Chó laika là gì 436

60 năm ngày chú chó đầu tiên bay vào vũ trụ – Báo Bà Rịa

 

Ngày 3-11-1957, sau những thành công trong việc phóng lên không gian vệ tinh Sputnik-1, và cũng là vệ tinh nhân tạo đầu tiên trên thế giới bay vào vũ trụ, các nhà khoa học Liên Xô đã phóng tiếp tàu Sputnik-2. Lần này, nó mang theo một sinh vật sống là chó Laika. Trong cuộc du hành ấy, Laika đã hy sinh, nhưng nó đã mở đường cho những chuyến bay đưa con người vào không gian sau này…

HUẤN LUYỆN

Laika là một con chó cái thuộc giống Kudryavka, vốn là loài chó hoang Eskimo ở Siberia, chào đời năm 1954. Nhà sinh vật học Kotovskaya, làm việc tại Viện Y – Sinh học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, người đã từng huấn luyện Laika và các con chó vũ trụ khác lý giải: “Chúng tôi chọn chó cái bởi lẽ nó  không cần phải nhấc chân lên khi phóng uế nên không gian sống của nó nhỏ hơn so với một con chó đực. Bên cạnh đó, chó hoang có khả năng tồn tại gần giống con người. Nó dễ tính, nhanh nhẹn và dễ tiếp thu các bài học so với chó thuần chủng”.

Tuy nhiên, thời điểm ấy ngoài Laika được huấn luyện để thực hiện chuyến du hành vào không gian, còn có 2 con chó khác là Albina và Mushka. Việc đầu tiên, người ta tập cho chúng quen dần với điều kiện sống chật hẹp trên tàu Sputnik-2 bằng cách mô phỏng khoang chứa với hình dạng, kích thước, không khí, môi trường ánh sáng y như thật. Cả 3 con chó Laika, Albina và Mushka, mỗi con đều phải ở trong khoang này nhiều đợt, mỗi đợt từ 15 đến 20 ngày với những bộ “quần áo” đặc biệt. Bên cạnh đó, chúng còn được huấn luyện để biết cách ăn thức ăn dạng lỏng, uống nước đóng hộp và đi vệ sinh đúng chỗ.

Nhằm giúp những con chó không hoảng sợ bởi tiếng rú ầm ĩ của động cơ tên lửa đẩy, các nhà khoa học Liên Xô đã thiết kế một “phòng thính lực”, trong đó 3 con chó được làm quen dần với âm thanh tên lửa từ lúc rời bệ phóng đến lúc đi vào tầng bình lưu. Tiếp theo, từng con được đưa vào máy quay ly tâm, mô phỏng quá trình tăng tốc của tên lửa cũng như tình trạng không trọng lực. Tất cả những thay đổi về nhịp tim, hô hấp, phản xạ cơ bắp, phản xạ thần kinh đều được các bộ cảm biến ghi nhận để phân tích.

Chó Laika đang được huấn luyện trong buồng mô phỏng khoang tàu Sputnik-2.
Chó Laika đang được huấn luyện trong buồng mô phỏng khoang tàu Sputnik-2.

Kết thúc khóa huấn luyện, chó Albina được chuyển sang bộ phận thử nghiệm sức chịu đựng của cơ thể sống trong điều kiện gia tốc cực lớn khi tên lửa đẩy đạt đến vận tốc tối đa, chó Mushka chuyển sang bộ phận thử nghiệm khoang đổ bộ trên tàu Sputnik và các thiết bị cứu hộ. Riêng chó Laika, nó được dùng để nghiên cứu sức chịu đựng của cơ thể sống trong điều kiện không trọng lực kéo dài, và chính nhiệm vụ ấy đã giúp Laika trở thành sinh vật đầu tiên bay vào không gian.

Lúc này, theo quyết định của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô bấy giờ là Nikita Sergeyevich Khrushchev, tàu Spunik-2 phải được phóng lên trong khoảng thời gian từ ngày 3-11 đến ngày 7-11 để kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười Nga… Theo Viện sĩ Sergei Korolev, người sáng lập Chương trình nghiên cứu không gian Xô Viết, họ chỉ có 4 tuần để hoàn thiện con tàu, lắp đặt các thiết bị đo bức xạ mặt trời và bức xạ vũ trụ. Ông nói: “Tàu Sputnik-2 được trang bị hệ thống hỗ trợ sự sống bao gồm các bình cung cấp oxy cùng các thiết bị hấp thụ khí carbonic thải ra từ hơi thở của chó, tránh cho nó bị ngộ độc. Một bộ phận điều hòa không khí được thiết kế để hoạt động bất cứ khi nào nhiệt độ trong khoang tàu vượt quá 15 độ C. Tàu cũng có thực phẩm ở dạng nhão và nước uống, đủ cho một chuyến bay kéo dài 7 ngày, một túi chuyên dụng để đựng các chất thải của chó”.

VÀ LÊN ĐƯỜNG

Khi được chọn để bay vào vũ trụ, chó Laika đã 3 tuổi. Việc nó trở thành “phi hành gia” cũng thật ngẫu nhiên: trong một đợt thu gom chó hoang, nó lọt vào tầm ngắm của các nhà khoa học Xô Viết vì trước đó, họ đã tiến hành nhiều nghiên cứu trên một số động vật sống như khỉ, vượn. Các kết quả thu được sau cùng cho thấy chỉ có chó là loài thích hợp nhất. Trong điều kiện gia tốc cực lớn khi tên lửa đẩy đạt đến vận tốc tối đa, nhịp tim của nó chỉ tăng 1,5 lần so với bình thường còn nhịp hô hấp tăng gần 2 lần, giống như sau khi chạy hết sức trên một quãng đường dài. Bên cạnh đó, chỉ cần huấn luyện vài lần là nó biết dùng chân ấn vào một cái nút để thức ăn nhão hoặc nước uống chảy ra, hoặc dùng chân ấn vào một cái nút khác để mở nắp đậy túi chứa chất thải.

Ngày 3-11-1957, tại sân bay vũ trụ Baikonur, tên lửa đẩy R-7 đã sẵn sàng đưa tàu Sputnik-2 và chó Laika lên không gian. Ngay trước thời điểm Sputnik-2 rời bệ phóng, Laika được tắm rửa sạch sẽ bằng dung dịch sát khuẩn, các vị trí gắn các thiết bị theo dõi cơ thể nó đều được cố định chắc chắn. Viện sĩ Sergei Korolev nói: “Sau khi tên lửa rời bệ phóng, chúng tôi mới biết một số điều kiện huấn luyện mô phỏng đều khác với thực tế. Nhịp tim của Laika tăng gấp 3 lần bình thường nhưng khi tàu Sputnik-2 đạt đến trạng thái không trọng lượng thì nhịp tim của nó lại giảm hẳn”.

Tàu Sputnik-2.
Tàu Sputnik-2.

Sáu ngày sau khi vào vũ trụ, phòng điều khiển ở Baikonur mất liên lạc với tàu Sputnik-2. Các thông tin do Cơ quan Nghiên cứu Vũ trụ Liên Xô cung cấp vào thời điểm đó cho thấy Laika đã sống đến ngày thứ 4 của chuyến du hành trong lúc lượng thức ăn và ôxy đủ cho Laika dùng 10 ngày, còn sứ mệnh của Sputnik-2 thì  kéo dài tới tháng 4-1958.

Thế rồi, sau 163 ngày bay liên tục 2.570 vòng quanh quỹ đạo Trái Đất, ngày 14-4-1958, Sputnik-2 mang theo xác Laika đã bốc cháy khi đi vào bầu khí quyển của Trái Đất. Chó Laika tuy vĩnh viễn không bao giờ trở lại nhưng đã hoàn thành xuất sắc sứ mạng tiên phong của mình.

Mãi đến cuối tháng 10-2002, nghĩa là 45 năm sau ngày Laika được phóng vào vũ trụ, tại Hội nghị Không gian thế giới được tổ chức ở Mỹ, sự thật về cái chết của Laika mới được tiết lộ qua bản báo cáo của tiến sĩ Dimitri Malashenkov thuộc Viện Nghiên cứu các vấn đề sinh học ở Moscow. Theo báo cáo này, những cảm biến gắn trên người Laika ghi nhận rằng ngay sau khi tàu Sputnik-2 đạt vận tốc gần 28.968 km/giờ, nhịp tim của Laika đã tăng gấp 3 lần bình thường do nóng, sợ hãi và căng thẳng. Đến khi tàu Sputnik-2 bay được 4 vòng quanh Trái Đất, trạm kiểm soát mặt đất không nhận được thêm bất cứ một tín hiệu sống nào của Laika. Theo tiến sĩ Dimitri Malashenkov và các nhà sinh học thuộc Viện Nghiên cứu các vấn đề sinh học ở Moscow, Laika chết do hoảng sợ khi Sputnik-2 rơi vào tình trạng không trọng lực và trục trặc của hệ thống điều hòa đã khiến nhiệt độ khoang lái tăng cao quá ngưỡng chịu đựng của nó.

Và mặc dù không có cơ hội sống sót, nhưng sự hy sinh của Laika không hề uổng phí bởi nó đã chứng tỏ rằng sinh vật sống có thể tồn tại trong tình trạng không trọng lực ngoài không gian. Đến ngày 12-4-1961, phi hành gia Liên Xô Yuri Gagarin đã là người đầu tiên trên thế giới bay vào vũ trụ trên tàu Vostok-1 và trở về an toàn…

VŨ CAO

(Theo Spunik)

Laika Karelian-Phần Lan – mô tả giống và tính cách của một con chó

 


Nội dung của bài viết

 

Bên ngoài, khàn khàn Karelian-Phần Lan là rất giống với cáo, vì vậy đôi khi chúng có thể được gọi là spitz Phần Lan. Loài này có nguồn gốc phổ biến với gấu Karelian khàn khàn, mặc dù nó có kích thước nhỏ hơn, và bản chất của khàn khàn Karelian-Phần Lan là nhiều nhân từ hơn và không thua kém chút ít về phẩm chất săn bắn. Chó của giống chó này trung thành, vui vẻ, thông minh và tràn đầy năng lượng. Ngoài việc kêu gọi săn bắn, đại diện của giống chó husky Karelian-Phần Lan có thể là một người bạn đồng hành trung thành và là người bảo vệ đáng tin cậy.

 

 Laika Karelian-Phần Lan

 

Lịch sử xuất xứ

 

Người ta tin rằng tổ tiên của Spitz Phần Lan hiện nay đã bị săn đuổi cùng với người đàn ông cổ xưa trong thời cổ đại. Vào thế kỷ 19, các quý tộc cao đã không đồng ý coi trâu là chó săn.Và chỉ ở phía bắc Nga, những kẻ khàn khàn thông minh đã bị bắt đi săn, nơi một khi hoàng tử Nga Shirinsky-Shikhmatov bị cuốn hút bởi những chú chó săn đỏ rực. Những con chó đi theo con mồi, những con chó để chinh phục các quý tộc với sự khéo léo của họ, phẩm chất săn bắn to lớn và trí thông minh rằng hoàng tử ghi nhận môi trường sống địa lý của giống – lãnh thổ của Karelia, Arkhangelsk và Leningrad khu vực, cũng như Phần Lan.

 

Vâng, đầu thế kỷ 20, giống được hình thành độc lập. Bên trong khu vực phân phối, đại diện của giống chó đã can thiệp vào máu với các loại chó nhà khác, chúng bị thu hút để săn lùng. Sống sót những con chó mạnh nhất, thể chất và tinh thần phát triển với những phẩm chất rõ rệt của kỹ năng săn bắn.

 

Vào cuối thế kỷ 19, hai chiếc khàn đỏ rực lửa đã được đưa đến thủ đô của đất nước này bởi những thợ săn Phần Lan từ vùng ngoại ô Phần Lan. Sau 12 năm, những con chó này được phân bổ cho một giống riêng biệt dưới cái tên “Spitz Phần Lan”. Đến những năm 50 của thế kỷ trước, giống chó này được mọi nhà lai tạo chó trên thế giới biết đến. Laika Karelian-Phần Lan đã được đăng ký vào năm 1947 như một giống hiện đại.

 

samoyed husky – mô tả giống và tính cách của một con chó

 

Dấu hiệu giống đặc trưng

 

Vỏ trấu của Karelo-Phần Lan được phân biệt bởi màu len sang trọng của màu đỏ tươi và phẩm chất làm việc đáng chú ý của một con chó săn. Đây là những cá nhân năng động và di động, được định hướng hoàn hảo trong quá trình săn bắn với phản ứng tuyệt vời. Cuộc săn lùng là tình yêu đích thực của Karelian.

 

Theo các quy định của giống, hình dạng của người đứng đầu của Karelian là hình nêm, mõm nổi bật rực rỡ. Đôi mắt đen có hình hạnh nhân trông hơi xiên và đáng chú ý vì cái nhìn biểu cảm của họ. Đôi tai hình tam giác sắc bén nhỏ ở tư thế đứng được phủ bằng lông mịn. Cơ thể khô ráo và nhỏ gọn với lưng khỏe và nổi lên. Đuôi cong tròn, không bị khúc xạ. Bàn chân là thanh lịch, hình tròn với miếng đệm màu đen. Xương sống của con chó mạnh mẽ và khô ráo với tư thế tốt.

 

Chiều dài của tóc thay đổi – trên mặt và phần dưới của bàn chân, nó ngắn, và trên cổ, héo, và mặt sau của bàn chân – khá dài, nó tạo thành “quần”. Trên gò má trông giống như tóc mai. Đuôi xinh đẹp được bao phủ bởi mái tóc dài và dày đặc.

 

Màu lông có thể thay đổi từ màu đỏ tươi, đỏ sang nâu vàng với chuyển tiếp ánh sáng yếu.Cũng theo tiêu chuẩn, một đốm trắng trên ngực và các rãnh nhỏ trên chân được cho phép. Trên một ngoại thất tiêu chuẩn, một khàn khàn Karelian-Phần Lan là khá dễ dàng để xác định.

 

Mặt tích cực của Carelet:

 

    • trạng thái tinh thần ổn định;

 

    • chó chải chuốt tối thiểu;

 

    • sạch sẽ;

 

    • sức khỏe tốt, tuổi thọ dài;

 

    • tính linh hoạt (hoạt động như một người bạn đồng hành, chó gia đình, lý tưởng để săn bắn).

 

 

Phủ định:

 

    • bướng bỉnh;

 

    • rất thèm ăn, thậm chí ham ăn;

 

    • khó huấn luyện.

 

 

West Siberian Like – mô tả giống và tính cách của một con chó

 

Nhân vật

 

Khàn khàn Karelian-Phần Lan là một con chó dễ xúc động và dễ xúc động với một nhân vật vui vẻ. Khi còn trẻ, Karelka trẻ sẽ siêng năng thực hiện các mệnh lệnh của tất cả các hộ gia đình, thậm chí không cố gắng đơn giản hóa chủ nhân của mình từ họ. Đối với cô ấy, trật tự và sự sạch sẽ, quan hệ lẫn nhau với chủ sở hữu và gắn bó với vị trí của mình là quan trọng. Mặc dù mong muốn làm hài lòng tất cả mọi người, Karelka độc lập và độc lập. Điều này đặc biệt đáng chú ý khi đi săn – con chó chỉ được hướng dẫn bởi những suy nghĩ của chính họ.

 

 Nhân vật của người Do Thái-Phần Lan khàn khàn

 

Laika Karelian-Phần Lan là thân thiện và hiếm khi đi vào cuộc xung đột với những con chó khác.

 

Do sức sống tự nhiên của cô, Karelka đã sẵn sàng để chơi với con cái của chủ nhân với niềm vui và bình tĩnh đối xử với những trò đùa của họ. Mối quan hệ với các vật nuôi khác cũng thuận lợi, đặc biệt là nếu các con vật được nuôi cùng một lúc.

 

Mặc dù thực tế là các giống chuyên về kỹ năng săn bắn, bảo vệ và phẩm chất bảo vệ của Karelian được phát triển tốt. Chó được ưu đãi với khả năng nghe và phản ứng tức thì tuyệt vời. Với người lạ, Karelian cư xử mãnh liệt và nghi ngờ, nhưng người ta không nên mong đợi một cuộc xâm lược không được bảo đảm từ một con chó.

 

Laika Nga-Lai – giống và mô tả nhân vật

 

Đào tạo

 

Khi tập luyện những chú rể Karelian-Phần Lan, bạn nên dựa vào kỹ năng của chính con chó của bạn và sử dụng chúng khi làm chủ lệnh. Hay nhất của tất cả, carrels nhận thức đào tạo trong các hình thức của một trò chơi, khi chủ sở hữu tích cực thu hút mùi hương sắc nét và nghe tinh tế của con chó. Tiến bộ trong việc đào tạo của Karelian là không bao giờ nhanh chóng, người ta phải kiên nhẫn. Vỏ trấu của Karelian-Phần Lan dễ bị xao lãng, vì vậy nó đáng được đào tạo với một lượng nhỏ kích thích bên ngoài.

 

Nếu nó đã được quyết định đào tạo một người xử lý chó, sau đó chọn một chuyên gia với thực hành đào tạo chó săn. Kể từ khi Karelian-Phần Lan thích ở độ tuổi trẻ là khó khăn, đủ để tập trung – nó là giá trị cho sự lựa chọn của bạn trong lợi của đào tạo cá nhân.

 

Cần lưu ý một bản năng săn bắt khổng lồ của chó lai Karelian-Phần Lan, do đó một chú cún con có thể bắt đầu làm việc với một thợ săn-chủ sở hữu đã ở tuổi sáu tháng. Karelka là cờ bạc và đôi khi chỉ đủ để đến rừng để con chó con bắt đầu làm việc độc lập.

 

Karelka có một thiết bị thần kinh di động, cho phép cô dễ dàng thay đổi một loại săn tìm loại khác. Tuân thủ chủ sở hữu có nghĩa là một mức độ cao của sự vâng lời của con chó này. Carrels là bạn đồng hành không thể thiếu trong cuộc săn do sự kích thích thích hợp của họ, sự phấn khích bình tĩnh, tiếng sủa lớn.

 

Ví dụ: một ngày khàn khàn sẽ sủa con sóc từ sáng đến tối, và ngày hôm sau sẽ sẵn sàng đặt ra để mồi một con vật lớn, ví dụ, một con lợn rừng. Những con chó này thường không thích nước, nhưng chúng sẽ không thể nghi ngờ nhảy xuống sông phía sau một con chim bị rơi và đưa nó cho thợ săn của chúng.

 

Nhưng, nếu không có ham muốn và cần phải tham gia săn bắt con chó, các laika Karelian-Phần Lan sẽ sẵn sàng làm cho một công ty gia đình. Cô sẽ làm hài lòng gia đình với nhân vật vui tươi và vui tươi của cô.

 

Tính năng chăm sóc cho những người thích Karelian-Phần Lan

 

Đại diện của giống chó này phô trương một chiếc áo lông thú sang trọng, được đặc trưng bởi sự vắng mặt của một mùi chó điển hình. Huskies rất sạch sẽ và không chịu được bụi bẩn.

 

 Tính năng chăm sóc cho những người thích Karelian-Phần Lan

 

    1. Con chó kinh nghiệm lột xác hai lần một năm khi chế độ nhiệt độ thay đổi – vào mùa thu và mùa xuân. Nếu Laika Karelian-Phần Lan bắt đầu mờ dần liên tục, thì lý do rất có thể là độ ẩm trong phòng thú cưng quá thấp. Nếu gàu xuất hiện trong len của một khàn khàn, sau đó con chó cần phải được hiển thị khẩn cấp cho bác sĩ thú y và nhận được khuyến nghị về việc thay đổi chế độ ăn uống.

 

    1. Tắm một con chó đòi hỏi không quá một vài lần một năm. Một số lượng lớn các thủ tục tắm có thể loại bỏ các bộ phim tự nhiên từ lông cừu. Tất nhiên, săn bắn chim nước, Karelka sẽ liên tục làm thủ tục nước. Sau khi tắm xong, chủ nhà chắc chắn sẽ phải nhẹ nhàng rửa thú cưng bằng nước sạch.

 

    1. Nhưng chăm sóc “khô” cho len sang trọng của cartel được yêu cầu thường xuyên, do đó, ít nhất 3 lần một tuần chủ sở hữu nên chải áo lông thú của động vật bằng lược kim loại đặc biệt. Thủ tục này là dễ chịu cho con chó, hoàn toàn xoa bóp da dưới mái tóc và quan trọng nhất – loại bỏ thành công tóc chết.

 

    1. Đồng thời, như là một thủ tục hàng tuần, chủ nhà phải cẩn thận điều trị các auricle để khàn khàn, cẩn thận theo dõi sự vắng mặt của viêm có thể. Các dấu hiệu viêm đều là triệu chứng đau và sự xuất hiện của mùi khó chịu từ tai hoặc sự xuất hiện của chất lỏng.

 

    1. Hai lần một tuần nó là cần thiết để chăm sóc răng của con chó, chải chúng với một bàn chải hoặc một vòi phun đặc biệt. Để làm sạch răng của một con vật cưng từ cao răng, nó là cần thiết để thường xuyên xử lý nó với thức ăn rắn và đôi khi cà chua tươi.

 

    1. Mỗi tháng, con chó cần một móng tay trong các hình thức móng vuốt cắt tỉa.

 

    1. Như một thủ tục hàng ngày, chủ sở hữu của khàn khàn Karelian-Phần Lan nên kiểm tra mắt của động vật – nếu chất nhầy tích tụ ở các góc, loại bỏ nó với một miếng bọt biển bông hoặc giẻ sạch.

 

 

QUAN TRỌNG! Trong trường hợp có sự thay đổi bất thường về hình dáng của chú chó, đặc biệt làNếu bất kỳ triệu chứng đau đớn xuất hiện trong quá trình vệ sinh, bạn phải ngay lập tức đưa con chó cho bác sĩ thú y. Bạn không nên tìm câu trả lời trên Internet, tự chữa trị và trì hoãn chuyến thăm khám bác sĩ.

 

Đừng quên để làm cho con chó bắt buộc tiêm chủng. Thường xuyên tiến hành điều trị dự phòng bọ chét. Trong suốt mùa hoạt động đánh dấu, da của chó phải được kiểm tra sau mỗi lần đi bộ để tránh bị bọ ve cắn và các vấn đề tiếp theo. Giai đoạn nguy hiểm nhất của hoạt động đánh dấu là tháng 5, tháng 7 và tháng 9. Bỏ qua việc bảo vệ con chó khỏi bọ chét có thể dẫn đến nhiễm trùng của khan hiếm với piroplasmosis và, kết quả là, dẫn đến cái chết của con vật cưng.

 

Sự lựa chọn của thuốc cần thiết cho ectoparasites nên được thực hiện kết hợp với một bác sĩ thú y.

 

Karelian-Phần Lan khàn khàn là chấp nhận được để giữ cho cả hai trong một ngôi nhà riêng và trong một căn hộ thường xuyên. Trong trường hợp sống trong một căn hộ, những điều tương tự nên được cung cấp với việc đi lại liên tục trong thời gian dài và khả năng gắng sức có hệ thống. Đi bộ Karelian nên được thực hiện ít nhất 2 lần một ngày, không ít hơn 2 giờ. Nếu bạn bỏ qua các quy tắc này, thú cưng có thể làm cho chủ sở hữu bất ngờ khó chịu ở nhà, có khá nhiều điều sai lầm.

 

Khi được giữ trong nhà riêng, chó phải được cung cấp một bao vây an toàn với khả năng hoạt động thể chất. Huskies là những chú chó cực kỳ tự do yêu thương, hoàn toàn chống chỉ định để ở trên một chuỗi hoặc trong một căn phòng kín. Từ nội dung này, cà rốt có thể bị bệnh trầm cảm.

 

Tiếng Slovak chuvach – mô tả về giống và đặc tính của chó

 

Thức ăn của người khờ khạo Karelian-Phần Lan

 

Cà rốt có một sự thèm ăn tuyệt vời và khả năng ăn trước khi ăn quá nhiều. Do đó, chủ sở hữu nên theo dõi chặt chẽ chế độ ăn của chó.

 

 Thức ăn của người khờ khạo Karelian-Phần Lan

 

Thức ăn chăn nuôi có thể bao gồm cả thức ăn được mua sẵn và chất lượng cao và chế độ ăn tự nhiên. Khi lựa chọn thứ hai, điều quan trọng là duy trì sự cân bằng trong dinh dưỡng của chó về các vitamin và khoáng chất.

 

Cho ăn một con chó con xảy ra từ 5 đến 6 lần một ngày. Vật nuôi trưởng thành ăn 1-2 lần một ngày. Chế độ ăn tự nhiên được trao cho chó ở nhiệt độ phòng nghiêm ngặt và cho ăn trong vòng 15 phút. Sau khi kết thúc thời gian này, bát thức ăn nên được lấy ra khỏi nơi cho ăn. Hãy chắc chắn để có quyền truy cập miễn phí cho thú cưng của bạn nên được uống nước sạch.

 

Mua một con chó

Cách tốt nhất để mua một em bé của khàn khàn Karelian-Phần Lan là trong một vườn ươm với một lịch sử tốt và danh tiếng tốt. Tuổi mua chó con có thể là 2-3 tháng.

Trước hết, khi chọn một chú chó, chú ý đến sức khỏe của em bé – những con chó như vậy thì đầy đặn, cơ bắp và khác nhau về tỷ lệ vóc dáng. Len trấu trẻ ở trạng thái khỏe mạnh dày, không có các điểm hói. Đôi mắt của con vật cưng trong tương lai sạch sẽ và rõ ràng.

 

Các dấu hiệu quan trọng nhất của nhân vật tốt của đối tác tương lai của bạn là sự sẵn sàng để dễ dàng nhận được gần gũi hơn với mọi người, can đảm. Những con chó này hoạt động, năng động, dễ dàng đi đến mọi người và không sợ tiếng ồn lớn và bất ngờ. Chi phí của một con chó con của người Do Thái-Phần Lan khàn khàn bắt đầu từ 5.000 và có thể đạt 25 nghìn rúp.

 

Đối với chó của giống chó này, vết cắn không được phép, màu sắc của mũi là cơ thể, sắc tố của mắt có màu xanh hoặc vàng. Ngoài ra, chó bị từ chối trong sự hiện diện của các đốm trắng trên ngực hoặc bàn chân và tóc lượn sóng hoặc xoăn trên cơ thể. Hành vi thù địch đối với con người là không thể chấp nhận được.

 

Pyrenean Mountain Dog – mô tả giống

 

Video: Giống chó giống Karelian-Finnish Like

 

 

Những chiến công phi thường của chó

 

Những “phi hành gia” đầu tiên

“Liệu con người có thể bay lên và tồn tại ngoài vũ trụ hay không?” là câu hỏi nan giải đầu những năm 50 của thế kỷ 20. Các nhà khoa học Liên Xô khi ấy lựa chọn chó làm ứng viên lý tưởng cho nhiệm vụ giải đáp thắc mắc này. Không những dễ huấn luyện, chó còn có sức chịu đựng tốt trong không gian chật hẹp của khoang tàu.

Xuất thân từ đường phố Moscow, chú chó nhỏ có tên “Laika” được lựa chọn để trở thành ứng viên đầu tiên cho sứ mệnh chinh phục vũ trụ. Nhưng do không có kinh nghiệm thu hồi tàu về Trái Đất, Laika được xác định sẽ hy sinh vì sự nghiệp khoa học của nhân loại.

Sau khóa huấn luyện, tàu vũ trụ “Sputnik-2” cất cánh, chở theo Laika vào ngày 3-11-1957. Nhịp tim của Laika ban đầu tăng vọt do sợ hãi, sau đó trở lại bình thường khi tàu ổn định quỹ đạo. Laika chết vài giờ sau đó trước sự tiếc thương của các nhà khoa học. Chuyến bay của Laika đánh dấu sinh vật sống đầu tiên bay vào vũ trụ, chứng minh rằng con người có thể tồn tại trong môi trường không trọng lực.

Rút ra vô số kinh nghiệm, ngày 19-8-1960, hai chú chó “Belka” (Sóc) và “Strelka” (Mũi tên) cất cánh. Sau một ngày trên quỹ đạo, “phi hành đoàn” hạ cánh an toàn. Belka và Strelka trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới. Thông qua cặp đôi “phi hành gia”, trẻ em Liên Xô được học về việc đối xử tử tế với động vật, đặc biệt là với chó.

Cứu chủ trong sóng thần

Ngày 26-12-2004, chú chó nhỏ Selvakumar, sống trong một gia đình dân chài nghèo tại tỉnh Pondicherry, miền Nam Ấn Độ, trở thành vị cứu tinh của cậu bé 7 tuổi Dinakaran.

Đó là một ngày trời xanh, gió nhẹ, khiến mọi người mất cảnh giác lúc cơn sóng thần khủng khiếp ập vào ngôi làng. Do quá hoảng sợ, cậu bé Dinakaran không kịp cùng gia đình chạy khỏi ngôi nhà chỉ cách bờ biển gần 40m.

Ngôi nhà tồi tàn bắt đầu rung lắc khi bức tường nước ập đến, trước sự kinh hoàng của cha mẹ cậu bé. Trong tích tắc, họ tưởng sẽ vĩnh viễn không còn gặp lại người con trai. Nhưng một điều kỳ diệu đã xảy ra khi cậu bé được cứu sống nhờ công của chú chó Selvakumar.

Bằng tất cả sức lực của mình, Selvakumar dùng mũi hích, dùng răng níu lấy cậu bé. Chú vừa chống chọi lại dòng nước chảy ngày càng mạnh, vừa cắn lấy cổ áo Dinakaran. Cậu bé cùng chú chó bơi kịp vào chỗ an toàn ngay trước lúc mực nước dâng lên, quét sạch ngôi làng của gia đình cậu.

Chiến sĩ mẫn cán trên chiến trường

Ngày 4-3-2017, thành phố Palmyra (Syria) được giải phóng khỏi tay tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng, nhưng hàng nghìn thiết bị nổ vẫn còn sót lại. Lực lượng công binh Nga lập tức mở chiến dịch loại bỏ hiểm họa. Luôn đi trước các chiến sĩ là những chú chó được huấn luyện đặc biệt cho nhiệm vụ nguy hiểm ấy. Chó công binh có thể đánh hơi thấy mùi chất nổ với hàm lượng rất nhỏ, các thiết bị nổ không dùng kim loại có thể đánh lừa máy dò mìn, nhưng không thể thoát được khứu giác cực nhạy của chó. Đến tháng 12-2017, các chú chó công binh đã phát hiện hàng nghìn thiết bị nổ, giúp hàng nghìn người tránh khỏi thương tật.

Những chú chó tại Syria là sự tiếp nối truyền thống từ những ngày đầu thành lập Liên Xô. Năm 1924, một “học viện” cao cấp dành cho chó nghiệp vụ được xây dựng ở Moscow. Trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, những chú chó đánh hơi bom, mìn được biên chế vào các đơn vị công binh Liên Xô. Mỗi khi rà phá xong một khu vực, các chiến sĩ công binh cắm biển báo “Ở đây không có mìn” cùng với hình vẽ chú chó như lời khẳng định chó công binh là các “chuyên gia” rà phá hiệu quả nhất.

Hàng nghìn chú chó công binh Liên Xô (trước đây) và sau này của LB Nga đã được trao tặng huân chương, hưởng chế độ chăm sóc đặc biệt khi đến tuổi “nghỉ hưu”, khi qua đời được an táng theo nghi lễ quân đội.

ĐĂNG SƠN

Kết cục buồn của Laika, sinh vật đầu tiên được đưa lên và hy sinh trên quỹ đạo

 

Chiến thắng nào cũng phải được đánh đổi bằng những mất mát, máu, nước mắt và thậm chí là cả những mạng sống, Điều đó đúng với Laika, chú chó dũng cảm trong chương trình không gian của Xô Viết – con chó đầu tiên trong lịch sử nhân loại được đưa lên quỹ đạo. Sứ mạng này được tiến hành nhằm kiểm tra độ an toàn đối với con người trong các chuyến du hành vũ trụ và trớ trêu thay, nó trở thành một sứ mạng tự sát của chú chó bởi trình độ công nghệ thời điểm đó vẫn còn chưa đủ để bảo đảm sự sống sót trở về.

Laika là chú chó đi lang thang trên đường phố Moscow và được bắt về chỉ khoảng 1 tuần trước khi tên lửa được phóng lên. Người ta cho rằng “cô ấy” được chọn làm phi hành gia bởi thỏa các điều kiện kích thước nhỏ và thái độ bình tĩnh của cô ấy. Trong các chương trình không gian trước khi Yuri Gagarin trở thành người đầu tiên đi lên quỹ đạo, Xô Viết đã bắt và chọn lựa ra cả thảy 36 con chó để gởi lên quỹ đạo.

Các nhà khoa học Xô Viết khi đó cho rằng chó hoang đi lang thang ngoài đường đã được học cách sinh tồn trong những điều kiện khắc nghiệt như đói, lạnh nên thích hợp cho các chương trình không gian. Laika khi đó cùng 2 con chó khác được huấn luyện nhằm chuẩn bị đi du hành vũ trụ bằng cách nhốt trong các lồng nhỏ và học cách ăn gel dinh dưỡng vốn sẽ nuôi sống chúng trên hành trình. Ban đầu Laika được đặt tên là Kudryavka nhưng tên gọi kia được quốc tế biết đến rộng rãi hơn. Trong tiếng Nga, Laika là từ chỉ một số giống chó giống husky. Các tờ báo Mỹ sau đó gọi Laika bằng tên Muttnik, một cách chơi chữ từ tên vệ tinh Sputnik.

Đang tải laika_phi_hanh_gia_Tinhte2.jpeg…

Trước Laika đã có nhiều chú chó khác đã được gởi vào không gian nhưng chỉ là đưa lên quỹ đạo tầm thấp. Đây được cho là một trong chuỗi nhiều bước tiên phong trong lĩnh vực khám phá không gian của Liên Xô trong khi Mỹ khi đó vẫn còn tỏ ra khá tụt hậu. Chỉ một tháng sau khi phóng Sputnik – vệ tinh đầu tiên lên quỹ đọa, họ tiếp tục dùng tàu Sputnik 2 để đưa Laika lên vũ trụ. Đáng tiếc, chuyến hành trình lên vũ trụ của Laika chỉ là tấm vé một chiều bởi chiến lược quay trở lại Trái Đất vẫn chưa thể giải quyết được.

Người ta vẫn chưa biết chính xác Laika đã sống sót được bao lâu, có thể là vài giờ hoặc vài ngày, cho tới khi các hệ thống hỗ trợ sự sống trên đó không còn hoạt động. Sputnik 2 sau đó bị đốt cháy ở thượng tầng khí quyển vào tháng 4/1958. Một nguồn tin rò rỉ từ Viện nghiên cứu các vấn đề sinh học Moscow hồi năm 2002 tiết lộ rằng Laika đã chết chỉ vài giờ sau khi cất cánh do sợ hãi và quá nhiệt.

Một trong những nhân viên từng làm việc trong chương trình không gian của Liên Xô khi đó kể lại rằng Laika là một con chó tốt và anh thậm chí còn từng đưa nó về nhà chơi với bọn trẻ trước khi chuyến du hành bắt đầu. Còn tiến sĩ Vladimir Yazdovsky đã viết trong cuốn sách về Y học không gian của Xô Viết đã nói rằng: “Laika yên lặng và quyến rũ. Tôi muốn làm gì đó tốt đẹp cho cô ấy: Cô ấy có quá ít thời gian để sống.”

Khi nhận được tin Xô Viết đã đưa thành công Laika lên quỹ đạo, các hãng tin phương Tây đã chỉ trích đây như một hành động man rợ, dã man dành cho chú chó đáng thương. Có tờ báo lại cho rằng Laika không phải là chú chó đầu tiên trên bầu trời mà vinh dự đó phải thuộc về những ngôi sao, điển hình như Thiên Lang. Đồng thời, chê trách sự chậm chạp của Mỹ trong việc khám phá không gian. Trong khi đó, phía Liên Xô lên tiếng rằng “Người Nga yêu chó, điều này được thực hiện không phải vì sự tàn ác mà vì lợi ích của nhân loại.”

Trên thực tế, nếu không tính những con vi khuẩn vốn có thể bám vào những tên lửa đi vào không gian thì sinh vật đầu tiên chính là ruồi giấm, Vào 20/2.1947, Mỹ đã đặt những con ruồi giấm lên một chiếc tên lửa V-2 của Đức để nghiên cứu về phơi nhiễm phóng xạ ở những nơi cực cao. Sau 3 phút 10 giây, tên lửa đã đưa những con ruổi lên độ cao 110 km, tức là vượt qua được ranh giới giao nhau giữa khí quyển Trái Đất và không gian bên ngoài. Còn động vật có vú đầu tiên lên vũ trụ là Albert II, một con khỉ Rhesus. Sứ mạng Albert I không thành công nhưng sứ mạng tiếp theo đã đạt tới độ cao gần 134 km. Khi đó, khỉ Albert đã được gây mê và gắn cảm biến để đo sinh hiệu. Đáng tiếc hơn, Albert II đã chết do chấn động khi quay trở lại Trái Đất.

Đang tải laika_phi_hanh_gia_Tinhte1.jpeg…

Nếu như người Mỹ dùng khỉ để thử nghiệm các chương trình không gian thì phía Liên Xô dùng chó. Từ những năm 1950 tới 1960, họ đã bắt khoảng 57 con chó, tuy nhiên có những con được cho bay nhiều lần nên thật sự con số tham gia vào các chuyến bay chỉ là 36. Hai chú chó đầu tiên được Xô Viết phóng lên là Tsygan và Dezik trên R-1 IIIA-1, tuy nhiên nó đã không tới được quỹ đạo. Dù vậy, chúng vẫn là những động vật có vú đầu tiên được phục hồi sau một chuyến bay không gian. Sau Laika, Liên Xô gởi thêm 2 con chó nữa là Belka và Strelka vào 1960 và chúng đã tới quỹ đạo, sau đó sống sót trở về. Và khỉ và chó vẫn là 2 trong danh sách rất nhiều loài động vật được các nhà khoa học gởi lên nghiên cứu trên vũ trụ, ngoài ra còn có cả ong, bọ cánh cứng, rùa, sâu, cá, nhện, thỏ, ong, kiến, ếch, chuột, dế, ốc sên, nhóm, lợn guinea, bọ cạp, gián, bướm,…

Trên thực tế, việc dùng động vật để thử nghiệm trong các chương trình không gian vẫn còn tồn tại tới ngày nay, không chỉ với mục đích khám phá những khía cạnh của môi trường không trọng lực mà còn phục vụ cho các nghiên cứu dưới mặt đất. Điển hình như trong năm nay, các nhà khoa học đã cho sinh những con chuột khỏe mạnh từ tinh trùng chuột từng được lưu trữ trên ISS trong gần 300 ngày, bằng chứng cho thấy tinh trùng các loài khác cũng có thể được lưu giữ ngoài Trái Đất, phòng trường hợp có thảm họa. Tất nhiên, với trình độ phát triển ngày nay thì việc lên xuống quỹ đạo không còn là việc quá phức tạp nhưng khi xưa, rõ ràng nó đã gây ra nhiều cái chết cho các “phi hành gia đầu tiên” mà Laika là một thí dụ điển hình.

Số phận bi thảm của những loài động vật từng du hành vũ trụ

 

​Năm 1957, cả thế giới hướng về Moscow để ngóng chờ một sự kiện đình đám: tàu vệ tinh Sputnik 2 khởi hành với phi hành gia là một con chó – chính là cô chó Laika nổi tiếng thế giới.

Đó là ngày 3/11/1957! Laika khoác lên một bộ trang phục đặc biệt, rồi được đặt vào trong vệ tinh nhân tạo Sputnik 2. Con tàu phóng lên quỹ đạo, và Laika vĩnh viễn chẳng thể trở về được nữa. Cô chó đã qua đời chỉ trong vòng vài giờ vì thiếu hụt oxy, và do nhiệt độ đã tăng lên quá cao (tới 400 độ C) khi lọt vào quỹ đạo Trái đất.

Sputnik 2 đã đánh dấu một cột mốc cực kỳ quan trọng đối với lịch sử ngành hàng không vũ trụ. Đó mới chỉ là lần thứ 2 một con tàu được phóng lên quỹ đạo Trái đất, và cũng là lần đầu tiên một sinh vật sống được đưa vào quỹ đạo.

Số phận bi thảm của những loài động vật từng du hành vũ trụ - Ảnh 1.

Laika – phi hành gia 4 chân đầu tiên lọt vào quỹ đạo Trái đất

Số phận bi thảm những phi hành gia là động vật

Trong hành trình khai phá vũ trụ của loài người, Laika không phải là sinh vật duy nhất, cũng không phải sinh vật đầu tiên được đem ra thử nghiệm. Các chuyên gia của Nga và Mỹ – 2 quốc gia tiên phong về nghiên cứu vũ trụ – đã thử nghiệmSinh vật đầu tiên nhận được vinh dự này là… những con ruồi giấm. Chúng được gửi theo một quả tên lửa khá lỗi thời từ năm 1947, và rồi nổ tung khi đạt độ cao khoảng hơn 100.000m so với mặt nước biển.

Những năm kế tiếp, NASA sử dụng khỉ. Albert I, II, III, IV được gửi vào vũ trụ. Tất cả đều không thể trở về.

Số phận bi thảm của những loài động vật từng du hành vũ trụ - Ảnh 2.

Albert II – một trong những chú khỉ đầu tiên “được” du hành vũ trụ

Đến năm 1951, NASA mới ghi nhận trường hợp sinh vật sống đầu tiên trở về mặt đất an toàn. Đó là Albert VI (tên khác là Yorick) cùng 11 con chuột khác. Thành công ấy đã đặt bước đệm cho những thử nghiệm mang tính phức tạp hơn. Chuột sau đó được đem ra thử nghiệm rất nhiều, nhưng chủ yếu là những chuyến đi “không thể trở lại”.

Sau đó, để có được những thông tin cần thiết nhằm xây dựng tàu vũ trụ phù hợp với con người, các nhà nghiên cứu buộc phải chuyển sang thí nghiệm trên loài chó.

15/8/1951, 2 chú chó đầu tiên trở thành phi hành gia là Dezik và Tsygan được phóng lên vũ trụ. Chúng không thể chạm đến quỹ đạo, nhưng may mắn sống sót khi trở về mặt đất. Một số chuyến bay tương tự cũng được thử nghiệm, và vài năm sau đó, đến lượt Laika.

Số phận bi thảm của những loài động vật từng du hành vũ trụ - Ảnh 3.

“Đó là khoảng thời gian con người biết rất ít về vũ trụ,” – giáo sư Martin Barstow, giám đốc Viện quan sát không gian và Trái đất tại Leicester chia sẻ về sứ mệnh của Laika.

“Chúng ta chưa biết được liệu con người có thể tồn tại trong vũ trụ. Đó là một nhiệm vụ rất quan trọng.”

“Nhiệm vụ ấy là bước chuẩn bị cho chuyến bay của Yuri Gagarin năm 1961. Họ phải thử nghiệm công nghệ cabin, công nghệ cung cấp oxy, và tác động từ bức xạ của Mặt trời đối với khả năng sống sót của con người.”

Nhiệm vụ của Laika là rất quan trọng. Adilya Kotovskaya – nhà sinh học từng trực tiếp huấn luyện Laika chia sẻ: “Phi hành gia đầu tiên đã hy sinh vì tương lai khai phá vũ trụ của con người.”

“Chúng tôi chọn Laika là giống cái, vì con cái không cần giơ chân lên khi đi tiểu, tức là chúng cần ít không gian hơn”.

Kể từ sau sự cố của Laika, các chuyến thử nghiệm sau đó bắt đầu có những thành công nhất định. Những sinh vật đầu tiên chạm được đến vũ trụ và trở về an toàn là 2 chú chó Belka và Strelka vào năm 1960.

Tuy nhiên, các loài động vật vẫn phải “đứng mũi chịu sào”. Cho đến 1968, các thử nghiệm khai phá vũ trụ với rùa, ruồi giấm, giun tròn, ếch, nhện, mèo… đã được thực hiện.

Tranh cãi đằng sau các thử nghiệm vũ trụ với động vật trong thế kỷ 21

Năm 1969, sau cột mốc đặt chân lên Mặt trăng của con người, vai trò của các loài động vật phai mờ dần. Công nghệ phát triển đột phá, con người cũng trở nên bạo dạn hơn, sẵn sàng dấn thân vào những thử nghiệm có rủi ro cao.

Số phận bi thảm của những loài động vật từng du hành vũ trụ - Ảnh 4.

Sau khi Neil Armstrong đặt chân lên Mặt trăng, vai trò của các loài động vật mới dần phai nhạt

Tuy nhiên mọi chuyện lại một lần nữa dậy sóng với các kế hoạch chinh phục sao Hỏa của con người. Một thế giới chứa quá nhiều rủi ro: mật độ bức xạ cao, môi trường khắc nghiệt… tất cả là lý do khiến giới khoa học muốn sử dụng loài khỉ lên trước khi đưa con người lên khai phá.

“Sẽ tốt hơn khi thử nghiệm trên khỉ, thay vì chó hoặc các loài động vật khác.” – Boris Lapin, giám đốc Viện Y học linh trưởng Sochi chia sẻ. “Khỉ và người có hệ thống cảm nhận gần như tương đồng.”

Một số chuyên gia lại cho rằng đó là những việc làm không thể chấp nhận được. “Việc đưa động vật lên vũ trụ chẳng khác gì thử nghiệm hóa chất, mỹ phẩm trên chúng. Giờ đây, mọi thứ bạn làm phải bị kiểm soát. Thời đại đã thay đổi rồi.” – giáo sư Barstow chia sẻ.

Số phận bi thảm của những loài động vật từng du hành vũ trụ - Ảnh 5.

Hiện tại, sinh vật gần nhất bị đưa lên vũ trụ là loài giun Caenorhabditis. Chúng hiện đang ở trên trạm vũ trụ ISS nhằm mục đích nghiên cứu, vì loài giun này có hệ thần kinh và hệ tiêu hóa tương tự con người.

“Động vật không sinh ra để du hành. Và cũng không giống con người, chúng chẳng thể phản đối chuyện được đưa ra làm thí nghiệm, hay chống lại những rủi ro mà đến những người đặt chúng vào đó cũng chẳng thể kiểm soát” – tiến sĩ Julia Baines, chuyên gia từ hiệp hội bảo vệ động vật PETA thẳng thắn nói.

“Laika đã chết vì quá tải nhiệt – đó là một cái chết đau đớn.”

Nguồn: Independent

10 loài động vật được đưa lên vũ trụ

 

08/10/2013 2:05:49 AM
Việc đưa các loài động vật như mèo, tinh tinh, chuột… lên vũ trụ theo các kế hoạch khám phá không gian được coi là bước đệm thực hiện mục tiêu đưa con người lên môi trường không trọng lực.

1. Mèo

Chính phủ Iran mới đây tuyên bố sẽ đưa một con mèo giống Ba Tư lên không gian vào đầu năm 2014 nhằm thực hiện các mục tiêu chinh phục vũ trụ. Trước đó, Pháp là quốc gia đầu tiên đưa mèo lên không gian trong chuyến bay xuất phát vào ngày 18/10/1963.

2. Động vật gặm nhấm

Các nhà khoa học đã đưa một số động vật gặm nhấm lên vũ trụ như chuột nhắt, chuột đồng, chuột lang nhà và tiến hành một số thí nghiệm trong không gian. Năm 2001, một kỹ sư y sinh cùng với Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) sử dụng chuột để kiểm tra loại protein có tên là osteoprotegerin. Jeffrey Alberts, một giáo sư tâm lý học của trường Đại học Indiana, Mỹ, tiến hành nghiên cứu các con chuột mang thai trong điều kiện không trọng lực.

3. Cá vàng

Năm 2012, con tàu hỗ trợ HTV-3 của Nhật Bản đặt chân lên Trạm Vũ trụ Quốc tế ISS đã mang theo một bể nuôi cá vàng lên vũ trụ và tiến hành nhiều thí nghiệm với cá vàng. Các nghiên cứu này cho phép họ quan sát các cơ quan nội tạng của chúng một cách dễ dàng. Giống như những động vật khác, cá vàng được kiểm tra quá trình suy thoái xương và cơ. Mặc dù sống dưới nước, nhưng cá vàng cũng bị ảnh hưởng bởi trọng lực và khi ở trong không gian, chúng bơi vòng thay vì bơi thẳng.

4. Tinh tinh

Là loài động vật có nhiều mối quan hệ với con người, những đóng góp của tinh tinh với các chương trình không gian đã được chứng minh và đánh giá cao. Con tinh tinh đầu tiên lên không gian có tên là Ham được huấn luyện tại Căn cứ Không quân Holloman qua một hệ thống quân sự. Chuyến bay thử nghiệm của Ham có tên là Mercury-Redstone 2 cất cánh từ Cape Canaveral, Florida ngày 31/1/1961. Enos, một con tinh tinh được huấn luyện tốt hơn cũng được đưa lên quỹ đạo hành tinh này hai lần.

5. Khỉ

Nhiều loài khỉ đã được đưa lên không gian như khỉ sóc, khỉ nâu. Được biết đến với những đóng góp cho nghiên cứu y học, loài khỉ nâu vô cùng thông minh là loài linh trưởng đầu tiên được nhân vản vô tính. Con khỉ nâu Albert II là con khỉ đầu tiên được đưa lên vũ trụ sau khi con khỉ mẹ Albert bị chết ngạt trong một chuyến bay. Argentina, Pháp, và Nga cũng đã sử dụng khỉ trong các chuyến bay vào không gian. Tuy nhiên rất nhiều trong số đó đều không thể sống sót.

6. Động vật lưỡng cư

Các loài động vật lưỡng cư như ếch, cóc, sa giông đã từng được các nhà khoa học sử dụng trong thời gian dài để đánh giá điều kiện sống của một môi trường. Do sống được ở trên cạn và dưới nước, lưỡng cư luôn luôn là những loài phải chống chọi với thay đổi môi trường như biến đổi khí hậy, ô nhiễm và các loại bệnh. Không ít con ếch đã được đưa lên không gian. Loài sa giông Iberia cũng được đưa vào không gian nhiều lần, khởi đầu là chuyến bay Bion 7 của Nga năm 1985. Các nhà khoa học muốn nghiên cứu sự ảnh hưởng của môi trường không gian đến khả năng tái sinh của loài lưỡng cư này.

7. Giun tròn

Giun tròn phần lớn là loài ký sinh trùng có thể gây ra bệnh sán ở lợn và chó. Loài động vật này cũng đã được đưa lên không gian nhiều lần, trong đó có chuyến bay lên mặt trăng cùng với tàu Apollo 16. Năm 2003, tàu con thoi Columbia nổ tung khi tiếp tục bay vào bầu khí quyển của Trái Đất khiến 7 phi hành gia trên tàu đều thiệt mạng. Trong khi đó, một con giun tròn trong hộp đồ thí nghiệm được phát hiện trong đống đổ nát vẫn sống.

8. Gấu nước

Gấu nước là một trong những sinh vật nhạy cảm nhất trên hành tinh, có khả năng sống sót ở những điều kiện khắc nghiệt mà nhiều sinh vật sống khác không thể tồn tại. Năm 2007, khoảng 3.000 con gấu nước được đưa vào không gian trên tàu Foton-M3 của Cơ quan Vũ trụ châu Âu và được chứng minh là có khả năng chịu được môi trường chân không của không gian.

9. Nhện

Mặc dù là loài sinh vật bị ghét và đáng sợ nhất trên Trái Đất, nhện vẫn được lựa chọn để đưa vào các chương trình không gian. Năm 2011, hai con nhện mắt vàng có tên là Gladys và Esmerelda được đưa lên Trạm Vũ trụ Quốc tế ISS, nơi chúng có thể quay tơ và săn bắt trong môi trường không trọng lực. Một con nhện có tên là Nefertiti đã sống trên ISS trong suốt năm 2011 nhưng không giăng tơ, mà thay vào đó nó tấn công con mồi. Môi trường không trọng lực dường như ít có ảnh hưởng đến khả năng săn mồi của con nhện này.

10. Chó

Liên bang Xô Viết từng đưa nhiều con chó lên không gian. Con chó Laika là con vật đầu tiên được đưa vào quỹ đạo cùng với nhiệm vụ tự sát của con tàu Sputnik 2. Trong khi hầu hết loài động vật được đưa lên không gian với mục đích phải sống sót, Laika được đưa lên vũ trụ đồng nghĩa với không thể sống sót. Năm 1960, hai con chó Belka và Strelka trở thành những động vật đầu tiên tồn tại trong chuyến bay vào quỹ đạo. Một năm sau đó, Strelka đẻ con. Một trong số đó có tên là Pushinka được đem tặng cho con cái của Tổng thống Mỹ John F. Kennedy.

Theo VNE

Tượng đài Laika – con chó đầu tiên bay vào vũ trụ

 

Chó Laika từng lang thang khắp đường phố Moskva trước khi tham gia vào chương trình một đi không trở về của chính phủ.

Laika là động vật sống đầu tiên ở trái đất bay vào không gian và cũng là một trong những con chó nổi tiếng nhất nước Nga và thế giới. Sự hy sinh của nó cho ngành khoa học vũ trụ của con người cuối cùng cũng được nhìn nhận xứng đáng. Nước Nga đã dựng tượng Laika ở thủ đô Moskva, và nơi này trở thành một trong những điểm du lịch thu hút nhiều du khách, theo Atlas Obscura.

Laika là con chó đầu tiên bay vào vũ trụ và thiệt mạng. Còn Strelka và Belka là hai con chó đầu tiên được các nhà khoa học phóng vào không gian và sống sót trở về. Ảnh: Overland.
Laika là con chó đầu tiên bay vào vũ trụ và thiệt mạng. Còn Strelka và Belka là hai con chó đầu tiên được các nhà khoa học phóng vào không gian và sống sót trở về. Ảnh: Overland.

Trước khi nổi tiếng, chó Laika thực chất là một con vật vô chủ, sống lang thang trên khắp đường phố Moskva. Sau đó, nó được các nhà khoa học nhận về nuôi, và đối xử với nó tốt nhất có thể vì họ biết rằng một ngày nào đó, con vật nhỏ sẽ phải hy sinh vì khoa học.

Người ta chọn Laika không phải vì trí thông minh vượt trội, mà có lẽ vì con chó nhỏ sẽ là tâm điểm thu hút sự chú ý trên toàn thế giới, nếu chương trình bay vào không gian thành công. Các nhà khoa học Liên Xô đã đúng, câu chuyện về con chó ba tuổi đã nhanh chóng khiến cả thế giới hướng về sự kiện này.

Trước khi nhận nhiệm vụ bay vào vũ trụ, chó Laika đã trải qua một quá trình đào tạo ngắn ngày cùng hai con chó khác. Ngày 3/11/1957, Laika nhận sứ mệnh lịch sử của mình lên tàu Sputnik 2 và được phóng vào không gian.

Nhiều du khách khi đến Nga đều ghé thăm tượng đài của Laika để chụp ảnh lưu niệm, bày tỏ sự yêu quý đối với con chó nổi tiếng này. Ảnh: TripAdvisor.
Nhiều du khách khi đến Nga đều ghé thăm tượng đài của Laika để chụp ảnh lưu niệm, bày tỏ sự yêu quý đối với con chó nổi tiếng này. Ảnh: TripAdvisor.

Do con tàu không có cơ chế chống cháy và thu hồi, cái chết của Laika đã được dự báo trước. Theo chính phủ Liên Xô thời đó, Laika đã hy sinh trong không gian do thiếu oxy nhưng mãi đến năm 2002, người ta mới tiết lộ Laika đã chết chỉ vài giờ sau khi tên lửa được phóng do nhiệt độ quá nóng.

Tuy nhiên, điều đó cũng không ngăn cản được việc Laika đã trở thành một anh hùng của nhân loại, với minh chứng rằng sinh vật sống hoàn toàn có thể sống sót trong tình trạng không trọng lực ngoài khí quyển trái đất.

Để tưởng nhớ Laika, nhiều nước trong khối xã hội chủ nghĩa đã phát hành những bài hát, bộ tem kỷ niệm hay bưu thiếp có hình con chó đáng yêu này.

50 năm sau khi xác Laika được hỏa thiêu trong bầu khí quyển, người Nga đã dựng một tượng đài tưởng niệm gần một trạm nghiên cứu quân sự bên đại lộ Petrovsko – Razumovsky ở Moskva, nơi từng chuẩn bị cho chuyến bay của Laika. Bức điêu khắc là tác phẩm của nghệ sĩ Pavel Medvedev, với hình tượng Laika nằm trên một bàn tay con người giống với hình tên lửa, có lẽ mang ý nghĩa rằng nó sẽ nâng bước Laika đi về phía các vì sao.

Trường Đặng

60 năm ngày sinh vật đầu tiên vào vũ trụ, mở đường cho các sứ mện | Đánh giá sản phẩm – Ứng dụng

 

Vệ tinh Sputnik 2 nặng 508 kg và được gắn những thiết bị theo dõi về tia Mặt Trời, tia vũ trụ, nhiệt độ và áp suất, hai máy phát tín hiệu, một khoang kín được bơm oxy và thực phẩm là nơi chó Laika nằm.

Vệ tinh sẽ đạt độ cao lớn nhất là 1.500 km tính từ bề mặt Trái Đất, cao hơn vệ tinh Sputnik 1, và bay ở quỹ đạo này với tốc độ 8 km mỗi giây. Nó sẽ mất 1 giờ 42 phút để quay xong một vòng quanh Trái Đất. Tín hiệu phát đi từ vệ tinh sẽ được nhận ở các trạm trên toàn cầu.

Chuyến bay cảm tử

Những thông tin đồn đoán bên ngoài rằng các nhà khoa học sẽ cho cô cho chết trên chuyến bay, khiến người dân phẫn nộ. Nội bộ các nhà khoa học đều biết rõ như vậy nhưng không được tiết lộ ra ngoài.

Bởi vì vệ tinh Sputnik 2 không được trang bị cơ chế tự quay về Trái Đất sau khi lên đến quỹ đạo, nên Laika đã được định trước là sẽ chết trên chuyến bay này. Các nhà khoa học chuẩn bị oxy và lương thực đủ trong 10 ngày, nhưng chuyến bay lại kéo dài đến tháng 4 năm sau.

Theo tín hiệu nhận được từ các thiết bị cảm biến gắn trên cơ thể Laika, nhịp tim của nó tăng cao gấp 3 lần so với bình thường khi tàu bắt đầu phóng lên. Khi tàu vào môi trường không trọng lực, thì nhịp tim bắt đầu sụt giảm mạnh, nhưng Laika vẫn sống.

60 năm ngày sinh vật đầu tiên vào vũ trụ, mở đường cho các sứ mệnh có người lái - 3

Tem bưu chính România năm 1959 vẽ hình ảnh cô chó Laika và vệ tinh Sputnik 2.

Sáu ngày sau khi chuyến bay được phóng lên, trạm mặt đất mất tín hiệu hoàn toàn với vệ tinh. Theo dữ liệu ghi nhận, Laika đã qua đời chỉ từ 5 đến 7 tiếng sau khi phóng lên, ở vòng bay quanh quỹ đạo thứ tư.

Nguyên nhân là bởi hệ thống điều hòa bị trục trặc, khiến nhiệt độ bên trong quá nóng, cũng như sự hoảng loạn tột độ là nguyên nhân dẫn đến cái chết của Laika.

Sau 163 ngày bay liên tục 2.570 vòng quanh quỹ đạo Trái Đất, vệ tinh Sputnik 2 đã trở về Trái Đất vào ngày 14 tháng 4. Vì không được hỗ trợ đổ bộ, nên con tàu rơi tự do, mang theo xác của Laika và bốc cháy sáng rực trên bầu trời.

Sự phản đối từ những người yêu chó

Sự kiện này mở ra một hướng đi mới cho kỷ nguyên vũ trụ, khi lần đầu tiên đưa một sinh vật sống vào quỹ đạo Trái Đất. Nhưng nó vấp phải nhiều ý kiến phản đối, mà phần lớn đến từ những người yêu động vật, họ không đồng tình với việc đưa một con chó lên vũ trụ.

Mãi cho đến năm 2002, tức là 45 năm sau khi chuyến bay được thực hiện. Sự thật về chuyến bay cảm tử này mới được hé lộ tại Hội nghị Không gian Thế giới thường niên tổ chức ở Texas. Mọi người lúc bấy giờ đều rất kinh ngạc trước việc Laika được huấn luyện để chết trên tàu.

Phát biểu tại hội nghị, Tiến sĩ Malashenkov cho biết, Laika là một chú chó hoang được bắt trên đường phố Moskva để tiến hành huấn luyện cho chuyến bay. Thức ăn được để ở dạng thạch và Laika bị cột xích để không thể xoay người. Quạt điều hòa giữ nhiệt độ không quá 15 độ nhưng lại không hoạt động, khiến nhiệt độ tăng lên quá cao.

Liên đoàn Chó Quốc gia của Liên Xô thậm chí còn kêu gọi những người yêu chó hãy dành một phút mặc niệm cho cô chó xấu số bị chọn làm vật thí nghiệm. Hiệp hội Bảo vệ Động vật Hoàng gia Anh Quốc (RSPCA) cũng lên tiếng và phản đối trước Đại sứ quán Liên Xô ở Luân Đôn.

Mở đường cho những chuyến bay tiếp theo

Mặc dù chuyến bay thất bại trên nhiều phương diện, nhưng nó đã mở đường cho nhiều sứ mệnh không gian tiếp sau đó của Liên Xô và Hoa Kỳ. Thúc đẩy việc đưa nhiều động vật hơn lên quỹ đạo một cách an toàn để tiến hành thử nghiệm và sau đó là tiến đến đưa tàu có người lái vào vũ trụ.

60 năm ngày sinh vật đầu tiên vào vũ trụ, mở đường cho các sứ mệnh có người lái - 4

Khỉ Gordo cùng nhà nghiên cứu. Hình ảnh: U.S. Army.

Ngày 13 tháng 12 năm 1958, chú khỉ Gordo được đưa lên vũ trụ tại bãi phóng Mũi Canaveral trên tên lửa PGM-19 Jupiter thuộc sứ mệnh AM-13 của NASA. Tên lửa đã đạt độ cao hơn 900 km rồi trở về Trái Đất và hạ cánh ở nam Đại Tây Dương. Nhưng một sự cố kỹ thuật đã khiến chiếc dù không được mở ra và chú khỉ bỏ mạng trên tàu.

Ngày 18 tháng 10 năm 1963, các nhà khoa học Pháp đã đưa chú mèo đầu tiên vào không gian và chỉ có nước Pháp mới gửi mèo lên vũ trụ. Chú mèo Felix đã lên vũ trụ và sống sót trở về Trái Đất.

Năm 2007, gấu nước (Tardigrada) là sinh vật đầu tiên tiếp xúc trực tiếp với không gian. Loài này nổi tiếng với khả năng sống sót tốt trong mọi điều kiện, chúng được tìm thấy ở rất nhiều môi trường sống khắc nghiệt đến không tưởng. Cơ quan Hàng không vũ trụ Châu Âu ESA trong sứ mệnh FOTON-M3 đã thí nghiệm và cho thấy sinh vật này sống được 10 ngày trong vũ trụ với cơ chế tự bảo vệ từ cơ thể của nó.

Tổng cộng có bảy quốc gia đã đưa động vật vào vũ trụ, là Liên Xô/Nga, Hoa Kỳ, Pháp, Argentina, Trung Quốc, Nhật Bản và Iran. Ngoài khỉ, chó và mèo ra thì còn có rùa và côn trùng, vi khuẩn được đưa lên không gian để thí nghiệm.

Theo Khám phá

http://khampha.vn/khoa-hoc-cong-nghe/60-nam-ngay-sinh-vat-dau-tien-vao-vu-tru-mo-duong-cho-cac-su-menh-co-nguoi-lai-c7a585554.html

Leave your Comment