Cách mạng công nghiệp là gì 21

Hiểu về Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 – Hiệp hội các trường Đại học, cao đẳng Việt Nam

 

Cách mạng công nghiệp bắt đầu ở nước Anh từ nửa cuối của thế kỷ 18. Đến nay đã có sự nhìn nhận thống nhất về ba cuộc cách mạng công nghiệp đã xảy ra, mỗi cuộc cách mạng đều đặc trưng bằng sự thay đổi về bản chất của sản xuất và sự thay đổi này được tạo ra bởi các đột phá của khoa học và công nghệ.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào nửa cuối thế kỷ 18 và gần nửa đầu thế kỷ 19, với thay đổi từ sản xuất chân tay đến sản xuất cơ khí do phát minh ra động cơ hơi nước.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra vào nửa cuối thế kỷ 19 cho đến khi đại chiến thế giới lần thứ nhất xảy ra, với thay đổi từ sản xuất đơn lẻ sang sản xuất hàng loạt bằng máy móc chạy với năng lượng điện.

cmcn-1-2-4242-1493002864

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba diễn ra từ những năm 1970 với sự ra đời của sản xuất tự động dựa vào máy tính, thiết bị điện tử và internet.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được cho là đã bắt đầu từ vài năm gần đây, đại thể là cuộc cách mạng về sản xuất thông minh dựa trên các thành tựu đột phá trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano,… với nền tảng là các đột phá của công nghệ số.

Khái niệm “công nghiệp 4.0” được đưa ra vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover, giới thiệu các dự kiến của chương trình công nghiệp 4.0 của nước Đức, nhằm nâng cao nền công nghiệp cơ khí truyền thống của Đức.

Không chỉ nước Đức với chương trình Công nghiệp 4.0, các nước phát triển trong vài năm qua đều có các chương trình chiến lược về sản xuất khi những tiến bộ của khoa học và công nghệ đang diễn ra rất nhanh. Nước Mỹ có “Chiến lược quốc gia về sản xuất tiên tiến” cho ba thập kỷ tới. Nước Pháp có “Bộ mặt mới của công nghiệp nước Pháp”. Hàn Quốc có “Chương trình tăng trưởng của Hàn Quốc trong tương lai”. Trung Quốc có “Sản xuất tại Trung Quốc năm 2025”. Nhật Bản có “Xã hội thông minh 5.0”,… Nhiều người cũng cho rằng cái tên “cách mạng công nghiệp lần thứ tư” mới có tính chất dự báo và chưa xảy ra.

cmcn-3-4-2536-1493002864

Báo chí thường mô tả Công nghiệp 4.0 với các thành tựu của Trí tuệ Nhân tạo, với máy móc tự động và thông minh như ô-tô tự lái, in ấn 3 chiều, kết nối vạn vật (IoT), công nghệ sinh học và công nghệ nano,… Nhưng cốt lõi của những đột phá này là gì? Có hay không điểm chung của các đột phá đó?

Có thể nói rằng đó chính là đột phá của công nghệ số trong những năm vừa qua, tiếp nối thành quả của cuộc cách mạng số hoá đã diễn ra mấy chục năm qua từ khi có máy tính.

Sự ra đời của máy tính đã dẫn đến cuộc cách mạng số hoá, nhất là khi máy tính cá nhân và internet xuất hiện. Máy tính chỉ làm việc với hai con số ‘0’ và ‘1’. Để tính toán trên máy tính ta cần biểu diễn được các thực thể bằng những con số ‘0’ và ‘1’ trên máy tính. Ta có thể hiểu biểu diễn này là ‘phiên bản số’ của các thực thể. Có thể hình dung đơn giản ‘phiên bản số’ của một chiếc ô-tô là số liệu kỹ thuật chi tiết của các bộ phận của xe, hoặc có thể là số liệu về chuyển động của xe và các ảnh số thu được từ camera của xe khi xe chạy trên đường. Những ‘phiên bản số’ của một người có thể là những ý kiến của người này trên facebook, những số liệu đo được từ các thiết bị đeo trên người hay bệnh án điện tử của người này trong cơ sở dữ liệu ở bệnh viện. Gần đây, với tiến bộ và sử dụng các cảm biến (sensor) việc số hoá đã có những bước tiến lớn, góp phần vào hiện tượng dữ liệu lớn và thúc đẩy công nghệ số tiến bộ.

twospaces-8017-1493002864 (1)

‘Phiên bản số’ của các thực thể cho phép ta nối chúng với nhau trên các hệ thống máy tính hoặc nối chúng vào internet, và tạo ra các không gian số tương ứng với thế giới thực thể của chúng ta. Những hệ thống kết nối các thực thể và ‘phiên bản số’ của chúng được gọi là các hệ kết nối không gian số-thực thể, tạm dịch theo nghĩa của từ cyber-physical systems.

Đây là một khái niệm cơ bản của Cách mạng công nghiệp 4.0, phản ánh mối liên hệ của sản xuất tiến hành trong thế giới các thực thể nhưng quá trình tính toán được làm trên không gian số và kết quả tính toán này được trả lại dùng cho sản xuất trong thế giới các thực thể. Đây là thay đổi cơ bản về phương thức sản xuất của con người, sản xuất được điều khiển và hỗ trợ quyết định từ không gian số.

Công nghệ số là công nghệ về các tài nguyên số, khởi đầu từ giữa thế kỷ trước, đã và đang thay đổi nhiều lĩnh vực. Có hai khía cạnh của công nghệ số, một là việc số hoá và hai là việc quản trị và xử lý các dữ liệu được số hoá. Thí dụ của số hoá trong các ngành nghề khác nhau như chụp ảnh đã chuyển từ ảnh phim qua ảnh số, từ máy ảnh cơ qua máy ảnh số; việc in ấn dựa vào ảnh số và chế bản điện tử cho chúng ta có sách báo như ngày nay; kỹ thuật truyền hình đã chuyển sang truyền hình số đẹp hơn rất nhiều; công nghệ truyền tin đã thay thế các tín hiệu tương tự bằng các tín hiệu số, truyền và nhận tín hiệu số trên những đường truyền hiệu năng cao,…

Công nghệ số có phần chung rất lớn với công nghệ thông tin, đó là phần quản trị và xử lý dữ liệu được số hoá. Trải qua các làn sóng của công nghệ số, những đột phá trong thời gian gần đây như điện toán đám mây, thiết bị di động thông minh, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, IoT… đang tạo điều kiện cho sản xuất thông minh được thực hiện rộng rãi, mở đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Trí tuệ nhân tạo là lĩnh vực nhằm làm cho máy tính không những biết tính toán mà còn có các khả năng của trí thông minh con người, tiêu biểu là các khả năng lập luận, hiểu ngôn ngữ và biết học tập. Trong lịch sử 60 năm phát triển của trí tuệ nhân tạo, ngành học máy (machine learning), nhằm làm cho máy có thể tự học để nâng cao năng lực hành động, là lĩnh vực sôi động nhất của trí tuệ nhân tạo trong hai thập kỷ qua.

Có thể định nghĩa học máy là việc phân tích các tập dữ liệu ngày càng lớn và phức tạp để đưa ra các quyết định hành động. Thí dụ đó là các quyết định khi chương trình AlphaGo của Google đánh thắng nhà vô địch cờ Vây, là quyết định trong các phần mềm dịch từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác hay các phần mềm nhận biết tiếng nói con người, là các quyết định chẩn đoán bệnh của hệ Watson của hãng IBM… Gần đây, với sự bùng nổ của dữ liệu, kết quả của việc số hoá và kết nối internet khắp nơi, khoa học dữ liệu-với trung tâm là phân tích dữ liệu dựa vào học máy và thống kê-đang trở thành nền tảng của cách mạng 4.0.

Rất nhiều đột phá trong công nghệ sinh học và công nghệ nano những năm qua, và các công nghệ này cũng liên quan rất nhiều đến công nghệ số. Gần đây việc số hoá trong sinh học phân tử đã trở nên dễ dàng với giá rẻ hơn rất nhiều (một hệ gene có thể được số hoá trong vài giờ đồng hồ với chi phí ít hơn 1.000 USD). Lĩnh vực tin-sinh học – dựa vào các phương pháp của học máy để phân tích nguồn dữ liệu sinh học khổng lồ nhằm khám phá các hiểu biết về sự sống – đang góp phần vào những tiến bộ của công nghệ sinh học, mở ra nhiều triển vọng cho y học và nông nghiệp. Công nghệ nano cũng có những bước tiến hứa hẹn dựa vào công nghệ số. Gần đây nước Mỹ khởi đầu chương trình nghiên cứu lớn về vật liệu tính toán, nhằm dùng các kỹ thuật của học máy để rút ngắn giai đoạn thử nghiệm trong phòng thí nghiệm khi chế tạo các vật liệu mới. Một chương trình tương tự ở Nhật cũng đã bắt đầu từ ba năm qua.

Những ứng dụng tiến bộ thường được nói đến trong Công nghiệp 4.0 như ô-tô tự lái, in 3D hay robot thông minh đều dựa vào công nghệ số. Chẳng hạn khi một chiếc ô-tô tự lái chạy trên đường, rất nhiều phương pháp học máy được sử dụng để xác định đường đi của ô-tô, các thực thể chuyển động quanh và tương tác với ô-tô, và phân tích để đưa ra quyết định chuyển động.

Hồ Tú Bảo

Tác giả làm việc trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo và Học máy từ 1980, hiện là Giáo sư phụ trách phòng thí nghiệm về Khoa học Dữ liệu tại Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản (Japan Advanced Institute of Science and Technology); là thành viên Ban chỉ đạo các hội nghị của vùng Châu Á-Thái Bình dương về Trí tuệ nhân tạo (PRICAI), Khai phá Dữ liệu (PAKDD) và Học máy (ACML).

Giáo dục Việt Nam trong xu thế cách mạng công nghiệp 4.0

 

Trong nhiều tháng qua, khái niệm “cách mạng công nghiệp 4.0” được nhắc đến nhiều trên truyền thông và ở một số chương trình liên quan. Cùng với đó là nhiều ý kiến trái chiều trước sự đón đợi làn sóng mới này. Vậy “cách mạng công nghiệp 4.0” là gì, cuộc cách mạng này nên được hiểu như thế nào, đối với nền Giáo dục Việt Nam, chúng ta nên tiếp cận với “nó” ra sao?
Cách mạng công nghiệp 4.0 (hay cách mạng công nghiệp lần thứ Tư) xuất phát từ khái niệm trong một báo cáo của chính phủ Cộng hòa liên bang Đức năm 2013. Nội dung của báo cáo là: kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa Công nghiệp, Kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong.

Nếu như trước đó: cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên với đột phá là sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất (cuối thế kỷ 18); cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 diễn ra với đột phá là nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt (nửa cuối thế kỷ 19), cuộc cách mạng công nghiệp lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất (vào khoảng năm 1970), thì cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học (đầu thế kỷ 21). Theo các chuyên gia kinh tế nhận định, tốc độ đột phá của cách mạng công nghiệp 4.0 hiện “không có tiền lệ lịch sử”. Nếu như thời gian xuất hiện những đột phá của các cuộc cách mạng công nghiệp trước đó là khoảng 100 năm (thế kỷ), thì cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 này chỉ có khoảng hơn 30 năm. Khi so sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang tiến triển rất nhanh, hơn nữa nó đang làm đảo lộn hầu hết ngành công nghiệp ở mọi quốc gia. Chiều rộng và chiều sâu của của cách mạng công nghiệp 4.0 này dự báo sẽ là sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị.

Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 sẽ diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm: Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý. Những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo, Vạn vật kết nối – Internet và dữ liệu lớn. Trên lĩnh vực công nghệ sinh học. Cách mạng công nghiệp 4.0 tập trung vào nghiên cứu để tạo ra những bước nhảy vọt trong Nông nghiệp, Thủy sản, Y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu. Còn lĩnh vực Vật lý sẽ là vật lý với robot thế hệ mới (máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới và công nghệ nano…).

Hiểu như vậy, chúng ta có thể thấy hiện nay cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra tại nhiều nước phát triển trên thế giới, như Mỹ, một số nước châu Âu, một phần châu Á.

Bên cạnh những cơ hội mới, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt: Cách mạng công nghiệp 4.0 có thể gây ra sự bất bình đẳng, đặc biệt là nó có thể phá vỡ thị trường lao động. Khi mà tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi mà robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp, nhất là những người làm trong lĩnh vực bảo hiểm, môi giới bất động sản, tư vấn tài chính, vận tải…. Giai đoạn đầu tiên sẽ là thách thức với những lao động văn phòng, trí thức, lao động kỹ thuật. Giai đoạn tiếp theo sẽ là lao động giá rẻ, có thể sẽ chậm hơn. Với sự chuyển động của cuộc cách mạng này, trong khoảng 15 năm tới thế giới sẽ có diện mạo mới, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi. Sau những bất ổn về kinh tế nảy sinh từ cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ dẫn đến những bất ổn về đời sống. Hệ luỵ của nó sẽ là rất lớn. Nếu chúng ta không hiểu rõ và chuẩn bị đầy đủ cho làm sóng công nghiệp 4.0, nguy cơ xảy ra bất ổn về các mối quan hệ xã hội trên diện rộng từ địa phương cho đến toàn cầu. Bên cạnh đó, những thay đổi về cách thức giao tiếp trên Internet cũng đặt con người vào nhiều nguy hiểm về tài chính, sức khoẻ. Thông tin cá nhân nếu không được bảo vệ một cách an toàn sẽ dẫn đến những hệ luỵ khôn lường.

Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đã nhận định Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tạo ra nguy cơ mất lao động hàng loạt song sẽ mang tới nhiều ngành nghề mới, cơ hội mới.

Rõ ràng cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là xu thế tất yếu trong thời kỳ hội nhập. Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc cách mạng này được. Trước cơ hội và thách thức đó, cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ ảnh hưởng đến giáo dục của chúng ta như thế nào? Theo Giáo sư Phan Văn Trường (chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực đàm phán quốc tế): “cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi sự đóng góp của mọi giới năng động, tự lập, tự do, tự học, tự nghiên cứu, tự động viên, nhất là óc sáng tạo. Bao nhiêu cái “tự” đó khó lòng sinh tồn trong một cơ chế “đợi lệnh trên”.

Giáo viên tương lai của nước ta sẽ phải dạy trẻ tự học, tự tiến bộ, tự tư duy. Giá trị cốt lõi của giáo dục không còn là bằng cấp, mà là giá trị “sản phẩm” mà giáo dục tạo ra cho xã hội. Sự cạnh tranh sẽ không còn từ quốc gia này với quốc gia nọ, mà các công dân trên toàn cầu phải cạnh tranh ở mọi nơi mọi lúc. Thách thức ở đây chủ yếu dành cho những người quản lý giáo dục, đặc biệt là những người phụ trách về chính sách.

Để hòa mình vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, trong giáo dục người máy sẽ không thể soán ngôi để thay thế hoàn toàn con người, nhưng cuộc đua sẽ rất cởi mở và liên tục. Trong cuộc đua này, ai có tâm, có tài và có thiện chí chắc chắn sẽ có việc làm, đơn giản vì “đây là cuộc cách mạng không có giới hạn”.

Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, con người sẽ được đánh giá theo giá trị thật họ mang tới cho xã hội, bất chấp bằng cấp, bất chấp xuất xứ, bất chấp con người đó có vị thế như thế nào, có nhiều tiền hay ít; không ai phải lo mất việc nếu đủ sức gia nhập thế giới “tạo giá trị”, bởi thế giới này có quá nhiều việc phải làm, mỗi việc lại là nguồn cảm hứng cho hàng ngàn việc khác. Tất nhiên, những người học thuộc lòng, thi lấy điểm, học lấy bằng sẽ mất chỗ đứng. Giáo viên nào không thay đổi tư duy cũng sẽ mất chỗ làm việc. Chắc chắn những tấm bằng tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân … nếu không đúng giá trị, nó sẽ nằm yên trong tủ, không còn là tấm hộ chiếu cho bất kỳ một chức vị nào…

Chúng ta phải sớm thích ứng với việc học và làm việc không chỉ là cho bản thân mình, mà là cho cả loài người. Xu thế mới trong công việc sẽ là làm việc theo nhóm; nhóm làm việc sẽ là bắt buộc, không chỉ làm việc với bạn bè thân hữu mà phải làm việc với những người không quen biết trên thế giới có cùng chung chí hướng. Điều này đòi hỏi một phong cách làm việc kỹ lưỡng, chuyên nghiệp, cẩn mật, có óc tổ chức, tư duy thương thảo và khả năng truyền thông với nhiều ngoại ngữ khác nhau, khả năng giải quyết mâu thuẫn, thậm chí xung đột từ xa… Sẽ không có chỗ cho kiểu việc làm tạm bợ, kiểu làm việc theo chỉ cần có “vị trí”, kiểu làm việc không hiểu hoặc không tôn trọng luật pháp hiện tại; đòi hỏi người tham gia phải có một trình độ văn hóa cao để dễ hòa nhập giữa các cộng đồng, chủng tộc, đạo giáo.

Với cách hiểu như vậy để cùng hòa nhập vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chúng ta cần phải học, trao đổi, tham khảo, so sánh và cạnh tranh nhiều. Phải “phóng thích” mình khỏi những gò bó, phải sớm tự lập thực sự bằng cách sống riêng, phải học sức chịu đựng cao từ những áp lực từ bên ngoài… Phải chuẩn bị cho người học tính tự lực tự cường trong mọi tình huống (học tập cũng như sinh hoạt). Giáo dục cần phải sớm thích ứng, làm tốt công tác “Dự báo, đi tắt, đón đầu”, tập trung đào tạo một thế hệ mới, thế hệ của “công dân toàn cầu”.

Trần Văn Hạnh – PGĐ Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa.

Cách mạng công nghiệp 4.0, cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp tại tỉnh Tiền Giang

 

Cách mạng công nghiệp 4.0, cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp tại tỉnh Tiền Giang

           Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thì việc tiếp cận thành tựu cách mạng sản xuất mới sẽ tạo ra công cụ đắc lực giúp Việt Nam nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng tham gia hiệu quả chuỗi giá trị toàn cầu và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những cải cách công nghệ mang tính đột phá có thể tạo ra những bước chuyển biến quan trọng trong sản xuất và năng suất. Tại Tiền Giang, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn đang duy trì mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào khai thác lợi thế về tài nguyên, gia công lắp ráp và phát triển sản xuất, xuất khẩu những ngành ngành thâm dụng lao động và có kỹ năng thấp và những lợi thế này lại đang mất dần. Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang sẽ có nhiều cơ hội và thách thức cho sự phát triển:

* Về cơ hội:

Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra động lực để doanh nghiệp của ngành Công Thương phải ý thức và thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh, đổi mới tư duy về sản xuất và tư duy thị trường phù hợp; những động lực đó sẽ tác động làm giảm chi phí và tăng năng suất, chất lượng lao động trong sản xuất công nghiệp;

Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ buộc phải cơ cấu lại và thay đổi từ phương thức tổ chức sản xuất đến quy trình và các công đoạn trong toàn bộ quá trình sản xuất của ngành công nghiệp; thúc đẩy năng lực sáng tạo trong sản xuất công nghiệp nhờ việc thử nghiệm sản phẩm mới ít rủi ro, bớt tốn kém hơn nhờ sự hỗ trợ của các công nghệ mới…;

Chi phí cho giao thông và thông tin sẽ giảm xuống, dịch vụ hậu cần và chuỗi cung ứng sẽ trở nên hiệu quả hơn và các chi phí thương mại sẽ giảm bớt, tất cả sẽ làm mở rộng thị trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế;

Về phía cung ứng, nhiều ngành công nghiệp đang chứng kiến sự tiếp cận của các công nghệ mới. Do đó, các doanh nghiệp sẽ tiếp cận được với các công nghệ hiện đại, cải thiện phẩm chất, tốc độ, giá cả mà khi được chuyển giao nó có giá trị hơn.

* Về thách thức:

Thách thức trong việc phải có nhận thức đầy đủ về bản chất, tác động của cuộc CMCN4 và khả năng tư duy, quản lý điều phối tích hợp các yếu tố công nghệ, phi công nghệ, giữa thực và ảo, giữa con người và máy móc;

Hạ tầng kỹ thuật và ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp ngành Công Thương mặc dù đã được chú trọng nhưng chưa đáp ứng đảm bảo đáp ứng được sự sẵn sàng của cách mạng công nghiệp 4.0 này. Theo đó là những thách thức từ những yếu kém nội tại của các doanh nghiệp trong ngành Công Thương.

Để gia nhập vào xu thế CMCN4 đòi hỏi phải có sự phát triển dựa trên tích lũy nền tảng lâu dài của nhiều lĩnh vực nghiên cứu cơ bản định hướng trong lĩnh vực KH&CN đặc biệt là vật lý, sinh học, khoa học máy tính và trí tuệ nhân tạo, các lĩnh vực công nghệ mới, nghiên cứu các công nghệ mang tính đột phá;

Đặt ra những vấn đề lớn về giải quyết việc làm, ô nhiễm môi trường, đạo đức xã hội, rủi ro công nghệ.

 src=

Bộ Công Thương phối hợp với diễn đàn Kinh tế tư nhân đã tổ chức Hội thảo với chủ đề “Cách mạng Công nghiệp 4.0 – những xu hướng và tác động đến xuất khẩu của Việt Nam” (nguồn: từ website của Bộ Công Thương www.moit.gov.vn)

Tóm lại, để tận dụng cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì không chỉ mỗi ngành, mỗi lĩnh vực mà cả hệ thống chính trị đều phải chuẩn bị kỹ lưỡng cho sự sẵn sàng tận dụng tối đa cơ hội và hạn chế tối thiểu thách thức trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 này; một số giải pháp đề xuất như sau:

– Thứ nhất, cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến mạnh mẽ trong hệ thống chính trị, đến doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh về bản chất, xu thế vận động, những cơ hội, thách thức, tác động của cách mạng công nghiệp 4.0.

– Thứ hai, hoàn thiện hệ thống thể chế thuận lợi cho nền kinh tế số phát triển và tham gia cách mạng công nghiệp 4.0, tự do hóa đầu tư tham gia, ứng dụng cách mạng công nghiệp 4.0.

– Thứ ba, cần hoàn thiện hạ tầng pháp lý, tạo môi trường pháp triển và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật cho thanh toán điện tử trong giao dịch thương mại và hỗ trợ pháp lý phát triển các hình thức kinh doanh mới. Bên cạnh đó, là các giải pháp tối ưu hóa mô hình sản xuất kinh doanh trong bối cảnh ra đời của tư liệu sản xuất và sự thay đổi về phương thức sản xuất mới dưới tác động bởi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

​- Thứ tư, cần tập trung cho giáo dục và đào tạo tốt, đặc biệt là trong khoa học và công nghệ; đảm bảo môi trường đầu tư ổn định và quản lý tài chính công tốt. Đồng thời, đầu tư có trọng điểm vào cơ sở hạ tầng công sang hàng hóa và con người cũng như đầu tư vào công nghệ thông tin./.

Minh Cảnh – P.QLCN

Tác động của Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với ngành sản xuất

 


Cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu, vừa là thách thức nhưng cũng là cơ hội tốt để Việt Nam có thể tận dụng để xử lý các vấn đề lớn trong phát triển kinh tế đất nước và tái cơ cấu ngành công nghiệp nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất; đặc biệt là những công nghệ đang và sẽ có tác động lớn như công nghệ in 3D trong chế tạo sản phẩm, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, robot, v.v… đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế giới. Việc nắm bắt kịp thời các thành quả của cuộc CMCN 4.0 có thể coi là chìa khóa, cơ hội để tạo bước phát triển mang tính đột phá cho nền kinh tế nước ta trong thời gian tới nhằm thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa. Tuy nhiên cũng tồn tại nhiều thách thức trong ngắn và trung hạn. Lợi thế về lao động, đặc biệt là lao động chi phí thấp, lợi thế về tài nguyên sẽ giảm đáng kể; các ngành sản xuất thâm dụng lao động, thâm dụng tài nguyên sẽ mất lợi thế và dần bị thu hẹp.

Hiện nay, Việt Nam đang duy trì mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên, gia công lắp ráp, tiến hành CNH – HĐH dựa thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và xuất khẩu trong những ngành thâm dụng lao động có kỹ năng thấp. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng này sẽ đứng trước thách thức lớn trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 khi robots, trí tuệ nhân tạo sẽ thay thế sức lao động của con người, hoạt động sản xuất-chế tạo trong tương lai sẽ quay trở lại các nước công nghiệp phát triển. Trong CMCN 4.0, chi phí nhân công và các công đoạn gia công, lắp ráp ngày càng ít quan trọng, chúng dần dần có thể được thay thế hoàn toàn bởi người máy khi sự đột phá về công nghệ cho phép ứng dụng rộng rãi người máy thông minh hơn với chi phí thấp hơn. Các dây chuyền sản xuất đang và sẽ chuyển dần về các nước công nghiệp phát triển (re-shoring), không phải vì giá nhân công tăng lên, mà vì các tập đoàn đa quốc gia muốn đưa sản xuất về gần với khách hàng để có thể phản ứng nhanh hơn với thay đổi nhu cầu.

Trong thời gian qua, chính sách thu hút đầu tư FDI đã khiến cho khu vực đầu tư nước ngoài có những bước phát triển hết sức nhanh chóng và sôi động, đóng góp một phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian qua. Tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 5 năm 2011-2015 đạt trên 59,5 tỷ USD, tăng 33,4% so với 5 năm 2006-2010.

Tại thời điểm cuối năm 2016 con số này đã gần đạt ngưỡng 200 tỉ USD với quy mô khối doanh nghiệp FDI tăng rất nhanh, chiếm khoảng 70% tỉ trọng xuất khẩu cả nước. Bằng tốc độ tăng luôn cao hơn mức tăng trung bình, khối FDI đã đóng vai trò quyết định duy trì đà tăng trưởng cao XK của cả nước.Tuy nhiên, năng lực nội tại của các ngành sản xuất công nghiệp nước ta còn yếu do khả năng hấp thụ công nghệ không đáng kể. Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến các doanh nghiệp FDI tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế và gia tăng khoảng cách về công nghệ giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra, tăng trưởng ở khu vực FDI tiếp tục tập trung ở các ngành khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều lao động, hạn chế trong chuyển giao công nghệ. FDI đầu tư vào các ngành chế tạo sử dụng công nghệ thấp, nhân công rẻ có thể tạo ra việc làm, nhưng điều này sẽ là bất lợi cho Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0. Hơn nữa, cơ cấu FDI hiện tại không có nhiều tác động tích cực lên cán cân thương mại Việt Nam với hầu hết các doanh nghiệp FDI đều hoạt động sản xuất phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu.

Ngoài ra, CMCN 4.0 sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong cơ cấu của các ngành công nghiệp cũng như đóng góp của mỗi ngành trong tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế của nước ta thời gian tới. Trong cơ cấu sản xuất công nghiệp hiện nay, các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn là các ngành chế biến thực phẩm (luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, mặc dù có xu hướng giảm nhẹ ở mức trên 17%), tiếp theo ngành sản xuất điện tử, máy vi tính và thiết bị viễn thông (trên 12%). Ngoài ra, phải kể đến các ngành như dệt may (8,12%), thiết bị giao thông (4,85%), máy tính và điện tử (3,54%), v.v… Các ngành công nghiệp công nghệ thấp tiếp tục chiếm tỷ trọng cao, chiếm khoảng 65% tổng sản phẩm chế biến, chế tạo ở Việt Nam, trong khi con số này của toàn cầu chỉ là 18%. Những ngành công nghiệp này đều sử dụng nhiều lao động hoặc sản xuất sản phẩm cuối cùng có giá trị gia tăng thấp, dẫn đến sự tăng trưởng chậm về giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp Việt Nam. Đây là một trong những cản trở lớn đối với phát triển công nghiệp khi Việt Nam cần từng bước chuyển dịch sang các ngành công nghệ cao, sản xuất các sản phẩm giá trị gia tăng cao, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, tiếp cận cuộc CMCN 4.0. Với xu hướng siêu tự động hóa và sự tham gia của các robot thông minh, thế hệ mới, có khả năng tùy chỉnh cao, CMCN 4.0 sẽ có những tác động lớn trong việc thay đổi mô hình tổ chức sản xuất của các ngành công nghiệp chính của Việt Nam trong thời gian tới. Do vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ với hạn chế về năng lực đầu tư, đổi mới hoạt động sản xuất và khả năng thích ứng nhanh chóng với những thay đổi của thị trường sẽ có thể dẫn tới xu hướng suy giảm đáng kể.

 src=

CMCN 4.0 sẽ góp phần chuyển dịch sản xuất công nghiệp quốc gia theo hướng từ nền kinh tế năng suất thấp (với ít cơ hội cho cải tiếng công nghệ và đạt được giá trị gia tăng cao trong sản xuất) sang nền kinh tế năng suất cao (với nhiều cơ hội hơn cho các sáng kiến và giá trị gia tăng cao hơn). CMCN 4.0 sẽ có tác động cụ thể lên ba nhóm ngành công nghiệp chính, như sau:

– Các ngành công nghiệp công nghệ thấp (hàng hóa tiêu dùng cuối cùng hoặc nguyên liệu đầu vào): các ngành công nghiệp thâm dụng lao động như dệt may, da giày…: lao động có tác động lớn hơn công nghệ, hiện nay vẫn là ưu thế của Việt Nam và các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, trong bối cảnh CMCN 4.0, đây sẽ là một trong những thách thức lớn, khi lao động được dần thay thế bằng robot và các nhà máy thông minh. Do đó, yếu tố quan trọng trong thời gian tới là tập trung dần vào cải tiến công nghệ và nâng cao chất lượng lao động.

– Các ngành công nghiệp trung bình (hàng hóa trung gian): Ngành sắt thép, xi măng, cao su, bao bì và các ngành công nghiệp khoáng sản phi kim loại. Đối với các ngành này, các quốc gia công nghiệp tập trung vào công nghệ trong khi các nước đang phát triển như Việt Nam vẫn dựa vào tài nguyên, năng lượng nhưng chủ yếu là xuất khẩu tài nguyên thô (ở Việt Nam là xuất khẩu khoáng sản thô). Công nghệ, lao động và tài nguyên là các yếu tố cần tác động, đây là các ngành có thị trường phát triển mạnh và nhu cầu cao từ các nước phát triển. Dưới tác động của CMCN 4.0, yếu tố cần tập trung cải tiến đó là chất lượng lao động và cải tiến công nghệ cao.

– Nhóm các ngành công nghệ cao: Các quốc gia công nghiệp có lợi thế cao, với các quốc gia đang phát triển, bên cạnh công nghệ, yếu tố vốn và năng lượng cũng đóng vai trò quan trọng. Do đó, dưới tác động của CMCN 4.0, cần tập trung đầu tư phát triển KHCN, đổi mới và ứng dụng công nghệ tiến tiến; dịch chuyển mạnh sang những ngành công nghiệp công nghệ cao; lựa chọn và tập trung xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, Việt Nam có lợi thế; giảm nhanh xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản thô.

Trong bối cảnh của CMCN 4.0 với nền sản xuất công nghiệp trong tương lai dự kiến sẽ có nhiều thay đổi, đòi hỏi quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp cần có những bước đi thận trọng.

Giải pháp đào tạo nhân lực CNTT cho Cách mạng công nghiệp 4.0

 

Ngày 3-7, tại Hà Nội, Bộ
Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) phối hợp với Tập đoàn Aptech tổ chức hội thảo “Giải
pháp đào tạo nhân lực CNTT cho Cách mạng công nghiệp 4.0”.

 class=
Microsoft Việt Nam sẵn sàng chia sẻ miễn phí những nền tảng sẵn có giúp đào tạo các giảng viên, sinh viên công nghệ.

Hội thảo có sự tham dự
của lãnh đạo Bộ GD-ĐT, Đại sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam, chuyên gia các tập đoàn
công nghệ quốc tế hàng đầu như Microsoft, Oracle… và đại diện gần 40 trường đại
học của Việt Nam, nhằm đóng góp các ý kiến, giải pháp để giúp Việt Nam chuẩn bị
tốt nguồn nhân lực, phục vụ cho Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0.

Ông Anuj Kacker – Chủ
tịch Tập đoàn Aptech Toàn cầu chia sẻ, vài năm gần đây, CMCN 4.0 được nhắc đến
nhiều ở Việt Nam. Tuy nhiên, những giải pháp chuẩn bị nhân lực cho
CMCN 4.0 lại chưa được đề cập tương xứng với mức độ quan trọng của
nó. Để thúc đẩy CMCN 4.0, điều kiện tiên quyết là cần có những giải pháp
cụ thể về phát triển nhân lực. Hội thảo này mang tính thực tiễn cao,
sẽ giúp Việt Nam không lỡ nhịp trong cuộc cách mạng của thời đại.

Nhiều ý kiến cho rằng,
để hiện thực hóa và triển khai thành công CMCN 4.0, cần ưu tiên phát triển đội
ngũ giảng viên đào tạo về các công nghệ 4.0 dưới sự hướng dẫn của các chuyên
gia quốc tế. Tuy nhiên, việc mời các chuyên gia quốc tế gặp nhiều khó khăn vì
chính các nước phát triển cũng đang khan hiếm chuyên gia trong lĩnh vực này,
đồng thời chi phí để mời chuyên gia về giảng dạy tại Việt Nam rất cao.

Ông Phạm Thế Trường –
Tổng Giám đốc Microsoft Việt Nam chia sẻ, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng
được yêu cầu của cuộc CMCN 4.0 là rất cấp bách. Microsoft Việt Nam sẵn
sàng chia sẻ miễn phí những nền tảng sẵn có của mình để giúp Việt Nam đào tạo
đội ngũ giảng viên cũng như sinh viên yêu thích công nghệ.

Trong khuôn khổ của hội
thảo đã diễn ra Lễ ký hợp tác triển khai khóa đào tạo đội ngũ giảng viên công
nghệ làm nền tảng chuẩn bị nguồn nhân lực giúp Việt Nam phát triển CMCN 4.0.
Khóa đào tạo này do Bộ GD-ĐT phối hợp Aptech tổ chức với chuyên đề Artificial
Intelligence và Machine Learning dành riêng cho các trường Đại học tại Việt Nam
dưới sự hướng dẫn của chuyên gia công nghệ 4.0 quốc tế.

Ý tưởng thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: 6 Bước để hợp nhất các luồng tư duy của nhóm các chuyên gia đa ngành

 

Read in English

Nhiều người trong số chúng ta đã biết rất rõ một điều rằng: Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 này sẽ có ảnh hưởng trực tiếp lên tất cả chúng ta, và nó sẽ đem đến những thay đổi lớn với cách chúng ta sinh hoạt, làm việc và giải trí. Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới:

Có ba lý do giải thích tại sao những sự biến đổi hiện nay không chỉ đơn thuần là một sự kéo dài của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba mà là sự xuất hiện của cuộc Cách mạng lần thứ 4, một cuộc cách mạng hoàn toàn khác xét về tốc độ, phạm vi ảnh hưởng, và các hệ thống tác động. Tốc độ của những bước đột phá hiện tại hoàn toàn không có tiền lệ trong lịch sử. Khi so sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 phát triển với tốc độ luỹ thừa chứ không phải là một tốc độ tuyến tính đơn thuần. Hơn nữa, nó sẽ làm đảo lộn hầu hết các ngành công nghiệp ở mọi quốc gia. Mức độ sâu và rộng của những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị.

Chính vì vậy, khả năng phối hợp với người khác, đặc biệt là những người đến từ ngành nghề, chuyên môn khác, sẽ trở nên vô cùng quan trọng trong việc tạo ra các giải pháp phù hợp với bối cảnh thời đại mới. Nói thì dễ, làm được mới là khó, nhất là khi bạn cần tập hợp một nhóm các chuyên gia xuất sắc. Tuy nhiên, việc này hoàn toàn có thể thực hiện được.

Dưới đây là sáu bước để hợp nhất các luồng tư duy của nhóm các chuyên gia đến từ các lĩnh vực khác nhau:

1. Làm rõ mục đích của cả đội nhóm
Trước khi tập hợp bất kỳ nhóm các chuyên gia đến từ những lĩnh vực gì, việc đầu tiên chính là xác định rõ ràng về mục đích hoạt động của cả nhóm. Hãy hỏi từng cá nhân xem liệu họ có cảm thấy thôi thúc hay có một niềm đam mê tìm kiếm giải pháp cho những vấn đề mà bạn đã đưa ra. Rất nhiều những thách thức mà chúng ta phải đối mặt ngày hôm nay không thể được giải quyết thông qua các buổi luận bàn ý tưởng ngắn gọn. Chúng đòi hỏi sự nỗ lực phối hợp trong nhiều năm, và điều này sẽ đòi hỏi khả năng chịu đựng của từng cá nhân. Vì vậy, cần làm rõ mục đích của cả đội nhóm, những vấn đề mà nhóm đang tìm cách giải quyết và cần chắc chắn rằng tất cả mọi người cùng chia sẻ mục đích đó trước khi quyết định tiến hành hoạt động.

2. Tôn trọng lẫn nhau là điều vô cùng cần thiết
Nhìn chung trong xã hội hiện nay vẫn tồn tại xu hướng cạnh tranh quá mức, vì vậy mà vô hình chung khi các chuyên gia ngồi lại với nhau, họ thường cố gắng chứng tỏ năng lực và giá trị cá nhân của mình. Việc xây dựng một môi trường làm việc tôn trọng lẫn nhau có thể sẽ gặp khó khăn trong giai đoạn đầu, nhưng đó lại là một việc vô cùng quan trọng. Bất cứ ai với cương vị là người điều phối đội nhóm phải đảm bảo rằng quan điểm của tất cả mọi người đều được lắng nghe. Mỗi người tham gia phải có khả năng tôn trọng những ý kiến từ những người khác. Nếu thiếu đi sự tôn trọng lẫn nhau, niềm tin giữa các thành viên không thể được nuôi dưỡng, và bất kỳ nỗ lực tạo ra ý tưởng nào cũng sẽ không thể tiến xa.

3. Trân trọng chuyên môn khác nhau của từng người
Khi niềm tin bắt đầu bén rễ, mỗi người phải có thái độ cởi mở với những giá trị và quan điểm chuyên môn của người khác. Dù mỗi người trong chúng ta đều có những điểm mạnh riêng, chúng ta phải có một tư duy mở để có thể làm giàu vốn kiến thức của mình trong quá trình đội nhóm đào sâu nghiên cứu và học hỏi lẫn nhau. Điều này không phải chỉ để thể hiện sự lịch sự với đồng nghiệp. Một khi các thành viên có tư duy mở để tiếp thu những điều mới khi đội nhóm trao đổi những bí kíp chuyên môn thì khả năng xem xét vấn đề từ góc độ tăng đa ngành của cả nhóm sẽ tăng lên, nhờ đó chúng ta sẽ có thể nhìn nhận các thách thức dưới một góc độ mới.

4. Mở rộng phạm vi an toàn quen thuộc của chính mình
Một khi niềm tin trong đội nhóm được gây dựng và bồi đắp từng ngày, cùng với sự trân trọng các kỹ năng của các thành viên tăng lên, thì việc lên ý tưởng sẽ chuyển từ đơn thuần chỉ cố gắng để chứng minh luận điểm của mình, sang cùng nhau đào sâu hơn để thực sự giải quyết vấn đề. Và một trong những dấu hiệu của điều này là khi các thành viên chủ động mở rộng phạm vi an toàn quen thuộc của mình để khám phá những điều mới từ những thành viên khác. Giống như trong đội ngũ của chúng tôi hiện nay, cùng với các đồng nghiệp đến từ đơn vị tư vấn quy hoạch và thiết kế CPG, chúng tôi đã có thể cùng nhau thảo luận về tác động của tín ngưỡng, nghi lễ tôn giáo và một thế hệ thiếu sự chú tâm tới vấn đề phát triển bất động sản và xây dựng nơi chốn.

5. Nuôi dưỡng một khung tư duy chung
Khi một nhóm chuyên gia có thể mở rộng phạm vi tư duy và hoạt động an toàn của mình, một lăng kính nhìn nhận vấn đề mới sẽ được tạo ra. Điều này sẽ tạo nên một khung tư duy chung – kết quả của việc tích hợp các luồng tư tưởng khác nhau trong suốt quá trình phối hợp hoạt động. Một buổi chia sẻ sẽ được sắp xếp định kì cho tất cả các thành viên chia sẻ suy nghĩ về công việc của mình và về việc bản thân đã chịu ảnh hưởng như thế nào bởi những luồng tư duy chung của cả nhóm. Làm như vậy sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự thay đổi trong chiều sâu của tư tưởng và tác động của giải pháp thiết kế lên đội nhóm.

6. Sự rõ ràng và tác động của kết quả
Để đảm bảo rằng công cuộc lên ý tưởng đem lại trái ngọt, đội nhóm phải luôn luôn làm rõ tác động của quá trình suy nghĩ lên vấn đề cần giải quyết và làm thế nào để đo lường giá trị và ảnh hưởng của nó. Điều này giúp thiết lập một cơ chế phản hồi hữu ích và gợi nhắc cho các thành viên về sứ mệnh mà mình chọn lựa, đồng thời tránh sự ngạo mạn hoặc chìm đắm trong việc suy nghĩ vô tận mà không có hành động cụ thể.

Chúng ta đang sống trong một thời đại với nhiều thách thức. Tuy nhiên, các giải pháp được tạo ra trên cơ sở góc nhìn đa ngành sẽ đem lại hiệu quả đáng kinh ngạc. Chúng ta rất may mắn được sống trong thời đại mà mỗi người đều có nhiều cơ hội để học hỏi và chia sẻ lẫn nhau. Những cuộc khủng hoảng trong thời đại này, từ khủng bố, đói nghèo đến y tế, kinh doanh, biến đổi khí hậu, v.v., sẽ không chỉ cần sự hợp nhất về tư duy mà còn cần sự hiệp đồng của trái tim. Hy vọng rằng, mỗi chúng ta có thể góp phần giúp đỡ những người xung quanh khám phá sức mạnh đáng kinh ngạc của việc giải quyết vấn đề cùng nhau, khi chúng ta mở rộng tư duy, trân trọng khả năng của người khác và phối hợp làm việc như một.


Bài viết được đăng trên báo Doanh Nhân Sài Gòn số 416 ra ngày 16/11/2016 với tựa đề “6 bước hợp nhất các nhóm chuyên gia đa ngành”.

CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ VÀ SỰ TÁC ĐỘNG TỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, BẢO QUẢN PHIM

 

CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ VÀ SỰ TÁC ĐỘNG TỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, BẢO QUẢN PHIM

09-09-2019 | 15:00

Thuật ngữ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã được nhắc tới rất nhiều lần nhằm để chỉ sự phát triển của các công nghệ hiện đại. Đến năm 2016, cụm từ này được lấy làm chủ đề cho Diễn đàn kinh tế thế giới lần thứ 46 tại Davos, Thụy Sĩ và nhanh chóng khái niệm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được biết đến một cách rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới. Đây là cuộc cách mạng được đánh giá sẽ có những tác động sâu rộng, toàn diện lên đời sống của con người trên tất cả các lĩnh vực. Và ngành công nghiệp Điện ảnh nói chung, cũng như công tác sản xuất, bảo quản phim nói riêng cũng không nằm ngoài những tác động đó.

Sự phát triển của điện ảnh luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ. Trong lịch sử, đã có ba cuộc cách mạng công nghiệp và tương ứng với chúng là những giai đoạn phát triển khác nhau của ngành công nghiệp điện ảnh. Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất bắt đầu vào cuối thế kỷ thứ 18 ở Anh và được đánh dấu sự ra đời của động cơ hơi nước, thép, và các loại máy móc sử dụng động cơ hơi nước. Biểu tượng của cuộc cách mạng này chính là động cơ hơi nước. Nội dung của cuộc cách mạng công nghiệp 1.0 là nó giúp con người tăng năng suất lao động, là nền tảng để các loại máy móc hiện đại mới ra đời. Tương tự với sự ra đời của máy móc trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất là sự xuất hiện của các thiết bị nhiếp ảnh, điện ảnh đầu tiên dựa trên cơ chế điều khiển thủ công – cơ chế quang học cơ khí đơn giản nhất và hệ thống chiếu sáng. Đó là những chiếc máy tích hợp cả quay phim lẫn chiếu phim và kéo theo sau đó là những rạp chiếu bóng quang học đầu tiên, những buổi công chiếu phim đầu tiên.

Cách mạng công nghiệp 2.0 (lần thứ hai) bắt đầu vào cuối thế kỷ 19, khi nền công nghiệp bắt đầu không cung cấp đủ hàng hóa cho thị trường rộng lớn. Và dây chuyền sản xuất hàng loạt đã ra đời, đẩy mạnh quá trình sản xuất. Giai đoạn này, cùng với sự ra đời của điện, ngành công nghiệp điện ảnh cũng có những biến đổi lớn. Đó là sự xuất hiện các thiết bị điện ảnh điện tử, các thiết bị tích hợp đã phân tách thành các nhánh máy quay và máy chiếu độc lập nhau. Quy trình sản xuất phim cũng trở nên phức tạp hơn và theo dạng dây chuyền sản xuất công nghiệp. Giai đoạn này còn chứng kiến sự phân tách bên trong các hãng sản xuất phim lớn thành những bộ phận chuyên biệt về mặt chức năng như: sản xuất, gia công, nghiên cứu.

Nền công nghiệp đang trên đà phát triển mạnh nhờ vào việc đã sản xuất hàng loạt. Tuy nhiên vẫn còn cần sử dụng rất nhiều con người để vận hàng máy móc, chi phí vận hành vẫn rất cao và sự sai sót có thể xảy ra do lỗi con người. Vào những năm 1970, một cuộc cách mạng nữa đã xảy ra, đó là cuộc cách mạng của sản xuất tự động với sự gắn kết của thiết kế điện tử, chất bán dẫn, máy tính và Internet. Và điều đó dẫn đến cuộc cách mạng lần thứ ba trong ngành công nghiệp điện ảnh, được đánh dấu bằng sự xuất hiện những chiếc máy tính đầu tiên trong sản xuất phim. Quy trình làm phim bắt đầu sử dụng hiệu ứng đặc biệt, dựng phim điện tử và xa hơn nữa là sự số hóa tất cả các công đoạn sản xuất điện ảnh. Các hãng phim lớn bắt đầu bị phân chia thành các công ty dịch vụ nhỏ chuyên môn hóa cao như hãng chuyên âm thanh, hãng chuyên hiệu quả đặc biệt.

Vậy thì cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư này, với nội dung chính xoay quanh Internet vạn vật, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, nhà máy thông minh, sẽ thay đổi diện mạo ngành điện ảnh như thế nào? Theo Oleg Berezin (Nevafilm – Nga, Chủ tịch của Hiệp hội Kỹ sư Điện ảnh và Truyền hình tại Nga), đơn vị sản xuất – thành phần cốt lõi của ngành sản xuất phim giai đoạn này sẽ là “các nhà máy hình ảnh động kỹ thuật số” (digital motion picture factory). Bên trong nhà máy đó, “các bộ phim sẽ là sự kết hợp và lắp ráp các mô hình tĩnh và động vào trong một kịch bản kỹ thuật số”. Mô hình kỹ thuật số của của phim là sự phát triển hợp lý của các công nghệ hiện tại như các trò chơi điện tử, nhân vật hoạt hình, công nghệ hiệu quả hình ảnh và hậu kỳ kỹ thuật số. Công nghệ ngày nay cho phép tạo ra những diễn viên kỹ thuật số hoặc tạo ra bản số “sinh đôi” của các diễn viên điện ảnh. “Công nghệ chụp chuyển động cho phép tạo ra các mặt nạ kỹ thuật số truyền tải tất cả các sắc thái của biểu cảm khuôn mặt và chuyển động cơ thể của không chỉ con người mà cả động vật, cả thực và ảo”. Ngoài ra, diện mạo, trang phục diễn viên, cảnh quay, khói lửa trong chiến đấu…, tất cả đều có thể là ảo và được tập hợp lại thành các thư viện mô hình kỹ thuật số. Và khi xem một bộ phim, người ta có thể không thể phân biệt được đâu là thật và đâu là do kỹ thuật số tạo ra. Các công nghệ này có thể chỉ đóng vai trò hỗ trợ và bổ sung chứ không hoàn toàn thay thế cách làm phim như hiện nay, mặc dù, khả năng hoàn thành một bộ phim chỉ bằng công nghệ và lập trình là hoàn toàn khả thi.

Công tác bảo quản phim ngay từ thời điểm hiện tại đã bao gồm cả phim nhựa truyền thống lẫn phim kỹ thuật số mới sản xuất. Quy trình bảo quản tại các cơ quan lưu trữ hình ảnh động thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ tư vẫn sẽ như sau:

Hình 1: Quy trình bảo quản tư liệu hình ảnh động

 src=

Công tác bảo quản phim nhựa truyền thống hoàn toàn không có gì thay đổi, vẫn tu sửa thủ công định kỳ, kiểm tra độ chua, diệt mốc… Tuy nhiên, về mặt số lượng, phim nhựa sẽ không tăng thêm nữa. Kể cả các bản phim nhựa thiếu bộ bản hay suy giảm chất lượng vì số lượng phim sống được sản xuất ra trên thị trường ngày càng hạn chế và giá thành ngày càng cao. Để kéo dài tối đa tuổi thọ cho phim nhựa thì cần đảm bảo làm tốt hai yếu tố: tối ưu hóa môi trường bảo quản và thường xuyên kiểm tra, đánh giá chất lượng phim lưu trữ để kịp thời có biện pháp xử lý phù hợp. Về môi trưởng bảo quản tối ưu dành cho phim nhựa, chúng ta có thể áp dụng những quy định trong tiêu chuẩn quốc tế ISO 18911:2010 Imaging materials – Processed safety photographic films – Storage practices (tạm dịch “Vật liệu hình ảnh – Phim nhựa đế an toàn đã gia công – Thực hành bảo quản”) hoặc ISO 11799:2003 Information and documentation – Document storage requirements for archive and library materials (tạm dịch là “Thông tin và tài liệu – Yêu cầu về bảo quản tài liệu cho các vật liệu lưu trữ và thư viện”). Tiêu chuẩn quốc tế ISO 18911 quy định đầy đủ các yếu tố về điều kiện môi trường bảo quản (nhiệt độ, độ ẩm, độ sạch không khí), phương tiện bảo quản (hộp đựng, giá bảo quản, lõi cuốn phim), xử lý và kiểm tra dành cho tất cả các phim nhựa đế an toàn đã gia công ở mọi định dạng khác nhau, cho cả mục đích bảo quản trung hạn (tối thiểu 10 năm) và dài hạn. Ngoài ra, chúng ta có thể tham khảo thêm các tài liệu hướng dẫn bảo quản phim của các Viện lưu trữ lớn trên thế giới như IPI (Viện Phim Vĩnh Cửu, Hoa Kỳ), Viện phim Quốc gia Úc, hãng Kodak… Để đánh giá chất lượng bản phim nhựa lưu trữ, hệ thống ISO có khá nhiều tiêu chuẩn để áp dụng như ISO 18901: Vật liệu hình ảnh – Phim đen trắng bạc-gelatine đã gia công – Yêu cầu kỹ thuật cho sự ổn định, ISO 18909: Nhiếp ảnh – Phim nhựa và giấy ảnh màu đã gia công – Các phương pháp xác định độ ổn định hình ảnh… Nếu ở Việt Nam, ta còn có thể áp dụng TCVN 11773:2016 Bản phim nhựa lưu trữ – Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử để đánh giá chất lượng và phân loại phim nhựa. Mặc dù hệ thống ISO có rất nhiều tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng phim nhựa nhưng mỗi tiêu chuẩn thường chỉ đưa ra phương pháp xác định một loại lỗi kỹ thuật. Trong khi TCVN nói trên có phương pháp thử cho mọi loại lỗi từ xước, mốc, chua, co ngót… Theo tính toán, nếu phim nhựa mới sản xuất được bảo quản trong điều kiện thỏa mãn các tiêu chuẩn trên thì có thể đạt đến tuổi thọ là 500 năm. Đó là trong điều kiện lý tưởng, còn thực tế việc xác định tuổi thọ của phim thì có thể áp dụng hai phương pháp cụ thể. Thứ nhất là theo tài liệu New tools for Preservation: Accessing long-term Environmental Effects on Library and Archives Collections (tạm dịch là “Công cụ bảo quản mới: Xác định những tác động của môi trường dài hạn lên bộ sưu tập của các Thư viện và Viện lưu trữ”) của tác giả James M. Reilly (Viện Phim Vĩnh Cửu – IPI). Theo tài liệu này, cách đơn giản để xác định tuổi thọ của một loại vật liệu hữu cơ ngắn hạn như là giấy, ảnh màu, băng từ,… trong một môi trường bảo quản không đổi nên dựa vào giá trị PI (Preservation Index – tạm dịch là “Chỉ số Bảo quản”). Thứ hai, là sử dụng công cụ của Viện Phim Vĩnh Cửu (IPI, Hoa Kỳ) để xác định khoảng thời gian để phim đế acetate mới gia công bắt đầu chua (đạt độ a-xít 0,5) trong các điều kiện môi trường bảo quản nhất định. Các kết quả theo cả hai cách đều xấp xỉ nhau và chỉ mang tính chất tương đối, vì còn có những yếu tố khác ảnh hưởng đến tuổi thọ dự tính của phim nhựa như việc đưa phim ra khỏi kho để khai thác và sử dụng hay lịch sử bảo quản của bản phim đó.

Ở công đoạn số hóa, phim nhựa sẽ được quét (scan) sang các tệp (file) ảnh tĩnh ở độ phân giải cao. Mặc dù còn có những tranh cãi về độ phân giải đủ để số hóa phim nhựa, nhưng nhiều ý kiến cho rằng quét 4K phù hợp với phim nhựa cỡ 35mm. Một số khác thì cho rằng 4K chỉ đủ cho ảnh tĩnh, còn với hình ảnh động thì cần độ phân giải cao hơn mới tương đương phim 35mm. Một số tính toán thì cho thấy để các phòng chiếu phim số lớn (có màn ảnh rộng trên 10m) đạt chất lượng trình chiếu tối ưu cho tất cả các hàng ghế thì độ phân giải cần là khoảng 5400 điểm ảnh theo chiều ngang (tương đương khoảng 5K). Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ thì độ phân giải của máy quét sẽ ngày càng tăng lên và biến những tranh cãi ở trên trở thành vô nghĩa. Hiện nay trên thị trường, một số hãng thiết bị công nghệ đã chào hàng máy quét 10K và ở đâu đó trong các phòng thì nghiệm đã có máy quét 16K. Bên cạnh độ phân giải, các máy quét đời mới còn áp dụng thêm nhiều công nghệ mới như “chớp nhiều lần” (để quét phim có dải động lớn), định vị khuôn hình bằng quang học (tăng ổn định khuôn hình), thay cảm biến CCD bằng CMOS, sử dụng nguồn sáng LED… Như vậy, có thể thấy rằng công nghệ hiện nay đã gần như đạt đến ngưỡng về cả tính năng, lẫn nhu cầu về độ phân giải cần thiết cho máy quét. Bởi vì máy quét phim chỉ sử dụng trong thời kỳ chuyển giao từ phim nhựa truyền thống sang phim kỹ thuật số. Do đó, khi người ta đã số hóa toàn bộ lượng phim nhựa hiện đang bảo quản sang tệp số ở độ phân giải cao hơn cả bản phim gốc thì dòng thiết bị này sẽ không còn tác dụng nữa và vòng đời của nó sẽ chấm dứt.

Công tác tu sửa phim kỹ thuật số thì có ít nhiều khác biệt so với hiện nay. Ngoài việc, độ phân giải hình ảnh ngày càng được nâng cao theo chất lượng máy quét thì các phần mềm phục chế sẽ trở nên mạnh mẽ hơn nhờ công nghệ hình ảnh. Việc tu sửa này cũng khó đạt đến tới hạn khi mà người ta có thể phục chế nhiều lần cùng một bộ phim, miễn là, chất lượng phiên bản sau cao hơn phiên bản đã sửa trước đó. Ngay từ thời điểm hiện tại, việc tu sửa phim đã có sự hỗ trợ rất mạnh từ công nghệ xử lý hình ảnh. Trong đó có thể kể tới việc sử dụng “lớp màu thứ tư” trong các máy quét tiên tiến nhất. Máy quét loại này bên cạnh nguồn sáng gồm ba màu cơ bản Đỏ, Lục Lam như hiện tại, còn sử dụng tia hồng ngoại để quét hình ảnh phim. Điều này cho phép phát hiện ra các hạt bụi, dấu vân tay và vết xước trên bề mặt phim. Nhờ vậy các lỗi cơ học trên sẽ được xử lý ngay trong quá trình quét phim mà không cần phải làm mờ hoặc biến đổi hình ảnh gốc. Tuy nhiên, việc tu sửa phim này ngoài việc loại bỏ các lỗi kỹ thuật để chất lượng gần với bản gốc nhất thì rất có thể sẽ rẽ sang một hướng khác, phụ thuộc vào phương thức hưởng thụ các tác phẩm điện ảnh về sau này như là phim đa chiều hay thực tế ảo (VR). Khi đó, người ta có thể giả lập phim 2D thành phim nhiều chiều hơn hoặc cấu trúc lại dữ liệu thành phim dạng thực tế ảo. Việc lưu trữ dữ liệu số sẽ đặc biệt thay đổi về mặt công nghệ và quy mô. Sẽ có hai sự lựa chọn, lưu trữ tại chỗ và lưu trữ trực tuyến. Lưu trữ tại chỗ an toàn hơn cho việc kiểm soát dữ liệu và phù hợp với khối lượng bộ sưu tập phim lớn. Đó sẽ là các trung tâm dữ liệu (Data Centre) hoặc Thư viện băng dữ liệu (Tape Library) rất lớn. Nếu số lượng phim không nhiều thì có thể thuê không gian lưu trữ thông qua điện toán đám mây.

Với sự phát triển mạnh mẽ của Internet vạn vật, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, việc kết nối giữa hệ thống sản xuất phim mới, phim lưu trữ và người sử dụng sẽ hoàn toàn thông qua các kênh phân phối trực tuyến băng thông rộng. Các sản phẩm hình ảnh động sẽ nhắm tới ba đối tượng khách hàng khác nhau: Nhóm khách hàng lớn, nhóm khách hàng nhỏ và khách hàng cá nhân. Định dạng của các bản phim kỹ thuật số sẽ phải rất linh hoạt và được thay đổi cho phù hợp với đối tượng khách hàng và theo phương thức mà khách hàng lựa chọn. Đối với nhóm khách hàng lớn, khán giả xem phim trên các màn ảnh rộng tại hệ thống rạp chiếu bóng, sân vận động… Đối với nhóm khách hàng nhỏ, phim sẽ phát lại trên các màn ảnh nhỏ như các hệ thống chiếu bóng gia đình (Home Theatre), truyền hình độ nét cao… Ngoài ra, khách hàng còn có thể xem phim bằng các phương tiện cá nhân như máy tính xách tay, máy tính bảng, điện thoại thông minh…nhờ các hệ thống viễn thông thế hệ thứ 5 (5G).

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra sẽ thay đổi cơ bản cuộc sống của con người trên tất cả mọi lĩnh vực. Ngành công nghiệp điện ảnh cũng sẽ có một diện mạo mới nhờ sự phát triển công nghệ và thật khó để lường hết những thay đổi sẽ xảy ra. Có một điều chắc chắn là tất cả các khâu từ sản xuất, phát hành, bảo quản các tác phẩm điện ảnh đều chịu những tác động mạnh mẽ. Tuy vậy, những công nghệ tương lai luôn có khả năng nằm ngoài tầm hiểu biết của con người ở thời điểm hiện tại. Vì thế, những đánh giá trên đây dù dựa trên những cơ sở tương đối chắc chắn thì thực tế vẫn có thể diễn ra theo một chiều hướng hoàn toàn khác.

Tài liệu tham khảo

[1] TS Hoàng Như Yến, Lưu trữ hình ảnh động trong thời kỳ công nghệ số, Hội nghị thường niên SEAPAVAA, 2012.

[2] TCVN 11773:2016 Bản phim nhựa lưu trữ – Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử

[3] Oleg Berezin, Film Industry 4.0 and the Digital Motion Picture Factories, 2017.

[4] Torkell Satervadet, FIAF Digital projection guide, 2012.

[5] James M. Reilly, IPI, New tools for Preservation: Accessing long-term Environmental Effects on Library and Archives Collections

[6] ISO 18911:2010 Imaging materials – Processed safety photographic films – Storage practices

[7] ISO 11799:2003 Information and documentation – Document storage requirements for archive and library materials

ThS. Lê Tuấn Anh

Cách mạng công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng thể chế – VnReview

 

Bản chất của cuộc CMCN 4.0 là cuộc cách mạng thể chế. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số tạo ra mô hình mới, lực lượng lao động mới, nhanh chóng, bùng nổ… khiến khuôn khổ thể chế truyền thống không còn phù hợp, mà nếu duy trì sẽ kìm hãm phát triển.

Để sớm tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 52 của Bộ Chính trị, ngày 3/10 tại Hà Nội, Ban Kinh tế Trung ương phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức Diễn đàn cấp cao và Triển lãm quốc tế về công nghiệp lần thứ tư – Industry 4.0 Summit 2019.

Phát biểu tại khai mạc, ông Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương nhận định: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân. CMCN 4.0 đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội.

Cách mạng công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng thể chế

Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình: Cuộc CMCN 4.0 đặt ra yêu cầu phải thay đổi thể chế, cần thay đổi tư duy quản lý. Ảnh: VGP

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nghiên cứu nắm bắt, nâng cao năng lực tiếp cận và chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị về nâng cao năng lực tiếp cận cuộc CMCN 4.0 và phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ.

Trên cơ sở đó, các bộ, ngành và địa phương đã xây dựng và triển khai thực hiện một số chính sách nhằm thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử – viễn thông. Cơ sở hạ tầng viễn thông được xây dựng khá đồng bộ, vùng phủ sóng di động đạt 99,7% dân số trên cả nước, trong đó vùng phủ sóng 3G, 4G đạt trên 98% với mức cước phí thấp, mạng 5G đã được cấp phép thử nghiệm và dự kiến triển khai thương mại từ năm 2020. Kinh tế số được hình thành, phát triển nhanh, ngày càng trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế, xếp thứ 3 trong khu vực ASEAN về quy mô nền kinh tế kỹ thuật số…

Tuy vậy, mức độ chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0 của nước ta còn thấp. Thể chế, chính sách còn nhiều hạn chế và bất cập, xếp hạng chung về thể chế của Việt Nam vẫn ở mức dưới trung bình. Năm 2018 Diễn đàn Kinh tế thế giới đánh giá Việt Nam đạt 50/100 điểm, xếp hạng 94/140 quốc gia. Thể chế cho các hoạt động kinh tế số, kinh tế chia sẻ, đổi mới sáng tạo chưa được hình thành đồng bộ; chưa có hành lang pháp lý cho thí điểm triển khai áp dụng các sản phẩm, mô hình kinh doanh, dịch vụ mới của CMCN 4.0. Quá trình chuyển đổi số quốc gia còn chậm, thiếu chủ động; nhiều doanh nghiệp còn bị động, năng lực tiếp cận, ứng dụng, phát triển công nghệ hiện đại còn thấp. Kinh tế số có quy mô còn nhỏ. Việc đấu tranh với tội phạm, bảo đảm an ninh mạng còn nhiều thách thức…

Xuất phát từ thực tế nêu trên, để nắm bắt và tận dụng các cơ hội của cuộc CMCN này để phát triển bứt phá, Bộ Chính trị đã giao Ban Kinh tế Trung ương chủ trì xây dựng Đề án “Chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0”.

Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị là nghị quyết toàn diện, tổng thể đầu tiên của Đảng về chủ trương, chính sách của Việt Nam tham gia cuộc CMCN 4.0, được hệ thống chính trị và toàn xã hội đón nhận tích cực, nhiều chuyên gia quốc tế và trong nước đã đánh giá cao.

Nghị quyết đã thể hiện rõ quan điểm và sự quyết tâm của Đảng cộng sản Việt Nam khi coi “Chủ động, tích cực tham gia cuộc CMCN 4.0 là yêu cầu tất yếu khách quan, coi đây là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thời nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội hàm, bản chất của cuộc CMCN 4.0 để quyết tâm đổi mới tư duy và hành động, coi đó là giải pháp đột phá với bước đi và lộ trình phù hợp là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế – xã hội”.

Việt Nam cũng đã xác định: Nội dung cốt lõi của chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0 là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số.

Cách mạng công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng thể chế

Ảnh: VGP

Ông Nguyễn Văn Bình phân tích: Xây dựng và ban hành Nghị quyết của Bộ Chính trị là quan trọng nhưng đưa Nghị quyết nhanh chóng vào cuộc sống để Việt Nam có thể bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới trong cuộc CMCN này có tầm quan trọng không kém.

Trưởng Ban Kinh tế Trung ương đánh giá, bản chất của cuộc CMCN 4.0 là cuộc cách mạng thể chế. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số tạo ra mô hình mới, lực lượng lao động mới, nhanh chóng, bùng nổ… khiến khuôn khổ thể chế truyền thống không còn phù hợp, mà nếu duy trì sẽ kìm hãm phát triển.

“Từ những lí do trên, đặt ra yêu cầu phải thay đổi thể chế, cần thay đổi tư duy quản lý theo lối mòn là cái gì không quản được ta cấm, cần có nhận thức rõ ràng cũng như bản lĩnh để thích ứng, đồng thời, lường đón được những tác động của cuộc cách mạng”, Trưởng Ban Kinh tế trung ương Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh.

Industry 4.0 Summit 2019 sẽ có các mục tiêu quan trọng: Công bố các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, chương trình hành động của Chính phủ và các bộ ngành đẩy mạnh triển khai tham gia cuộc CMCN 4.0; Tạo cơ hội trao đổi, tiếp nhận các ý kiến của chuyên gia trong nước và quốc tế về các chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho triển khai có hiệu quả cuộc CMCN 4.0 tại Việt Nam; Triển lãm, giới thiệu các thành tựu, giải pháp công nghệ của CMCN 4.0 cho các ngành, lĩnh vực kinh tế xã hội của Việt Nam; Kết nối kinh doanh và xúc tiến đầu tư trong các lĩnh vực CMCN 4.0 giữa các nhà đầu tư quốc tế với cộng đồng doanh nghiệp và đại diện của 63 tỉnh thành.

Bên cạnh phiên toàn thể cấp cao, Diễn đàn còn có chuỗi hội thảo chuyên đề gồm: Ngân hàng thông minh; Thành phố thông minh; Sản xuất thông minh; Năng lượng thông minh và Chuyên đề kinh tế số.

Song song với các chuyên đề, Triển lãm Quốc tế về Công nghiệp 4.0 năm 2019 sẽ mở rộng với quy mô gấp đôi cùng gần 80 gian hàng đến từ các công ty trong nước và quốc tế tiêu biểu như: VNPT, Viettel, Qualcomm, Samsung, Vietcombank, Bkav, ABB, FPT, SAP, CMC…

Theo báo điện tử Chính phủ

Leave your Comment