Cách mạng công nghiệp là gì 22

NGÀNH CÔNG NGHIỆP IN VỚI CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

 

Bài viết khoa học
Giang Văn Khuyến
Trường Cao đẳng Công nghiệp In
MỞ ĐẦU
Trong thời gian gần đây, khái niệm “Cách mạng Công nghiệp 4.0” được nhắc đến nhiều trên truyền thông và mạng xã hội. Theo đó, nó ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người từ kinh tế đến chính trị, từ cá nhân, doanh nghiệp đến quốc gia. Chính phủ đã ra Chỉ thị 16 CT-TTg ngày 04/05/2017 “ Về tăng cường năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0”. Công nghiệp 4.0 có ý nghĩa khác nhau đối với những đối tượng khác nhau. Các ngành sản xuất đang nỗ lực tham gia vào Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, trong số đó có ngành in. Với các nhà in thương mại muốn nâng cao sức cạnh tranh và cập nhật các xu hướng phát triển, cần phải nhận thức được về Công nghiệp 4.0. Industry 4.0 can mean different things to different people, but it generally refers to the fourth industrial revolution, which incorporates trends in automation, data exchange, smart systems, and the Internet of Things.Các công ty, doanh nghiệp không theo kịp thời đại, không đổi mới tư duy sẽ sớm bị đào thải. Hầu hết các máy in sẽ phải trải qua quá trình chuyển đổi quan trọng để nhận ra lợi ích toàn diện của Công nghiệp 4.0 – không chỉ về phương pháp sản xuất mà còn cả chiến lược kinh doanh.  Công nghiệp 4.0 đang đến rất nhanh và để cạnh tranh trong thế giới ngày mai, và hơn nữa, các công ty công nghệ phát triển theo thời gian và sẽ phải đối mặt với những thách thức trong tương lai gần.
Cách mạng công nghiệp 4.0 bắt đầu diễn ra từ đầu thế kỷ 21 và hiện nó đang tiến tới một nền công nghiệp mới. Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu nên chưa thể có được cái nhìn toàn diện về nó như các cuộc cách mạng công nghiệp trước đó, mà chỉ có những đánh giá, nhận định về xu hướng của nó tùy theo cách tiếp cận của từng người. Đối với ngành công nghiệp in, chúng tôi chỉ nói đến sản xuất in theo quan điểm truyền thống, đó là, in theo nghĩa tạo ra chữ và hình ảnh trên các vật liệu để truyền tải thông tin, mà không nói đến phương pháp in 3D. Vì in 3D không phải là in theo định nghĩa in từ trước tới nay, mà nó là một ngành sản xuất tạo ra vật chất với mục đích sử dụng khác nhau chứ không phải vật mang thông tin. In 3D thuộc ngành sản xuất đắp/ thêm dần (additive manufacturing) và là một thành phần cơ bản của Công nghiệp 4.0.
Trong bài viết này, chúng tôi đưa ra quá trình phát triển của việc số hóa và kết nối trong sản xuất in từ trước đến  nay, và quá trình tiếp cận với nền công nghiệp 4.0 của ngành công nghiệp in. Nội dung chính bao gồm: Khái niệm về cánh mạng công nghiệp 4.0; Công nghiệp in với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; Sự phát triển của công nghiệp in hướng tới công nghiệp 4.0; Công nghiệp in tiếp cận với công nghiệp 4.0. Với những vấn đề trên chúng tôi chỉ phác họa những nét cơ bản nhất về công nghiệp 4.0 và sự phát triển hướng tới công nghiệp 4.0 của ngành sản xuất in trên thế giới. Qua đó, giúp các nhà in và những ai quan tâm đến ngành công nghiệp in Việt Nam có thể hiểu thêm về ngành in trong cuộc cách công nghiệp 4.0.

CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
1.  Khái niệm về Cách mạng Công nghiệp 4.0
Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 là một khái niệm mới xuất hiện trong những năm gần đây, một số người gọi nó là “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, những người khác lại thích gọi là “Công nghiệp 4.0”. Thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” lần đầu tiên được đưa ra ở Cộng hòa Liên bang Đức năm 2011 tại Hội chợ Công nghệ Hannover với khái niệm tiếng Đức là “Industrie 4.0”. Đến năm 2012, được xác định là một trong 10 “Dự án tương lai” cho Chiến lược Công nghệ cao của Chính phủ Đức năm 2020. Ngày 20/01/2016, tại Diễn đàn Kinh tế thế giới khai mạc với chủ đề “Làm chủ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Từ đó, đến nay, thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” được sử dụng rộng rãi trên thế giới để mô tả cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Tuy nhiên, để định nghĩa công nghiệp 4.0 là gì? Nó bao gồm những gì? Thì hiện nay thế giới không có quan điểm thống nhất mà tùy theo nhận định của từng người.
Theo Klaus Schwab, người sáng lập và chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế Giới đưa ra cái nhìn đơn giản về CMCN 4.0 như sau:
“Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học”. “Cách mạng Công nghiệp 4.0 sẽ diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý. Những yếu tố cốt lõi của kỹ thuật số trong Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo AI (Artificial Intelligence), Vạn vật kết nối IoT (Internet of Things) và dữ liệu lớn (Big Data)”. “Tốc độ đột phá của CMCN 4.0 hiện “không có tiền lệ lịch sử”. “Khi so sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, CMCN 4.0 đang tiến triển theo một hàm số mũ chứ không phải là tốc độ tuyến tính. Hơn nữa, nó đang phá vỡ hầu hết ngành công nghiệp ở mọi quốc gia. Theo chiều rộng và chiều sâu của những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị”. Hiện CMCN 4.0 đang diễn ra tại các nước phát triển như Mỹ, châu Âu, một phần châu Á. Bên cạnh những cơ hội mới, CMCN 4.0 cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt.

Hình 1: Mô hình về nền công nghiệp 4.0
2. Lịch sử về các cuộc cách mạng công nghiệp trên thế giới.
Các chuyên gia và sử gia trong ngành công nghiệp thường phân loại thay đổi cách sản xuất trong  công nghiệp thành các thời đại. Sự thay đổi mang tính đột phá trong quá trình phát triển thường được gọi là cuộc cách mạng. Theo đó, các cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra như sau:

Hình 2: Lịch sử và đặc điểm cơ bản của các nền công nghiệp Thế giới
Cách mạng cộng nghiệp lần thứ nhất – Công nghiệp 1.0 (1760-1840). Về thời gian diễn ra cách mạng công nghiệp lần thứ nhất không thống nhất, nhưng nói chung là ở nửa cuối thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19. Đặc trưng chủ yếu: Dùng động cơ hơi nước sử dụng nhiên liệu than và máy móc dẫn động bằng cơ khí
Cách mạng công nghiệp lần thứ hai – Công nghiệp 2.0 (1850 – 1914). Công nghiệp 2.0 từ nửa sau thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Đặc trương của nền sản xuất: Sử dụng động cơ đốt trong; máy móc sử dụng điện và các công nghệ sản xuất lắp ráp dây chuyền; sản xuất hàng loạt.
Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba – Công nghiệp 3.0 (1969 – 2000). Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba xuất hiện vào cuối thế kỷ 20 đến hết thế kỷ 20. Đặc trưng của nền sản xuất: sử dụng máy tính, internet và robot công nghiệp, tự động hóa, siêu máy tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990). Cho đến cuối thế kỷ 20.
Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư – Công nghiệp 4.0 (bắt đầu vào đầu thế kỉ 21). Tiếp sau những thành tựu lớn từ cách mạng công nghiệp lần thứ 3, được hình thành trên nền tảng cải tiến của cuộc cách mạng số. Đặc điểm cơ bản của nền sản xuất công nghiệp 4.0:  Sản xuất thông minh (Smart production); Kết nối vạn vật (Internet of Things); Điện toán đám mây (Cloud computing); Hệ thống thực – ảo (Cyber-Physical Systems). Hiện tại cả thế giới đang ở trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng này và xu hướng mở ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của con người.
Tuy nhiên, một số người khác không thống nhất với quan điểm mà nhiều người thừa nhận trên. Họ cho rằng, Công nghiệp 4.0 chỉ  là một sự tối ưu hóa nhanh chóng của các quy trình và chuỗi giá trị gia tăng đã bắt đầu vào những năm 70 và 80 với các công nghệ mới như một chuỗi liên kết. Theo họ, quá trình sản xuất đắp/ thêm dần (additive manufacturing) với máy in 3D mới xứng đáng được gọi là “cuộc cách mạng” bởi vì chúng thay đổi về nguyên tắc cơ bản ai sản xuất và sản xuất ở đâu và khi nào họ làm. Máy in 3D mới, nhanh chóng, rẻ tiền, hiệu suất cao đang ngày càng gia nhập thị trường và thúc đẩy sự phát triển có ý nghĩa lớn mà chưa được hiểu rõ.
3. Các nội dung của công nghiệp 4.0 và các nguyên tắc xây dựng (thiết kế) công nghiệp 4.0
Mặc dù “Công nghiệp 4.0” là thuật ngữ chung đề cập đến cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư, các học giả vẫn đang tranh luận để xác định đúng cách tiếp cận. Điều này làm cho nó khó khăn hơn để phân biệt các thành phần chính của công nghiệp 4.0. Theo cách tiếp cập phổ biến nhất và đưa ra giai đoạn ban đầu, các thành phần cơ bản của công nghiệp 4.0 gồm: Hệ thống không gian mạng thực-ảo (Cyber-Physical Systems), Internet vạn vật (Internet of Things), Nhà máy thông minh  (Smart Factory) và Internet dịch vụ (Internet of Services). Một số quan điểm khác cho rằng công nghiệp 4.0 bao gồm một số yếu tố cơ bản: Robot tự động (Autonmous robots); Mô phỏng (Simulation); Hệ thống tích hợp; (System integration); Internet vạn vật (Internet of things); An ninh mạng (Cybersecurity); Điện toán đám mây (Cloud computing); Sản xuất thêm dần (in 3D) (Additive manufacturing); Tương tác thực (AR) (Augmented reality ); Dữ liệu lớn (Big date).

Hình 3: Các thành phần cơ bản của công nghiệp 4.0

Để xây dụng một nền công nghiệp 4.0, phải dựa vào các thành phần của nó và đưa ra những nguyên tắc chung. Các nguyên tắc thiết kế cho phép các nhà sản xuất xem xét một sự chuyển đổi tiềm năng cho các công nghệ của công nghiệp 4.0. Dựa trên các thành phần cơ bản của công nghiệp 4.0, các nguyên tắc thiết kế bao gồm:
Khả năng tương tác (Interoperability): Các đối tượng, máy móc và con người cần có khả năng giao tiếp thông qua Internet of Things và Internet of People.  Đây là nguyên tắc quan trọng nhất khiến nhà máy trở thành một nhà máy thông minh.
Ảo hóa (Virtualization): CPS (Cyber-Physical Systems), phải có khả năng mô phỏng và tạo ra một bản sao ảo của thế giới thực. CPS cũng phải có khả năng giám sát các đối tượng hiện có trong môi trường xung quanh.
Phân cấp (Decentralization): Khả năng của CPS hoạt động độc lập. Điều này mang lại chỗ cho các sản phẩm tùy chỉnh và giải quyết vấn đề. Điều này cũng tạo ra một môi trường linh hoạt hơn cho sản xuất.
Khả năng thời gian thực (Real-Time Capability): Một nhà máy thông minh cần có khả năng thu thập dữ liệu thời gian thực, lưu trữ hoặc phân tích và đưa ra quyết định theo kết quả mới. Các đối tượng thông minh phải có khả năng xác định lỗi và ủy nhiệm lại tác vụ cho các máy vận hành khác. Điều này cũng góp phần rất lớn vào sự linh hoạt và tối ưu hóa sản xuất.
Định hướng dịch vụ (Service-Orientation): Sản xuất phải theo định hướng khách hàng. Con người và các đối tượng/ thiết bị thông minh phải có khả năng kết nối hiệu quả thông qua Internet dịch vụ để tạo ra sản phẩm dựa trên thông số kỹ thuật của khách hàng.
Thay đổi (Modularity): Trong một thị trường năng động, khả năng thích ứng với một thị trường mới của nhà máy thông minh là rất cần thiết. Mặt khác nhà máy thông minh phải có khả năng thích nghi nhanh chóng và thuận lợi cho các thay đổi theo mùa và xu hướng thị trường.
4. Cơ hội và thách thức của công nghiệp 4.0
Công nghiệp 4.0 sẽ thực sự cách mạng hóa cách thức các quy trình hoạt động sản xuất.  Tuy nhiên, điều quan trọng là phải cân nhắc những cơ hội và những thách thức mà các công ty có thể phải đối mặt.
• Cơ hội của công nghiệp 4.0
Tối ưu hóa (Customization): Tối ưu hóa sản xuất là một lợi thế quan trọng đối với công nghiệp 4.0. Một nhà máy thông minh có chứa hàng trăm hoặc thậm chí hàng ngàn thiết bị thông minh có khả năng tự tối ưu hóa sản xuất sẽ dẫn đến thời gian ngừng máy gần như bằng không trong sản xuất. Có khả năng sử dụng sản xuất liên tục và nhất quán sẽ mang lại lợi nhuận cho công ty.
Tùy chỉnh (Customization): Tạo một thị trường linh hoạt theo định hướng khách hàng sẽ giúp đáp ứng nhu cầu của người dân nhanh chóng và thuận lợi. Nó cũng sẽ phá hủy khoảng cách giữa nhà sản xuất và khách hàng. Giao tiếp sẽ diễn ra giữa cả hai trực tiếp. Các nhà sản xuất sẽ không phải giao tiếp nội bộ (trong các công ty và nhà máy) và bên ngoài (đối với khách hàng). Điều này làm tăng quá trình sản xuất và phân phối.
Thúc đẩy  nghiên cứu (Pushing Research): Việc áp dụng các công nghệ trong công nghiệp 4.0 sẽ thúc đẩy nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau như bảo mật CNTT và sẽ có ảnh hưởng đến giáo dục nói riêng. Một ngành mới sẽ đòi hỏi một bộ kỹ năng mới. Do đó, giáo dục và đào tạo sẽ có một hình dạng mới cung cấp cho công nghiệp như vậy sẽ đòi hỏi lao động có tay nghề cao.
• Những thách thức của công nghiệp 4.0
Bảo mật (Security): Có lẽ khía cạnh khó khăn nhất trong việc triển khai các kỹ thuật của công nghiệp 4.0 là rủi ro bảo mật CNTT. Tích hợp trực tuyến này sẽ cung cấp chỗ cho các vi phạm an ninh và rò rỉ dữ liệu. Vì vậy, nghiên cứu về an ninh là rất quan trọng.
Vốn (Capital): Việc chuyển đổi như vậy sẽ đòi hỏi một khoản đầu tư lớn vào một công nghệ mới không hề rẻ. Thậm chí sau đó, các rủi ro phải được tính toán và thực hiện nghiêm túc. Ngoài ra, việc chuyển đổi như vậy sẽ đòi hỏi một nguồn vốn khổng lồ, làm cho các doanh nghiệp nhỏ lẻ khó khăn hơn và có thể khiến họ mất thị phần trong tương lai.
Việc làm (Employment): Mặc dù vẫn còn sớm để suy đoán về điều kiện làm việc với việc áp dụng công nghiệp 4.0 trên toàn cầu, nhưng vẫn có thể nói rằng công nhân sẽ cần phải có được một bộ kỹ năng hoàn toàn mới. Điều này có thể giúp tỷ lệ việc làm tăng lên ở một số lĩnh vực, nhưng nó cũng sẽ giảm ở phần lớn lĩnh vực có công việc lặp đi lặp.
Tính riêng tư (Privacy): Đây không chỉ là mối quan tâm của khách hàng, mà còn cả những nhà sản xuất. Trong một nền công nghiệp kết nối như vậy, các nhà sản xuất cần phải thu thập và phân tích dữ liệu. Đối với khách hàng, điều này có thể giống như một mối đe dọa đối với quyền riêng tư của họ. Điều này không chỉ dành riêng cho người tiêu dùng. Các công ty lớn hay nhỏ chưa chia sẻ dữ liệu của họ trong quá khứ sẽ phải làm việc theo cách một môi trường minh bạch hơn. Việc thu hẹp khoảng cách giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất sẽ là một thách thức lớn đối với cả hai bên.
• Việc làm tương lai
Công nghiệp 4.0 có nhiều hứa hẹn khi nói đến doanh thu, đầu tư và tiến bộ công nghệ, nhưng việc làm vẫn là một trong những khía cạnh bí ẩn nhất của cuộc cách mạng công nghiệp mới. Nó thậm chí còn khó hơn để định lượng hoặc ước tính tỷ lệ việc làm tiềm năng: Sẽ đưa ra loại công việc mới nào?  Một nhân viên của nhà máy thông minh cần phải có khả năng cạnh tranh trong một môi trường luôn thay đổi như thế nào? Những thay đổi như vậy có gây ra nhiều khó khăn cho công nhân không?
Công nghiệp 4.0 có thể là đỉnh cao của tiến bộ công nghệ trong sản xuất, nhưng nó vẫn có vẻ như là máy móc đang chiếm lĩnh ngành công nghiệp này. Do đó, điều quan trọng là tiếp tục phân tích phương pháp này để có thể rút ra kết luận về lao động trong tương lai. Điều này sẽ giúp công nhân của ngày hôm nay chuẩn bị cho một tương lai không xa.
5. Những lợi ích và mặt trái của cách mạng công nghiệp 4.0 với nhân loại toàn cầu
• Những lợi ích của công nghiệp 4.0
1) Với doanh nghiệp:
– Nâng cao năng suất thông qua tối ưu hóa và tự động hóa; Sản xuất nhanh hơn, tốn ít sức người hơn, dữ liệu thu thập đầy đủ hơn, quyết định được đưa ra nhanh chóng hơn;
– Khi có dữ liệu càng chi tiết và càng nhiều, các thuật toán “machine learning” càng chạy chính xác hơn để đưa ra những quyết định tốt hơn. Kiểm soát được món hàng từ nguyên vật liệu cho đến sản phẩm và chuyển đến tay người tiêu dùng;
– Tính liên tục trong kinh doanh lớn hơn thông qua khả năng bảo trì và giám sát nâng cao; Các công ty sẽ giảm chi phí, tăng thị phần, lợi nhuận;
– Các sản phẩm chất lượng cao hơn là kết quả của việc theo dõi thời gian thực, cải thiện chất lượng. Đảm bảo chất lượng đồng đều giữa các mẻ thành phẩm (vì máy làm tự động, không phải người làm);
– Điều kiện làm việc tốt hơn và tính bền vững cao. Con người sẽ được làm những việc vui vẻ hơn, hấp dẫn hơn, không bị nhàm chán. Trong những môi trường làm việc nguy hiểm, con người không phải xuất hiện nên giảm tỉ lệ tử vong, bệnh tật cho người lao động. Những thứ này để máy làm;
– Cơ hội cá nhân hóa sẽ tạo được lòng tin và lòng trung thành của người tiêu dùng hiện đại.
2) Với cá nhân con người:
–  Phải làm ít việc tay chân hơn, có nhiều thời gian rảnh hơn để đi chơi với bạn bè, với con cái, gia đình;
– Sẽ được hưởng lương cao hơn nếu chất xám của mình phát huy tác dụng để công ty dịch chuyển sang Công nghiệp 4.0;
– Sức khỏe trong môi trường làm việc được đảm bảo hơn, những cái nguy hiểm máy móc đã làm hết rồi, con người chỉ giám sát thôi;
– Sẽ mua được những món đồ rẻ hơn (do doanh nghiệp giảm chi phí), chất lượng cao và đồng đều. (do máy móc làm thì sẽ giống nhau, tỉ lệ sai sót, bảo hành thấp hơn là có con người can thiệp);
– Đồ ăn, đồ uống của con người sẽ được kiểm soát chặt hơn, tốt hơn, sạch hơn;
– Môi trường sống của con người sẽ tốt hơn vì chất thải được kiểm soát tốt.
• Những tác động tiêu cực của công nghiệp 4.0
Mặt trái của CMCN 4.0 là nó có thể gây ra sự bất bình đẳng. Đặc biệt là có thể phá vỡ thị trường lao động. Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp. Theo Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới: Giai đoạn đầu tiên sẽ là thách thức với những lao động văn phòng, trí thức, lao động kỹ thuật. Giai đoạn tiếp theo sẽ là lao động giá rẻ, có thể sẽ chậm hơn. Với sự chuyển động của cuộc cách mạng này, trong khoảng 15 năm tới thế giới sẽ có diện mạo mới, đòi hỏi các doanh nghiệp thay đổi. Sau đó, những bất ổn về kinh tế nảy sinh từ CMCN 4.0 sẽ dẫn đến những bất ổn về đời sống. Hệ lụy của nó sẽ là những bất ổn về chính trị. Nếu chính phủ các nước không hiểu rõ và chuẩn bị đầy đủ cho làn sóng công nghiệp 4.0, nguy cơ xảy ra bất ổn trên toàn cầu là hoàn toàn có thể. Bên cạnh đó, những thay đổi về cách thức giao tiếp trên Internet cũng đặt con người vào nhiều nguy hiểm về tài chính, sức khoẻ. Thông tin cá nhân nếu không được bảo vệ một cách an toàn sẽ dẫn đến những hệ lụy khôn lường.
Những vấn đề chính gây tiêu cực của CMCN 4.0 mà chúng ta có thể gặp phải trong tương lai không xa: Mô hình kinh doanh mới – định nghĩa chiến lược mới; Quản lý thay đổi; Xây dựng văn hóa công ty; Tuyển dụng và phát triển tài năng mới; Mở ra cơ hội cho các mô hình kinh doanh hoàn toàn mới trong sản xuất.
Để phát triển và thực sự tồn tại trong thế giới ngày mai, chúng ta sẽ cần phải nhìn vào mặt trái của công nghiệp 4.0 và hành động dựa trên chúng càng sớm càng tốt. Nhưng, điều quan trọng cần nhớ: trên hết, ngành công nghiệp 4.0 yêu cầu các doanh nghiệp và tổ chức áp dụng  tư duy mới, hiểu được sức mạnh của kết nối liên thông, nhận ra được công nghệ mới. Bằng cách có thể áp dụng một tư duy mới, làm mới văn hóa công ty, điều chỉnh mô hình kinh doanh, tạo ra vai trò mới và nuôi dưỡng tài năng để hoàn thành những vai trò đó, phần còn lại sẽ tiếp tục, miễn là thay đổi của chúng ta được quản lý chặt chẽ trong suốt quá trình.
6. Nhà máy trong công nghiệp 4.0
• Mô hình kinh doanh trong công nghiệp 4.0
Công nghiệp 4.0 thường được thảo luận từ quan điểm công nghệ về học máy (machine learning), thuật toán, cảm biến thông minh và thiết bị được kết nối. Nhưng sự thật, tác động lớn nhất của nó sẽ là các mô hình kinh doanh của công ty. Các mô hình kinh doanh trong công nghiệp 4.0 có ý nghĩa quan trọng đối với việc tạo ra giá trị từ dữ liệu và thấy vai trò trung tâm hơn của người dùng cuối (khách hàng), đồng thời, mạng cho phép tạo giá trị. Ngoài các cơ hội hoạt động được cung cấp bởi nền công nghiệp 4.0, mỗi công ty cần phải tự đặt câu hỏi liên quan đến tính bền vững của các mô hình kinh doanh hiện tại của mình. Về cơ bản, một mô hình kinh doanh là một giả thuyết quản lý về: Những gì khách hàng muốn; Họ muốn nó như thế nào; Làm thế nào một công ty có thể đáp ứng những mong muốn này và kiếm lời trên đó.
• Nhà máy thông minh trong công nghiệp 4.0
Nhà máy thông minh (smart factory), đôi khi còn được gọi là “nhà máy của tương lai” là nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư. Nó thường được coi là tổng hợp của tất cả các công nghệ trong công nghiệp 4.0. Nhà máy thông minh tạo ra một môi trường linh hoạt trong đó một dòng dữ liệu liên tục từ các hoạt động kết nối và các hệ thống sản xuất được thu thập và triển khai để thích nghi với các yêu cầu mới. Và khái niệm này không chỉ giới hạn ở bốn bức tường của một nhà máy, nó còn đi xa hơn nữa – làm ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi cung ứng và hơn thế nữa.
Hiện nay, khi định nghĩa về một nhà máy thông minh trong công nghiệp 4.0 có rất nhiều khái niệm khác nhau được đưa ra tùy theo quan điểm và cách tiếp cận của từng người. Một trong số đó là “Nhà máy thông minh là một hệ thống linh hoạt có thể tự tối ưu hóa hiệu năng trên một mạng rộng hơn, tự điều chỉnh và học hỏi từ các điều kiện mới trong thời gian thực hoặc gần thời gian thực và tự động chạy toàn bộ quy trình sản xuất”.
Các nhà máy thông minh thay đổi mô hình công nghiệp sản xuất hàng loạt thông qua công nghệ kỹ thuật số. Công nghiệp 4.0 là cốt lõi cho mô hình kinh doanh mới của sản xuất tùy chỉnh cho phép giảm chi phí trong các sản phẩm và dịch vụ. Các nhà máy thông minh của nền công nghiệp 4.0 so với các nhà máy “im lặng” (Calm) của ngành công nghiệp 3.0 không có khác biệt nhiều về hình thức. Tuy nhiên có sự khác biệt lớn nhất giữa các nhà máy “im lặng” ngày nay và các nhà máy thông minh của ngày mai là mạng kết nối chúng.

Hình 4: Nhà máy thông minh trong công nghiệp 4.0
·
• Doanh nghiệp vừa và  nhỏ (DNVVN) trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Nếu nhà máy thông minh là trung tâm của công nghiệp 4.0 và đặc điểm xác định của một nhà máy thông minh là mối liên kết với các nhà máy khác, thì liệu lợi ích của cuộc cách  mạng công nghiệp thứ tư có phải được dành riêng cho các doanh nghiệp lớn với nhiều cơ sở vật chất? Các doanh nghiệp nhỏ có lợi ích gì? Cần lưu ý rằng ngay cả các doanh nghiệp đơn lẻ cũng có thể có lợi từ việc chia sẻ thông tin. Ngay cả khi chúng ta chỉ có một nhà máy, chúng ta vẫn có thể hưởng lợi từ việc nhà máy đó được kết nối kỹ thuật số với phần còn lại của chuỗi cung ứng mà mình tham gia. DNVVN sẽ có thể thu được những lợi ích của công nghiệp 4.0, trên thực tế, một số công nghệ sẽ rất tốn kém để triển khai tại vị trí của một khách hàng nhỏ, nhưng nó có thể được triển khai bằng công nghệ đám mây và trên cơ sở thuê bao liên kết với các kết quả mà chúng sẽ tạo ra. Vì vậy, một trang web nhỏ có thể tận dụng công nghệ mà trước đây chỉ thực sự có giá cả phải chăng bởi một khách hàng lớn hơn. Vì vậy, câu trả lời cho câu hỏi liệu DNVVN sẽ được hưởng lợi từ ngành công nghiệp 4.0  là, “Có”, mặc dù với trình độ của  mình mà họ có thể mất một thời gian để tiếp cận. Mặt khác, tốc độ thay đổi trong các cuộc cách mạng công nghiệp dường như đang tăng tốc.
CÔNG NGHIỆP IN VỚI CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
1. Sự phát triển của công nghiệp in tiến tới Công nghiệp 4.0
Ngành công nghiệp in toàn cầu tiếp tục biến đổi kể từ khi bắt đầu phát triển kỹ thuật số cách đây hơn 30 năm. Quá trình in trở nên tinh vi hơn và chất lượng được cải thiện, cơ sở hạ tầng in đã trở nên tiên tiến hơn, có khả năng hoạt động phức tạp và mức độ linh hoạt mà có thể không thể tưởng tượng được vào cuối những năm 1980. Không chỉ về thiết bị in, các nhà sản xuất vật liệu in đang tìm cách mới sáng tạo hơn để xử lý việc khô của mực, cho phép sử dụng các chất liệu nền khác nhau, đồng thời tiết kiệm tiền cho năng lượng và giảm chất thải. Sự cạnh tranh ngày càng tăng trên thị trường và áp lực ngày càng tăng từ người tiêu dùng và sự bền vững hơn cũng buộc các cơ sở in trên toàn cầu phải suy nghĩ lại cách tiếp cận của họ.
Trong công nghiệp 4.0, nhà in đồng thời có nhiều cơ hội nhưng nó không phải không có những rủi ro. Tất cả các nhà in, bất kể chúng đến từ thị trường hay khu vực nào, nếu họ muốn thành công trong dài hạn, họ phải tiếp tục thích nghi với thị trường và điều kiện kinh tế đang thay đổi. Kiến thức và kinh nghiệm của năm trước có thể không đủ để họ thay đổi. Những gì họ cần là một cách tiếp cận vô thức đến hiệu quả và tự động hóa, đồng thời học các kỹ năng mới và thêm các giá trị dịch vụ mới. Bộ kỹ năng mới là bắt buộc để bán cho khách hàng (một số người có thể thậm chí không tồn tại ngày nay). Ngành in 4.0  (Print 4.0) sẽ phát triển theo hai yếu tố cốt lõi sau.
• Quy trình in thông minh
Với công nghệ thông minh ngày nay, có thể lập trình trước các đơn hàng in phức tạp vào dây chuyền sản xuất, cho phép hoàn thành các lô sản phẩm nhỏ hơn với các thiết kế và đặc điểm khác nhau một cách nhanh chóng mà không bị gián đoạn và giám sát rất ít. Các cảm biến thông minh có thể cung cấp các lợi ích bổ sung bằng cách kiểm soát năng lượng đầu vào, và theo dõi phế thải. Điều này ngoài việc cho kết quả tốt, nó còn mang lại lợi ích cho môi trường và cho phép các nhà sản xuất công nghiệp tăng đáng kể tính bền vững trong hoạt động của mình.
Một điểm quan trọng nữa là khoảng cách kỹ năng toàn cầu gia tăng – nơi những tiến bộ công nghệ nhanh dẫn đến sự thiếu hụt các ứng cử viên với kiến thức cần thiết để vận hành các máy móc tinh vi. Các giải pháp thông minh hơn, chẳng hạn như dây chuyền in được tăng cường bởi chức năng IoT có thể loại bỏ sự cần thiết của các chuyên gia trên mặt đất, cho phép các nhà sản xuất đơn giản hóa sản xuất. Điều này rất quan trọng vì nhu cầu ngày càng tăng cho việc hoàn thiện sản phẩm phức tạp hơn bao giờ hết, như bao bì mang tính cá nhân, đòi hỏi quản lý các tệp dữ liệu khổng lồ như là một phần của quá trình sản xuất.
Trong sản xuất in ngày nay, nguyên liệu thiết yếu không phải là giấy hay mực in. Đó là dữ liệu kết nối máy móc với máy móc, máy móc trong môi trường nhà máy, môi trường nhà máy với các hệ thống quản lý, và các hệ thống quản lý với khách hàng. Mỗi bước của quá trình tạo ra dữ liệu, và tất cả nó được thu thập và phân tích với một mục tiêu: để làm cho toàn bộ trình tự sản xuất hiệu quả và có lợi nhuận như nó có thể được. Một nhà máy in hoạt động theo cách này luôn biết nơi để tìm và làm thế nào để ở trong vùng hiệu quả nhất “điểm ngọt”(sweet spot) của sản xuất. Đây là tập hợp các điều kiện sản xuất được xác định chính xác, trong đó sản xuất có thể diễn ra với chi phí thấp nhất có thể. Đạt “điểm ngọt” này dẫn đến lợi thế đáng kể: giá cả thị trường cạnh tranh với mức lợi nhuận cao nhất trong ngành.
Việc ngành công nghiệp in chuyển sang quy trình in kỹ thuật số, có rất nhiều cơ hội để làm việc thông minh hơn. Ví dụ, với hoàn thiện sản phẩm thông minh có thể lấy công việc và các thông số kỹ thuật liên quan từ đám mây, kết hợp dữ liệu biến đổi và điều chỉnh các chi tiết kỹ thuật dựa trên các tiêu chuẩn công việc như vật liệu in và công nghệ in, sau đó hiệu chỉnh và quản lý màu sắc bằng các hệ thống đo đạc. Kết quả sau đó có thể được xác nhận để đảm bảo chúng đáp ứng yêu cầu của nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng. Và nhiều điều này có thể được thực hiện  không có sự can thiệp của con người.
• Tự động hóa sản xuất.
Công nghiệp 4.0 được đặc trưng bởi mạng lưới công nghệ thông tin, dịch vụ, dữ liệu, các thiết bị kết nối với nhau, và mọi người, cung cấp năng lượng cho nhà máy thông minh. Tự động hóa trong ngành in đã trở nên thông minh hơn sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Một nền tảng cho tự động hóa là sử dụng các hệ thống sản xuất thực- ảo (CPPS- Cyber-Physical Production Systems), những máy thông minh có thể giao tiếp với các thiết bị và hệ thống khác để sử dụng những dữ liệu đầu vào để đưa ra các quyết định tự động và tự trị. Ví dụ, ý tưởng sản xuất Push to Stop của Heidelberg sử dụng dữ liệu để bắt đầu quy trình trong máy in, cái cần thiết để chạy các công việc. Mục tiêu cuối cùng là chỉ cho phép người vận hành máy in can thiệp vào khi cần thiết. Một số nhà cung cấp đang làm việc để phát triển các giải pháp thực tế bổ sung để hỗ trợ các kỹ thuật viên nội bộ và người dùng cuối thực hiện bảo trì thiết bị. Các hệ thống này gồm đồ họa, hình ảnh và video trên các vật thể để hướng dẫn người vận hành thực hiện bảo trì hoặc sửa chữa, thể hiện các phương pháp hay nhất cũng như những điều cần tránh.  Mặt khác Robot thay thế sự cần thiết cho lao động của con người.
Các ngành công nghiệp như sản xuất ô tô, đóng tầu container và đúc vật liệu đã được sử dụng và áp dụng các công nghệ trong công nghiệp 4.0 để cải thiện hoạt động của họ trong nhiều năm. Các bài học kinh  nghiệm trong các ngành này có thể và nên được áp dụng trong ngành công nghiệp in ấn. Các nhà cung cấp dịch vụ In nắm bắt và chấp nhận các khái niệm và công nghệ này sớm, chắc chắn sẽ có lợi thế cạnh tranh mạnh.
2. Khởi đầu công nghiệp 4.0 và ranh giới tiếp theo của ngành in
Ngành công nghiệp in là một trong số các ngành sản xuất đi đầu trong việc ứng dụng sự thay đổi trong công nghệ. Việc áp dụng công nghệ đang nhanh chóng chuyển từ công nghệ truyền thống sang in kỹ thuật số và với sự khởi đầu của cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư, đường danh giới giữa in kỹ thuật số và phương pháp in thông thường đã bắt đầu mờ dần, mở đường cho một kỷ nguyên mới về cá nhân hóa. Trong dòng của công nghiệp 4.0, ngành công nghiệp in, bao bì cũng đã bắt tay vào cuộc hành trình của họ đến in 4.0.
Những thay đổi công nghệ và với sự khởi đầu của công nghiệp 4.0, dẫn tới sự chuyển đổi mạnh sang kỹ thuật số đang được tiến hành trong ngành công nghiệp in. Các công ty in đang tăng cường khả năng của họ với các công nghệ mới hơn và đang đầu tư vào dây chuyền công việc liền mạch như một khả năng có sẵn để thúc đẩy sự đổi mới và cải thiện đáng kể hiệu quả. Cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư đã mở ra một kỷ nguyên mới cho ngành công nghiệp in ấn chuyên nghiệp, với sự giới thiệu vô số các công nghệ mới đang dẫn dắt công nghệ in và hoàn thiện cho cấp độ tiếp theo.
Ngày nay, khi kết nối, điện toán đám mây và tự động hóa đã trở thành bình thường và ngành in đang triển khai các công nghệ này đồng bộ với sự phát triển công nghiệp 4.0. Việc sử dụng kỹ thuật số là một điều cần thiết trong môi trường chia xẻ hiện tại vì nó đóng vai trò then chốt trong việc cho phép tăng năng suất, tinh giản quy trình in, cải thiện dịch vụ khách hàng và cho phép các doanh nghiệp ở trạng thái nhanh nhẹn.
Công nghiệp 4.0, thúc đẩy việc tạo ra các nhà máy thông minh, do đó sẽ thu hẹp khoảng cách giữa khách hàng và nhà cung cấp trong tương lai gần. Theo đánh giá sơ bộ các máy in thương mại có thêm khả năng kỹ thuật số có sự tăng trưởng tới 80%; và nó đang làm tăng thêm giá trị lợi nhuận cho nhà in và khách hàng. Mặt khác, máy in thương mại không có khả năng kỹ thuật số đã bắt đầu thấy doanh thu giảm.
In kỹ thuật số đang phát triển với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết. Theo một báo cáo của Smithers Pira, tổng số thị trường in ấn kỹ thuật số sẽ đạt 225% giá trị năm 2013 vào năm 2024. Báo cáo nói rằng in kỹ thuật số đang tăng lên vì nó cho phép các nhà cung cấp in cải thiện mức dịch vụ mà họ cung cấp cho khách hàng.
Việc tăng phiên bản và cá nhân hóa giúp in nhắm mục tiêu đến người dùng cuối cùng ngày càng quan trọng vì thế giới kỹ thuật số tiếp tục ngày càng được kết nối nhiều hơn. Sự trưởng thành của Big Data với công nghệ có thể xác định các khách hàng tiềm năng có giá trị là một công cụ rất mạnh mẽ, và in kỹ thuật số sẽ được sử dụng như một kênh truyền thông cho đầu ra này. In kỹ thuật số cũng sẽ khai thác nhiều cơ hội mới cho các giá trị cao với các đơn hàng chạy ngắn và dịch chuyển sang nhãn, bao bì. Xu hướng này thấy trong công nghệ in offset kỹ thuật số vẫn còn giá trị với chạy ngắn, tất cả các quy trình in sẽ sớm dựa vào cùng một cơ sở hạ tầng kỹ thuật số.
Khi kỹ thuật số trở thành bình thường mới, theo một số người gọi là “xoáy nước kỹ thuật số”, chúng ta thấy có bốn dòng ứng dụng song song: Kỹ thuật số thuần túy; In di chuyển sang kỹ thuật số; Kỹ thuật số làm việc với máy in; Sao lưu kỹ thuật số vào máy in. Trong khi in kỹ thuật số tiếp tục đạt được nền tảng vững chắc hơn, đó là sự hợp nhất các công nghệ in làm mờ các đường giữa in thông thường và kỹ thuật số.
3. Nhà cung cấp thiết bị sản xuất in
Trong ngành công nghiệp in bao gồm các nhà in và nhà sản xuất thiết bị, v

Sản xuất nông nghiệp trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp 4.0

 

Theo Hiệp hội Máy Nông nghiệp châu Âu (European Agricultural Machinery, 2017), đã phân tích quá trình phát triển nông nghiệp trên thế giới đến nay cũng như quá trình phát triển các cuộc cách mạng công nghiệp. Nông nghiệp 1.0 xuất hiện mạnh vào khoảng năm 1910, ở giai đoạn này chủ yếu dựa vào sức lao động và phụ thuộc thiên nhiên do đó năng suất lao động thấp, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, quá trình trao đổi thương mại chưa sôi động, chủ yếu tự cung, tự cấp nông sản giữa các quốc gia.

 

 

Nông nghiệp 2.0, đó là Cách mạng xanh, bắt đầu vào những năm 1950, mà điển hình là Ấn Độ sử dụng các giống lúa mì lùn cải tiến; giai đoạn mà canh tác kết hợp sử dụng hóa học hóa trong phân bón và thuốc bảo vệ thực vật; cơ khí phục vụ nông nghiệp phát triển, máy cày làm đất và máy móc phục vụ công nghệ sau thu hoạch, quá trình trao đổi nông sản toàn cầu diễn ra mạnh mẽ, từng bước hình thành rõ phân vùng nông nghiệp thế giới.

Nông nghiệp 3.0 diễn ra vào khoảng năm 1990 đã tạo bước đột phá về công nghệ nhờ áp dụng các thành tựu khoa học về công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, thiết bị định vị toàn cầu (GPS), các công nghệ làm đất, công nghệ sau thu hoạch sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và từng bước áp dụng các công nghệ điều khiển tự động và cảm biến, giao dịch nông sản thương mại điện tử, từ đó đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản; căn cứ vào lợi thế so sánh các quốc gia đã chủ động tham gia chuỗi nông sản toàn cầu; đây là giai đoạn xuất hiện nhanh và nhiều công ty đa quốc gia kinh doanh về nông nghiệp.

Nông nghiệp 4.0, sự phát triển diễn ra đồng thời với phát triển của thế giới về công nghiệp 4.0 là giai đoạn ứng dụng mạnh mẽ các thiết bị cảm biến kết nối internet (IoT), công nghệ đèn LED, các thiết bị bay không người lái, robot nông nghiệp và quản trị tài chính trang trại thông minh… Thuật ngữ nông nghiệp 4.0 được phân tích và sử dụng đầu tiên tại Đức vào năm 2011.

Theo tổng kết của các tổ chức quốc tế, đến nay, các thành phần chủ yếu của nông nghiệp 4.0 được tập trung các nội hàm sau: (1). ứng dụng cảm biến kết nối vạn vật hầu hết các trang trại nông nghiệp (IoT Sensors); các thiết bị cảm biến và thiết bị thông minh được kết nối và điều khiển tự động trong suốt quá trình sản xuất nông nghiệp giúp ứng phó với biến đổi khí hậu, cải thiện vi khí hậu trong nhà kính; (2). Công nghệ đèn LED sử dụng đồng bộ trong canh tác kỹ thuật cao để tối ưu hóa quá trình sinh trưởng, ứng dụng ở các quốc gia có quỹ đất nông nghiệp ít hoặc nông nghiệp đô thị ; (3). Canh tác trong nhà kính, nhà lưới, sử dụng công nghệ thủy canh, khí canh nhằm cách ly môi trường tự nhiên, chủ động ứng dụng đồng bộ công nghệ; (4). Tế bào quang điện (Solar cells) nhằm sử dụng hiệu quả không gian, giảm chi phí năng lượng, hầu hết các thiết bị trong trang trại/ doanh nghiệp được cấp điện mặt trời và các bộ pin điện mặt trời; (5). Sử dụng người máy (Robot) thay cho việc chăm sóc cây trồng, vật nuôi ngày càng trở nên phổ biến, được ứng dụng tại các quốc gia già hóa dân số và quy mô sản xuất lớn; (6). Sử dụng các thiết bị bay không người lái (Drones) và các vệ tinh (satellites) để khảo sát thực trạng thu thập dữ liệu của các trang trại, từ đó phân tích khuyến nghị trên cơ sở dữ liệu cập nhật được để quản lý trang trại chính xác; (7). Công nghệ tài chính phục vụ trang trại trong tất cả các hoạt động từ trang trại được kết nối bên ngoài, nhằm đưa ra công thức quản trị trang trại có hiệu quả cao nhất.

Những biến đổi sản xuất nông nghiệp trong kỷ nguyên CMCN 4.0 sẽ diễn ra chủ yếu ở các cơ sở nông nghiệp với công nghệ canh tác thông minh. Ở các cơ sở có tiềm năng, kiểm soát môi trường tăng trưởng sẽ làm tăng giá trị gia tăng của nông sản.

Tại Hàn Quốc, có ba giai đoạn phải hoàn thành để thúc đẩy trang trại thông minh ở các cơ sở nông nghiệp. Giai đoạn thứ nhất, được hoàn thành trước năm 2017, là giai đoạn cải thiện sự tiện lợi. Trong giai đoạn này, các cơ sở được nâng cấp cho phép nông dân kiểm tra trạng thái hoạt động nông nghiệp thông qua các thiết bị di động. Như vậy, nông dân không cần phải đến các trang trại để thực hiện những công việc đơn giản như kiểm soát nhiệt độ. Giai đoạn thứ hai, dự kiến được hoàn thành vào năm 2020, là cải thiện năng suất. Trong giai đoạn này, lợi nhuận được tăng lên thông qua kiểm soát chính xác và đưa ra các quy định tối ưu cho nông nghiệp. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn hoàn tất, theo đó tất cả các điều kiện của cơ sở được tự động hóa theo điều kiện tăng trưởng của cây trồng dựa trên mô hình tăng trưởng của cây trồng đó. Cơ quan Quản lý Phát triển Nông thôn Hàn Quốc đã đưa ra một nền tảng để thử nghiệm các cảm biến và công nghệ khác nhau ở các trang trại thông minh, để giúp nông dân trải qua ba giai đoạn nhanh chóng và hiệu quả.

CMCN 4.0 sẽ mang lại sự khác biệt lớn trong lĩnh vực nông nghiệp canh tác theo kiểu cánh đồng mở (truyền thống). Có ba giai đoạn mà công nghệ có thể được sử dụng, đó là: giám sát diện tích tăng trưởng cây trồng; phân tích dữ liệu trong giai đoạn đưa ra quyết định; và thực hiện phương pháp cung cấp (áp dụng) biến đổi theo vùng đất (Variable rate application) bằng cách sử dụng máy móc nông nghiệp thông minh.

Giám sát diện tích môi trường tăng trưởng cây trồng không chỉ gồm tình trạng phát triển cây trồng mà còn thông tin khí hậu, thông tin môi trường và thông tin tăng trưởng. Phương pháp này được phát triển nhanh chóng ở những nền nông nghiệp quy mô lớn như của Hoa Kỳ hay những nền nông nghiệp thâm canh như ở Hàn Quốc. Có thể tối đa khối lượng sản xuất và tối thiểu nguy cơ thất bại do thiên tai, lỗi hệ thống và các yếu tố khác bằng cách có được những dữ liệu về tăng trưởng, thời tiết và thiết bị nông nghiệp.

Phân tích dữ liệu ở giai đoạn ra quyết định liên quan đến phân tích dữ liệu từ giai đoạn giám sát và xác định những công việc nông nghiệp cần thiết. Trong giai đoạn này, dữ liệu thu thập được tích lũy, xử lý và phân tích dưới dạng dữ liệu lớn. Sau đó, các quyết định hiệu quả và chính xác về dữ liệu được đưa ra theo cách vượt trội trí thông minh, trí tuệ và kinh nghiệm của con người.

Ngoài ra, dữ liệu môi trường về quá trình canh tác có thể thu thập thông qua một nền tảng dịch vụ nông nghiệp bằng cách sử dụng dữ liệu lớn. Thông tin này có thể được sử dụng để đánh giá các xu hướng bán hàng trên thị trường theo phân tích ưu tiên thị trường, và sau đó là dữ liệu (môi trường canh tác, thông tin về sâu bệnh, thông tin về khí hậu và thời tiết, độ phì nhiêu của đất, sự phù hợp về địa hình, v.v…) có thể được phản hồi lại cho nông dân để tối ưu hóa môi trường sản xuất. Trong những năm gần đây, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo đã được sử dụng để mở rộng mạnh các lĩnh vực kỹ thuật di truyền trong nông nghiệp và chăn nuôi.

Phương pháp “Áp dụng biến đổi theo vùng đất” bằng cách sử dụng máy móc nông nghiệp thông minh là giai đoạn thứ ba của quy trình này. Trong giai đoạn trước, quyết định tối ưu được lựa chọn cho từng địa điểm. Còn giai đoạn này, nhập nguyên liệu nông trại sẽ được định lượng trước phù hợp với địa điểm. Trong nông nghiệp quảng canh, một vài chiếc máy kéo có thể hoàn thành các nhiệm vụ tương tự (ví dụ như phun thuốc diệt cỏ) ở những vị trí khác nhau (nghĩa là, ở mức áp dụng tỷ lệ biến đổi) bằng cách tuân theo các khoảng cách nhất định. Trong tương lai, vào ban đêm, khi người nông dân đang ngủ, một con robot có thể được hướng dẫn bằng các thiết bị điện tử để đi vào cánh đồng, hoàn thành bất kỳ công việc đồng áng nào cần thiết rồi trở về nhà trước hoàng hôn. Giấc mơ này sẽ trở thành hiện thực trong tương lai gần nhờ CMCN 4.0.

 

NASATI theo European Agricultural Machinery.

Nguồn: iasvn.org

Trang thông tin điện tử Sở Công Thương tỉnh Phú Thọ

 

Kể từ sau Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2017 tại Đa-vốt Thụy Sĩ, trên thế giới và ở Việt Nam nổi lên một chủ đề nóng, bàn về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, gọi tắt là FIR (Fourth industrial Revolution), hoặc gọn hơn nữa là 4G (Fourth Generation). FIR là sự kế tục ba cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử văn minh nhân loại; mở đầu từ thế kỷ XVIII, diễn ra dưới tác động của ba cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào cuối thế kỷ XVIII, đẩu thế kỷ XIX, gắn liền với các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật lẩn thứ nhất, mở đầu từ ngành dệt ở Anh, sau đó lan tỏa sang nhiều ngành sản xuất khác và tới nhiều nước khác, trước hết là Mỹ, các nước châu Âu và Nhật Bản. Mở đầu cuộc cách mạng này, nền sản xuất hàng hóa trong ngành dệt ban đầu dựa trên công nghệ thủ công giản đơn, quy mô nhỏ, lao động chân tay chuyển sang sử dụng các phương tiện cơ khí và máy móc trên quy mô lớn nhờ áp dụng các sáng chế kỹ thuật trong sản xuất công nghiệp.

Trong số những thành tựu kỹ thuật có ý nghĩa then chốt trong giai đoạn này trước hết phải kể đến sáng chế “thoi bay” của Giôn Kây vào năm 1733 có tác dụng tăng năng suất lao động lên gấp đôi. Năm 1764, Giôn Ha-gơ-rếp sáng chế xe kéo sợi, làm tăng năng suất gấp 8 lần. Năm 1769, Ri-sác Ác-rai cải tiến công nghệ kéo sợi bằng súc vật, sau đó là bằng sức nước. Năm 1785, Ét-mun Các-rai sáng chế máy dệt vải, tăng năng suất dệt lên tới 40 lần. Năm 1784, Giêm Oát sáng chế máy hơi nước, tạo động lực cho sự phát triển máy dệt, mở đầu quá trình cơ giới hóa ngành công nghiệp dệt.

Năm 1784, Hen-ry Cót tìm ra phương pháp luyện sắt từ quặng. Năm 1885, Hen-ry Bét-xen-mơ sáng chế lò cao có khả năng luyện gang lỏng thành thép đáp ứng được về yêu cầu rất lớn khối lượng và chất lượng thép đế chế tạo máy móc thời kỳ đó. Năm 1814, chiếc đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước ra đời, khai sinh hệ thống đường sắt ở châu Âu và châu Mỹ. Năm 1807, Rô-bớt Phu-tông chể tạo thành công tàu thủy chạy bằng hơi nước.

Sau những bước khởi đầu ở nước Anh, cách mạng công nghiệp đã nhanh chóng lan rộng ra phạm vi thế giới và trở thành hiện tượng phổ biến đồng thời mang tính tất yếu đối với tất cả các quốc gia tư bản.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra vào nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế ký XX và phát triển vượt bậc trên cơ sở ứng dụng các thành tựu trong cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ hai, trong đó nền tảng tư duy khoa học có những thay đổi căn bản liên quan đến những phát minh khoa học vĩ đại như phát minh ra điện tử, sóng vô tuyến điện và chất phóng xạ, các sáng chế động cơ điện,.. Do sự kết hợp giữa khoa học với sản xuất mang tính hệ thống đã đưa khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội. Như vậy, quá trình biến đổi cách mạng từ lĩnh vực khoa học đã nhanh chóng lan tỏa sang lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ.

Các phương tiện truyền thông như điện tín và điện thoại ra đời vào năm 1880, Liên lạc bằng điện thoại ngay lập tức được ứng dụng trên khắp thế giới, Đầu thế kỷ XX hình thành một lĩnh vực kỹ thuật điện mới là điện tử học và ngành công nghiệp điện tử ra đời, mở đầu kỷ nguyên điện khí hóa, thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp khác như luyện kim, chế tạo máy, đóng tàu, công nghiệp quân sự; giao thông vận tải, công nghiệp hóa chất. Trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự diễn ra cuộc cách mạng cơ hóa và tự động hóa vũ khí trang bị mà điển hình là các phương tiện chiến tranh được sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba

Điểm xuất phát của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba là Chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó các bên tham chiến đã từng nghiên cứu chế tạo thành công các hệ thống vũ khí và trang bị dựa trên nguyện lý hoạt động hoàn toàn mới như bom nguyên tử máy bay phản lực, dàn tên lửa bắn loạt, tên lửa chiến thuật đầu tiên v.v. Đây là thành quả hoạt động nghiên cứu phát triển của rất nhiều viện nghiên cứu và văn phòng thiết kế quân sự bí mật. Ngay sau đó các thành tựu khoa học – kỹ thuật quân sự được áp đụng vào sản xuất, tạo tiền đề cho cách mạng công nghiệp lần thứ ba, diễn ra trong nhiều lĩnh vực, tác động đến tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị, tư tưởng đời sống, văn hóa, của con người.

Cách mạng công nghiệp lần thứ ba trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn một từ giữa những năm 40 đến những năm 60 của thế kỷ XX. Giai đoạn hai bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI. Trong ranh giới giữa hai giai đoạn này là thành tựu khoa học đột phá trong lĩnh vực sáng chế và áp dụng máy tính điện tử trong nền kinh tế quốc dân, tạo động lực để hoàn thiện quá trình tự động hóa có tính hệ thống và đưa tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế chuyển sang một trạng thái công nghệ hoàn toàn mới.

Giai đoạn một chứng kiến sự ra đời vô tuyến truyền hình, công nghệ đèn bán dẫn, máy tính điện tử, ra-đa, tên lửa, bom nguyên tử, sợi tổng hợp, thuốc kháng sinh pê-nê-xi-lin, bom nguyên tử, vệ tinh nhân tạo, máy bay chở khách phản lực, nhà máy điện nguyên tử, máy công cụ điều khiển bằng chương trình, la-de, vi mạch tổng hợp, vệ tinh truyền thông, tàu cao tốc. Giai đoạn hai chứng kiến sự ra đời công nghệ vi xử lý, kỹ thuật truyền tin băng cáp quang, rô-bốt công nghiệp, công nghệ sinh học vi mạch tổng hợp thể khối có mật độ linh kiện siêu lớn, vật liệu siêu cứng, máy tính thế hệ thứ 5, công nghệ di truyền, công nghệ năng lượng nguyên tử.

Nhận diện cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư

Khác với ba cách mạng công nghiệp trước đây hình thành và phát triển trên cơ sở các thành tựu của ba cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển dựa trên cơ sở cả ba cuộc cách mạng khoa bọc – kỹ thuật trước đó, trước hết la cuộc cách mạng công nghiệp lấn thứ ba. Những thành tựu đột phá của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, đặc biệt là công nghệ mạng In-tơ-nét, đã làm biến đổi sâu sắc toàn bộ diện mạo  của đời sống xã hội cũng như nền kinh tế toàn cầu, tạo cơ sở cho sự phát triển FIR vào giữa thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI trong đó không chỉ máy tính điện tử kết nối thành mạng mà gần như tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người các dây chuyền sản xuất; nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, dịch vụ, giải trí…đều được liên kết thành “mạng thông minh” mở ra kỷ nguyên mạng In-tơ-nét kết nối vạn vật.

Ngoài những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật lần thứ ba, FIR còn dựa trên những thành tựu khoa học mới nhất trong những lĩnh vực cơ bản như công nghệ cảm biến cực nhạy dựa trên cơ sở vật liệu na-nô điện tử và sinh học điện từ, có khả năng biến đổi những tín hiệu vô cùng yếu thành tín hiệu điện như sóng tư duy, bức xạ hồng ngoại cực yếu .v…; trí tuệ nhân tạo có khả năng giải mã, phân tích khối lượng thông tin cực lớn, với tốc độ cực nhanh, kể cả những thông tin như trực cảm, sóng tư duy, xúc cảm; siêu máy tính quang tử sử dụng các quang tử ánh sáng thay vì sử dụng tín hiệu điện tử như trong các máy tính điện tử, có tốc độ tính toán cực nhanh, với khả năng lưu trữ thông tin vượt xa các máy tính điện tử thông thường; công nghệ chế tạo vật liệu từ các nguyên tử; mạng In-tơ-nét kết nối vạn vật sử dụng thế hệ máy tính có trí tuệ nhân tạo cho phép xây dựng các nhà máy và xí nghiệp thông minh; công nghệ in 3D; các nguồn năng lượng tái sinh (năng lượng mặt trời; năng lượng gió; năng lượng thủy triều, năng lượng địa nhiệt); những thành tựu mới trong lĩnh vực sinh học phân tử, sinh học tổng hợp và di truyền học, với sự hỗ trợ của những phương tiện hiện đại, giúp giải mã nhanh các hệ gen, tìm hiểu sâu về mật mã di truyền, có thể giúp chỉnh sửa mã gen để chữa các bệnh di truyền, tạo ra những giống cây trồng mới trong nông nghiệp có những tính năng thích ứng với tình trạng hạn hán, nước nhiễm mặn hoặc chống sâu bệnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có những đặc điểm sau:

1) Phát triển với tốc độ ở cấp số nhân, làm biến đổi nhanh chóng nền công nghiệp ở mọi quốc gia;

2) Diễn ra trên phạm vi toàn cầu, làm thay đổi toàn bộ các hệ thống sản xuất, quản lý, quản trị; dịch vụ, nghỉ ngơi; giải trí của con người;

3) Dựa trên nền sản xuất linh hoạt, kết hợp trong đó tất cả các khâu thiết kế, sản xuất; thử nghiệm, đáp ứng nhanh nhất nhu cầu của thị trường; thậm chí tới từng cá nhân;

4) Không chỉ tạo ra “môi trường cộng sinh” giữa người và rô-bốt mà còn tạo ra “môi trường cộng sinh” giữa thế giới ảo và thế giới thực;

5) Mở ra kỷ nguyên rô-bốt thông minh, hoàn toàn thay thế con người trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau;

6) Mở ra kỷ nguyên công nghệ chế tạo sản phẩm không có phế thải;

7) Công nghệ cảm biến được sử dụng phổ cập với kết quả là vào khoảng giữa thập kỷ thứ 3 của thế kỷ này, 10% dân số sẽ mặc quần áo kết nối với In-tơ-nét; 10% mắt kính kết nối với In-tơ- nét, sử dụng điện thoại di động cấy ghép vào người, 30% việc kiểm toán ở công ty được thực hiện bằng trí tuệ nhân tạo;

8) Đẩy nhanh tiến độ phát triển cuộc cách mạng mới trong quân sự, trong đó sẽ ứng dụng phổ biến các vũ khí trang bị thông minh sử dụng trí tuệ nhân tạo và phát triển phương thức tác chiến lấy mạng làm trung tâm. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư không chỉ làm thay đổi toàn bộ diện mạo đời sống xã hội mà còn làm thay đổi căn bản phương thức hoạt động trong lĩnh vực quân sự.

Thách thức đối với Việt Nam

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0(CMCN 4.0) sẽ phát triển mạnh mẽ do nhu cầu tìm kiếm phương thức sản xuất mới hiệu quả, bền vững hơn trước những thách thức như biến đổi khí hậu, già hóa dân số hay các vấn đề an ninh khác ngày càng tăng lên. Cuộc cách mạng này sẽ mang tới nhiều cơ hội phát triển và hội nhập, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức với các nước đang phát triển như Việt Nam.

Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với việc hoàn tất nhiều hiệp định thương mại tự do quy mô lớn như TPP, FTA với EU, Liên minh kinh tế Á – Âu…, việc tiếp cận thành tựu cách mạng sản xuất mới sẽ tạo ra công cụ đắc lực giúp Việt Nam tham gia hiệu quả chuỗi giá trị toàn cầu và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những cải cách công nghệ mang tính đột phá có thể dẫn đến những điều kỳ diệu trong sản xuất và năng suất.

Về phía Chính phủ, dưới tác động của cuộc cách mạng này, công tác điều hành của Chính phủ của Việt Nam cũng sẽ có được sức mạnh công nghệ mới để tăng quyền kiểm soát, cải tiến hệ thống quản lý xã hội. Song cũng như các chính phủ khác trên thế giới, Chính phủ Việt Nam cũng sẽ ngày càng phải đối mặt với áp lực phải thay đổi cách tiếp cận hiện tại của mình để hoạch định và thực hiện chính sách, trong đó quan trọng nhất là phải nâng cao vai trò của người dân trong quá trình này. Điều này sẽ càng có ý nghĩa hơn khi Việt Nam đang tiến vào giai đoan phát triển mới rất quan trọng đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ về tư duy, quyết tâm cao của Chính phủ nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Về phía doanh nghiệp, chi phí cho giao thông và thông tin sẽ giảm xuống, dịch vụ hậu cần và chuỗi cung ứng sẽ trở nên hiệu quả hơn, và các chi phí thương mại sẽ giảm bớt, tất cả sẽ làm mở rộng thị trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Về phía cung ứng, nhiều ngành công nghiệp đang chứng kiến sự du nhập của các công nghệ mới, nó tạo ra những cách hoàn toàn mới để phục vụ cho nhu cầu trong hiện tại và thay đổi triệt để các chuỗi giá trị ngành công nghiệp đang hoạt động. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp cận được với các công nghệ hiện đại, cải thiện phẩm chất, tốc độ, giá cả mà khi được chuyển giao nó có giá trị hơn.

Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng có được những quyền lợi nhất định khi sự minh bạch ngày càng rõ hơn, quan tâm của người tiêu dùng, và các khuôn mẫu mới về hành vi của người tiêu dùng (ngày càng xây dựng dựa trên quyền truy cập vào các mạng di động và dữ liệu) buộc các doanh nghiệp phải thích nghi với cách mà họ thiết kế, tiếp thị, và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ. Khi công nghệ và tự động hóa lên ngôi, họ sẽ đối mặt với áp lực cần nâng cao chất lượng, cải tiến và đổi mới các dây chuyền công nghệ, tuyển nhân lực có năng lực về công nghệ, đồng thời phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của doanh nghiệp nước ngoài. Những điều này là thực sự khó khăn trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn thua kém rất lớn các doanh nghiệp nước ngoài về công nghệ, cũng như nhân lực và vốn đầu tư như hiện nay.

Tuy nhiên, CMCN 4.0 lần này cũng đang đặt ra nhiều thách thức mới đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Đó là thách thức tụt hậu xa hơn, lao động chi phí thấp mất dần lợi thế, khoảng cách công nghệ và tri thức nới rộng hơn dẫn đến phân hóa xã hội sẽ sâu sắc hơn… Chính phủ, các doanh nghiệp, các trung tâm nghiên cứu và cơ sở giáo dục tại Việt Nam cần phải nhận thức được và sẵn sàng thay đổi và có chiến lược phù hợp cho việc phát triển công – nông nghiệp, dịch vụ và kinh tế hay nguồn nhân lực trong thời kỳ Internet vạn vật và cuộc CMCN 4.0.

Cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) lần thứ tư đã và đang đến. Đây là cuộc cách mạng chưa từng có trong lịch sử nhân loại, nó sẽ diễn biến rất nhanh, là sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học, tạo ra những khả năng hoàn toàn mới và có tác động sâu sắc đối với các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới.

Cuộc cách mạng sản xuất mới này được dự đoán sẽ tác động mạnh mẽ đến mọi quốc gia, chính phủ, doanh nghiệp và người dân khắp toàn cầu, cũng như làm thay đổi căn bản cách chúng ta sống, làm việc và sản xuất.

Quốc Hưng ( sưu tầm )

Cách mạng công nghiệp 4.0 và những vấn đề đặt ra cho khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay

 

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các công nghệ cốt lõi như blockchain (chuỗi khối), trí thông minh nhân tạo (Artificial Intelligence), Internet vạn vật (Internet of Things), công nghệ in 3D, thực tại ảo v.v.[1] đang tác động trực diện tới hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội từ lĩnh vực sản xuất (việc xuất hiện các nhà máy thông minh – smart factory với sự tự động hóa và sử dụng robot – người máy trong hầu hết các công đoạn của quá trình sản xuất), tiêu thụ sản phẩm tới quản trị xã hội (chính phủ điện tử, chính phủ số, việc xây dựng các thành phố thông minh – smart city).[2]
Những tác động này đang thúc đẩy mạnh mẽ việc hình thành nền kinh tế số trong đó dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên quý giá nhất cần được bảo đảm sự lưu thông một cách thuận lợi nhất. Cũng dưới tác động của các công nghệ 4.0, hoạt động thương mại điện tử tiếp tục phát triển ở quy mô và cường độ mới với sự phổ cập của các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ qua mạng Internet, mạng xã hội cùng với sự phổ cập của việc thanh toán trực tuyến và các loại công nghệ tài chính mới (fintech). Tác động của công nghệ 4.0 còn góp phần hình thành nền kinh tế chia sẻ (sharing economy) với các mô hình kinh doanh mới dựa trên công nghệ mới nhằm tận dụng các nguồn lực nhàn rỗi trong xã hội, thể hiện tính ưu việt trong kinh doanh. Việc xuất hiện loại hình dịch vụ vận tải dựa trên các phần mềm ứng dụng qua mạng Internet như Uber, Grab, Bee là các ví dụ.
Khoa học pháp lý của một quốc gia là hệ thống tri thức được kiểm chứng chặt chẽ theo quy trình logic, hợp lý về nhà nước và pháp luật cũng như về các hiện tượng pháp lý trong xã hội (trong đó có sự tương tác hai chiều giữa nhà nước, pháp luật với xã hội). Khoa học này phản ánh, chứng minh tính hữu dụng và vai trò cần thiết của nhà nước (các thiết chế nhà nước) và pháp luật (hoặc từng lĩnh vực pháp luật) trong sự duy trì trật tự, an toàn xã hội, trong quản lý và vận hành xã hội, trong quá trình phát triển xã hội để từ đó đề ra các giải pháp phát huy vai trò, tác dụng và tính hữu dụng này trong quản lý, phát triển xã hội. Nền khoa học pháp lý được thể hiện rõ ở những thành tố chủ yếu sau: (1) Hệ thống chủ đề (hoặc vấn đề hoặc đề tài) được quan tâm nghiên cứu; (2) Phương pháp được sử dụng để nghiên cứu, tìm hiểu về chủ đề nghiên cứu đó; (3) Đội ngũ nhân lực (các nhà khoa học và các cán bộ phụ trợ) triển khai các hoạt động nghiên cứu; (4) Hệ thống thiết chế (các viện nghiên cứu hoặc các cơ sở nghiên cứu) tiến hành hoạt động nghiên cứu; (5) Mối liên kết giữa các thành tố này cũng như giữa hệ thống thiết chế nghiên cứu với nhau hoặc với các chủ thể khác phục vụ hoạt động nghiên cứu.
Khoa học pháp lý có 2 chức năng chính là chức năng phản ánh quy luật, tính quy luật trong sự vận động của đối tượng, khách thể nghiên cứu và chức năng cung cấp các giải pháp giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra. Với tư cách là một trong các lĩnh vực khoa học phản ánh sự tồn tại, vận động, phát triển của xã hội, mà trước hết là các mối quan hệ lợi ích, tương tác giữa nhà nước và pháp luật với xã hội, thông qua lăng kính lợi ích, quyền lực và trật tự công (lăng kính pháp lý), những biến đổi trong đời sống kinh tế-xã hội, những hiện tượng kinh tế-xã hội mới cũng được phản ánh trong khoa học pháp lý. Những biến đổi mới của đời sống kinh tế-xã hội cũng tất yếu đặt ra những vấn đề pháp lý mới cần giải quyết mà khoa học pháp lý được kỳ vọng cung cấp các giải pháp cần thiết.
Có thể nói, những thay đổi trong kinh tế-xã hội dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng đặt ra hàng loạt vấn đề mới xét ở cả 5 phương diện của một nền khoa học pháp lý như trên:
Thứ nhất, cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm nảy sinh những chủ đề nghiên cứu mới: logic chung là khi công nghệ có sự thay đổi, nâng cấp hoặc được thay thế bởi các công nghệ mới sẽ làm cho các lực lượng trong xã hội có sự đổi ngôi trong vai trò kiến tạo sự phát triển xã hội. Điều này sẽ làm cho phát sinh những quan hệ xã hội mới, những xung đột lợi ích mới, từ đó, đặt ra vấn đề nghiên cứu mới, các hiện tượng pháp lý mới cần được luận giải.
Thời gian gần đây, các nhà khoa học pháp lý đã nhận diện ra một số chủ đề nghiên cứu mới hoặc có thể chủ đề nghiên cứu truyền thống nhưng đặt trong bối cảnh mới.[3]
Qua tìm hiểu trực tiếp tại Hàn Quốc và tương tác với cộng đồng doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo bằng công nghệ 4.0, có thể thấy, các chủ đề mới sau đây sẽ phát sinh cần được sự quan tâm, luận giải của khoa học pháp lý:
– Nghiên cứu nhận diện chung về các khía canh pháp lý của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chẳng hạn: Nghiên cứu về tư duy xây dựng pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế-xã hội, quản trị trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Lý thuyết luật hành chính trong việc thiết kế hệ thống quản trị và điều tiết theo yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Nhu cầu hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư;  Nghiên cứu tạo dựng khung pháp luật cho các ngành công nghiệp mới và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
– Nghiên cứu nhận diện các khía cạnh pháp lý của công nghệ lõi trong cách mạng công nghiệp 4.0:
+ Công nghệ tài chính (Fintech): Nghiên cứu pháp luật bảo đảm ổn định tài chính điện tử dựa trên công nghệ mới; Nghiên cứu về các quy định thúc đẩy ngành công nghiệp công nghệ tài chính (fintech); Nghiên cứu về hệ thống quy định quản lý tiền mã hóa; Nghiên cứu so sánh về xây dựng hệ thống quy định điều tiết hoạt động cấp tín dụng ngang cấp (P2P lending);
+ Nghiên cứu về việc ứng dụng công nghệ trong chính quá trình xây dựng, hoàn thiện, tổ chức thực thi hệ thống pháp luật, trong phát hiện, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp. Sự phổ biến của công nghệ pháp lý mới (legal tech, law tech, regtech v.v.) trong thời gian gần đây cho thấy điều này. Việc Trung Quốc thiết lập 3 Tòa án Internet trong thời gian vừa rồi là ví dụ cụ thể. Ở nước ta, những khái niệm như “legal tech”, “law tech” hoặc “regtech” xem ra vẫn còn khá xa lạ.
+ Thiết bị tự hành (và thiết bị bay không người lái): Nghiên cứu các khía cạnh pháp lý của việc sử dụng thiết bị không người lái (xe tự hành, thiết bị bay không người lái v.v.) (chẳng hạn, giới hạn hoạt động của các loại thiết bị vận tải, tiêu chuẩn và quy chuẩn áp dụng, quy trình cấp phép, thử nghiệm, trách nhiệm pháp lý phát sinh khi có rủi ro v.v.): đây là các nghiên cứu có thể ảnh hưởng tới quy định của Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt, Luật Giao thông đường thủy nội địa, Luật Hàng không dân dụng v.v.
– Trí thông minh nhân tạo: Nghiên cứu các khía cạnh pháp lý của việc ứng dụng trí thông minh nhân tạo (trong đó có cả khía cạnh về quyền tác giả đối với các sản phẩm trí tuệ do phần mềm trí thông minh nhân tạo tạo ra).
– Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): Nghiên cứu tình huống về quy định điều tiết lĩnh vực hội tụ các công nghệ thông tin và truyền thông; Nghiên cứu về cải thiện các quy định quản lý việc sử dụng các thông tin về địa điểm cá nhân trong cứu hộ khẩn cấp; Nghiên cứu về kế hoạch xây dựng pháp luật phục vụ việc quản lý khoa học dựa trên công nghệ dữ liệu lớn; Nghiên cứu về cải thiện đạo luật về làn sóng phát thanh, truyền hình trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư;
– Công nghệ chuỗi khối (blockchain) và thuật toán (algorithm): Các vấn đề pháp lý để triển khai sổ cái phân tán sử dụng công nghệ chuỗi khối; Nghiên cứu các vấn đề pháp lý trong việc bảo đảm tính trung lập về thuật toán; Nghiên cứu các vấn đề pháp lý về hợp đồng thông minh dựa trên ứng dụng công nghệ chuỗi khối; Xu hướng và triển vọng đối với các vấn đề pháp lý trong kỷ nguyên toàn cầu, tập trung và các vấn đề bảo đảm tính trung lập của các hệ thống kết nối;
– Thành phố thông minh (smart city): Nghiên cứu cải thiện các quy định để mở rộng việc áp dụng mô hình thành phố thông minh…
Ngoài ra, một số vấn đề khác như tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư tới quan hệ lao động, tới hệ thống an sinh xã hội, tới hệ thống đăng ký tài sản và giao dịch, tới quản lý dữ liệu dân cư và thông tin cá nhân, tới an ninh, an toàn mạng đều là các chủ đề quan trọng.
Thứ hai, các cách tiếp cận nghiên cứu truyền thống, các phương pháp nghiên cứu trước đây cũng có thể được làm mới. Tất nhiên, cách tiếp cận động, cách tiếp cận liên ngành vẫn luôn luôn có giá trị. Các phương pháp như phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch vẫn luôn cần để quá trình nhận thức của chúng ta gần hơn với chân lý khách quan. Tuy nhiên, cách làm nghiên cứu sẽ có bước hiện đại. Trước đây nghiên cứu thiên về thủ công, ít ứng dụng những công nghệ mới (hoặc cũng chỉ là các phương tiện ghi âm, ghi hình truyền thống), thì ngày nay hệ thống “chiếu/chụp/phản ánh” hiện thực này cũng có bước thay đổi. Ví dụ: công nghệ định vị, sử dụng bản đồ thông minh, việc ứng dụng big data, việc ứng dụng các phần mềm xử lý dữ liệu mới góp phần nâng cao năng suất lao động khoa học, giảm bớt những tính toán mang tính thủ công. Tới đây, tôi tin rằng, nhiều format của các đề cương nghiên cứu, đề tài nghiên cứu, bài tạp chí khoa học cũng có thể được hình thành để tiết kiệm thời gian hình thành các sản phẩm khoa học, gia tăng thời gian dành cho sự sáng tạo. Sự thu hẹp khái niệm về “không gian”, “thời gian” có thể giúp tiết kiệm nhiều chi phí trong hoạt động nghiên cứu. Việc lưu trữ bằng chứng nghiên cứu cũng được thực hiện bài bản hơn.
Thứ ba, đối với nhân lực khoa học công nghệ: chưa bao giờ đội ngũ làm khoa học pháp lý cần tăng cường chất lượng như hiện nay và cần được đào tạo bài bản, với các phương pháp nghiên cứu hiện đại, sử dụng được các phần mềm, cơ sở dữ liệu hiện đại (bên cạnh những yêu cầu truyền thống về kỹ năng tư duy, kỹ năng làm việc nhóm, ngoại ngữ v.v.). Hiểu biết về những công nghệ mới và biết cách sử dụng những công nghệ mới có thể sẽ trở thành những tiền đề tiên quyết đối với những người làm công tác nghiên cứu khoa học pháp lý.
Thứ tư, đối với các thiết chế làm công tác khoa học pháp lý: cần căn chỉnh lại danh mục đầu tư, qua đó dịch chuyển nguồn lực đầu tư mình có theo hướng thiết lập các cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động nghiên cứu hoặc kết nối với các cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu xây dựng các phần mềm quản lý áp dụng hệ thống KPI trong đánh giá đơn vị hoặc đánh giá cán bộ.
Thứ năm, về mối liên kết trong nước và quốc tế: các liên kết trong nước và quốc tế trong nghiên cứu khoa học pháp lý sẽ ngày càng được tăng cường và có thể được triển khai thuận lợi hơn. Chưa bao giờ, sự kết nối quốc tế của học giả trong nước và quốc tế chưa bao giờ dễ dàng và có thể đa dạng, bền chặt hơn so với ngày nay. Sự gia tăng các liên kết này sẽ góp phần thúc đẩy sự lưu chuyển dữ liệu trong giới khoa học pháp lý trong nước và quốc tế mạnh mẽ hơn nữa. Điều này sẽ góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý ở trong nước và quốc tế. Nếu chúng ta tận dụng tốt các mối liên kết này, việc thu hẹp khoảng cách phát triển trong khoa học pháp lý giữa các quốc gia sẽ có cơ hội hiện thực hóa sớm hơn và ngược lại.
Trên đây là hình dung bước đầu của tôi về những tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư tới hoạt động khoa học pháp lý trong thời gian tới. Có thể nói, sẽ còn nhiều điều chúng ta chưa lường tới trước. Cách mạng công nghiệp 4.0 đang mở ra cả thời cơ cho nền khoa học pháp lý nước nhà nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong đầu tư, tổ chức nền khoa học pháp lý này. Việc liên tục cải thiện hiệu quả sử dụng các nguồn lực của nền khoa học pháp lý và việc tiếp tục hiện đại hóa cách thức tổ chức nghiên cứu khoa học sẽ là hướng đi quan trọng để chúng ta đáp ứng tốt hơn các yêu cầu, đòi hỏi của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

TS. Nguyễn Văn Cương – Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp


[1] Klaus Schwab, The Fourth Industrial Revolution (Davos: World Economic Forum, 2016).
[2] Klaus Schwab and Nicholas Davis, Shaping the Fourth Industrial Revolution (Davos: World Economic Forum, 2018).
[3] Trong thời gian gần đây, nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về các khía cạnh pháp lý của một số loại công nghệ lõi của cách mạng công nghiệp 4.0 và những vấn đề pháp lý phát sinh từ cuộc cách mạng này đã được xuất bản. Đáng chú ý là các công trình sau:
– Joseph J. Bambara and Paul R. Allen, Blockchain A Practical Guide to Developing Business, Law, and Technology Solutions (New York: Mc Grawhill, 2018).
– Robert Herian, Regulating Blockchain: Critical Perspectives in Law and Technology (London and New York: Routledge, 2019);
– Marcelo Corrales, Mark Fenwick, and Nikolaus Forgó (eds.), Robotics, AI and the Future of the Law (Singapore: Springer, 2018);
– Marcelo Corrales, Mark Fenwick, and Nikolaus Forgó (eds.), New Technology, Big Data and the Law (Singapore: Springer, 2017);
– David Hodgkinson and Rebecca Johnston, Aviation Law and Drones: Unmanned Aircraft and the Future of Aviation (New York: Routledge, 2018);
– Jacob Turner, Robot Rules: Regulating Artificial Intelligence (London: Palgrave, 2019);
– Manuel Pedro and Rodríguez-Bolívar (eds.), Transforming City Governments for Successful Smart Cities (Switzerland: Springer, 2015); Schahram Dustdar, Stefan Nastić, Ognjen Šćekić, Smart Cities: The Internet of Things, People and Systems (Switzerland: Springer, 2018);
– Christopher T. Anglim (ed.), Privacy Rights in the Digital Age (New York: Leslie Mackenzie, 2015);
– Aurelia Tamò-Larrieux, Designing for Privacy and its Legal Framework Data Protection by Design and Default for the Internet of Things (Switzerland: Springer, 2018);
– Maria Angela Biasiotti, Jeanne Pia Mifsud Bonnici, Joe Cannataci, and Fabrizio Turchi (eds.), Handling and Exchanging Electronic Evidence Across Europe (Switzerland: Springer, 2018)…

HỘI THẢO KHOA HỌC VỀ CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

 

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 ( CMCN 4.0) đã lan tỏa mạnh mẽ đến từng khía cạnh của đời sống, tạo ra những thay đổi đột phá trong mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội. CMCN 4.0 đã và đang tạo ra một cuộc cách mạng trong giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học trên toàn thế giới.

Giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam cần phải thay đổi như thế nào để có thể tiệm cận với nền giáo dục hiện đại trên thế giới? Cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra từng ngày, từng giờ sẽ đem lại cho chúng ta những thuận lợi gì, những cơ hội gì để hoàn thành sứ mệnh trong thời đại mới? Liệu chúng ta có vượt qua được những trở ngại, thách thức trong cuộc CMCN 4.0 và góp phần tạo nên cuộc cách mạng cho giáo dục Việt Nam hay không? Đó là những vấn đề mà các nhà sư phạm, các cơ sở đào tạo đang nỗ lực tìm lời giải đáp bằng những chiến lược và hành động cụ thể.
Cuộc CMCN lần thứ 4 đang tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế Việt Nam, và đặt ra cho giáo dục đại học một nhiệm vụ cấp bách. Các trường đại học, nơi đào tạo lực lượng lao động tri thức cho xã hội,  đang đối mặt với những áp lực rất lớn: khoa học công nghệ phát triển nhanh, vòng đời sản phẩm ngắn, hạn chế về nguồn lực đào tạo, nhu cầu của nhà tuyển dụng ngày một khắt khe, sự cạnh tranh của các cơ sở đào tạo trong bối cảnh toàn cầu hóa, …
Làm thế nào để vượt qua được những trở ngại, thách thức trong cuộc CMCN 4.0 và góp phần tạo nên cuộc cách mạng cho giáo dục Việt Nam?  “Đổi mới để thích ứng và phát triển”, có lẽ đó là câu trả lời ngắn gọn và hàm chứa đầy đủ nhất cho những vấn đề đặt ra cho GDĐH hiện nay. Với sự hỗ trợ và động viên từ Lãnh đạoTrường, khoa Kinh tế -Tài chính kết hợp với các khoa, đơn vị trong trường  tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Cách mạng công nghiệp 4.0 và yêu cầu đổi mới của các trường đại học”.
Hội thảo khoa học “Cách mạng công nghiệp 4.0 ( CMCN 4.0) và yêu cầu đổi mới của các trường đại học” được tổ chức tại Trụ sở chính của Trường Đại học Ngoại Ngữ – Tin học Thành Phố Hồ Chí Minh, số 155 Sư Vạn Hạnh (nối dài), Phường 13, Quận 10, TP HCM vào ngày 24/05/2019.

Hội thảo đã vinh dự đón tiếp sự tham gia của các doanh nhân thành đạt, cùng các nhà sư phạm, các nhà khoa học đang quan tâm đến từ:Trường  Đại học Lao động & Xã Hội ( cơ sở II), Trường Đại học Văn Lang, Trường Đại học Sài Gòn, Trường Đại học Thái Bình Dương, Trường Đại học Văn Hiến, Trường Đại Học Ngoại Thương, Trường Đại học Ngân hàng, Trường Đại học Cảnh sát Nhân dân, Trường Đại Học Công Nghệ TPHCM, Trường Đại học Khánh Hòa, Trường Đại học Tài chính – Marketing ,Viện Khoa học Giáo dục Văn hóa thể thao & Du lịch, Công Ty TNHH MTV Kho Vận Sài Gòn (Saigon Coop Logistic), Ban Quản Lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TPHCM, Công ty phần mềm Quang Trung, Công ty TNHH hóa chất H&T…

Giảng viên tham gia phát biểu tại Hội thảo
Giảng viên tham gia phát biểu tại Hội thảo
 

Trong buổi hội thảo, những vấn đề như: Ảnh hưởng của cuộc CMCN 4.0 đối với ngành giáo dục hiện nay; Các bước chuẩn bị của giáo dục đại học trước thách thức cuộc CMCN 4.0; các giải pháp cải tiến, đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và quản lý giáo dục đại học phù hợp với yêu cầu kinh tế – xã hội trong cuộc CMCN 4.0 … đã được thảo luận một cách nghiêm túc. Nhiều ý kiến tham luận được nhà trường hết sức quan tâm như: “Công nghệ 4.0 ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là sử dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, tự động hóa, năng lượng tái tạo. Chương trình đào tạo của các trường đại học hiện nay không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp trong thời đại công nghệ 4.0. Nhà trường cần đặt mục tiêu cao hơn , đó là đào tạo được những con người có thể cạnh tranh với robot. Công việc sẽ không bị biến mất mà chỉ chuyển đổi từ dạng này sang dạng khác. Do đó, sinh viên cần có khả năng vượt lên trên công nghệ chú không phải chạy theo công nghệ” (Ông Lâm Nguyễn Hải Long, Tổng giám đốc công viên phần mềm Quang Trung).
Những kết luận từ Hội thảo đã giúp cho HUFLIT bổ sung được một số định hướng trong hoạt động đào tạo, như: cải tiến chương trình đào tạo, bổ sung một số ngành mới, tăng cường sự liên kết giữa các khoa, tăng cường cơ sở vật chất để đáp ứng mục tiêu đầu ra..

 

Cách mạng công nghệ 4.0 sẽ là nền tảng đề điện ảnh Việt Nam thăng hoa

 

Bộ VHTT&DL tổ chức hội thảo khoa học “Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 vào lĩnh vực điện ảnh” ngày 10/9 tại Hà Nội với sự tham gia của các nhà đạo diễn, nghệ sỹ, nhà quản lý và doanh nghiệp.

Tại hội thảo, các đại biểu đã tập trung làm rõ 3 nhóm vấn đề: Tác động, thuận lợi, khó khăn, thách thức khi ứng dụng công nghệ vào lĩnh vực điện ảnh; các xu hướng trong sản xuất, phổ biến, lưu trữ, tác quyền, quản lý, thống kê; đào tạo nhân lực trong xu hướng mới, đáp ứng nhu cầu xã hội.

 width=

Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ VHTT&DL Tạ Quang Đông cho biết: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, tác động đến nhiều ngành, lĩnh vực, trong đó có điện ảnh.

Điện ảnh là một trong những ngành có tính xã hội hóa, khả năng thực tế cao, với sự phát triển mạnh của công nghệ không dây, có dây công nghệ cao cùng với truyền hình, cáp quang vệ tinh, điện thoại 3,4,5 G, thiết bị thu hình có khả năng trình chiếu kĩ thuật cao… ngày nay có thể mang cả rạp chiếu phim về nhà.

Công nghệ đã làm thay đổi cơ bản phương thức truyền thông cũng như hình thức tiếp cận tác phẩm điện ảnh của nhân dân. Trong xu thế phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, ngành văn hóa nói chung, điện ảnh nói riêng cần có giải pháp nhằm phát huy tối đa lợi thế, hạn chế mức tối thiểu khó khăn, thách thức khi tiếp cận để phát huy hiệu quả thuận lợi mà cách mạng 4.0 mang đến.

Theo Tiến sỹ Từ Mạnh Lương, Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ VHTT&DL), hiện nay điện ảnh được xem là ngành công nghiệp văn hóa. Mục tiêu của ngành điện ảnh là đến năm 2020 đạt khoảng 150 triệu USD, trong đó phim Việt Nam đạt 50 triệu USD; đến năm 2030 đạt 125 triệu USD, phim Việt Nam đạt khoảng 125 triệu USD.

Để đáp ứng nhu cầu phát triển điện ảnh trong tình hình mới, việc cập nhật, hoàn thiện thể chế, chế định pháp luật để phát triển điện ảnh trong thời đại cách mạng nghệ nghiệp lần thứ 4 là điều cần được nghiên cứu cẩn trọng.

Tiến sỹ Từ Mạnh Lương cho rằng: Nhà nước cần tạo điều kiện về chính sách để doanh nghiệp ngoài nhà nước được tham gia vào hoạt động điện ảnh, nhất là trong sản xuất phim ứng dụng, chuyển giao công nghệ điện ảnh; hợp tác công – tư trong xây dựng các trung tâm chiếu phim hiện đại; xây dựng tác phẩm điện ảnh lớn sử dụng kỹ xảo; lưu trữ và phổ biến phim bằng công nghệ cao.

Quan trọng là Nhà nước cần đẩy mạnh đào tạo ở nước ngoài các tài năng, nhân lực của ngành điện ảnh trong việc ứng dụng công nghệ cao; thúc đẩy sáng tạo trong quá trình xây dựng tác phẩm điện ảnh…

 width=

Cách tiếp cận của khán giả đối với các tác phẩm điện ảnh sẽ thay đổi trong thời đại CMCN 4.0.cách

Ông Nguyễn Mạnh Cường (Trung tâm Chiếu phim quốc gia) chia sẻ, các cụm rạp do tập đoàn nước ngoài, công ty tư nhân đầu tư do có kinh phí lớn, thủ tục không rườm rà, nên việc chuyển đổi, đầu tư công nghệ nhanh chóng, dễ dàng hơn. Một loạt các cụm rạp hiện đại, thi công lắp đặt nhanh lại gần Trung tâm Chiếu phim quốc gia đã tạo ra áp lực cạnh tranh rất lớn cho trung tâm.

Việc chuyển đổi quá nhanh từ phim nhựa sang công nghệ số trong vài năm đã khiến loạt máy chiếu phim truyện nhựa còn tốt nay phải xếp kho vì không còn phim nhựa để chiếu. Nếu Trung tâm Chiếu phim quốc gia cũng như các rạp chiếu khác của nhà nước không nhanh chóng chuyển đổi sang công nghệ số thì sẽ không có phim chiếu, đồng nghĩa với việc không thể tồn tại.

Chuyển đổi công nghệ cũng phải gắn với việc đào tạo lại kỹ thuật viên máy chiếu; đầu tư hệ thống bán vé hiện đại, thanh toán online… đáp ứng nhu cầu nhanh chóng, thuận tiện của công chúng.

Hiện nay, điện ảnh thế giới đã khai thác tiềm năng, lợi thế của cách mạng công nghiệp 4.0. Việt Nam cũng cần nắm vững xu thế này để thay đổi tư duy, hành động để tìm ra cách thức riêng, chinh phục thị hiếu người xem, làm cho điện ảnh đến gần hơn với công chúng, tác động tích cực vào công chúng và chiếm được thị phần lớn hơn, tạo nguồn lực từng bước xây dựng nền điện ảnh Việt Nam hiện đại, nhân văn, mang bản sắc dân tộc…

Theo Tạp chí Điện tử

Chiến lược quốc gia về cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 của Việt Nam sẽ như thế nào ?

 

Chủ trì xây dựng Chiến lược quốc gia về cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) của Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã lấy ý kiến rộng rãi các bên liên quan về dự thảo chiến lược và hoàn tiếp thu, hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định…

Xu hướng toàn cầu

CMCN 4.0 là một khái niệm mới, được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 2013 trong một báo cáo của Chính phủ Đức. Nhưng đến nay, khái niệm này đã được cả thế giới quan tâm, số lượt tìm kiếm cụm từ này trên trang Google tăng một cách chóng mặt, đạt mức 30 triệu kết quả đối với cụm từ “CMCN 4.0”; 460 triệu kết quả đối với cụm từ “trí tuệ nhân tạo”; 2,8 tỷ kết quả đối với cụm từ “Internet vạn vật”…

Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, CMCN 4.0 có tác động làm thay đổi mọi mặt của đời sống cũng như các hoạt động kinh tế – xã hội ở tất cả các quốc gia với tốc độ lan truyền nhanh trên nền ứng dụng Internet; làm thay đổi mang tính hệ thống trong các ngành, lĩnh vực, thậm chí cả một quốc gia; thay đổi phương thức và cách tiếp cận của nền sản xuất… Cuộc cách mạng đem lại cho các quốc gia cả cơ hội và thách thức. Nhiều nước đã và đang xây dựng, thực hiện các chính sách khác nhau để chủ động khai thác lợi ích của công nghệ mới, tận dụng cơ hội để thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh, giải quyết các tồn tại do phát triển gây ra, ứng phó với những thách thức mà cuộc cách mạng đem lại…

Cùng hòa chung với xu hướng toàn cầu, Việt Nam đã nhanh chóng nắm bắt xu thế, không ngừng cải thiện mức độ sẵn sàng trong việc tiếp cận cuộc CMCN 4.0, chuẩn bị tốt các điều kiện để khai thác, tận dụng các lợi ích của Cuộc cách mạng này, gắn với xây dựng, tổ chức thực hiện các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Chúng ta có thể tự tin nói rằng, đây là một cơ hội quan trọng để Việt Nam nắm bắt nhằm mục tiêu tăng tốc phát triển nền kinh tế, hướng tới đưa nước ta trở thành nước công nghiệp, có thu nhập trung bình cao trong tương lai gần trên nền tảng một chiến lược tổng thể của quốc gia về cuộc CMCN 4.0, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và xu hướng chung của quốc tế.

Trong thời gian qua, cuộc CMCN 4.0 đã trở thành một chủ đề lớn được toàn thế giới cũng như tất cả các cấp, các ngành và người dân Việt Nam quan tâm, theo dõi và tập trung thảo luận, vừa là nhằm tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, chi tiết, cụ thể những nội hàm và các vấn đề liên quan đến khái niệm mới xuất hiện này – “CMCN 4.0 ”, vừa là để nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng các giải pháp, chính sách, bước đi cần thiết để tận dụng tối đa những cơ hội do Cuộc cách mạng đem lại cũng như hạn chế những tác động tiêu cực của Cuộc cách mạng đối với nền kinh tế, nhất là những ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh sử dụng nhiều lao động.

Trên tinh thần nhanh chóng nắm bắt cơ hội để định hướng cho phát triển tổng thể nền kinh tế dựa trên cơ sở phát triển và ứng dụng các thành tựu của cuộc CMCN 4.0, Bộ KH&ĐT đã chủ động báo cáo các cấp có thẩm quyền và được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ xây dựng Chiến lược quốc gia về CMCN 4.0 của Việt Nam…

3 yếu tố nền tảng – 3 nhóm chính sách

Theo Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng, Chiến lược quốc gia về CMCN 4.0  của Việt Nam được xây dựng bao gồm 03 yếu tố nền tảng:

Một là, đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng xây dựng hệ thống thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập và thân thiện với các mô hình kinh tế mới, dựa trên nền tảng của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện cho các DN đầu tư vào nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới, nhanh chóng thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.

Hai là, phát triển hạ tầng kết nối, xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu lớn, bao gồm việc xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật số để áp dụng các công nghệ của Cuộc CMCN 4.0 ở quy mô và phạm vi rộng, kết nối Internet tốc độ cao; xây dựng, chia sẻ các cơ sở dữ liệu.

Ba là, phát triển nguồn nhân lực đủ về số lượng và chất lượng để thực hiện các hoạt động chuyển đổi, nâng cấp công nghệ và nghiên cứu phát triển các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ mới.

Bên cạnh các yếu tố nền tảng này, dự kiến Chính phủ Việt Nam sẽ triển khai ba nhóm chính sách quan trọng, bao gồm:

Thứ nhất, áp dụng công nghệ, chuyển đổi quản trị khu vực công: bao gồm xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số để quản lý nhà nước nhanh hơn, minh bạch hơn, hiệu lực và hiệu quả hơn; nâng cao hiệu quả theo dõi, giám sát thực hiện chính sách, pháp luật, đem lại sự hài lòng cao hơn cho người dân và DN.

Thứ hai, hỗ trợ, khuyến khích ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo trong khu vực DN để tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực; phát triển sản xuất, kinh doanh nhanh hơn, thông minh hơn và hiệu quả hơn; cắt giảm chi phí; mở rộng thị trường trong nước và quốc tế; nâng cao chất lượng quản trị chuỗi cung ứng; phát triển sản phẩm, dịch vụ mới; nâng cao năng suất của DN nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.

Thứ ba, cơ cấu lại và tập trung nguồn lực đầu tư nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ và nghiên cứu phát triển, hướng tới làm chủ một số công nghệ đặc trưng của CMCN 4.0 và công nghệ thế hệ tiếp theo, vươn lên vị trí dẫn đầu trong một số lĩnh vực công nghệ hiện đại, giúp cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cả trong ngắn hạn và dài hạn.

Ngoài ra, các giải pháp bổ sung cũng có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần thực hiện thành công các chính sách đề ra ở trên, như: Thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo; các dự án đầu tư, sản xuất các sản phẩm, dịch vụ sử dụng các công nghệ đặc trưng của CMCN 4.0; thu hút đầu tư của các DN công nghệ hàng đầu trên thế giới; thu hút đầu tư mạo hiểm nước ngoài cho các Startup Việt Nam; Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; kêu gọi các quốc gia tiên tiến, các tổ chức quốc tế hỗ trợ, hợp tác, thành lập các cơ sở nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo; mở rộng và làm sâu sắc hơn hợp tác khoa học công nghệ với các đối tác, đặc biệt là các nước đối tác chiến lược, các đối tác quan trọng có trình độ khoa học công nghệ tiên tiến; xây dựng, mở rộng mạng lưới quan hệ với các chuyên gia quốc tế, nhất là chuyên gia trong các lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ trọng điểm của CMCN 4.0 4.0.

Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cho biết, Dự thảo Chiến lược Dự thảo Chiến lược đã được lấy ý kiến rộng rãi các bên liên quan và Bộ KH&ĐT đã tiếp thu, hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Thanh Thanh

Tổng hợp

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với giáo dục Việt Nam

 

(VOV5) – Công nghệ số hóa và tự động hóa ngày càng phổ biến trong đời sống đã tạo ra sự thay đổi vô cùng lớn trong giáo dục, nhưng đây là thách thức của chính ngành này trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho phù hợp với nhu cầu của cuộc sống.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với giáo dục Việt Nam - ảnh 1
Nhiều hội thảo về công nghiệp 4.0 trong giáo dục đã được tổ chức

Nếu nói công nghệ thông tin hay kỷ nguyên số là một cuộc cách mạng, có lẽ đúng nhất với lĩnh vực giáo dục. Chúng ta cứ hình dung thế này, ở khía cạnh đơn thuần nhất là thông tin tri thức, trước đây, nếu muốn tìm một cuốn sách, một thông tin ở nước ngoài chúng ta phải mất rất nhiều thời gian và tiền bạc để đến tận nơi hoặc nhờ người tìm kiếm. Nhưng khi có công nghệ số và mạng Internet, những kiến thức, thông tin cơ bản ở hầu khắp các lĩnh vực từ xưa đến nay hầu như có thể tìm trên Internet. Sự xuất hiện của mạng xã hội cùng những không gian tương tác mà nó tạo ra khiến cho việc học tập nói riêng và giáo dục nói chung vượt qua sự giới hạn về không gian, thời gian. Ví dụ, một học sinh, một sinh viên bây giờ chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh hay máy tính bảng dễ dàng tìm được những tư liệu quý, hoặc bài giảng hay, một cách đọc từ nước ngoài chuẩn của một thầy giáo trong nước hoặc giáo sư nước ngoài. Hơn thế nữa, người học có thể trao đổi trực tiếp với người giảng bài. Dù chỉ ở khía cạnh đơn giản nhất là thông tin tri thức nhưng đã tạo ra sự thay đổi vô cùng lớn trong cách dạy và học của cả thầy và trò hiện nay.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là một khía cạnh nhỏ mà công nghệ số mang lại cho giáo dục. Ở nhiều nước phát triển, có hạ tầng công nghệ thông tin hoàn thiện, người ta đã tiến hành đồng bộ hóa giảng dạy và đào tạo bằng sách giáo khoa số và hệ thống máy tính. Có nghĩa là học sinh đến trường chỉ cần một chiếc máy tính bảng, có thể học đủ các môn và cả hệ thống tư liệu tham khảo phong phú chứ không phải lỉnh kỉnh cặp sách, bút mực như trước. Hơn thế nữa, trên thế giới đã bắt đầu xuất hiện các trường đại học trực tuyến. Sinh viên từ đăng ký, học, thi, trả bài, thảo luận hầu hết qua mạng. Điều này đặc biệt thuận lợi cho việc xây dựng một xã hội học tập cũng như hỗ trợ những người tàn tật có thể học tập và hòa nhập cộng đồng.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với giáo dục Việt Nam - ảnh 2
Tương tác đa chiều mà công nghiệp 4.0 mang lại trong giáo dục

Tất nhiên, để làm được điều đó cần thời gian, nguồn lực và kinh phí. Ví dụ, ngoài hạ tầng thông tin, ngành giáo dục cần phải có hệ thống máy chủ khổng lồ để chứa dữ liệu là những sách giáo khoa số cũng như tư liệu tham khảo. Mạng không dây được phổ cập. Hơn nữa, học sinh phải được trang bị đầy đủ và đồng bộ máy tính để có thể học và thực hành. Chưa kể, hàng vạn phần mềm cần được soạn thảo và ứng dụng trong từng môn, từng cấp học cũng như kết nối giữa học sinh với thầy cô và nhà trường.

Trong những lợi ích của công nghệ số kể trên, Việt Nam mình mới ứng dụng được yếu tố đầu tiên, tức là thông tin tri thức qua Internet. Có nghĩa là, ngoài sách giáo khoa, học trò được tiếp cận nhiều thông tin tri thức trong nước và quốc tế do các thầy cô tham khảo trên mạng. Một bộ phận học sinh đã được tham gia vào các chương trình giáo dục qua Internet như thi toán Violimpic và một số môn học khác. Những nội dung còn lại mỗi phần áp dụng được một ít do hạ tầng viễn thông, độ phủi sóng wifi, hệ thống phần mềm, máy chủ phục vụ cho giáo dục ở cấp độ thấp và đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, chưa thể mua phương tiện máy tính phổ cập cho con em sử dụng. Năm 2014, Thành phố Hồ Chí Minh đã định áp dụng một phần mô hình học qua máy tính bảng nhưng chưa thực hiện đại trà được cũng chính vì một trong số những lý do đó.

Nhưng số hóa trong giáo dục đã trở thành xu hướng và khai thác thông tin trên mạng internet trở thành một kỹ năng cơ bản như đọc, viết của học sinh trước đây thì việc Việt Nam từng bước áp dụng công nghệ số trong giáo dục là việc làm mang tính cấp bách. Trước mắt, là sử dụng các phương tiện này như một công cụ phụ trợ cho bài giảng, tiết giảng cũng như tài liệu tham khảo để nâng cao chất lượng dạy và học của ngành giáo dục. Tiếp đó là từng bước số hóa sách giáo khoa, tài liệu tham khảo song hành với sách giáo khoa in giấy để khu vực nào đó điều kiện hơn, có thể sử dụng sách giáo khoa số trước, những cấp học cao có thể áp dụng trước, cấp học thấp áp dụng sau. Phần cơ bản hơn và quan trọng nhất đó là xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý học tập qua mạng. Tất nhiên, để chuyển đổi từ phương thức đào tạo truyền thống sang áp dụng công nghệ số là việc không dễ dàng và cần phải có thời gian.

Giáo dục công nghệ số cũng đồng nghĩa với việc người học tương tác với máy tính nhiều hơn. Học sinh tiếp cận rất nhanh với công nghệ trong việc học và thực hành, nhưng việc phân bố thời gian làm việc giữa các thiết bị điện tử, không gian ảo với việc giao tiếp thực tế với thầy cô và xã hội để học sinh không bị lệ thuộc quá nhiều vào máy tính, sống ảo, cũng như thiếu sự hiểu biết và kỹ năng giao tiếp xã hội, mà nguy cơ hàng đầu là nghiện các trò chơi điện tử cũng như những thông tin không mong muốn từ mạng Internet. Bởi thế, cách mạng công nghiệp 4.0 hay cách mạng công nghệ số mang lại thuận lợi vô cùng lớn nhưng cũng đầy thách thức trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời gian tới.

Leave your Comment