là khoảng 20 giây dài hơn gần điểm chí khi hình chiếu của sự dịch chuyển biểu kiến theo mặt phẳng hoàng đạo lên xích đạo thiên cầu khiến Mặt Trời di chuyển qua góc lớn hơn bình thường. Ngược lại, gần điểm phân hình chiếu lên xích đạo ngắn lại khoảng 20 giây. Hiện nay, hiệu ứng điểm cận nhật và điểm chí kết hợp để kéo dài ngày mặt trời thực gần ngày 22 tháng 12 bởi 30 giây mặt trời trung bình, nhưng hiệu ứng điểm chí bị loại bỏ một phần bởi hiệu ứng điểm viễn nhật gần ngày 19 tháng 6 khi nó chỉ 13 giây dài hơn. Hiệu ứng điểm phân ngắn lại gần ngày 26 tháng 3 và ngày 16 tháng 9 bởi 18 giây và 21 giây lần lượt.[21][22][23]

Ngày Mặt Trời trung bình[sửa | sửa mã nguồn]

Trung bình của ngày Mặt Trời thực trong khoảng thời gian cả năm là ngày Mặt Trời trung bình, nó bao gồm 86.400 giây Mặt Trời trung bình. Hiện tại, mỗi giây này dài hơn giây SI một chút bởi vì ngày Mặt Trời trung bình của Trái Đất bây giờ dài hơn một chút so với giá trị thế kỷ 19 của nó do ma sát thủy triều. Độ dài trung bình của ngày Mặt Trời trung bình kể từ việc giới thiệu giây nhuận năm 1972 khoảng từ 0 đến 2 ms so với 86.400 giây SI.[24][25][26] Dao động ngẫu nhiên do kết nối lõi-manti có biên độ khoảng 5 ms.[27][28] Giây Mặt Trời trung bình giữa năm 1750 và 1892 đã được chọn năm 1895 bởi Simon Newcomb làm đơn vị thời gian độc lập trong Bàn Mặt Trời của ông ấy. Bàn này được sử dụng để tính lịch thiên văn của thế giới giữa năm 1900 và 1983, nên giây này được biết đến là giây lịch thiên văn. Năm 1967 giây SI được làm bằng giây lịch thiên văn.[29]

Thời gian Mặt Trời biểu kiến là một phép đo sự quay của Trái Đất và độ chênh lệch giữa nó và thời gian Mặt Trời trung bình được biết đến là phương trình thời gian.

Ngày stellar và ngày sidereal[sửa | sửa mã nguồn]

 src=

Chu kỳ quay của Trái Đất so với định tinh được gọi là ngày stellar bởi Tổ chức quốc tế về Sự xoay của trái đất và Các hệ thống tham chiếu (IERS) là 86.164,098 903 691 giây thời gian Mặt Trời trung bình (UT1) (23h 56 4,098 903 691s, 0,997 269 663 237 16 ngày Mặt Trời trung bình).[30][n 2] Chu kỳ quay của Trái Đất so với tiến động hoặc di chuyển điểm xuân phân trung bình, gọi là ngày sidereal, là 86.164,090 530 832 88 giây thời gian Mặt Trời trung bình (UT1) (23h 56 4,090 530 832 88s, 0,997 269 566 329 08 ngày Mặt Trời trung bình).[30] Do đó ngày sidereal ngắn hơn ngày stellar khoảng 8,4 ms.[32]

Cả ngày stellar và ngày sidereal ngắn hơn ngày Mặt Trời trung bình khoảng 3 phút 56 giây. Ngày Mặt Trời trung bình trong giây SI có thể xem ở IERS trong giai đoạn năm 1623–2005[33] and 1962–2005.[34]

Gần đây (1999–2010) độ dài trung bình hàng năm của ngày Mặt Trời trung bình đã thay đổi vượt quá 86.400 giây SI giữa 0,25 ms và 1 ms, nó phải được thêm vào cả hai giá trị của ngày stellar và ngày ở phần trên để có được độ dài trong giây SI (xem Biến động độ dài ngày).

Vận tốc góc[sửa | sửa mã nguồn]

 src=

Đồ thị vĩ độ và tốc độ tiếp tuyến. Đường gạch hiển thị ví dụ trung tâm không gian Kennedy. Đường gạch chấm cho thấy vận tốc máy bay với tốc độ hành trình điển hình.

Vận tốc góc của sự tự quay của Trái Đất trong không gian quán tính là (7,2921150 ± 0,0000001) ×10−5 radian trên giây SI (giây Mặt Trời trung bình).[30] Nhân với (180°/π radian)×(86.400 giây/ngày Mặt Trời trung bình) được 360.9856°/ngày Mặt Trời trung bình, cho thấy Trái Đất quay hơn 360° so với những định tinh trong một ngày Mặt Trời. Sự di chuyển của Trái Đất dọc theo quỹ đạo gần tròn của nó trong khi nó đang tự quay quanh trục của mình đòi hỏi Trái Đất quay quanh trục nhiều hơn một vòng một chút so với những ngôi sao cố định trước khi Mặt Trời trung bình có thể vượt lên trên lại, mặc dù nó chỉ quay một vòng (360°) so với Mặt Trời trung bình.[n 3] Nhân giá trị trong rad/s với bán kính xích đạo của Trái Đất 6.378.137 m (hình bầu dục WGS84) (hệ số 2π radian cần bởi cả hai giản ước) được vận tốc xích đạo 465,1 m/s, 1,674,4 km/h hoặc 1.040,4 mph.[35] Some sources state that Earth’s equatorial speed is slightly less, or 1,669.8 km/h.[36] Điều này có được bằng cách chia chu vi xích đạo Trái Đất với 24 giờ. Tuy nhiên, việc sử dụng chỉ một chu vi ngụ ý không chủ ý chỉ một sự quay trong không gian quán tính, nên đơn vị thời gian tương ứng phải là ngày sao. Điều này được xác nhận bằng csach nhân số ngày sao trong một ngày Mặt Trời trung bình, 1,002 737 909 350 795,[30] được tốc độ xích đạo trong giờ Mặt Trời trung bình cho ở phần trên là 1.674,4 km/h.

Tốc độ tiếp tuyến của sự quay của Trái Đất tại một điểm trên Trái Đất ướt lượng bằng cách nhân vận tốc ở xích đạo với cos của vĩ độ.[37] Ví dụ, trung tâm không gian Kennedy nằm ở 28,59° vĩ độ Bắc, chho vận tốc: cos 28,59° nhân 1.674,4 km/h (1.040,4 mph; 465,1 m/s) = 1.470,23 km/h (913,56 mph; 408,40 m/s)

 src=

Độ nghiêng trục quay của Trái Đất là khoảng 23,4°. Nó dao động giữa 22,1° và 24,5° trên một chu kỳ 41.000-năm và hiện nay nó đang giảm.

Thay đổi trong trục quay[sửa | sửa mã nguồn]

Trục quay của Trái Đất di chuyển so với các định tinh (không gian quán tính); thành phần của chuyển động này là tiến động và chương động. Nó cũng di chuyển so với vỏ Trái Đất; nó được gọi là chuyển động cực.

Tiến động là sự quay của trục quay của Trái Đất, được gây ra chủ yếu bởi mô men xoắn từ lực hấp dẫn của Mặt Trời, Mặt Trăng và các vật thể khác. Chuyển động cực chủ yếu là do chương động lõi tự do và thay đổi Chandler.

Thay đổi trong vận tốc quay[sửa | sửa mã nguồn]

Tác động thủy triều[sửa | sửa mã nguồn]

Qua hàng triệu năm, sự tự quay của Trái Đất giảm đáng kể bởi gia tốc thủy triều qua tác động hấp dẫn với Mặt Trăng. Trong quá trình này, mô men động lượng được chuyển từ từ sang Mặt Trăng với tốc độ tỷ lệ với

r


6

{displaystyle r^{-6}}

, với

r

{displaystyle r}

là bán kính quỹ đạo của Mặt Trăng. Quá trình này tăng dần với độ dài của ngày đến giá trị hiện tại và dẫn đến Mặt Trăng bị khóa thủy triều với Trái Đất.

Sự giảm tốc quay dần dần này được ghi chép ước tính với các ước lượng độ dài ngày có được từ quan sát rhythmit và stromatolit; một sự biên soạn về các đo đạc này[38] chỉ ra độ dài ngày tăng đều từ khoảng the 21 giờ 600 triệu năm trước[39] đến giá trị hiện tại là 24 giờ. Bằng cách đếm phiến cực nhỏ hình thành ở thủy tiều cao hơn, tần số thủy triều (và do đó độ dài ngày) có thể được ước lượng, giống như đếm vòng cây, mặc dù ước lượng này có thể ít tin cậy hơn ở tuổi lớn hơn.[40]

Sự kiện toàn cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra, một số sự kiện quy mô lớn, như Động đất và sóng thần Ấn Độ Dương 2004, đã khiến hiện tượng quay nhanh hơn khoảng 3 micro giây bằng cách tác động mô men quán tính của Trái Đất.[41] Nảy lên hậu băng hà, tiếp diễn kể từ Kỷ băng hà, cũng đang thay đổi sự phân bố khối lượng Trái Đất do đó tác động vào mô men quán tính của Trái Đất và bởi bảo toàn mô men động lượng, chu kỳ quay của Trái Đất.[42]

Đo đạc[sửa | sửa mã nguồn]

Việc quan sát sự quay của Trái Đất lâu dài được thực hiện với giao thoa kế đường cơ sở cực dài phối hợp với hệ thống Định vị Toàn cầu, vệ tinh định tầm laser, và các kỹ thuật vệ tinh khác.Việc này cung cấp tham khảo chắc chắn cho việc xác định giờ quốc tế, tiến động, và chương động.[43]

 src=

Hiện tượng quay nguyên bản của Trái Đất là một dấu tích của mô men động lượng ban đầu của đám mây bụi, đá, và khí mà kết hợp để tạo thành Hệ Mặt Trời. Đám mây nguyên thủy này bao gồm hiđrô và heli được tạo ra trong Vụ Nổ Lớn, cũng như các nguyên tố nặng hơn phát ra bởi siêu tân tinh. Vì bụi vũ trụ không đồng nhất, bất kỳ sự bất đối xứng nào trong quá trình bồi lắng hấp dẫn đều dẫn đến mô men động lượng của hành tinh được tạo ra.[44]

Tuy nhiên, nếu giả thuyết vụ va chạm lớn đối với nguồn gốc của Mặt Trăng là chính xác, tốc độ quay nguyên thủy này đã bị thiết lập lại bởi va chạm Theia 4,5 tỷ năm trước. Bất kể tốc độ và độ nghiêng nào của sự quay của Trái Đất trước va chạm, nó đã trải qua một ngày dài khoảng 5 giờ sau va chạm.[45] Hiệu ứng thủy triều sau đó làm chậm tốc độ này lại cho đến giá trị hiện đại bây giờ.

  1. ^ Khi độ lệch tâm của Trái Đất vượt quá 0,047 và điểm cận nhật ở phân điểm hoặc chí điểm thích hợp, chỉ một giai đoạn với một cao điểm cân bằng một giai đoạn còn lại với hai cao điểm.[21]
  2. ^ Aoki, nguồn của những số liệu này, sử dụng thuật ngữ “giây UT1” thay vì “giây thời gian Mặt Trời trung bình”.[31]
  3. ^ Trong thiên văn học, không giống như hình học, 360° nghĩa là quay lại cùng một điểm trong phạm vi thời gian tuần hoàn, một ngày Mặt Trời trung bình hoặc một ngày sao đối với sự quay quanh trục của Trái Đất, hoặc một năm sao hoặc một năm nhiệt đới trung bình hoặc hơn nữa là năm Julius trung bình bao gồm chính xác 365,25 ngày đối với sự quay quanh Mặt Trời.
  1. ^ Dennis D. McCarthy; Kenneth P. Seidelmann (18 tháng 9 năm 2009). Time: From Earth Rotation to Atomic Physics (bằng tiếng Anh). John Wiley & Sons. tr. 232. ISBN 978-3-527-62795-0. 
  2. ^ Stephenson, F. Richard (2003). “Historical eclipses and Earth’s rotation”. Astronomy & Geophysics (bằng tiếng Anh) 44 (2). tr. 2.22–2.27. doi:10.1046/j.1468-4004.2003.44222.x. 
  3. ^ Burch, George Bosworth (1954). “The Counter-Earth”. Osiris (bằng tiếng Anh) 11: 267–294. JSTOR 301675. doi:10.1086/368583. 
  4. ^ Aristotle. Of the Heavens (bằng tiếng Anh). Book II, Ch 13. 1. 
  5. ^ Ptolemy. Almagest Book I, Chapter 8 (bằng tiếng Anh). 
  6. ^ http://www.new1.dli.ernet.in/data1/upload/insa/INSA_1/20005b61_51.pdf
  7. ^ https://books.google.com/books?id=DHvThPNp9yMC&pg=PA71
  8. ^ Alessandro Bausani (1973). “Cosmology and Religion in Islam”. Scientia/Rivista di Scienza (bằng tiếng Anh) 108 (67): 762. 
  9. ^ a ă Young, M. J. L. biên tập (2 tháng 11 năm 2006). Tôn giáo, Học hành và Khoa học trong giai đoạn ‘Abbasid (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. tr. 413. ISBN 9780521028875. 
  10. ^ Nasr, Seyyed Hossein (1 tháng 1 năm 1993). An Introduction to Islamic Cosmological Doctrines (bằng tiếng Anh). SUNY Press. tr. 135. ISBN 9781438414195.

    Bài 6. Hệ quả chuyển động xung quanh Mặt Trời của Trái Đất

     

    BÀI 6
    HỆ QUẢ CHUYỂN ĐỘNG XUNG QUANH MẶT TRỜI CỦA TRÁI ĐẤT

    I. Chuyển động biểu kiến hàng năm của Mặt Trời
    – Khái niệm: Là chuyển động nhìn thấy nhưng không có thật của Mặt Trời hàng năm diễn ra giữa hai chí tuyến.
    – Nguyên nhân: Do trục Trái Đất nghiêng và không đổi phương khi chuyển động cho ta ảo giác Mặt Trời chuyển động.
    – Hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh lần lượt xuất hiện từ chí tuyến Nam (22/12) lên chí tuyến Bắc (22/6).
    – Khu vực có hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh 2 lần/năm: khu vực giữa hai chí tuyến.
    – Khu vực có hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh một lần/năm: tại chí tuyến Bắc và Nam.
    – Khu vực không có hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh: vùng ngoại chí tuyến Bắc và Nam.

    II. Các mùa trong năm
    Mùa là một phần thời gian của năm có những đặc điểm riêng về thời tiết và khí hậu.
    – Mỗi năm có 4 mùa:
    + Mùa xuân: từ 21/3 (lập xuân) đến 22/6 (hạ chí).
    + Mùa hạ: từ 22/6 (hạ chí) đến 23/9 (thu phân).
    + Mùa thu: từ 23/9 (thu phân) đến 22/12 (đông chí)
    + Mùa đông: từ 22/12(đông chí) đến 21/3 (xuân phân).

    – Ở Bắc bán cầu mùa ngược lại Nam bán cầu. Nguyên nhân do trục Trái Đất nghiêng không đổi phương khi chuyển động, nên Bắc bán cầu và Nam bán cầu lần lượt ngả về phía Mặt Trời, nhận được lượng nhiệt khác nhau sinh ra mùa, nóng lạnh khác nhau.

    III. Ngày đêm dài ngắn theo mùa, theo vĩ độ

    Khi chuyển động, do trục Trái đất nghiêng, nên tùy vị trí của Trái đất trên quỹ đạo mà ngày đêm dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ.
    – Theo mùa:
    * Ở Bắc bán cầu:
    Mùa xuân, mùa hạ:
    + Từ 21/3 đến 23/9 ngày dài hơn đêm.
    + Ngày 21/3: mọi nơi ngày bằng đêm = 12 giờ.
    + Ngày 22/6: thời gian ngày dài nhất.
    Mùa thu và mùa đông:
    + Từ 23/9 đến 21/3 năm sau: ngày ngắn hơn đêm.
    + Ngày 23/9: mọi nơi ngày bằng đêm = 12 giờ.
    + Ngày 22/12: thời gian ngày ngắn nhất.
    * Ở Nam bán cầu thì ngược lại:
    – Theo vĩ độ:
    + Ở xích đạo quanh năm ngày bằng đêm.
    + Càng xa Xích đạo thời gian ngày và đêm càng chênh lệch.
    + Tại vòng cực đến cực ngày hoặc đêm bằng 24 giờ.
    + Ở cực: Có 6 tháng ngày và 6 tháng đêm.

    Trái đất chuyển động xung quanh Mặt trời và hệ quả của nó

     

    TRÁI ĐẤT CHUYỂN ĐỘNG XUNG QUANH MẶT TRỜI
    VÀ HỆ QUẢ CỦA NÓ
    I. Chuyển động xung quanh Mặt trời:
    – Trái đất chuyển động tịnh tiến xung quanh Mặt trời theo một quỹ đạo có hình E-líp gần
    tròn, theo chiều từ tây sang đông.
    – Thời gian Trái đất chuyển động quanh Mặt trời một vòng là 365 ngày 5h 48’46”.
    – Tốc độ chuyển động trung bình của Trái đất quanh Mặt trời là 29,8 km/s. Nhưng khi Trái
    đất đến gần Mặt trời nhất thường vào ngày 3 – 1 (điểm cận nhật) lực hút của Mặt trời lớn nhất, khi
    đó tốc độ chuyển động của Trái đất quanh Mặt trời là 30,3 km/s. Còn khi Trái đất ở xa Mặt trời
    nhất, thường vào ngày 5 -7 (điểm viễn nhật), lực hút của Mặt trời rất nhỏ, tốc độ chuyển động của
    Trái đất quanh Mặt trời là 29,3 km/s.
    – Khi chuyển động trên quỹ đạo, trục Trái đất luôn nghiêng so với mặt phẳng quỹ đạo một
    góc là 66
    o
    33′ và không đổi phương.
    II. Hệ quả:
    1. Chuyển động biểu kiến hàng năm của Mặt trời:
    Hình 1.4 Đường biểu diễn chuyển động biểu kiến của Mặt trời trong một năm
    Hiện tượng Mặt trời ở đúng đỉnh lúc 12 giờ trưa (tia sáng Mặt trời chiếu thẳng góc với tiếp
    tuyến ở bề mặt đất) được gọi là Mặt trời lên thiên đỉnh. Ở Trái đất ta thấy hiện tượng này chỉ lần
    lượt xảy ra tại các địa điểm từ vĩ tuyến 23

    o
    27′ N (ngày 22 – 12) cho tới 23
    o
    27′ B (22 – 6) rồi lại
    xuống vĩ tuyến 23
    o
    27′ N. Điều đó làm ta có ảo giác là Mặt Trời di chuyển. Nhưng trong thực tế
    không phải Mặt trời di chuyển mà là Trái đất chuyển động tịnh tiến xung quanh Mặt trời. Chuyển
    động không có thực đó của Mặt trời được gọi là chuyển động biểu kiến hàng năm của Mặt trời.
    23
    o
    27’
    23
    o
    27’
    2. Hiện tượng mùa:
    Hình 1.5 Sự vận động của Trái Đất quanh Mặt Trời và các mùa ở Bắc bán cầu
    Mùa là một phần thời gian của năm nhưng có những đặc điểm riêng về thời tiết và khí hậu.
    Nguyên nhân gây ra mùa do trục Trái đất nghiêng với mặt phẳng quỹ đạo của Trái đất và trong suốt
    năm, trục của Trái đất không đổi phương trong không gian nên hai nửa cầu Bắc và nửa cầu Nam
    luân phiên nhau ngả về phía Mặt trời. Điều đó làm cho thời gian chiếu sáng và sự thu nhận bức xạ
    Mặt trời ở mỗi bán cầu đều thay đổi trong năm.
    Một năm được phân chia thành 4 mùa. Ở bán cầu Bắc thời gian bắt đầu và kết thúc của mùa
    ở các nước theo dương lịch và một số nước quen dùng theo âm – dương lịch ở châu Á không giống
    nhau.
    Các nước theo dương lịch ở bán cầu Bắc lấy 4 ngày: xuân phân (21 – 3), hạ chí (22- 6 ), thu
    phân (23 – 9) và đông chí (22 – 12) là khởi đầu của 4 mùa. Ở bán cầu Nam diễn ra ngược với bán
    cầu Bắc.
    Nước ta và một số nước châu Á khác quen dùng âm – dương lịch, thời gian bắt đầu của các
    mùa được tính sớm hơn khoảng 45 ngày.
    Mùa xuân từ ngày 4 hoặc 5 tháng 2 (lập xuân) đến ngày 5 hoặc 6 tháng 5 (lập hạ).
    Mùa hạ từ ngày 5 hoặc 6 tháng 5 (lập hạ) đến ngày 7 hoặc 8 tháng 8 (lập thu).
    Mùa thu từ ngày 7 hoặc 8 tháng 8 (lập thu) đến ngày 7 hoặc 8 tháng11 (lập đông).
    Mùa đông từ ngày 7 hoặc 8 tháng11 (lập đông) đến ngày 4 hoặc 5 tháng 2 (lập xuân).
    – Mùa xuân (21/ 3 – 22/6): lúc này Mặt trời bắt đầu di chuyển từ xích đạo lên chí tuyến bắc.
    Lượng nhiệt dần dần tăng lên và ngày cũng dài thêm ra, nhưng vì mặt đất mới vừa toả hết nhiệt khi
    mặt trời ở nửa cầu nam, nay mới bắt đầu tích luỹ nên nhiệt độ chưa cao.
    – Mùa hạ (22/6 – 23/9): Mặt trời lên đến chí tuyến bắc và đang di chuyển dần về xích đạo.
    Mặt đất không những được tích luỹ nhiều nhiệt qua mùa xuân mà còn nhận thêm được một lượng
    bức xạ lớn nên rất nóng, nhiệt độ rất cao.
    – Mùa thu (23/9 – 22/12): Mặt trời di chuyển xuống phía nam. Lượng bức xạ tuy có giảm đi
    nhưng mặt đất vẫn còn dự trữ trong mùa trước nên nhiệt độ vẫn chưa thấp lắm.
    – Mùa đông (22/12 – 21/3): Mặt trời từ chí tuyến nam trở về xích đạo. Lượng bức xạ tuy có
    tăng lên đôi chút nhưng mặt đất đã tiêu hao hết lượng nhiệt dự trữ do đó trở nên rất lạnh.
    Hiện tượng mùa diễn ra rõ rệt ở các vĩ độ ôn đới còn ở vùng nhiệt đới hiện tượng mùa diễn
    ra không rõ rệt.
    3. Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ:
    Hình 1.6 Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn khác nhau theo mùa và theo vĩ độ
    Trong khoảng thời gian từ ngày 21 – 3 đến 23 – 9, bán cầu Bắc ngả về phía Mặt trời, nên bán
    cầu này có góc chiếu sáng lớn, diện tích được chiếu sáng lớn hơn diện tích khuất trong bóng tối đó
    là mùa xuân và mùa hạ của bán cầu Bắc, ngày dài hơn đêm; ở bán cầu Nam thì ngược lại, thời gian
    đó là mùa thu và mùa đông nên có đêm dài hơn ngày.
    Trong khoảng thời gian từ ngày 23 – 9 đến ngày 21 – 3 bán cầu Nam ngả về phía Mặt trời,
    nên bán cầu này có góc chiếu sáng lớn diện tích được chiếu sáng lớn hơn diện tích khuất trong bóng
    tối đó là mùa xuân và mùa hạ của bán cầu Nam, ngày dài hơn đêm. Ở bán cầu Bắc thì ngược lại,
    thời gian đó là mùa thu và mùa đông đêm dài hơn ngày.
    Riêng 2 ngày 21 – 3 và 23 – 9, Mặt trời chiếu thẳng góc xuống xích đạo lúc 12 giờ trưa nên
    thời gian chiếu sáng cho hai bán cầu là như nhau. Vì thế ngày dài bằng đêm trên toàn thế giới.
    Ở xích đạo, quanh năm luôn có độ dài ngày và đêm bằng nhau. Càng xa xích đạo, độ dài
    ngày và đêm càng chênh lệch nhiều. Từ vòng cực về phía cực, có hiện tượng ngày hoặc đêm dài 24
    giờ (ngày địa cực, đêm địa cực). Càng gần cực số ngày, đêm địa cực càng tăng. Ở hai cực, số ngày
    hoặc đêm dài 24 giờ kéo dài suốt 6 tháng.
    4. Các vành đai chiếu sáng và nhiệt trên Trái đất:
    Bảng 1.3 Các vành đai chiếu sáng và nhiệt trên Trái đất
    Vành đai
    Vị trí theo
    vĩ độ
    Đặc điểm
    1. Xích
    đạo
    Từ 0 – 10
    o
    vĩ độ Bắc
    và Nam
    – Độ cao của Mặt trời lúc giữa trưa xê dịch 50
    o
    33′ – 90
    o

    – Ngày và đêm luôn luôn bằng nhau.
    – Không có hiện tượng mùa.
    2. Nhiệt
    đới
    Từ 10
    o

    23
    o
    27′ vĩ
    độ Bắc –
    Nam
    – Độ cao của Mặt trời lúc giữa trưa xê dịch 47
    o
    – 90
    o
    .
    – Độ dài của ngày và đêm thay đổi 10h30′- 13h30′.
    – Có hai mùa trong năm với mức chênh lệch ít về nhiệt
    độ.
    3. Cận
    nhiệt đới
    Từ 23
    o
    27′-
    40
    o
    vĩ độ
    Bắc- Nam
    – Mặt trời không bao giờ lên đỉnh đầu.
    – Độ dài của ngày và đêm xê dịch từ 9h08′- 14h51′.
    – Mùa hạ, mùa đông biểu hiện rõ rệt.
    – Mùa xuân và mùa thu biểu hiện ít rõ.
    4. Ôn đới
    Từ 40- 58
    o
    vĩ độ Bắc-
    Nam
    – Độ dài của ngày và đêm xê dịch từ 6h- 8h.
    – Bốn mùa biểu hiện rõ rệt.
    – Hai mùa đông và hạ dài gần bằng nhau.
    5. Có đêm
    trắng mùa
    hạ và ngày
    rất ngắn
    mùa đông
    Từ 58
    o

    66
    o
    33′ vĩ
    độ Bắc –
    Nam
    – Có những đêm trắng gần ngày hạ chí và những ngày rất
    ngắn gần ngày đông chí ở nửa cầu Bắc, còn nửa cầu nam
    thì ngược lại.
    – Bốn mùa thể hiện rõ rệt, mùa đông dài hơn mùa hạ
    6. Cận cực
    đới
    Từ 66
    o
    33′-
    74
    o
    33′ vĩ
    độ Bắc –
    Nam
    – Độ cao Mặt trời lúc giữa trưa vào mùa hạ thay đổi trong
    phạm vi từ 46
    o
    54′- 38
    o
    54′.
    – Có từ 1 – 103 ngày hoặc đêm dài 24h.
    7. Cực đới
    Từ 74
    o
    33′- – Độ cao lớn nhất của Mặt trời ở hai cực là 23
    o
    27′.
    90
    o
    vĩ độ
    Bắc – Nam
    – Có 103 – 186 ngày hoặc đêm dài 24h.
    – Mùa trùng với ngày và đêm.
    5. Dương lịch:
    – Trái đất chuyển động một vòng trên quỹ đạo hết 365 ngày 5h48’46”. Để tiện làm lịch,
    người ta đặt ra dương lịch lấy 365 ngày làm một năm lịch và lịch này đã được người Ai Cập cổ đại
    sử dụng.
    – Dương lịch không ngừng được cải tiến. Vì năm lịch ngắn hơn năm thật nên phải quy ước
    cứ sau ba năm 365 ngày phải có một năm nhuận 366 ngày (lịch Juy liêng). Quy luật của năm nhuận
    là ” Năm nhuận là năm mà con số của năm đó chia hết cho con số 4″ như năm : 1988, 1996…
    – Nếu cứ tính chẵn 365 ngày 6 giờ thì năm lịch lại chậm đi 11phút 4 giây. Sau 384 năm sẽ
    chậm đi mất 3 ngày. Để cho chính xác cứ 100 lần nhuận trong 400 năm lại bỏ đi 3 lần. Những năm
    nhuận bị bỏ là những năm cuối thế kỉ mà con số hàng trăm không chia chẵn cho 4 như năm 1700,
    năm 1900… Năm 2000 là năm cuối thế kỉ chia chẵn cho 4 nên là năm nhuận được giữ lại.
    – Lịch này mang tên lịch Grégoire được dùng từ năm 1582 cho đến nay.
    – Nước ta và một số nước châu Á còn sử dụng cả âm dương lịch.
    – Âm dương lịch dựa trên cơ sở kết hợp giữa âm lịch và dương lịch. Nếu như dương lịch dựa
    trên cơ sở tính toán sự chuyển động của Trái đất xung quanh Mặt trời thì âm lịch dựa trên sự
    chuyển động của Mặt trăng quay xung quanh Trái đất.
    – Theo âm lịch một năm có 12 tháng, mỗi tháng có 29 hoặc 30 ngày, phù hợp với các tuần
    trăng. Mỗi năm được chia làm 24 tiết. Mỗi tiết cách nhau 15 ngày. Âm lịch còn được sử dụng làm
    nông lịch, cách tính ngày lễ hội và các sinh hoạt khác trong đời sống.
    SÁCH THAM KHẢO
    – Nguyễn Ngọc Hiếu (chủ biên) và nnk – Địa lí tự nhiên đại cương 1 : Trái Đất và thạch quyển –
    NXBĐHSP – 2007

    hãy vẽ sơ đồ các vận động của trái đất và các hệ quả của vận động đó giúp vs

     

    Trái đất có 2 vận động:

    * Vận động tự quay quanh trục:

    + Đặc điểm:

    ~ quay từ tây -> đông ( ngược chiều kim đồng hồ )

    ~ thời gian tự quay quanh trục là 23h 56’04”.

    ~ vận tốc quay lớn nhất ở xích đạo và giảm dần về 2cực.

    + Hệ quả:

    ~ sự luân phiên ngày đêm do trái đất hình khối cầu và luôn được Mặt Trời chiếu sáng 1 nửa, sinh ra ngày đêm.

    ~ do Trái đất tự quay quanh trục nên mọi nơi trên bề mặt Trái đất đều được mặt trời chiếu sáng rồi chìm vào bóng tối -> sự luân phiên ngày đêm.

    ~ giờ trên trái đất và đường chuyển ngày quốc tế do trái đất hình khối

    cầu, tự quay quanh trục nên các địa điểm thuộc kinh tuyến khác nhau có giờ khác nhau ( giờ địa phương )

    ~ giờ quốc tế: người ta chia Trái đất làm 24 múi giờ mỗi mũi giờ rộng 15* kinh tuyến. Giờ ở múi giờ số 0 được lấy làm giờ quốc tế.

    ~ sự lệch hướng chuyển động của các vật thể:

    lực làm lệch hướng là lực Côriôlic.

    – Biểu hiện: Bắc bán cầu lệch về phía phải.

    Nam bán cầu lệch về phía trái.

    – Nguyên nhân: do vận động tự quay của trái đất từ tây -> đông với vận tốc khác nhau ở các vĩ độ.

    – Lực Côriôlic tác động đến sự chuyển động các khối khí, dòng biển, dòng sông, đường đạn bay trên bề mặt Trái đất.

    *Vận động quay quanh mặt trời của trái đất:

    + Đặc điểm:

    ~ Trái đất quay quanh mặt trời theo quỹ đạo hình Elip.

    ~ Trong khi chuyển động trục trái đất luôn nghiêng 1 góc 66o33’ so với mặt phẳng quỹ đạo .

    ~ Quay theo hướng từ tây -> đông.

    ~ Thời gian Trái đất chuyển động quay quanh mặt trời: 365 ngày và 6giờ 56 phút 48 giây.

    giờ.

    ~ Trái đất đến gần mặt trời nhất vào ngày 3/1 (điểm cận nhật) với khoảng cách

    147 Km (vận tốc 30,3 km/s), xa mặt trời nhất vào ngày 5/7 (điểm viễn nhật) với khoảng

    cách 152 km (vận tốc 29,3 km/s).

    ~ Tốc độ chuyển động trung bình là 29,8km/s.

    + Hệ quả:

    ~ Chuyển động biểu kiếnm hằng năm của mặt trời: là chuyển động nhìn thấy bằng mắt

    nhưng không có thật.

    Nguyên nhân : do trục trái đất nghiêng và không đổi hướng khi chuyển động quanh

    mặt trời.

    ~ Hiện tượng mùa: là khoảng thời gian trong năm có những đặc điểm riêng về thời tiết

    Và khí hậu. có 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.mùa 2 bán cầu trái ngược nhau.

    Nguyên nhân: do trục trái đất nghiêng và không đổi hướng nên bán cầu Bắc và bán cầu Nam lần lượt ngả về phía mặt trời khi chuyển động trên quỹ đạo.

    * Hiên tượng ngày đêm dài ngắn khác nhau theo mùa:

    + Từ ngày 21/3 ->23/9 : Bắc bán cầu ngả về phía mặt trời: mùa xuân hạ ở Bắc bán cầu ngày dài hơn đêm, nam bán cầu mùa thu đông đêm dài hơn ngày.

    + Từ ngày 23/9 ->21/3 : Nam bán cầu ngả về phía mặt trời: mùa xuân hạ ở nam bán cầu ngày dài hơn đêm, bắc bán cầu mùa thu đông đêm dài hơn ngày.

    + Riêng 2 ngày 21/3 và 23/9: thì mặt trời vuông góc với xích đạo ngày dài hơn đêm.

    + Ở xích đạo quanh năm ngày đêm dài bằng nhau, càng xa xích đạo độ dài ngày đêm càng lệch.

    + Từ vòng cực> cực có hiện tượng ngày đêm 24h càng về gần cực số ngày đêm địa cực càng lớn.

    + Ở 2 cực số ngày đêm dài 24h kéo dài 6 tháng.

    Tuần hon nước – The Water Cycle, Vietnamese, from USGS Water-Science School

     

    Tuần hon nước – The Water Cycle, Vietnamese, from USGS Water-Science School





    Vng tuần hon nước l g?
    đ chnh l sự tồn tại v vận động
    của nước trn mặt đất, trong lng
    đất v trong bầu kh quyển của tri đất.
    Nước tri đất lun vận động v
    chuyển từ trạng thi ny sang trạng thi khc, từ
    thể lỏng sang thể hơi rồi thể rắn v
    ngược lại. Vng tuần hon nước đ v
    đang diễn ra từ hng tỉ năm v tất cả
    cuộc sống trn tri đất đều phụ
    thuộc vo n, tri đất chắc hẳn sẽ l
    một nơi khng thể sống được nếu
    khng c nước.


    Sơ lược về vng tuần hon nước


    Sơ đồ tuần ho






    Vng tuần nước khng c
    điểm bắt đầu nhưng chúng ta c thể
    bắt đầu từ cc đại dương. Mặt
    trời điều khiển vng tuần hon nước
    bằng việc lm nng nước trn những đại
    dương, lm bốc hơi nước vo trong khng kh.
    Những dng kh bốc ln đem theo hơi nước vo
    trong kh quyển, gặp nơi c nhiệt độ
    thấp hơn hơi nước bị ngưng tụ thnh
    những đm my. Những dng khng kh di chuyển
    những đm my khắp ton cầu, những phn tử
    my va chạm vo nhau, kết hợp với nhau, gia tăng
    kch cỡ v rơi xuống thnh ging thủy (mưa). Ging thuỷ dưới dạng tuyết
    được tch lại thnh những núi tuyết v
    băng h c thể giữ nước đng băng hng
    nghn năm. Trong những vng kh hậu ấm p hơn, khi
    ma xun đến, tuyết tan v chảy thnh dng trn
    mặt đất, đi khi tạo thnh lũ. Phần
    lớn lượng ging thuỷ rơi trn cc đại
    dương; hoặc rơi trn mặt đất v nhờ
    trọng lực trở thnh dng chảy mặt. Một
    phần dng chảy mặt chảy vo trong sng theo những
    thung lũng sng trong khu vực, với dng chảy chnh trong
    sng chảy ra đại dương.


    Dng chảy mặt, v nước thấm
    được tch luỹ v được trữ trong
    những hồ nước ngọt. Mặc d vậy, khng
    phải tất cả dng chảy mặt đều
    chảy vo cc sng. Một lượng lớn nước
    thấm xuống dưới đất. Một
    lượng nhỏ nước được giữ
    lại ở lớp đất st mặt v
    được thấm ngược trở lại vo
    nước mặt (v đại đương)
    dưới dạng dng chảy ngầm. Một phần
    nước ngầm chảy ra thnh cc dng suối
    nước ngọt. Nước ngầm tầng nng được
    rễ cy hấp thụ rồi thot hơi qua l cy. Một
    lượng nước tiếp tục thấm vo lớp
    đất dưới su hơn v bổ sung cho tầng
    nước ngầm su để ti tạo nước
    ngầm (đ st mặt bảo ho), nơi m một
    lượng nước ngọt khổng lồ
    được trữ lại trong một thời gian di.
    Tuy nhin, lượng nước ny vẫn lun chuyển
    theo thời gian, c thể quay trở lại đại
    dương, nơi m vng tuần hon nước “kết
    thúc” v lại bắt đầu.


    Biểu đồ với k Biểu đồ với kch thước một trang in.


    Những thnh phần của vng tuần hon
    nước

    USGS (Cục Địa Chất Mỹ) đ
    định nghĩa 15 thnh phần của vng tuần hon
    nước như sau:





    Đại dương l kho chứa nước

    HMột lượng  style=nước khổng lồ
    được trữ trong cc đại dương trong
    một thời gian di hơn l được lun
    chuyển qua vng tuần hon nước. Ước tnh c
    khoảng 1.338.000.000 km3 nước được
    trữ trong đại dương, chiếm khoảng 96,5%,
    v đại dương cũng cung cấp khoảng 90%
    lượng nước bốc hơi vo trong vng tuần
    hon nước.

    Trong những thời kỳ kh hậu lạnh
    hơn nhiều đỉnh núi băng v những dng sng
    băng được hnh thnh, một lượng
    nước tri đất kh lớn được tch
    lại dưới dạng băng lm giảm bớt
    lượng nước trong những thnh phần khc
    của vng tuần hon nước. Điều ny th
    ngược lại trong thời kỳ ấm. Cuối
    thời kỳ băng h những sng băng bao phủ 1/3
    bề mặt tri đất, v mực nước cc
    đại dương th thấp hơn ngy nay khoảng
    122 m (400 feet). Cch đy khoảng 3 triệu năm, khi tri
    đất ấm hơn, mực nước của cc
    đại dương c thể đ cao hơn hiện nay
    khoảng 50 m (165 feet).

    Sự lun chuyển trong cc đại dương

    C những dng chảy trong đại dương
    di chuyển một khối lượng lớn nước
    khắp thế giới. Những sự di chuyển ny c
    ảnh hưởng lớn đến vng tuần hon
    nước v kh hậu. Dng Gulf Stream được
    biết đến nhiều như l một dng biển
    nng trong vng Đại Ty Dương, vận chuyển nước
    từ vng Vịnh Mexico ngang qua Đại Ty Dương
    hướng đến nước Anh. Với tốc
    độ 60 dặm (97 km) một ngy, dng Gulf Strem đem
    theo một lượng nước nhiều bằng 100
    lần tất cả cc sng trn tri đất. Xuất pht
    từ những vng kh hậu ấm, dng Gulf mang theo
    nước ấm hơn đến Bắc Đại Ty
    Dương, lm ảnh hưởng đến kh hậu
    của một vi vng, như pha ty nước Anh.



    Bốc hơi v nguyn nhn xuất hiện của n

    Ẩnh trBốc hơi nước l một qu trnh
    nước chuyển từ thể lỏng sang thể
    hơi hoặc kh. Bốc hơi nước l đoạn
    đường đầu tin trong vng tuần hon m
    nước chuyển từ thể lỏng thnh hơi
    nước trong kh quyển. Nhiều nghin cứu cho
    thấy rằng cc đại dương, biển, hồ
    v sng cung cấp gần 90% độ ẩm của kh
    quyển qua bốc hơi, với 10% cn lại do thot
    hơi của cy.

    Nhiệt (năng lượng) l nhn tố cần
    thiết cho bốc hơi xuất hiện. Năng
    lượng được sử dụng để
    bẻ gy những lin kết giữa cc phn tử
    nước, n l nguyn nhn tại sao nước c thể
    dễ dng bốc hơi tại điểm si (212°F,
    100°C) nhưng bốc hơi rất chậm tại
    điểm đng băng. Khi độ ẩm tương
    đối khng kh đạt 100%, tức l ở trạng
    thi bo ho hơi nước, bốc hơi khng thể
    tiếp tục diễn ra. Qu trnh bốc hơi
    nước tiu thụ nhiệt năng từ mi
    trường, đ l nguyn nhn tại sao nước
    bốc hơi từ da lm bạn mt.

    Bốc hơi nước điều khiển chu trnh tuần hon nước

    Bốc hơi nước từ cc đại
    dương l cch chnh để nước
    được lun chuyển vo trong kh quyển. Diện
    tch rất lớn của cc Đại Dương (trn 70%
    diện tch bề mặt của tri đất
    được bao phủ bởi cc đại
    dương) cung cấp những cơ hội lớn cho qu
    trnh bốc hơi diễn ra. Trn phạm vi ton cầu
    lượng nước bốc hơi cũng bằng
    với lượng ging thủy. Mặc d vậy, tỉ
    lệ giữa lượng nước bốc hơi v
    lượng ging thuỷ biến đổi theo vng
    địa lý. Thng thường trn cc đại
    dương lượng bốc hơi nhiều hơn
    lượng ging thủy, trong khi đ trn mặt
    đất, lượng ging thủy vượt qu
    lượng bốc hơi. Phần lớn lượng
    nước bốc hơi từ cc đại dương
    rơi ngay trn đại dương qua qu trnh ging
    thrủy. Chỉ khoảng 10% của nước bốc
    hơi từ cc đại dương được
    vận chuyển vo đất liền v rơi xuống
    thnh ging thuỷ. Khi bốc hơi, một phn tử
    nước tồn tại trong kh quyển khoảng 10 ngy.



    Trong kh quyển chứa đầy nước

    Ảnh của những đMặc d kh quyển khng l kho chứa khổng
    lồ của nước, nhưng n l một “siu xa
    lộ” để lun chuyển nước khắp ton
    cầu. Trong kh quyển lun lun c nước: những
    đm my l một dạng nhn thấy được
    của nước kh quyển, nhưng thậm ch trong
    khng kh trong cũng chứa đựng nước -
    những phần tử nước ny qu nhỏ để
    c thể nhn thấy được. Thể tch
    nước trong kh quyển tại bất kỳ thời
    điểm no vo khoảng 12.900 km3. Nếu tất
    cả lượng nước kh quyển rơi xuống
    cng một lúc, n c thể bao phủ khắp bề mặt
    tri đất với độ dy 2,5 cm.



    Picture of a rainstorm approaching. Sự ngưng tụ hơi nước l qu trnh
    hơi nước trong khng kh được chuyển sang
    thể nước lỏng. Ngưng tụ hơi
    nước rất quan trọng đối với chu trnh
    tuần hon nước bởi v n hnh thnh nn cc đm
    my. Những đm my ny c thể tạo ra mưa, n l
    cch chnh để nước quay trở lại tri
    đất. Ngưng tụ hơi nước l qu trnh
    ngược với bốc hơi nước.

    Sự ngưng tụ hơi nước cũng l
    nguyn nhn của hiện tượng sương, hoặc
    nước trn mắt knh của bạn khi bạn từ
    một phng lạnh đi ra ngoi trong một ngy nng, ẩm
    ướt, cn trong một ngy lạnh nước c
    thể nhỏ giọt bn ngoi cốc uống nước
    của bạn hay c nước ở pha bn trong cửa
    sổ ngi nh bạn.

    Sự ngưng tụ hơi nước trong khng
    kh.

    Thậm ch trn những bầu trời trong xanh
    khng một gợn my, th nước vẫn tồn
    tại dưới hnh thức hơi nước v
    những giọt nước li ti khng thể nhn thấy
    được. Những phn tử nước kết
    hợp với những phn tử nhỏ bé của bụi,
    muối, khi trong kh quyển để hnh thnh nn cc
    hạt nhn my (giọt my nhỏ, đm my nhỏ), n gia
    tăng khối lượng v pht triển thnh những
    đm my. Khi những giọt nước kết hợp
    với nhau, gia tăng về kch thước, những
    đm my c thể pht triển v mưa c thể xy ra.

    Cc đm my hnh thnh trong kh quyển do khng kh
    chứa hơi nước bốc ln cao v lạnh đi.
    Phần quan trọng của qu trnh ny l khng kh st mặt
    đất ấm ln do bức xạ mặt trời. Nguyn
    nhn lớp kh quyển pha bn trn mặt đất
    lạnh đi l do p lực khng kh. Khng kh c trọng
    lượng v tại mực nước biển trọng
    lượng của một cột khng kh nén xuống trn
    đầu bạn khoảng 32kg trn mỗi inch vung, p lực
    ny, được gọi l kh p, n l kết quả của
    mật độ khng kh trong cột khng kh pha trn. Cng ln
    cao cng t khng kh pha bn trn, v v thế cng t p lực. Kh
    p thấp hơn v mật độ khng kh giảm theo
    độ cao. Điều ny lm cho khng kh trở nn
    lạnh hơn.



     class=Ging thủy l nước thot ra khỏi những
    đm my dưới cc dạng mưa, mưa tuyết,
    mưa đ, tuyết. N l cch chnh để nước
    kh quyển quay trở lại tri đất. Phần
    lớn lượng ging thuỷ l mưa.

    Cc hạt mưa hnh thnh như thế no?

    Ảnh của một cơn bNhững đm my trn bầu trời chứa
    hơi nước v những hạt nhn my nhỏ, cc
    hạt nhn my ny qu nhỏ để c thể rơi
    xuống thnh mưa, nhưng n cũng đủ lớn
    để hnh thnh nn cc đm my c thể nhn thấy được.
    Nước vẫn tiếp tục bốc hơi v ngưng
    tụ hơi nước trong bầu trời. Nếu
    bạn nhn gần một đm my, bạn c thể nhn
    thấy những phần đang biến mất (đang
    bốc hơi) trong khi những phần khc đang pht
    triển (ngưng tụ). Phần lớn lượng
    nước được ngưng tụ trong cc đm my
    khng rơi xuống thnh ging thuỷ. V để ging
    thuỷ xảy ra, trước tin những giọt
    nước nhỏ phải được ngưng tụ.
    Những phn tử nước c thể kết hợp
    với nhau thnh những giọt nước lớn hơn
    v đủ nặng để rơi thnh mưa. Cần tới
    hng triệu hạt my để hnh thnh chỉ một
    hạt mưa nhỏ.

    Lượng mưa biến đổi theo khng gian
    v thời gian

    Lượng ging thủy phn bố khng
    đều trn thế gơi, trong một nước
    hoặc thậm ch trong một thnh phố. V dụ,
    tại Atlanta, Georgia, Mỹ, một trận mưa ging ma
    h c thể sản sinh ra một lớp nước mưa
    dy 2,5 cm hoặc nhiều hơn trn một con
    đường, trong khi đ ở một vng khc cch
    đ vi km th vẫn kh ro. Nhưng, tổng lượng
    mưa một thng tại Georgia thường nhiều
    hơn tổng lượng mưa năm tại Las Vegas, Nevada. Kỷ lục thế giới về lượng
    mưa năm trung bnh thuộc về Mt. Waialeale, Hawaii
    với lượng mưa trung bnh l 1.140 cm. Đặc
    biệt, tại Arica l 1.630 cm trong mười hai thng
    (nghĩa l gần 5 cm mỗi ngy). Tương phản
    với lượng nước mưa dồi do tại Arica, ở Chile đ từng khng c mưa trong 14 năm.

    Bản đồ dưới đy trnh by
    lượng ging thuỷ trung bnh hng năm theo mm v inch trn
    ton cầu. Vng mu xanh nhạt l sa mạc. Bạn cũng
    c thể biết vng sa mạc Sahara ở Chu Phi, nhưng
    bạn c nghĩ rằng nhiều phần của đảo
    băng v Nam cực l sa mạc khng?

    Bản đồ thế giới tr



    Những đỉnh núi băng trn thế gơi

    Ảnh vệ tinh của Greenland trNước được giử lu di trong
    băng, tuyết, v cc sng băng l một thnh phần
    của vng tuần hon nước ton cầu. Vng Nam
    cực chiếm 90% tổng lượng băng của tri
    đất, cc đỉnh núi băng ở Greenland chiếm 10% tổng lượng băng ton cầu.

    Băng v sng băng đến v đi

    Trn phạm vi ton cầu, kh hậu lun lun thay
    đổi một cch chậm chạp m con người kh
    nhận biết. Đ từng c những thời kỳ
    ấm thuộc kỷ khủng long cch đy 100 triệu
    năm, v những thời kỳ lạnh, như kỷ
    băng h cuối cng cch đy 20.000 năm. Trong kỷ
    băng h cuối cng ny nhiều nơi của bắc bn
    cầu bị bao phủ trong băng v những dng sng
    băng. Gần hết Canada, nhiều vng pha Bắc Chu
    v Chu u, một vi vng ở nước Mỹ cũng
    bị những dng sng băng bao phủ.

    Bản đồ thế giới tr

    Một vi sự thật về cc dng sng băng v những đỉnh núi băng

    • Băng h bao phủ 10 – 11% lục địa tri
      đất

    • Nếu tất cả băng h tan chảy ngy nay,
      mực nước biển sẽ tăng ln khoảng 70 m
      (nguồn: Trung tm Tư liệu Băng v Tuyết Quốc
      gia)

    • Trong kỷ băng h cuối cng, mực
      nước biển thấp hơn ngy nay khoảng 122 m, v
      những dng sng băng bao phủ gần 1/3 lục
      địa tri đất.

    • Trong thời kỳ ấm cuối cng, cch đy
      125.000 năm, mực nước biển cao hơn ngy nay
      khoảng 5,5 m. Khoảng 3 triệu năm trước
      đy nước biển c thể đ cao đến
      hơn 50,3 m.



    Ảnh tuyết tan, Yosemite, California. Photo - David Gay. Nếu bạn sống ở Florida hoặc French
    Riviera bạn thức giấc mỗi ngy v khng thể khng
    tự hỏi tuyết tan tham gia như thế no vo chu
    trnh nước. Nhưng, trn ton bộ thế giới dng
    chảy tuyết l phần chnh của sự lun chuyển
    nước ton cầu. Trong thời kỳ ma xun ở
    những vng kh hậu lạnh hơn, nhiều dng chảy
    mặt v dng chảy sng ngi xuất pht từ tuyết v
    băng. Bn cạnh việc gy ra lũ lụt, tuyết tan
    nhanh c thể gy ra sạt lở đất v dng chảy
    bn đ.

    Để hiểu được dng tuyết tan
    ảnh hưởng như thế no đến dng
    chảy sng ngi c thể dựa vo biểu đồ
    đường qu trnh lưu lượng trung bnh ngy trong
    4 năm của sng North Fork American tại đập North
    Fork ở California. Cc đỉnh cao trong biểu đồ
    phần lớn l do dng tuyết tan. So snh cc gi trị
    nhận thấy dng chảy ngy trung bnh nhỏ nhất
    trong thng 3/2000 l 1.200 feet khối trn giy, trong khi đ
    lưu lượng trong thng 8 l 55 – 75 feet khối trn giy.

    Biểu đồ biểu diễn d

    Dng chảy từ tuyết tan biến đổi
    theo ma v theo năm. So snh cc đỉnh lũ giữa
    trận lũ lớn trong năm 2000 v trận lũ
    nhỏ hơn nhiều trong năm 2001, giống như c
    một trận hạn hn lớn ảnh hưởng
    đến California trong năm 2001. Nhưng sự thiếu
    hụt nước l do nước được trữ trong băng vo ma đng ảnh hưởng đến tổng lượng nước cc thng cn lại của
    năm. Sự thiếu hụt nước cũng ảnh
    hưởng đến lượng nước trong cc
    hồ tại hạ lưu, v sự thiếu hụt
    nước ở cc hồ lại ảnh hưởng
    đến lượng nước tưới v
    nước cấp thnh phố.



    Dng chảy mặt l dng chảy từ mưa trn lưu vực.

    Nhiều người chỉ nghĩ đơn
    giản rằng mưa rơi, chảy trn trn mặt
    đất (dng chảy mặt) v chảy vo sng, sau đ
    đổ ra cc đại dương. Đ l sự
    đơn giản ho, bởi v cc sng cn nhậnv mất nước do thấm. Tuy nhin,
    lượng lớn nước trong sng l do dng chảy
    trực tiếp trn mặt đất cung cấp v
    được định nghĩa l dng chảy mặt.

    HThng thường, một phần nước
    mưa rơi thấm ngay vo đất, nhưng khi
    đất đạt tới trạng thi bo ho hay khng
    thấm, th bắt đầu chảy theo sườn
    dốc thnh dng chảy. Trong một trận mưa lớn,
    bạn c thể nhn thấy cc dng nước nhỏ
    chảy xui sườn dốc. Nước sẽ chảy
    theo những knh trn mặt đất trước khi
    chảy vo trong cc sng lớn. Hnh vẽ biểu diễn
    dng chảy mặt (dng chảy ra từ con
    đường) chảy vo một con lạch nhỏ
    như thế no. Trong trường hợp ny dng chảy
    mặt chảy trn những vng đất trống v
    lắng đọng bn ct vo trong sng (khng tốt cho
    chất lượng nước). Dng chảy mặt
    chảy vo sng, lại bắt đầu hnh trnh quay
    trở về đại dương.

    Cũng giống như tất cả cc thnh
    phần khc trong vng tuần hon nước, quan hệ
    giữa mưa v dng chảy cũng biến đổi theo
    thời gian v khng gian. Những trận mưa tương
    tự nhau xuất hiện trong vng rừng rậm Amazon v
    trong vng sa mạc ty bắc nước Mỹ sẽ
    sản sinh những dng chảy mặt khc nhau. Dng chảy
    mặt bị chi phối bởi cc nhn tố kh
    tượng địa vật lý v địa hnh. Chỉ
    khoảng 1/3 lượng nước mưa rơi trn
    bề mặt đất chảy vo sng suối v quay
    trở lại đại dương. 2/3 cn lại bị
    bốc thot hơi hoặc thấm vo nước ngầm.
    Dng chảy nước mặt cũng cn được
    sử dụng cho con người trong cc mục đch dng
    nước.



    Cục Địa chất Mỹ định
    nghĩa “dng chảy” l lượng nước chảy
    trong sng, suối, hoặc lạch nước.

    Tầm quan trọng của sng ngi

    HSng ngi rất quan trong khng chỉ đối
    với con người m đối với cuộc
    sống khắp mọi nơi. Sng ngi khng chỉ l
    một nơi rộng lớn cho con người v những
    con vật của họ hoạt động, con
    người cn sử dụng nước sng cho nhu cầu
    nước uống v nước tưới, sản
    xuất ra điện, lm sạch chất thải (xử
    lý nước thải), giao thng thuỷ, v kiếm thức
    ăn. Sng ngi cn l mi trường
    sống chnh cho tất cả cc loi động v thực
    vật nước. Sng ngi bổ sung cho tầng ngậm
    nước ngầm dưới mặt đất qua lng
    sng, v tất nhin cả đại dương.

    Lưu vực sng v sng ngi

    Một điều rất quan trọng khi nghin
    cứu về sng ngi l phải xem xét cc lưu vực sng.
    Lưu vực sng l g? Nếu bạn đang đứng
    trn mặt đất ngay by giờ, hy nhn xuống.
    Bạn v tất cả mọi người đang
    đứng trn một lưu vực sng. Một lưu
    vực sng l vng m tại đ tất cả nước
    rơi v tiu thot chảy theo cng một dng. Lưu vực
    sng c thể chỉ nhỏ bằng một vết chn trn
    bn hoặc đủ rộng để bao phủ ton
    bộ vng thot nước vo trong sng Mississippi ở đ
    nước chảy vo Vịnh Mexico. Cc lưu vực
    nhỏ hơn được chứa trong những lưu
    vực lớn hơn. Cc lưu vực sng rất quan
    trọng v dng chảy v chất lượng nước
    của một con sng chịu tc động của
    nhiều thứ, c ảnh hưởng của con
    người hay khng c ảnh hưởng của con
    người, xuất hiện trong những vng pha trn mặt
    cắt cửa ra của lưu vực.

    Dng chảy sng ngi lun lun biến đổi

    Ảnh một dDng chảy sng ngi lun thay đổi từng ngy
    thậm ch từng phút. Tất nhin, mưa tc động
    chnh tới dng chảy trn cc lưu vực. Mưa rơi
    lm tăng mực nước sng, v mực nước sng
    c thể tăng ngay cả khi mưa ở rất xa trn
    lưu vực sng. Ghi nhớ rằng nước mưa
    rơi trn lưu vực cuối cng phải chảy ra
    ở mặt cắt cuối lưu vực. Độ lớn
    của sng phụ thuộc vo độ lớn của
    lưu vực. Sng lớn c lưu vực sng rộng, sng
    nhỏ c lưu vực sng nhỏ hơn. Tương
    tự như vậy, sng c kch thước khc nhau tc
    động khc nhau lượng mưa rơi. Trong cc sng
    lớn mực nước ln xuống chậm hơn cc
    sng nhỏ. Trong lưu vực nhỏ, mực nước
    sng c thể ln xuống tnh theo phút v giờ. Những sng
    rộng c thể mất vi ngy để biến
    đổi mực nước ln xuống v thời gian
    lũ ln c thể kéo di vi ngy.


    Nước ngọt trn mặt đất, một
    thnh phần của chu trnh nước, yếu tố
    cần thiết cho mọi sự sống trn tri
    đất. Nước mặt bao gồm nước trong
    cc dng sng, ao, hồ, hồ nhn tạo, v cc đầm
    lầy nước ngọt.

    Lượng nước trong cc sng v hồ lun
    lun thay đổi phụ thuộc vo lưu lượng
    vo v ra. Dng chảy vo từ mưa, dng chảy trn trn
    mặt đất, lượng nước ngầm
    dưới đất, v lượng nước gia
    nhập từ cc sng nhnh. Dng chảy ra khỏi cc hồ
    v sng bao gồm lượng bốc hơi v dung tch
    nước bổ sung cho nước ngầm. Con
    người cũng sử dụng nước mặt cho
    cc nhu cầu thiết yếu của mnh. Lượng v
    vị tr của nước mặt thay đổi theo
    thời gian v khng gian, một cch tự nhin hay
    dưới sự tc động của con người.

    Nước mặt duy tr sự sống

    Ảnh vệ tinh những Trong ảnh vng chu thổ sng Nile ở Ai cập,
    cuộc sống c thể sinh si tại những vng sa
    mạc nếu được cung cấp đủ
    lượng nước (mặt hoặc ngầm).
    Nước trn mặt đất thực sự giúp duy tr
    cuộc sống. Nước ngầm tồn tại thng qua
    sự di chuyển của nước mặt vo trong
    tầng nước ngầm dưới mặt đất.
    Nước ngọt trn bề mặt tri đất
    tương đối khan hiếm. Chỉ khoảng 3%
    của tổng lượng nước tri đất l
    nước ngọt, cc hồ nước ngọt v cc
    đầm (nước) ngọt chiếm 0,29% tổng
    lượng nước ngọt trn tri đất, hồ
    BaiKal ở Chu chiếm 20% tổng lượng
    nước ngọt trn tri đất, Hồ Lớn (Huron,
    MichiGan, v Superior) cũng chiếm 20% tổng lượng
    nước ngọt trn tri đất. Cc sng chỉ
    chiếm khoảng 0,006% tổng lượng nước
    ngọt trn tri đất. Ta c thể nhận thấy
    rằng nước ngọt, yếu tố cần thiết
    cho sự tồn tại cuộc sống trn tri đất,
    chỉ chiếm một phần cực nhỏ “một
    giọt nước trong biển cả mnh mng” của
    tổng lượng nước trn tri đất.



    Nước ngầm bắt đầu khi c mưa

    HBất cứ nơi no trn thế giới,
    một phần lượng nước mưa v tuyết
    đều thấm xuống lớp đất v đ
    dưới bề mặt. Lượng thấm bao nhiu
    phụ thuộc vo một số cc nhn tố. Trn
    đỉnh băng của Greenland lượng nước
    mưa thấm xuống l rất nhỏ, ngược
    lại, một dng sng chảy vo trong hang động
    ở vng Georgia, Mỹ, cho thấy sng cũng c thể
    chảy trực tiếp vo trong nước ngầm.

    Một phần lượng nước thấm
    xuống sẽ được giữ lại trong những
    tầng đất nng, ở đ n c thể chảy vo
    sng nhờ thấm qua bờ sng. Một phần
    nước thấm xuống su hơn, bổ sung cho cc
    tầng nước ngầm. Nếu tầng nước
    ngầm nng hoặc đủ độ rỗng để
    cho phép nước chảy tự do qua n, con người c
    thể khoan cc giếng trong tầng nước ngầm ny
    v sử dụng nước cho những mục đch của
    mnh. Nước ngầm c thể di chuyển
    được những khoảng cch di hoặc
    được trữ lại trong tầng nước
    ngầm trong một thời gian di trước khi quay
    trở lại bề mặt hoặc qua thấm vo cc thuỷ
    vực khc, như thấm vo cc sng v đại
    dương.

    Nước st mặt

    Sơ đồ biểu diễn nước
mưa thấm vKhi nước mưa thấm vo trong tầng
    đất st mặt, n hnh thnh vng khng bo ho v vng bo ho.
    Trong vng khng bo ho, nước tồn tại trong cc
    lỗ rỗng của lớp đ bn dưới mặt
    đất, nhưng tầng đất chưa đạt
    tới trạng thi bo ho. Phần pha trn của tầng khng
    bo ho l vng đất. Vng đất ny c khng gian phn
    bố được tạo ra từ rễ cy trồng,
    nước mưa c thể thấm vo tầng ny. Cy
    trồng sử dụng nước trong tầng đất
    ny. Bn dưới vng khng bo ho l vng bo ho, ở đy
    nước chứa đầy trong cc khe rỗng giữa
    cc phần tử đất v đ. C thể khoan
    giếng trong vng ny v bơm nước ln.



    Picture of ground water discharging at a high rate in Idaho, USA. Bạn nhn thấy nước xung quanh bạn
    mỗi ngy như cc hồ, cc sng, băng, mưa v
    tuyết. Nhưng lượng nước m bạn khng
    thể nhn thấy được – nước ngầm
    (nước tồn tại v di chuyển trong lng
    đất) – lại chiếm một lượng rất
    lớn. Nước ngầm đng gp lớn cho dng
    chảy sng ngi của nhiều con sng. Con người
    đ sử dụng nước ngầm từ hng ngn
    năm nay v vẫn đang tiếp tục sử dụng n
    hng ngy, phần lớn cho nhu cầu nước uống v
    nước tưới. Cuộc sống trn tri đất
    phụ thuộc vo nước ngầm cũng giống
    như l nước bề mặt.

    Nước ngầm chảy bn dưới mặt đất.

    Sơ đồ biểu diễn lượng giMột phần lượng mưa rơi trn
    mặt đất v thấm vo trong đất trở thnh
    nước ngầm. Phần nước chảy st mặt
    sẽ lộ ra rất nhanh khi chảy vo trong lng sng, nhưng
    do trọng lực, một phần lượng nước
    tiếp tục thấm su vo trong đất.

    Trong sơ đồ ny, hướng v tốc
    độ di chuyển nước ngầm được
    tnh thng qua cc đặc trưng của tầng
    nước ngầm v lớp cản nước (ở
    đy nước kh chảy qua). Sự chuyển
    động của nước bn dưới mặt
    đất phụ thuộc vo độ thấm (nước
    thấm kh khăn hay dễ dng) v khe rỗng của đ
    bn dưới mặt đất (số cc khe hở trong
    vật liệu). Nếu cc lớp đ cho phép nước
    chảy qua n tương đối tự do th
    nước ngầm c thể di chuyển được
    những khoảng cch đng kể trong thời gian vi
    ngy. Nhưng nước ngầm cũng c thể thấm
    su hơn vo cc tầng nước ngầm su ở đ
    n sẽ mất hng ngn năm để di chuyển
    trở lại vo mi trường.



    Suối l g?

    Ảnh của một con suối tự nhiMột tầng nước ngầm lin tục
    được bổ sung nước đến khi
    nước chảy trn trn mặt đất, kết
    quả l hnh thnh cc con suối. Cc con suối c thể
    rất nhỏ, chỉ c nước chảy khi c một
    trận mưa đng kể, đến cc dng suối
    lớn chảy với hng trăm triệu gallon
    nước mỗi ngy.

    Cc con suối c thể hnh thnh trong bất kỳ
    loại đ no, nhưng phần lớn chúng hnh thnh trong
    cc loại đ vi v đolomit, dễ dng rạn nứt
    v ho tan do mưa axit. Khi đ bị ph huỷ v ho tan, cc
    khoảng trống hnh thnh cho phép nước chảy qua.
    Nếu dng chảy theo phương ngang, n c thể
    chảy tới mặt đất, hnh thnh cc con suối.

    Nước suối khng phải bao giờ cũng sạch.

    Ảnh của một con suối cNước từ cc suối thường
    sạch. Tuy nhin, nước trong một vi con suối c
    thể c mu tr. Ảnh trn biểu diễn một con
    suối tự nhin trong vng Ty Nam Colorado. Nước
    suối c mu đỏ của sắt do nước
    ngầm tiếp xúc với khong sản trong lng đất.
    Tại bang Florida, Mỹ, nhiều nguồn nước
    mặt chứa cc axit ta-nanh tự nhin từ cc chất
    hữu cơ ở trong đất đ lm cho nước
    suối c mầu. Lưu lượng của nước
    mu trong cc suối chỉ ra rằng nước đang
    chảy nhanh trong cc knh dẫn rộng trong tầng
    nước ngầm m khng được lọc qua cc vng đ vi.

    Cc suối nước nng

    Ảnh tắm suối nước nCc suối nước nng vẫn chỉ l
    suối thng thường nhưng nước tại đ&#1

Leave your Comment