Các vị thần trung quốc là gì 411

Chuyện về ‘Tứ đại Thần y’ Trung Hoa

 

Trong lịch sử nền y học Trung Hoa truyền thống, có bốn vị danh y nổi tiếng là: Biển Thước, Hoa Đà, Tôn Tư Mạc và Lý Thời Trân. Mỗi người lại sở hữu một phương pháp chữa bệnh vô cùng độc đáo, kỳ lạ, khiến người đời nay không sao lý giải nổi.

Biển Thước: Bắt bệnh bằng… mắt

bien-thuoc

Chân dung phục dựng của Biển Thước. Ảnh: History Cultural China

Biển Thước (401 – 310 TCN), tên thật là Tần Hoãn, tự Việt Nhân, người nước Triệu (thời Chiến Quốc). Ông là một trong những vị thầy thuốc đầu tiên được biết đến vào thời Chiến quốc (770 – 221 TCN).

Theo các sử liệu, Biển Thước có khả năng nhìn thấu thân thể bệnh nhân. Ông cũng là người nghĩ ra phương pháp bắt mạch. Trong “Sử Ký”, nhà sử học lỗi lạc Tư Mã Thiên (145 – 86 TCN) viết: “Đến nay thiên hạ nói đến bắt mạch là do Biển Thước vậy”.

Biển Thước vận dụng thành thạo 4 kỹ thuật y khoa, được gọi là “tứ chẩn” để bắt bệnh, bao gồm: nhìn, nghe, hỏi và bắt mạch. Ngoài ra, ông cũng rất giỏi dùng các thuật loại trị liệu khác như: châm cứu, phẫu thuật, kê thuốc, xoa bóp…

Có rất nhiều giai thoại về khả năng chữa bệnh thần kỳ của Biển Thước vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay.

Theo “Hán thư ngoại truyện”, Biển Thước đã cứu thế tử nước Quắc từ cõi chết trở về. Thông qua bắt mạch, Biển Thước biết được thế tử đang ở trong trạng thái “chết giả”. Sau đó, ông đã dùng thuật châm cứu để cứu sống thế tử. Nhờ đó, Biển Thước được người đời ca tụng là có tài “cải tử hoàn sinh”.

 src=

Biển Thước nổi tiếng với tài bắt mạch. Ảnh: Wikipedia.

Một giai thoại khác kể rằng Biển Thước có thể dùng mắt mà đoán được bệnh ở bên trong cơ thể người bệnh. Trong “Sử Ký”, Tư Mã Thiên chép: Biển Thước sang nước Tề, gặp vua Tề thấy khí sắc không tốt bèn tâu: “Quân hầu, trong da và chân lông ngài đã có gốc bệnh, nếu không kịp thời chữa trị, bệnh sẽ nặng thêm”.

Vua Tề không nghe, cho rằng đó là chuyện hoang đường. Vài ngày sau, Biển Thước lại vào yết kiến vua, lại nói rằng: “Bệnh của ngài đã vào đến nội tạng, phải chữa ngay đi!”. Một lần nữa vua Tề bỏ ngoài tai lời cảnh báo.

Năm hôm sau, khi chỉ mới vào yết kiến, nhìn mặt vua Tề, Biển Thước đã quay gót trở đi, chẳng nói chẳng rằng. Vua Tề thấy lạ, cho người chạy theo níu lại hỏi. Biển Thước thẳng thắn: “Bệnh ở da, thịt thì còn xoa thuốc được, bệnh ở huyết mạch thì còn tiêm thuốc được. Nay bệnh đã vào đến xương tủy rồi thì trời cũng không cứu được nữa, bởi vậy tôi mới bỏ đi”.

Quả nhiên, chẳng bao lâu sau, vua Tề đổ bệnh, phái người đến gọi Biển Thước lại chữa. Nhưng Biển Thước đã sang đất Tần từ lâu, vốn chẳng còn ở lại. Bệnh của vua Tề ngày càng nặng, thuốc thang thế nào cũng không chữa dứt, được ít lâu thì qua đời.

Video: Truyền thuyết các danh y Trung Hoa cổ đại (NTD Tiếng Việt)

Hoa Đà: Ông tổ của khoa phẫu thuật

 src=

Hoa Đà nổi tiếng với tài phẫu thuật. Ảnh: Wikipedia.

Hoa Đà được biết đến là thầy thuốc phẫu thuật đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa. Ông sống vào cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc. Theo sử sách, Hoa Đà được xem là Thần y của Trung Hoa.

Hoa Đà là người đã sáng tạo ra loại thuốc gây mê và giảm đau “Ma Phí Tán” (trộn rượu và thảo dược) để dùng trong các ca phẫu thuật, điều mà người phương Tây chỉ biết đến sau đó hơn 1600 năm. Hoa Đà cũng là người phát triển “Ngũ Cầm Hí”, vốn là một môn khí công Đạo gia phỏng theo động tác của năm loài vật: hổ, hươu, gấu, khỉ và chim.

Có một giai thoại đi vào sử sách kể về lần Hoa Đà trị thương cho Quan Vũ, vị tướng quân nổi tiếng của Lưu Bị, nước Thục trong thời Tam Quốc. Trong một lần xuất quân giao chiến, Quan Vũ bị trúng tên độc ở cánh tay phải. Hoa Đà đã sử dụng thuốc giảm đau và phẫu thuật cắt bỏ phần thịt bị nhiễm độc ngay trong lúc Quan Vũ đang đánh cờ vây.

Guanyu

Cảnh Hoa Đà chữa thương cho Quan Vũ. Ảnh: Wikipedia.

Một câu chuyện khác kể rằng Hoa Đà nhìn thấy một khối u trong não Tào Tháo và khuyên Tào Tháo mổ não để làm thủ thuật bỏ khối u. Nhưng Tào Tháo lại nghĩ rằng Hoa Đà muốn giết mình nên đã giam ông trong ngục cho tới chết. Quả nhiên sau đó Tào Tháo đã thực sự phát bệnh đau đầu mà chết.

“Tam Quốc diễn nghĩa” (La Quán Trung) chép lại rằng, trong khi bị giam trong ngục tối, vì cảm kích trước sự chăm sóc tận tình của viên coi ngục, Hoa Đà đã truyền lại toàn bộ y thuật của mình cho người này. Tuy nhiên, khi về nhà, vợ của anh ta lại đem sách y thuật đó đốt đi vì sợ chồng mình cũng có kết cục giống Hoa Đà. Kết quả là y thuật của Hoa Đà mãi mãi thất truyền, chỉ còn được hậu thế biết đến qua những giai thoại dân gian.

Tôn Tư Mạc: ‘Thần y’ của lòng nhân ái

2009-06-01-l-Sun_Si-Miao-229x300

Chân dung Tôn Tư Mạc. Ảnh: Epoch Times.

Tôn Tư Mạc (550 – 691) thời Đường được xưng tụng là Dược vương Tôn Thiên Y. Ông sinh vào thời Tây Ngụy (535 – 556), thuở nhỏ thường ốm yếu nên lớn lên quyết lập chí học nghề y. Với tư chất thông minh sẵn có, chẳng mấy chốc Tôn Tư Mạc thông hiểu nhiều kinh điển Trung Hoa, trở thành thầy thuốc nổi tiếng nhất thời đại của mình.

Tương truyền, Tôn Tư Mạc sống tới năm 141 tuổi rồi đi tu tiên. Ông cũng là người ứng dụng khí công vào thuật dưỡng sinh. Dù rất tài năng nhưng Tôn Tư Mạc chỉ ở nhà chuyên tâm nghiên cứu y thuật, quyết không ra làm quan. Sử sách kể lại rằng, vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân từng tự mình thân hành lên núi yết kiến ông.

 src=

Chân dung vẽ tranh của Tôn Tư Mạc. Ảnh: Kannewyork.

Tôn Tư Mạc rất coi trọng đạo đức của người thầy thuốc, luôn kiên định bảo trì một trái tim từ bi, hòa ái và tấm lòng hy sinh cao cả đối với bệnh nhân, không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, già trẻ, đẹp xấu, thân sơ…

Ông đã cống hiến cho nền y học Trung Hoa hai kiệt tác y học là “Thiên kim yếu phương” và “Thiên kim dược phương”, tập hợp và phân loại toàn diện các bài thuốc Trung y.

Lý Thời Trân: Người chép sử về các loài thảo mộc

Li_Shizhen

Chân dung Lý Thời Trân. Ảnh: Wikipedia.

Lý Thời Trân (1518 – 1593), tự là Đông Bích, sống vào thời nhà Minh, là một dược sư vĩ đại của Trung Hoa. Ông được xem là cha đẻ của các bài thuốc Trung y và là vị Y thánh tinh thông về các loài thảo dược.

Lý Thời Trân sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống làm nghề thuốc. Ngay từ nhỏ, ông đã lập chí theo ngành y cứu chữa người. Nhưng để chiều ý cha, ông cũng bước ra ứng thí, theo con đường hoạn lộ.

Sau vài lần thi cử không đỗ đạt, ông quyết định bỏ nghiệp quan trường, toàn tâm toàn ý theo nghề thầy thuốc. Ở tuổi 30, Lý Thời Trân đã trở thành một danh y nức tiếng. Nhiều lần ông được triều đình đề bạt giữ các chức vụ quan trọng, trong đó có cả công việc ở Thái y viện. Tuy nhiên, vốn chẳng màng công danh, lợi lộc, Lý Thời Trân sớm xin từ chức, trở về quê nhà viết sách, nghiên cứu y thuật.

Cống hiến vĩ đại nhất của Lý Thời Trân là bộ sách “Bản thảo cương mục”, trong đó miêu tả chi tiết gần 1,900 loại thảo dược phân thành 60 mục. Để hoàn thành công trình đồ sộ hơn 2 triệu chữ ấy, Lý Thời Trân đã phải bỏ ra ngót 27 năm lao động miệt mài, khó nhọc, đi khắp núi cao vực sâu sưu tầm thảo dược rồi phân loại, định danh. Đây được coi là một cuốn bách khoa toàn thư về thảo dược, vẫn còn có giá trị tham khảo tới tận ngày nay.

801073062_03f28d991f

Lý Thời Trân là tác giả của tác phẩm nổi tiếng “Bản thảo cương mục”. Ảnh: creations.vn

Truyền thuyết kể rằng, các vị danh y của Trung Hoa cổ đại đều có những khả năng siêu thường. Họ có thể nhìn thấu cơ thể người bằng “thiên mục” hay con mắt thứ ba. Theo các kinh sách cổ xưa, thiên mục nằm ở trước trán, hơi dịch lên trên và ở giữa hai hàng lông mày. Thiên mục có thể được khai mở thông qua việc thực hành các môn pháp tu luyện tâm linh.

Mặc dù vẫn còn là một ẩn đố, thiên mục được cho là một phần của tuyến tùng quả. Ngày nay, khoa học hiện đại đã công nhận rằng, phía trước tuyến tùng quả có một cấu trúc giống y hệt con mắt người.

Tác giả: Thanh Ngọc biên dịch (NTD Tiếng Việt) – Hữu Bằng hiệu đính

Khám phá sự khác biệt thú vị về truyền thuyết Táo quân Việt Nam và Trung Quốc

 

Tục cúng ông Công, ông Táo có cả ở rất nhiều quốc gia châu Á nhưng ít ai biết được sự khác biệt Táo quân Việt Nam và Trung Quốc ở những điểm nào.

Táo Quân lên chầu trời

Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích “2 ông 1 bà” – vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo. Bếp là bản nguyên của nhà khi người nguyên thủy có lửa và đều dựa trên nền móng là đất.

Ngoài ra người Việt Nam còn quan niệm Táo Quân sẽ lên trời và thưa với Ngọc Hoàng Thượng đế những sự kiện xảy ra trong năm vừa qua ở dưới trần gian. Vì thế người Việt Nam làm lễ tiễn ông Công ông Táo rất thịnh soạn với mong muốn những điều tốt đẹp nhất sẽ được thưa với Ngọc Hoàng.

Theo phong tục, tập quán người Việt quan niệm chỉ có 1 ông táo sống trong mỗi nhà cả năm, trong khi ở Trung Quốc, phần lớn lại tin rằng có tới 3 vị thần cùng nhau cai quản.

Khác biệt Táo quân Việt Nam và Trung Quốc còn được thể hiện qua truyền thuyết và sự tích khác nhau về câu chuyện truyền miệng liên quan đến các vị thần.

Truyền thuyết Táo Quân Trung Quốc

Ngày xưa, có hai vợ chồng đốn củi sống sâu trong rừng, cuộc sống nghèo khó, ăn không đủ ăn, mặc không đủ mặc nhưng không biết làm cách nào thoát ra khỏi tình cảnh này nên người chồng mỗi lúc một chán nản, sinh ra rượu chè. Gã đốn củi thuê mỗi đêm trở về nhà trong bộ dạng say khướt, không còn làm chủ được suy nghĩ, hành động của mình.

Phẫn uất vì hận đời, ông ta trút hết mọi giận dữ lên bà vợ đáng thương. Những trận đòn roi đau đớn lâu dần đối với bà cũng thành quen, người phụ nữ thương chồng nên nhẫn nhục từ tháng này sang tháng khác, năm này qua năm khác. Sự chịu đựng có giới hạn, vì thế, khi không thể nhẫn nhịn được nữa, bà vợ đã bỏ trốn khỏi túp lều trong rừng để đi tìm một cuộc sống mới, không bao giờ muốn trở về nơi tăm tối này một lần nào nữa.

Truyền thuyết Táo Quân Trung Quốc

Nhiều ngày trôi qua, vừa đói vừa khát nhưng người phụ nữ ấy vẫn chưa ra được khỏi rừng mà bụng thì đói, đôi chân đã rớm máu rất đau đớn. May mắn thay, trong lúc đang kiệt sức cô nhìn thấy ca-bin của 1 thợ săn. Người đàn ông tốt bụng mang đồ ăn và cho cô chỗ ngủ ấm áp. Thời gian qua đi, hai người dần nảy sinh tình cảm và lấy nhau.

Cuộc sống mới bên người thợ săn yêu mến mình hết mực, cô vợ đã quên mất quá khứ cùng người chồng cũ.

Mọi thứ cứ thế bình lặng trôi qua cho đến một ngày gần Tết, đúng lúc người thợ săn đang vắng nhà, một người ăn xin gõ cửa để xin thức ăn. Người vợ thương tình mời kẻ ăn xin vào nhà, cảm thương trước vẻ rách rưới đang run lên vì đói rét, cô đã sửa soạn cho hắn 1 bữa cơm thịnh soạn. Trong khi quan sát kẻ vô gia cư, nghèo đói ăn ngấu nghiến hết món này đến món khác, cô chợt nhận ra đây chính là người chồng cũ của mình.

Đúng lúc này, cô nghe rõ tiếng bước chân của chồng mình sắp về tới nơi. Cô hoảng loạn không biết nên làm gì vì vừa thương cho người chồng cũ vừa lo lắng cho hạnh phúc vừa chớm nở của mình với chồng mới. Trong lúc rối trí cô chỉ nghĩ được cách giấu kẻ ăn xin vào đống rơm sau nhà, đợi lúc phù hợp để cho ông ta đi.

Không may là ngày hôm đó người thợ săn mang về rất nhiều đồ ăn về sau buổi săn thành công nên anh hun hết đống rơm sau nhà để nướng thịt. Ngồi trong đống rơm, người ăn xin hoảng sợ định hét lên nhưng sợ rằng mình làm ảnh hưởng tới người phụ nữ tốt bụng đã cho anh bữa ăn thịnh soạn nên ông cố gắng giữ im lặng.

Biết chồng cũ bỏ mạng trong đám cháy lớn, vì quá thương xót và đau đớn cô tự ném mình vào ngọn lửa đang rực cháy. Người thợ săn thấy thế dù không hiểu gì nhưng cố ngăn lại nhưng không thể. Thấy người vợ yêu quý chết trước mắt mình, anh cũng lao theo vào ngọn lửa vì nghĩ rằng nếu không có vợ cuộc sống của mình cũng không còn ý nghĩa nữa.

Cảm động trước câu chuyện của 3 người nên dân làng lập đền thờ 3 người nọ tỏ lòng tôn trọng. Sau đó người đời gọi 3 người này là các Táo Quân, hay 3 vị thần Bếp Núc.

Ngày xưa, cặp vợ chồng Trọng Cao – Thị Nhi lấy nhau đã lâu, trông ngóng bao năm mà vẫn không thể có một mụn con. Quá buồn chán vì tình cảnh hiện tại, hai người nảy sinh mâu thuẫn, cãi vã thường xuyên. Một hôm, trong cơn nóng giận, không kiềm chế được bản thân, ông chồng Trọng Cao đã tát vợ một cái như trời giáng khiến cô vợ tên Thị Nhi căm phẫn bỏ đi.

Trong hoàn cảnh khó khăn Thị Nhi gặp gỡ và được người đàn ông tên Phạm Lang chăm sóc, nảy sinh tình cảm nên hai người đã sống với nhau như vợ chồng.

Nói về người chồng cũ Trọng Cao khi cơn giận qua đi, anh ta vô cùng hối lỗi và bỏ hết công ăn việc làm đi tìm vợ. Ngày tháng qua đi anh vẫn không thể tìm thấy vợ mà tiền mang theo đã hết sạch nên đành phải đi ăn xin.

Một lần đang xin ăn, anh tình cờ vào đúng nhà Thị Nhi. Hai người nhận ra nhau và cùng nhau ngồi lại nói về chuyện cũ, cô vợ nhận ra mình vẫn còn tình cảm và thương cảm cho Trọng Cao. Cô tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng.

Sự tích Táo quân ở Việt Nam

Biết chồng mình sắp về, quá lo sợ chồng bắt gặp Trọng Cao trong nhà sẽ nảy sinh những chuyện chẳng lành khiến không khí gia đình căng thẳng, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao chui vào đống rơm ngoài vườn.

Chưa kịp trốn thoát thì đúng lúc này Phạm Lang lấy đống rơm đem ra đốt để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra sợ làm liên lụy đến Thị Nhi nên bị chết thiêu. Từ trong nhà Thị Nhi thấy chồng cũ bị thiêu chết nên hoảng loạng nhảy vào đống rơm đang cháy để chết chung.

Phạm Lang bất ngờ với những gì xảy ra trước mắt, anh liền nhảy vào đống rơm đang cháy để cứu vợ ra nhưng không may cả hai đều vị đám cháy thiêu rụi.

Ngọc Hoàng ở trên cao cảm động trước tình cảm 3 người sống có tình có nghĩa nên sắc phong làm Táo quân, hay Định Phúc Táo Quân mỗi người giữ một việc. Phạm Lang làm Thổ Công – trông coi việc bếp núc, Trọng Cao làm Thổ Địa – trông coi việc nhà cửa, Thị Nhi làm Thổ Kỳ – trông coi việc chợ búa.

Về cơ bản, cúng Táo quân về trời và ăn Tết cổ truyền là những hoạt động mang đậm tính truyền thống của người Phương Đông và khác biệt Táo quân Việt Nam và Trung Quốc không quá nhiều, đều có điểm chung là:

Những ngày cuối năm là thời điểm thích hợp để cách thành viên trong gia đình được sum vầy, những ai xa nhà được trở về nhà. Người lớn tất bật nấu nướng cúng bái, dọn dẹp bàn thờ nhà cửa từ 23 tháng Chạp, sửa soạn cho cái Tết hàn huyên trước cả tháng. Trẻ con nao nức được ăn bánh chưng, được mừng tuổi lì xì đỏ, được diện quần áo đẹp đi chơi.

Những nét đẹp văn hóa truyền thống này đã, đang và sẽ được người Việt Nam, người Trung Quốc nói riêng và người dân Châu Á nói chung gìn giữ, phát huy truyền thống tốt đẹp đáng tự hào của tổ tiên.

Thiên cơ to lớn phía sau khí công Trung Quốc | Phân tích bình luận

 

Tác giả: Pháp Chú

[ChanhKien.org]Tộc người Hopi thuộc chủng người India ở khu vực lục địa Bắc Mỹ đã lưu truyền những ghi chép và dự ngôn về nhân loại từ thời viễn cổ cho đến ngày nay, do độ dài bài viết có hạn, nên những ghi chép của họ về những điều cổ xưa hơn xin được lược bớt, tại đây xin trích ra những ghi chép và dự ngôn có liên quan đến nhân loại ngày nay, nội dung như sau:

Cách đây rất lâu, vào lúc bắt đầu chu kỳ tuần hoàn của nhân loại lần này, Thần linh vĩ đại đã giáng hạ xuống Trái Đất, Ngài triệu tập mọi người lên hòn đảo mà hiện nay đã chìm xuống đáy biển, Ngài nói với nhân loại rằng: “Ta sẽ đưa các con đến bốn phương, và dần dần khiến cho màu da của các con biến thành bốn màu sắc khác nhau, ta sẽ chỉ dạy cho các con một số điều, các con hãy coi đó là lời giáo huấn của Trời. Sau này khi đoàn tụ lại với nhau, các con hãy chia sẻ lại những lời chỉ dạy này, như vậy các con mới có thể cùng nhau sinh sống hòa thuận trên Trái Đất, đây sẽ là sự bắt đầu nền văn minh nhân loại.”

Ngài nói tiếp: “Trong chu kỳ tuần hoàn của nhân loại lần này, ta sẽ cấp cho mỗi chủng người ở mỗi phương hai hòn đá, các con không được làm mất nó, nếu không, không chỉ nhân loại sẽ phải chịu ma nạn rất lớn, mà toàn Trái Đất cũng sẽ tiêu vong.”

Ngài phân cho loài người ở mỗi hướng một nhiệm vụ, chúng ta gọi đó là ‘người bảo vệ’.

Với người India cũng chính là chủng người da đỏ, Ngài ban cho họ làm người bảo vệ đất đai, họ cần lĩnh hội những tri thức về đất đai, thực vật sinh trưởng và kết trái từ trong đất, cung cấp cho nhân loại thực phẩm để ăn và thảo dược để trị bệnh. Chúng ta cũng chia sẻ nhưng tri thức này cho các dân tộc anh em.

Về chủng người da vàng ở phương nam (ghi chú: những phương hướng này là cách gọi trong thời kỳ xa xưa, lấy hòn đảo đã chìm xuống đáy biển làm mốc để xác định phương hướng, cho nên phương nam ở đây chính là phương đông sau này và hiện tại), họ sẽ làm người bảo vệ gió, họ sẽ lĩnh ngộ tri thức về bầu trời và hô hấp, đồng thời dùng nó để trợ giúp cho sự phát triển của khí công tu luyện, giờ đây họ sẽ chia sẻ những điều này.

Còn người da đen ở phương tây, họ sẽ làm người bảo vệ nước, họ sẽ học tập những điều đứng đầu của vạn vật, những điềm báo của nước, họ là những người có địa vị thấp kém nhất nhưng cũng là những người mạnh mẽ nhất.

Đối với người da trắng ở phương bắc, họ sẽ làm người bảo vệ lửa. Nếu quan sát rất nhiều sự việc mà họ làm, bạn sẽ phát hiện thấy chúng đều liên quan đến lửa. Có thể thấy rằng, bóng đèn điện chính là lửa của người da trắng. Trong xe hơi có bu-gi, bạn cũng sẽ tìm thấy lửa trên máy bay và tàu hỏa giống như vậy. Lửa có thể đốt cháy và chuyển động, đây là lý do vì sao người da trắng di dân sớm nhất trên địa cầu, để giúp chúng ta liên kết lại thành một đại gia đình.

a376458d-32db-4328-8227-7540ce24bbf4

Thần linh phân cho loài người ở mỗi hướng một nhiệm vụ, chúng ta gọi đó là ‘người bảo vệ’. (Nguồn: Internet)

Qua một thời gian rất lâu, vị Thần vĩ đại trao cho mỗi chủng người hai hòn đá, người India chúng tôi cất giữ chúng trên một đỉnh núi cao vút, vững chãi tại khu bảo tồn của người Hopi ở Arizona.

Tộc người Cheroke cũng lưu truyền những Thần dụ rất giống với tộc người Hopi. Trong đó có ghi chép nói rằng: “Ta đã từng hỏi người da đen, hòn đá khuyên răn của họ được cất giữ dưới chân núi Kenya. Hòn đá của người da vàng do người Tây Tạng cất giữ. Nếu bạn từ khu bảo tồn của người Hopi đi xuyên qua lòng đất mà đến mặt bên kia của Trái Đất, bạn sẽ đến được Tây Tạng.

Dự ngôn của người Tây Tạng nói: khi chim ưng sắt bay lượn, khi ngựa có bánh xe chạy, người Tây Tạng sẽ trôi dạt khắp nơi, Thánh tăng sẽ đến vùng đất của người da đỏ. Dự ngôn của người Hopi nói: khi chim sắt bay lượn, những người đông phương khoác áo đỏ trôi dạt khắp nơi sẽ xuất hiện, hai anh em cách nhau bởi đại dương sẽ đoàn tụ.

Người Thụy Sĩ là người hộ vệ truyền thống của châu Âu. Ở Thụy Sĩ, người ta chọn ra một ngày mà mỗi gia đình đều đeo mặt nạ, mỗi gia đình đều có các màu sắc và phù hiệu đại diện khác nhau.

Hội thảo nghiên cứu trên quê hương người India ở Bắc Mỹ năm 1986

Trong dự ngôn nói (rất nhiều bộ lạc đều có những dự ngôn tương tự): “Đến một thời kỳ nào đó, chim ưng trống sẽ cất cánh bay cao trong đêm tối và đáp xuống Mặt Trăng.” (Có bộ lạc nói chim ưng trống lượn vòng quanh Mặt Trăng) “Lúc đó rất nhiều người dân vốn cư trú ở đây vẫn đang chìm trong giấc ngủ.” Ý nghĩa của câu nói này là chỉ những người đã quên mất những lời chỉ dạy của Thần linh, do đó mà quên mất tự ngã. “Khi chim ưng trống bay cao trong đêm tối, ánh nắng bình minh sẽ đến.” Chúng ta chính là đang ở trong thời khắc này, chim ưng trống đã đậu xuống Mặt Trăng rồi. Năm 1969, phi thuyền vũ trụ đã hạ cánh xuống Mặt Trăng và gửi tin tức về Trái Đất, tức là “chim ưng trống đã đáp xuống đất rồi”. Trong dự ngôn có nói, khi chim ưng trống đáp xuống, sức mạnh sẽ trở lại trong chúng ta.

Sức mạnh gì vậy, phải chăng là khoa học kỹ thuật? Là máy bay, phi thuyền? Điều này đều không đúng trong mắt người India hay trong các dự ngôn, đã là dự ngôn do Thần lưu lại thì sức mạnh ở đây chỉ có thể là Thần.

“Khi chim ưng trống bay cao trong đêm tối, ánh nắng bình minh cũng sắp đến”, cái gì là ánh nắng bình minh? Đã là dự ngôn do Thần lưu lại thì điều đó chẳng phải là chỉ Thần hay sao? Câu này khiến người ta nhớ đến ánh chớp xuất phát từ phương đông rọi sáng cả phương tây được nhắc đến trong Cơ Đốc giáo.

Từ các căn cứ trên có thể thấy rằng, người gánh vác sứ mệnh lịch sử quan trọng trong chu kỳ văn minh nhân loại lần này chính là người da vàng, ngay cả phu nhân Jenny cũng từng nói: phương tây là điểm cuối của nhân loại, nhưng trung tâm và hy vọng của nhân loại là ở phương đông. Trong dự ngôn nói: khi chim ưng trống hạ xuống, sức mạnh sẽ trở lại trong chúng ta, ý nói vào thời gian này Thánh nhân sẽ xuất hiện (đây chính là điều mà tín đồ Cơ Đốc giáo vẫn luôn thảo luận về thời gian mà Sáng Thế Chủ đến thế gian, tức là khi ánh chớp xuất phát từ phương đông, rọi sáng cả phương tây), mà khoảng thời gian khi chim ưng trống hạ cánh xuống lại chính là thời gian mà loài hoa Ưu Đàm 3.000 năm mới nở một lần, cũng chính là thời gian mà Thánh nhân xuất hiện. Cho dù những kẻ gọi là cư sĩ hay nhân sĩ tôn giáo khoác áo tăng nhân hay mượn danh nghĩa tôn giáo mà làm loạn Pháp, làm hỗn loạn thời gian vị Phật tương lai sẽ giáng sinh hay thế nào chăng nữa, thì ở đây chúng ta vẫn có thể tìm thấy lời dự ngôn chính xác về thời gian. Trong dự ngôn cổ của người Hopi có nói, sẽ có một loại tín ngưỡng đến nơi đây, nó có thể thực sự mang đến sự thống nhất (chỉ sự xuất hiện của Cơ Đốc giáo vào 2.500 năm trước). Nếu như nó thật sự không thể, thì sẽ có một loại tín ngưỡng khác đến. Người Hopi gọi những người tin theo loại tín ngưỡng thứ hai này là ‘Bahana’. Tiếng Anh viết là ‘pahana’ hoặc ‘bahani’, ý nói người Baha. Có tư liệu nói rằng Bahana chính là anh em người da trắng thực sự của bộ lạc Hopi của người India phân tán từ thời kỳ viễn cổ, theo họ nói thì thời kỳ đó người ta đều cùng một màu da, chỉ là sau này mới dần dần biến thành bốn chủng người với màu da khác nhau. Và anh em của người da trắng đi về phương đông, sau này sẽ lại từ phương đông trở về. (Thực ra đây chính là ánh chớp đến từ phương đông mà tín đồ Cơ Đốc giáo chờ đợi – sự việc phát sinh khi chúa cứu thế Messiah đến). Nhưng Bahana lại không phải là chủng người da trắng phương tây ngày nay, người Hopi nói: “Người da trắng hiện nay tham lam chiếm hữu, cướp đoạt tài vật của chúng ta.” Khi mà người anh em thực sự của người da trắng trở về, màu da đã thay đổi, không phải là màu da trắng nữa, nhưng màu tóc vẫn giữ được màu đen. Họ còn nói, chúng ta sắp tiến nhập vào chu kỳ nhân loại mới, cần phải thay đổi những quan niệm cứng nhắc, và tuân theo những lời chỉ dạy của Thần linh (chú ý là lời chỉ dạy của Thần linh chứ không phải lời chỉ dạy của khoa học kỹ thuật).

Từ hiện tại mà xét, ánh chớp xuất phát từ phương đông và chiếu sáng phương tây mà giáo đồ Cơ Đốc giáo chờ đợi, chính là chỉ sự việc phát sinh khi sự phát triển khoa học kỹ thuật của người da trắng làm cho bốn chủng người với bốn màu da khác nhau tụ hội lại. Người Hopi còn nói chuẩn xác hơn nữa: Khi chim ưng trống hạ cánh, sức mạnh sẽ trở về bên trong chúng ta.

Dự ngôn của tộc trưởng người Hopi

“Sau sự thay đổi (thời kỳ thanh lý), cuộc sống sẽ phát sinh thay đổi. Người ta sẽ trồng trọt để lấy thức ăn, kẻ tà ác sẽ bị thanh lý sạch. Những người có tấm lòng tốt sẽ được khai mở con đường của sinh mệnh, những người tín ngưỡng trong các ngành nghề sẽ cùng đến với nhau, họ coi nhau như người một nhà”, kỳ thực quay trở lại với câu thơ trong Thôi Bối Đồ: “Hồng hoàng hắc bạch bất phân minh, đông tây nam bắc tận hòa mục.” (Đỏ vàng đen trắng không phân biệt, Đông Nam Tây Bắc cùng hòa thuận).

Dự ngôn của bộ lạc Brule Sioux

Thầy lang của của bộ lạc Brule Sioux Nation – người được mệnh danh là “Trâu đực dũng cảm”, đã đưa ra dự ngôn thế này: Căn cứ vào các sách Thánh kinh và dự ngôn, hiện giờ là thời kỳ chia sẻ trí huệ cổ xưa này. Đây là thời kỳ tịnh hóa. Chúng ta đang ở trong bước ngoặc lịch sử không cách nào quay đầu lại được.

“Chia sẻ trí huệ cổ xưa này”, nghĩa là chia sẻ trí huệ gì vậy? Trong số bốn chủng người thì những người bảo vệ đất, nước và lửa là người da đỏ, da đen và da trắng đã lần lượt chia sẻ những thành tựu của họ, đặc biệt là khoa học kỹ thuật của người da trắng – người bảo vệ lửa – đã lan rộng toàn thế giới, nhưng đây cũng đều do Thần đã an bài từ trước; duy chỉ có những chia sẻ cổ xưa của người da vàng – những người bảo vệ gió – lại thong dong đến muộn, thực ra đây cũng là màn diễn sau chót mà Thần đã an bài, vậy Thần xem trọng điều gì nhất? Đương nhiên là việc đại sự liên quan đến tu luyện, do vậy chủng người da vàng bảo vệ gió mới là những người cuối cùng chia sẻ những trí huệ cổ xưa, là hy vọng chân chính của nhân loại. Tức là điều mà phu nhân Jenny đã nói (xin nhắc lại): phương tây là điểm cuối của nhân loại, nhưng trung tâm và hy vọng của nhân loại là ở phương đông. Cho nên vùng đất Trung Quốc này từ xưa đã được lựa chọn là nơi diễn ra màn kịch cuối cùng, nên mới được gọi là Thần Châu, cũng như vậy, văn hóa của vùng đất này được gọi là văn hóa Thần truyền; bởi vì vùng đất này được Thần coi trọng nhất, vậy nên trải qua bao triều đại đã có rất nhiều vị Thần đến đây. Trên thế giới, phương tây từng xuất hiện một vị Jesus, Ấn Độ từng xuất hiện một vị Thích Ca Mâu Ni, các quốc gia này đã lưu giữ những ghi chép về họ qua hàng ngàn năm, nhưng vùng đất Thần Châu – Trung Quốc trải qua các triều đại đều có rất nhiều vị Thần giáng lâm, thậm chí nhiều không đếm xuể, cho nên vùng đất này mới được gọi là Thần Châu, hơn nữa là một Giác Giả biết được quá khứ, tương lai, Phật tổ Thích Ca Mâu Ni lẽ nào không biết sự việc này và sự an bài sự việc này từ xa xưa hay sao? Cho nên hàm nghĩa chân chính cao hơn, sâu hơn của câu nói “Trung thổ nan sinh” của Thích Ca Mâu Ni chính là chỉ Đông thổ mà ngày nay được gọi là Trung Quốc, bởi vì vùng đất này mới là nơi diễn màn diễn cuối của nền văn minh nhân loại lần này, cho nên muốn chuyển sinh vào vùng đất này từ xưa đến nay đều rất khó. Vì thế, là một nhân sỹ trong giới Phật giáo, nếu đứng trên cơ điểm của người thường để lý giải kinh Phật thì vĩnh viễn không lý giải được, bởi vì đó là lời mà Giác Giả giảng, không phải là lời mà người thường giảng, ngay cả Đạt Ma còn vì ngộ sai mà bị gọi là dùi sừng bò, huống chi những người được gọi là nhân sỹ trong giới Phật giáo ngày nay.

Liên hệ với dự ngôn của Thần theo ghi chép của người Hopi được nhắc đến ở phần đầu bài viết: “Khi các con đoàn tụ lại với nhau, các con hãy chia sẻ lại những lời dạy bảo này”. “Họ (tức là người da vàng) vào lúc này (tức là khi khoa học kỹ thuật phương tây phát triển khiến cho bốn chủng người tụ hợp lại) sẽ chia sẻ những điều này”, vậy là đã đến lúc người da vàng tu hành chuyên sâu sẽ chia sẻ về khí công và tu luyện, lại càng chứng tỏ rằng phong trào khí công Trung Quốc đã được an bài từ rất xa xưa rồi. Vì thế, Lưu Bá Ôn (nhà dự ngôn nổi tiếng cuối cùng của Trung Quốc thời cận đại) mới có thể đưa ra lời dự ngôn về sự việc này. Chính vì để thực hiện thệ ước chia sẻ trí huệ cổ xưa này, nên Trung Quốc thời cận đại mới xuất hiện phong trào khí công, xuất hiện nhiều khí công sư đến như vậy, cũng chính là điều Lưu Bá Ôn đã nói “Chúng Đạo sẽ tiến vào tu hành” , mà khi sự việc này xuất hiện, Lưu Bá Ôn đã nói “Ngài là Di Lặc nguyên đầu giáo”. Vậy mới nói, những việc đại sự xuất hiện trong nhân gian đều không phải ngẫu nhiên, mọi việc đều đã được an bài từ trước rồi, không phải việc mà ai đó nhất thời muốn làm liền có thể làm được. Có một bàn tay hoặc nhiều bàn tay to lớn vô hình đang khống chế mọi việc một cách chuẩn xác và có tuần tự, có thể nói rằng không có Thần tồn tại chăng? Nếu như thật sự không có Thần, vậy thì mọi thứ sẽ tự vận hành mà không thể dự đoán được, đặc biệt là những việc đại sự như sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của nhân loại cũng sẽ biến đổi khó lường.

81673cba142fc3643a0a74529c04db3b

Lưu Bá Ôn viết: “Không tướng tăng cũng chẳng tướng đạo, đội mũ lông cừu nặng bốn lạng. Chân Phật không ở trong tự viện, Ngài là Di Lặc nguyên đầu giáo.” (Nguồn: FalunArt.org)

Nền văn minh rộng lớn 5.000 năm của Trung Hoa cùng phát triển hài hòa với nền văn hóa Nho giáo, Thích giáo và Đạo giáo, chúng đều có thể dựa vào nhau mà tồn tại, bao dung lẫn nhau, vậy thì nguyên nhân do đâu? Thực ra đó cũng là an bài của lịch sử, đến khi phong trào khí công thịnh hành thì người ta mới biết được hai chữ “khí công” có nội hàm vô cùng rộng lớn, trên con đường đại Đạo vô hình, Phật gia hay Đạo gia đều thuộc phạm trù khí công, cho nên mới có cách nói khí công Phật gia, khí công Đạo gia. Thực ra không chỉ những thứ này, thời Trung Quốc cổ đại ngay cả Nho sinh cũng đều phải đả tọa, các Nho sinh trước khi đọc sách đều phải chú trọng tĩnh tâm điều tức, rồi mới cầm sách lên đọc; thậm chí các ngành, các nghề thời Trung Quốc cổ đại đều yêu cầu phải tĩnh tâm, điều tức. Ngay cả Địch Nhân Kiệt được mệnh danh là Thần thám trong quá trình xử án cũng phải đả tọa tịnh tâm, dò tìm từng manh mối, sau đó ý tưởng chợt lóe lên trong đầu ông và mọi chuyện được sáng tỏ, tài năng và sự công chính của Địch Nhân Kiệt không phải là sự sáng tạo nghệ thuật trong điện ảnh mà thực sự đã được ghi lại trong sử sách. Còn Trung y vì sao được mệnh danh là “Quốc túy” , vì sao Trung Quốc cổ đại có cách nói “khí công Trung y” thì ai cũng biết. Ngay cả hoàng đế cửu ngũ chí tôn cũng đều tự xưng là “long sàng đả tọa”, “thâm cung đả tọa”.

Có thể thấy rằng, sự tồn tại của khí công Trung Quốc mang theo sứ mệnh và ý nghĩa phi phàm, nó đã được an bài từ rất lâu rồi, mục đích để cuối cùng Phật tổ Di Lặc truyền Pháp trong thế tục, đi theo con đường đại Đạo vô hình, cứu độ tất cả chúng sinh mà đặt định cơ sở và trải sẵn con đường, đây chính là hàm nghĩa to lớn của “Phật Pháp vô biên”, cũng chính là điều mà Lưu Bá Ôn nói: “Không tướng tăng cũng chẳng tướng đạo, đội mũ lông cừu nặng bốn lạng. Chân Phật không ở trong tự viện, Ngài là Di Lặc nguyên đầu giáo.”

Thực ra, các cao nhân thời cổ đại đều biết rằng Phật Di Lặc sẽ đem theo Pháp Luân mà đến, một bức tượng Phật Di Lặc ngồi trên Pháp Luân ở Thiên Tâm Nham tại Trung Quốc chính là sự điểm ngộ cho con người thế gian đang ở trong mê.

Người ta đều ôm giữ một quan niệm rằng Phật càng cổ xưa thì mới có tầng thứ càng cao, mới là Phật thật, thực ra chư vị có biết được người thời xưa đó họ đối đãi như thế nào với người mà chư vị coi là Phật thật không? Kỳ thực, Phật dù có cổ xưa thế nào thì khi đến nhân gian Ông đều triển hiện dưới hình tượng con người thời đó, cho nên những người chỉ coi trọng biểu hiện bề ngoài thì vĩnh viễn sẽ chỉ coi Ông như một người bình thường: là ông chú nhà hàng xóm, là đứa trẻ con nhà bên cạnh, là đồng nghiệp hay một người qua đường. Cho nên mới thường xảy ra việc những lời giáo huấn của Ông bị con người thời đó coi nhẹ hoặc thậm chí phá hoại, từ đó khiến nhiều người bỏ lỡ Phật duyên, trở thành “sự hậu Gia Cát Lượng” (sự việc xảy ra rồi mới bình luận, đánh giá). Sự việc xảy ra rồi mới bình luận, đánh giá thì dễ, còn tiên đoán trước được sự việc như Gia Cát Lượng thì mới thực sự khó. Khi Lão Tử ra đi, chỉ có Doãn Hỷ với con mắt huệ nhãn mới nhận ra chân nhân; khi Thích Ca Mâu Ni tại thế, người anh em họ của Ngài đã kéo bè kết đảng phản bội Ngài, bởi vì người anh em họ của Ngài cho rằng: “Thích Ca Mâu Ni và tôi hàng ngày đều ở cùng nhau, ông ta cũng chỉ có chút khả năng đó thôi, ông ta có gì giỏi đâu cơ chứ!” Khi Jesus còn sống, chẳng phải cũng bị những người cùng quê gọi một cách khinh thường là “đứa con của thợ mộc” hay sao? Nhiên Đăng Cổ Phật cũng vậy, Già Diệp Phật cũng vậy, khi họ đến nhân gian con người đều không nhận ra họ, chỉ bằng lý tính và trí huệ mới ngộ ra được! Những người bị tình cảm khống chế mất đi lý trí, thì dù có vạn Phật xuất thế, họ sao có thể phân biệt và nhận ra được?

Rất nhiều giáo đồ Cơ Đốc giáo đang đợi chờ Jesus đến, nhưng nếu Jesus thật sự đến thì có bao nhiêu giáo đồ Cơ Đốc giáo có thể nhận ra Ông? Có bao nhiêu giáo đồ dám nói mình từng nhìn thấy Jesus, rằng họ vừa nhìn là có thể nhận ra Ông? Còn giáo đồ Phật giáo thì càng không thể nào biết được hình dáng năm xưa của Phật Thích Ca Mâu Ni ra sao, (có lẽ người có đại thần thông có thể biết được), nếu như hiện giờ Phật Thích Ca Mâu Ni đến thế gian thì họ cũng không thể nhận ra được, cho nên mới cần ngộ. Nguyên nhân là từ xưa đến nay, bất kể Giác Giả nào đến nhân gian cũng đều xuất hiện dưới hình dạng con người, chứ không như con người vẫn tưởng tượng là họ cưỡi mây lướt gió mà đến, nếu mà như vậy, có lẽ khi chúng ta vô tình ngẩng đầu lên cũng có thể nhìn thấy các vị Thần tiên trên không trung.

Thật ra khí công chính là tu hành, vì vậy Trung Quốc từ thời cổ đại đã xuất hiện nhiều nhân vật mang màu sắc thần thoại, thần kỳ như vậy, vùng đất này mới được gọi là Thần Châu. Ngày nay vùng đất Thần Châu bị cường đạo chiếm cứ, nhưng chắc chắn chúng không thể chiếm cứ lâu dài, vùng đất này cuối cùng tất yếu sẽ quay trở lại với Thần.

Dịch từ: http://www.zhengjian.org/2015/02/11/142847.中国气功背后的巨大天机.html

Ngày đăng: 31-07-2015

Các vị thần Trung Quốc – Wikipedia tiếng Việt

 

Tên ThầnTên hiệu đầy đủTên hiệu khácKinh điểnNguồn gốcGhi chúBích Hà Nguyên QuânĐông Nhạc Thái Sơn Thiên tiên Ngọc nữ Bích Hà Nguyên QuânThái Sơn Nương nương
Thái Sơn lão nãi nãi
Thái Sơn lão mẫu
Thái Sơn Thánh mẫu
Vạn Sơn nãi nãi

 

Đạo giáoLà nữ thần cai quản Đông nhạc Thái sơn, một trong Ngũ nhạc

Bào Cô

 

Tiềm Quang

 

Là vị nữ thần y dưới thời Đông Tấn

Bách Hoa Tiên tử

 

Kính hoa duyên

 

Em gái Ngọc Hoàng

Thường NgaThái Âm Tinh quân (Đạo giáo)
Nguyệt cung Hoàng hoa Tố diệu Nguyên tinh Thánh hậu Thái Âm Nguyên quân (Đạo giáo)
Nguyệt cung Thái Âm Hoàng quân Hiếu đạo Minh vương (Đạo giáo)Hằng NgaHằng Nga bôn nguyệt

 

 

Tào NgaLinh Hiếu phu nhân (Tống Đại Quán thứ 4 – 1110)
Phong Phúc Ứng phu nhân (Gia Khánh thứ 13 – 1808)
Linh Cảm phu nhân (Đồng Trị thứ 4 – 1865)

 

Tào Nga khóc chaTào Nga sinh 130 mất 143

Hậu Thổ

 

Kinh thư

 

là vị thần cai trị toàn bộ đất đai, không quản lý thổ thần

Cửu Thiên Huyền Nữ

 

Cửu Thiên Huyền mỗ
Cửu Thiên Huyền nữ nương nương
Cửu Thiên Nương nươngKinh Thi

 

 

Lý NgaLô Thần Cô

 

 

Li Sơn Lão Mẫu

 

Lê Sơn Lão MẫuThái Bình Quảng Ký
Tây Du Ký

 

Là nữ thần cai quản Lệ Sơn

Lý TúMinh Huệ Phu nhân

 

Là vị nữ tướng, con gái của Lý Nghị, một vị tướng Tây Tấn. Đã tham gia đánh trận được nhân dân truy phong thần

Ma TổThiên Hậu Thánh mẫuThiên Thượng Thánh mẫu
Thiên Hậu
Thiên Hậu nương nương
Thiên Phi
Thiên Phi Nương nương
Mi Châu Nương Ma

 

 

Ma Cô

 

Là nữ thần trường thọ trong truyền thuyết cổ đại Trung QuốcLà một trong Hạ Bát động Thần tiên (下八洞神仙)

Nữ BạtXích Thủy Nữ Tử Hiến

 

Con gái Hoàng Đế có công trị hạn hán được phong thần

Thượng Nguyên Phu Nhân

 

A Hoàn

 

Nữ tiên hàng đầu Đạo giáo

Tôn Hàn Hoa

 

 

Thủy Mẫu Nương Nương

 

Tấn Từ Thánh Mẫu

 

Là nữ thần coi sóc việc thủy lợi và vận tải thủy của Trung Quốc

Tam Thánh MẫuTam Thánh Công chúaHoa Nhạc Tam Nương
Hoa Nhạc Thánh Mẫu
Hoa Nhạc Thần nữ
Ngọc Hoàng Tam Công Chủ
Thiên Công Nữ Nhi

 

Bảo Liên Đăng

Tây Vương MẫuThượng Thánh Bạch Ngọc Quân Đài Linh Thái Chân Vô Cực Thánh Mẫu Dao Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Vô Thượng Thanh Linh Nguyên Quân Thống Ngự Quần tiên Đại Thiên tônTây Vương Kim Mẫu
Vương Mẫu Nương nương
Dao Trì Kim Mẫu
Kim Mẫu Nguyên Quân
Tây Linh Vương Mẫu
Cửu Linh Thái Diệu Quy Sơn Kim Mẫu
Tây Trì Cực Lạc Kim Từ Thánh Mẫu
Bạch Ngọc Quân Đài Cửu Linh Thái Chân Kim Mẫu Nguyên Quân

 

 

Trương Ngọc Lan

 

 

Chư Cát Quả

 

Con gái Gia Cát Lượng

Thất Tiên Nữ

 

Thất Tiên Cô
Thất Tiên Nga
Thất Y Tiên Nữ

 

Tây Du KýLà bảy vị tiên nữ

Hà Tiên Cô

 

Là một trong Trung Bát Động Thần Tiên

Thái Nguyên Ngọc Nữ

 

Thái Nguyên Thánh Mẫu

 

Đạo giáoLà vợ của Nguyên Thủy Thiên Vương, con của Tây Vương Mẫu và Đông Vương Công

Nữ Oa

 

Nữ Oa Thị
Nữ Hi Thị
Nữ Oa Nương nươngNữ Oa vá trời

 

Là em gái đồng thời cũng là vợ của Phục Hy

Luy Tổ

 

Tây Lăng ThịLuy Tổ thủy tằm

 

 

Mạnh Bà

 

Cháo Mạnh Bà

 

 

Phong Di

 

Phong Gia Di

 

Nữ thần gió

Thiếu Tư lệnh

 

Cửu ca

 

Là vợ của Khuất Nguyên

Thường Hi

 

Thường Nghi
Thượng Nghi

 

Mẹ mười hai mặt trăng

Tướng Lưu Á Châu bàn về văn hóa Trung Quốc

 

Print Friendly, PDF & Email

 width=

Biên dịch và chú thích: Nguyễn Hải Hoành

Ngày nay Trung Quốc đang tiến những bước dài, đồng thời cũng để lộ ra không ít vấn đề. Tất cả mọi vấn đề đều hướng về chế độ, mà mọi vấn đề về chế độ đều hướng về văn hóa, song tất cả mọi vấn đề văn hóa đều hướng vào tôn giáo.

Tôn giáo quyết định văn hóa mà văn hóa thì quyết định tính cách dân tộc; tính cách dân tộc lại quyết định số phận dân tộc.

Xin nêu thí dụ chống tham nhũng. Trừng trị tham nhũng không thể diệt được tận gốc nạn tham nhũng. Có một biện pháp là hoàn thiện chế độ xã hội, mà phương pháp căn bản là bắt tay từ văn hóa. Thí dụ biện pháp “Lương cao nuôi dưỡng sự liêm khiết”. Ở Trung Quốc lương cao chưa chắc đã có thể nuôi dưỡng được sự liêm khiết. Tại sao thế?

Văn hóa Trung Quốc có màu sắc “văn hóa gia đình” rất nặng. Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại [Trong 3 điều bất hiếu, điều lớn nhất là không có con nối dõi]. Càng nhiều con cháu càng lắm phúc. Đời cha nhất định phải để dành tiền của cho con cháu. Điều này khác hẳn văn hóa phương Tây. Những kẻ làm cha như chúng ta, lương bổng bản thân có cao đến đâu cũng vẫn muốn để dành cho con, bởi thế người ta vẫn cứ tham. Đây cũng là một nguyên nhân hình thành “văn hóa hối lộ” trong quan trường Trung Quốc.

Sự hình thành văn hóa Trung Quốc có 3 nhân tố chủ yếu: thứ nhất là hoàn cảnh sinh tồn; thứ hai là tôn giáo; thứ ba là chính sách ngu dân.

1. Hoàn cảnh sinh tồn

Từ xưa tới nay, số dân trên mảnh đất Trung Quốc này đều nhiều hơn châu Âu. Đàn bà Trung Quốc bị “văn hóa gia đình” biến thành máy đẻ.

Châu Âu có diện tích bình quân đất đai trên đầu người cao hơn Trung Quốc rất nhiều thế mà họ vẫn cảm thấy chật hẹp, không thở hít được nữa, phải khai thác vùng đất mới, bởi thế mà có việc khám phá các đại lục mới.

Người Trung Quốc thì tranh đấu trong hoàn cảnh ác liệt này. Phép sinh tồn rất khắc nghiệt. Nhưng khi nói về hình thành văn hóa mà chỉ nhấn mạnh hoàn cảnh là chưa đủ. Hoàn cảnh xấu tạo nên một loại văn hóa không thành công; hoàn cảnh tốt cũng vẫn có thể tạo dựng nên một loại văn hóa không thành công. Cần xem xét văn hóa Trung Quốc từ hai mặt. Từ xưa Trung Quốc đã có thảm thực vật rất tốt, khắp nơi là rừng. Vùng Sơn Tây có nhiều than đá như thế chứng tỏ thời cổ rừng ở đấy rất tốt. Do có quá nhiều rừng nên người ta chẳng cần đi quá xa nơi ở cũng có thể kiếm được gỗ, vì vậy người ta dùng gỗ để làm nhà, vừa đơn giản vừa đỡ mất công. Lâu ngày kiến trúc Trung Quốc bèn trở thành kiến trúc có hình thức kết cấu thổ mộc.

Khi tiến sang thời đại văn minh, các dân tộc châu Âu có môi trường ác liệt hơn Trung Quốc rất nhiều: ít rừng, lắm đá. Muốn làm nhà, họ chỉ có cách lấy đá trên núi mà làm. Lâu ngày nền kiến trúc phương Tây trở thành kiến trúc gạch đá. Qua nhiều nghìn năm, rừng của chúng ta bị đốn hết, các kiến trúc thổ mộc sụp đổ. Kiến trúc kết cấu gạch đá của phương Tây thì giữ lại được, rừng của họ cũng giữ được. Tại Ý, hiện nay vẫn thấy các kiến trúc có từ hai nghìn năm trước, tương đương đời nhà Tần nhà Hán. Tại Trung Quốc hiện nay cả đến kiến trúc đời nhà Minh cũng hiếm thấy.

2. Tôn giáo

Trung Quốc có ba tôn giáo chính là Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo (tôi gọi Nho học là một loại tôn giáo). Ba tôn giáo này có trách nhiệm không thể thoái thác đối với với sự hình thành trạng thái tâm lý và đạo đức ngày nay của người Trung Quốc. Lịch sử cho thấy ba tôn giáo trên căn bản không thể chấn hưng được dân tộc Trung Hoa.

Xin để tôi so sánh đối chiếu Ki Tô giáo với tôn giáo của Trung Quốc.

Văn hóa Trung Quốc dạy chúng ta “Nhân chi sơ, tính bản thiện” [con người lúc mới ra đời có bản tính lương thiện]. Tôn giáo của phương Tây thì ngược lại, cho rằng con người sinh ra đã là xấu [nguyên văn chữ Hán: ác], bản tính con người cũng xấu. Bởi vậy, tôn giáo phải hạn chế anh, bắt anh suy ngẫm về chính mình. Văn hóa phương Tây cho rằng loài người có tội tổ tông [Sáng Thế Ký trong Cựu ước chép chuyện thủy tổ đầu tiên của loài người là ông Adam và bà Eva không nghe lời răn của Thượng Đế, đã ăn vụng trái cấm, tức đã phạm tội]. Lòng người đen tối.

Trong số các đồng chí có người đã trải qua “Cách mạng Văn hóa”, xin hỏi cái đen tối nhất ở đâu? Cái đen tối nhất thì ở trong lòng người [Trong Cách mạng Văn hóa, vì để chứng tỏ sự trung thành với “minh chủ”, nhiều người Trung Quốc đã phạm những tội lỗi đạo đức khó có thể tưởng tượng, thí dụ bắn giết nhau, hành hạ thể xác và tinh thần vô cùng dã man chính bạn bè, đồng chí, đồng đội, đồng sự của mình; vợ từ bỏ chồng, con từ bỏ cha chỉ vì chồng, cha bị vu cáo là chống Đảng; có Hồng Vệ Binh cắt họng đồng chí mình dám nói sự thật…]. Tâm hồn mỗi người đều có mặt vô cùng bẩn thỉu. Văn hóa phương Tây mổ xẻ, hé lộ nó ra, trưng nó ra. Phê phán nó, kiềm chế nó. Văn hóa phương Đông thì ôm ấp nó, nuôi dưỡng nó. Nhà thờ ở phương Tây có phòng xưng tội [nguyên văn: sám hối]. Người ta vào nhà thờ trình bày với thánh thần các thứ trong tâm hồn mình.

Nói cho thần thánh nghe mọi cái xấu xa bẩn thỉu của mình thì người ta thấy nhẹ nhõm. Tâm hồn người ta được rửa sạch. Hồi sang Mỹ tôi có vào nhà thờ ngồi hẳn một ngày trời. Tôi phát hiện thấy một cảnh rất thú vị: mọi người ai nấy khi vào nhà thờ thì mặt mày ủ ê, khi đi ra thì sắc mặt thư thái nhẹ nhõm. Về sau tôi mới dần dà hiểu được bí quyết của chuyện ấy. Lâu ngày, người ta trở thành thành con người lành mạnh, con người có tâm trạng và tâm hồn đặc biệt kiện toàn. Con người ai cũng có ham muốn. Nhưng người ta phải kiềm chế ham muốn của mình, ai nấy ắt phải tự mình (chứ không phải người khác) kiềm chế bản thân.

Người Trung Quốc không biết kiềm chế mình, không biết tra khảo bản thân, thế là người ta đi kiềm chế kẻ khác, tra khảo kẻ khác. Quất roi và tra khảo bản thân là chuyện đau khổ. Chỉ khi nào trong lòng mình mãi mãi có tín ngưỡng, có tín ngưỡng vĩnh hằng với thần thánh, thì mới có thể làm được như thế.

Rất nhiều đồng chí đã đi thăm nhà thờ ở phương Tây. Ở đấy thánh thần xuất hiện với hình ảnh đầm đìa máu, chịu khổ chịu nạn. Jesus bị đóng đinh trên giá chữ thập. Đức Mẹ không đổ máu nhưng rơi lệ. Đấy thực sự là hóa thân của con người, là hóa thân của sự khổ nạn và tư tưởng của con người. Thần thánh trong tôn giáo phương Tây nhìn vào tựa như thần thánh, thực ra là con người. Cái chết của Jesus đã hoàn tất việc ngài lột xác từ thánh thần thành con người. Chỉ con người mới chết.

Nhưng thánh thần trong các đền miếu của Trung Quốc thì mới là thánh thần. Bạn hãy xem hình ảnh các vị thần thánh ấy: bụng chảy xệ, nét mặt chẳng lo nghĩ gì sất, nhăn nhở cười cợt, thụ hưởng của thờ cúng. Vị nào vị ấy ăn đến béo rụt đầu rụt cổ.

Người phương Tây đến nhà thờ là để sám hối. Chúng ta đi đền đi chùa là để hối lộ. Chẳng phải thế hay sao? Vì muốn làm được một chuyện gì đây, chúng ta khấn vái thần thánh, bỏ tiền mua mấy nén hương thắp lên hoặc bày lên mâm những thứ dân gian thường ăn như trái cây gì gì đó, rồi im lặng cầu nguyện. Như thế chẳng phải hối lộ thì là gì?

Người phương Tây đến nhà thờ để giải thoát nỗi khổ về tinh thần. Chúng ta lên đền chùa để giải quyết nỗi khổ trong đời sống thực tế. Thần thánh trong tôn giáo phương Tây luôn luôn chịu khổ còn nhân dân thì không chịu khổ. Thần thánh trong tôn giáo phương Đông thì hưởng thụ, còn dân chúng thì chịu khổ. Đây là khác biệt lớn nhất giữa tôn giáo phương Đông với phương Tây.

Ở nước ngoài, nhà thờ bao giờ cũng xây dựng tại trung tâm đô thị, gần gũi với dân. Đền chùa Trung Quốc thì bao giờ cũng xây dựng trong rừng sâu núi cao, xa rời dân. Tôi từng nói người Trung Quốc về cơ bản là một dân tộc không có tín ngưỡng. Nói không có tín ngưỡng không phải là không có hình thức tín ngưỡng. Ngược lại, những thứ người Trung Quốc tín ngưỡng thì phức tạp nhất, người ta tin cả các đại sư khí công. Cái quái gì cũng tin lại chính là chẳng tin cái gì hết. Trong lòng người Trung Quốc không có vị trí của một vị thần thánh vĩnh hằng. Nói sâu một chút, tức là chẳng có sự mưu cầu theo đuổi tinh thần văn hóa có tính tận cùng! Loại người đó không mở rộng phạm vi quan tâm của mình ra tới bên ngoài gia đình, thậm chí cá nhân. Nếu mở rộng sự quan tâm ấy ra thì nhất định sẽ là làm hại kẻ khác. Một dân tộc như vậy sao lại không “năm bè bảy mảng” kia chứ?

Tại phương Tây, khi trên đường có một chiếc xe hỏng thì hầu như tất cả các xe khác đều dừng lại, người ta đến hỏi anh có cần giúp đỡ gì không. Tại Trung Quốc thì hầu hết xe đều bỏ đi, khó khăn lắm mới có người dừng xe hỏi anh, có lẽ tôi còn ngờ vực, anh làm gì thế? Anh có mục đích gì.

Phương Tây đã thắng trong cuộc cạnh tranh với phương Đông cả nghìn năm nay. Tôn giáo phương Tây đã thắng trong cuộc cạnh tranh với tôn giáo phương Đông. Thắng lợi của tôn giáo là thắng lợi thế nào? Tôi cho rằng đó là một loại thắng lợi về tinh thần. Không có tín ngưỡng thì không có sức mạnh tinh thần. Cái chúng ta thiếu lại chính là cái người ta có.

Hãy nói về chuyện xây đền chùa. Phương Tây khi xây đền chùa thường là bạt hẳn một quả đồi. Đó là một kiểu khí thế, một kiểu dũng khí đấu tranh với thiên nhiên. Người Trung Quốc xây đền chùa thường hay xây trong núi sâu. Xem ra là hòa nhập cùng núi rừng thành một khối, trên thực tế là một kiểu đầu cơ. Có một bức tranh cổ tên là Ngôi chùa cổ trong núi sâu, rất nổi tiếng, nhưng nhìn vào tranh chẳng thấy một bức tường hay một viên ngói nào cả. Bức tranh vẽ gì vậy? Một lối mòn chạy giữa hai quả núi, một nhà sư quẩy đôi thùng đi gánh nước. Rốt cuộc bức họa có ý gì? Là nói ngôi chùa cổ trong núi sâu, chùa và núi hòa làm một với nhau. Chúng ta khẳng định rằng ý của bức họa rất khôn khéo.

Người Trung Quốc có tâm lý đầu cơ rất nặng, ai cũng chỉ muốn không làm mà hưởng. Ngày nay, trong thời đại cải cách mở cửa, có biết bao nhiêu người lao vào biển thương mại, ai nấy đều nghĩ “Ngày mai đến lượt mình [làm giàu] rồi”, Họ muốn làm cái bộ phận “Để một số người giàu lên trước” ấy. Sau nhiều năm được giáo dục “Vì nhân dân phục vụ” mà họ lại đều muốn trở thành đối tượng được phục vụ.

Người Trung Quốc trước đời Tần thì không như thế. Sau đời Hán, đặc biệt sau khi Lưu Triệt [tức Hán Vũ Đế, 156-87 trước CN] độc tôn Nho thuật [tức Nho học, Nho giáo] thì người Trung Quốc đã thay đổi.

Tôi rất thích đọc bộ Sử ký [của Tư Mã Thiên]. Đọc hết sách này mà chẳng thấy có đoạn nào viết về những kẻ phản bội. Ngày nay chúng ta có biết bao nhiêu kẻ phản bội! Thời xưa có rất ít kẻ cáo giác. Thời nay thì khắp nơi đều có!

Chính ủy Đại học công trình không quân Vương Hồng Sinh đến thăm tôi. Hồi ở Ban chính trị không quân, anh ấy và tôi là chiến hữu với nhau. Hai chúng tôi nhắc đến một chuyện thế này: đơn vị Vương Hồng Sinh có một anh cán sự, là người được lãnh đạo rất coi trọng. Một đồng sự của anh ta ngủ với gái; vị cán sự ấy bèn vác ghế đến ngồi lỳ tận nửa đêm ngoài cửa nhà người đồng sự, cho tới lúc bắt được hai người kia hủ hóa với nhau. Anh cán sự được biểu dương. Tôi than thở căm tức mãi không thôi. Tôi bảo: sức mạnh nào đã chi phối anh ta ngồi trong bóng đêm lâu đến thế? Tuyệt đối là một loại ý thức phạm tội.

Thời xưa, Bảo Định, Dịch Thủy là nơi sinh ra những Kinh Kha, Cao Tiệm Ly, Điền Quang, Phàn Ư Kỳ [bốn nhân vật anh hùng nổi tiếng trong vụ ám sát không thành Tần Thủy Hoàng]. “Gió vù vù, hề, sông Dịch lạnh ghê, Tráng sĩ một đi, hề, không trở về” [câu thơ Kinh Kha cảm tác khi qua sông Dịch trên đường đi mưu sát Tần Thuỷ Hoàng]. Trong kháng chiến chống Nhật, phủ Bảo Định có nhiều Hán gian [nguyên văn: Nhị cẩu tử, tên thời trước gọi cảnh sát] nhất. Hồi làm ở Hội Nhà văn tôi có đến Bảo Định sưu tầm dân ca. Một ông nông dân hát cho tôi nghe một bài ca ngày xưa: “Năm ấy giặc Nhật đến làng, chúng tôi vác súng đi lính…… ” Về sau tôi mới biết ông ta đi lính gì. Lính ngụy.

Ở nước ngoài không phải là không có kẻ phản bội, nhưng ít hơn nhiều so với Trung Quốc. Sức mạnh nào đã tác động đến người ta? Sức mạnh tinh thần.

Năm 1986 tôi sang Mỹ. Đêm khuya ra đường, đèn tín hiệu giao thông bật đỏ, chẳng thấy chiếc xe nào chạy cả, tất cả xe đều tự động dừng lại ở ngã tư. Tôi không hiểu, bảo người Mỹ sao mà ngốc thế nhỉ. Về sau tôi mới biết đấy là sự tự kiềm chế của họ. Kiềm chế bản thân là cứu vớt tâm hồn. Việc nhỏ đã thế, việc lớn lại càng thế.

Người Nhật nói, trận địa Trung Quốc rất dễ bị chọc thủng. Lê Minh [triết gia Trung Quốc đương đại nổi tiếng là “khùng”, tác giả sách “Vì sao người TQ ngu thế?”] nói rất hay: “Tôn giáo Trung Quốc biến dân chúng thành bầy cừu”.

Đều là cố thủ trận địa, người phương Tây tuy cũng sợ nhưng họ có thể kiềm chế bản thân. Chúng ta thì sao? Trước hết là mong người khác làm bia đỡ đạn. Thấy người khác bỏ chạy thì nghĩ, vì sao mày chuồn? Tao cũng chuồn. Mày đi lính ngụy no nê cơm rượu, tao cũng đi. Mày tham ô, tao cũng tham ô. Tao không chịu kém mày. Tại các nước phương Tây không phải không có chuyện ăn hối lộ nhưng nhìn chung ít hơn chúng ta. Khi nhận hối lộ, lương tâm và tinh thần người ta sẽ ràng buộc họ.

Phó Chủ tịch Trì Hạo Điền [Thượng tướng, sinh 1929, thời gian 1998-2003 làm Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc] có kể một chuyện để lại ấn tượng rất sâu sắc đối với tôi. Ông kể, trong thời kỳ chống Nhật vùng căn cứ địa Giao Đông có bảy tám tên lính Nhật vác cờ mặt trời [tức quốc kỳ Nhật] đi càn, ba bốn chục nghìn quân dân căn cứ địa bỏ chạy hết. Sói đuổi cừu mà.

Trên xe buýt một cô gái bị cướp, xe đầy ắp người mà chẳng ai ho he. Cô gái xúc động thốt lên: “Cha tôi kể năm xưa một tên giặc Nhật cai quản cả một huyện của chúng ta. Ngày ấy tôi không tin, bây giờ thì tin rồi”.

Hồi “Cách mạng văn hóa”, ga xe lửa lúc nào cũng đông nghịt. Khi tàu đến, người ta chen nhau ùa vào ga lên tàu. Một cô nhân viên soát vé nói: Các ông bà người đông thế này, một đứa con gái như tôi không thể nào giữ được ai, mà tôi cũng chẳng muốn làm thế. Bắt giữ ai nào? Giữ người đầu tiên chen vào. Thế là ai nấy ngoan ngoãn xếp hàng.

3. Kẻ thống trị các thời kỳ trước kia thực hành chính sách ngu dân

Tôn giáo Trung Quốc có mấy loại, tuy khác nhau về tư tưởng nhưng trên mặt chủ nghĩa chống hiểu biết hoặc chủ trương ngu dân thì đều như nhau. Chính vì thế mà tôn giáo mới được tầng lớp thống trị coi trọng. Dưới sự giáp công của văn hóa tôn giáo và chính sách ngu dân của bọn thống trị, người Trung Quốc hình thành quần thể như ngày nay. Người Trung Quốc giỏi nhất về chuyện ca tụng công đức, thứ nhì là tố giác, thứ ba là giở thủ đoạn, cuối cùng là khôn ngoan bo bo giữ mình [nguyên văn: minh triết bảo thân].

Người Mãn Thanh thống trị Trung Quốc thành công nhất. Họ hiểu rõ đặc tính quan trường của người Trung Quốc: dốc lòng trung thành với cá nhân, không trung thành với nhà nước. Ai có vú thì người ấy là mẹ [Ai có sữa cho bú thì nhận người ấy làm mẹ. Ý nói vì tham lợi mà vong ân bội nghĩa, ai cho mình quyền lợi thì theo người đó].

Trong việc thống trị ba dân tộc Hán, Mông, Tạng ở Trung Quốc, người Mãn Châu nhằm vào các đặc điểm khác nhau của ba dân tộc này để sử dụng những mánh khóe khác nhau. Người Tây Tạng tin Phật Giáo, triều đình nhà Thanh cho dựng ngay tại Thừa Đức [1 trong 10 địa điểm danh lam thắng cảnh nổi tiếng nhất Trung Quốc, cách Bắc Kinh 180 km] một ngôi chùa phỏng theo kiểu chùa Tây Tạng, đón Lạt Ma về kinh đô làm ông lớn. Người Mông Cổ nhanh nhẹn dũng mãnh thì dùng thủ đoạn hôn nhân, gả con gái hoàng tộc cho vương công Mông Cổ. Mày đẻ ra con trai thì nó là cháu ngoại tao. Đối với người Hán thì dùng khoa cử. Người Hán có tật thích làm quan. Chỉ cần cho mày làm quan, tựa như quẳng khúc xương cho con chó, là mày cúi đầu cụp tai ngoan ngoãn nghe theo.

Hồi tôi sang Mỹ, thầy hướng dẫn tôi là người chuyên nghiên cứu về Mao Trạch Đông. Ông ấy cho rằng trong đời mình, Mao Trạch Đông tổng cộng làm được 31 việc:

1- Năm 1921 vào Đảng; 2- Năm 1925 chuyển sang theo nông dân; 3- Năm 1923-1927 vào Quốc dân đảng; 4- Năm 1928 xây dựng căn cứ địa ở nông thôn; 5- Xây dựng Khu Xô-viết Giang Tô; 6- Sự kiện Phú Điền [sự kiện nội bộ đảng CSTQ thanh trừng giết nhầm nhiều cán bộ của đảng năm 1930 tại căn cứ địa Phú Điền tỉnh Giang Tô]; 7- Năm 1925 đi Trường chinh; 8- Hội nghị Tuân Nghĩa [hội nghị mở rộng Bộ chính trị ĐCSTQ họp tháng 1/1935 tại Tuân Nghĩa tỉnh Quý Châu, xác lập quyền lãnh đạo của Mao Trạch Đông; được coi là bước ngoặt của cách mạng Trung Quốc]; 9- Tranh giành quyền lãnh đạo Đảng CSTQ với Trương Quốc Đào; 10- Năm 1937 hợp tác với Quốc dân đảng; 11- Kết hôn với Giang Thanh; 12- Chỉnh phong ở Diên An; 13- Đại hội VII xác lập tư tưởng Mao Trạch Đông; 14- Giành chính quyền trên cả nước; 15- Tiến hành cải cách ruộng đất; 16- Năm 1950 tham gia cuộc chiến tranh Triều Tiên; 17- Sự kiện Cao Cương [nguyên Phó Chủ tịch nước CHND Trung Hoa; năm 1954 bị kết tội chia rẽ đảng, bị kỷ luật, tự tử chết 1954]; 18- Tam phản ngũ phản [hai phong trào trong thời gian cuối 1951 đến 10/1952. Tam phản: chống tham ô, lãng phí và quan liêu; Ngũ phản: trong ngành công thương nghiệp tư doanh chống hối lộ, trốn thuế và lậu thuế, lấy cắp tài sản nhà nước, làm ăn gian dối, đánh cắp tình báo kinh tế]; 19- Công tư hợp doanh và hợp tác xã nông nghiệp; 20- Chống phái hữu; 21- Đại Nhảy vọt; 22- Hội nghị Lư Sơn [hội nghị mở rộng Bộ chính trị và hội nghị lần 8 trung ương ĐCSTQ, cách chức Bộ trưởng Quốc phòng của Bành Đức Hoài]; 23- Cắt đứt quan hệ với Liên Xô; 24- Chuẩn bị đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ; 25- Phát động cách mạng văn hóa; 26- Giúp Việt Nam chống Mỹ; 27- Xác định Lâm Bưu là người kế vị; 28- Tan băng quan hệ với Mỹ; 29- Nâng đỡ Nhóm Bốn Tên; 30- Đánh đổ Đặng Tiểu Bình; 31- Bố trí Hoa Quốc Phong làm người kế vị.

Tôi nghiên cứu kỹ 31 sự việc này, phát hiện thấy trong đó có 20 sự việc liên quan tới hủy hoại tinh thần và đạo đức con người. Đến năm 1966, cuối cùng Mao Trạch Đông phát động cuộc Cách mạng Văn hóa chưa từng có trong lịch sử, làm cho kinh tế Trung Quốc đi tới bờ vực sụp đổ, càng làm cho phẩm chất đạo đức của nhân dân toàn quốc hạ thấp xuống tới mức đáng sợ, nhà nước mấy lần sa vào tình cảnh muôn đời không phục hồi được.

Tinh thần là cái gốc lập mệnh của mỗi con người, là cái gốc lớn mạnh của một dân tộc, cái gốc sinh tồn của một quốc gia. Cái gì cũng có thể không có nhưng tinh thần thì không thể không có.

Cách đây ít lâu khi xuống sư đoàn 33 Không quân, tôi có đến thăm trại tập trung Tra Tử Động. Nhiều liệt sĩ như Chị Giang [tên thân mật gọi Giang Trúc Quân, nữ liệt sĩ cách mạng Trung Quốc, 1920-1949] đã hy sinh tại đây. Hồi ấy nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã thành lập. Chị Giang đang ở trong tù mà vẫn thêu một lá cờ đỏ năm sao. Chị chưa biết mẫu của cờ đỏ năm sao như thế nào, cho nên đã thêu ngôi sao lớn nhất vào chính giữa lá cờ, 4 ngôi sao nhỏ ở 4 góc. Khi bọn Quốc dân đảng chuẩn bị làm cuộc đại tàn sát tù nhân thì Quân Giải phóng đã tiến tới gần Bạch Thị Dịch. Đội du kích Hoa Doanh Sơn bắt được liên lạc với Quân đoàn 47. Đội du kích nói: Các đồng chí mau tiến quân đi, trại tập trung Tra Tử Động sắp hành quyết các chính trị phạm. Nhưng Quân Giải phóng cho rằng đội viên du kích Hoa Doanh Sơn là tên lừa đảo, có thể là bẫy kẻ địch cài, cho nên họ không hành động. Kết quả là cuộc tàn sát bắt đầu. Các liệt sĩ hiên ngang đi tới chỗ chết.

Có người nói, thật đáng tiếc, các liệt sĩ ấy đã không nhìn thấy nước Trung Quốc Mới. Mục tiêu phấn đấu mà họ theo đuổi sắp được thực hiện thế mà họ lại không được nhìn thấy.

Tôi bảo anh nhầm rồi. Nói thực lòng, họ vô cùng hạnh phúc. Tín ngưỡng trong lòng họ sắp được thực hiện, chết vào lúc đó không phải là nỗi đau mà là một niềm hạnh phúc. Những người còn sống sót mới thực sự đau khổ. Họ nhìn thấy nước Cộng hòa nhân dân được thành lập, sau đó là các phong trào chống phái hữu, tam phản ngũ phản, “Cách mạng Văn hóa”, những người bị cái đảng mà mình hiến dâng tính mạng hành hạ mình chết đi sống lại ấy mới là những người đau khổ nhất. Chết, chết không được. Sống, sống không thành. Cuối cùng để mất niềm tin và tín ngưỡng, chẳng khác gì cái thây ma biết đi.

Đảng viên cộng sản mất tín ngưỡng thì là cái gì? Hãy nhìn bọn quan tham nhũng hiện nay thì khắc rõ. Bọn chúng tên nào cũng sợ chết, quan càng to càng sợ chết. Thứ trưởng Bộ Công an Lý Kỷ Châu khi bị bắt còn hung hăng lắm. Hắn nói: “Nếu tôi có vấn đề thì phải đem chém đầu một nửa Bộ Chính trị !” Đến lúc chuẩn bị đưa đi xử bắn, hắn quỳ xuống van xin: “Xin cho tôi một con đường sống”. ./.

Nguyễn Hải Hoành lược dịch và ghi chú trong ngoặc [ ].

Tác giả Lưu Á Châu: Liu Ya Zhou, 1952-, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản TQ khóa XVIII, Thượng tướng (từ 2012), Chính ủy trường Đại học Quốc phòng TQ từ 12/2009.

Thần giữ cửa – tất tần tật những điều bạn cần biết

 

Nếu như cửa gỗ là loại cửa đã ăn sâu vào nếp sống văn hóa của người Á Đông thì thần giữ cửa là 1 phần không thể thiếu khi hoàn thiện 1 ngôi nhà. Mặc dù, trong cuộc sống hiện đại, thần giữ cửa đã không còn xuất hiện nhiều, nhưng nó vẫn là 1 nét đẹp văn hóa trong nếp sống của mỗi người dân Việt. Hãy cùng Koffmann tìm hiểu và giải thích thêm về 1 trong những phong tục đẹp này trong bài viết dưới đây nhé.

Thần giữ cửa là gì?

Thần giữ cửa hay môn thần, được người Trung Quốc tôn thờ như là người bảo vệ, giữ cho những linh hồn hay ma quỷ không xâm nhập vào ngôi nhà qua lối đi chính, thường được đặt ở 2 bên cổng vào hoặc cửa đi chính của 1 ngôi chùa, nhà ở, cửa hàng kinh doanh…

Thần giữ cửa

Ban đầu, thần giữ cửa chỉ xuất hiện trong những ngôi chùa, với 2 vị thần phổ biến là Tần Thúc Bảo và Uất Trì Cung, là 2 vị thần bảo vệ lối vào thiên đàng dưới gốc cây đào thần. Tuy nhiên, việc sử dụng 2 vị thần giữ cửa cho ngôi nhà, cửa hàng kinh doanh trở nên phổ biến hơn dưới thời nhà Đường.

Hiện nay, với sự phát triển mạnh của tôn giáo, thần giữ cửa cũng có nhiều thần khác nhau. Tuy nhiên, được sử dụng nhiều nhất vẫn là Tần Thúc Bảo và Uất Trì Cung cho cổng hoặc cửa nhà rộng, còn Ngụy Trưng hoặc Chung Quỳ được sử dụng cho cửa 1 cánh. Ngoài ra, cuộc sống hiện đại, nhiều người vẫn sử dụng cặp sư tử đá cho căn biệt thự, tòa nhà… Mặc dù, nhiều chuyên gia phong thủy không khuyến khích đặt sử tử đá vì nó là tối kỵ, xung sát khí rất mạnh nên không thích hợp với doanh nghiệp, nhà dân, công sở, đình chùa.

 

Tại sao thần giữ cửa trở nên quan trọng và phổ biến?

Để giải thích cho câu hỏi này, chúng ta cần quay ngược quá khứ để tìm hiểu do dâu mà thần canh cửa có tầm quan trọng trong nét văn hóa của người Á Đông, đặc biệt là phong tục Trung Quốc.

Thần giữ cửa

Như trên đã nói, thần giữ cửa trở nên phổ biến vào thời nhà Đường (tức 618- 907 sau Công nguyên), câu chuyện kể rằng, có 1 vị hoàng đế nhà Đường, sau khi mơ thấy mình bị sát hại, đã trở nên lo lắng và tìm mọi cách để không cho nó thành sự thật. Khi đó, có 2 vị tướng quyết định canh giữ 2 bên cửa suốt đêm, giúp hoàng đế có được giấc ngủ yên bình và không bao giờ mơ về giấc mơ kia nữa. Ngày hôm sau, Hoàng đế quyết định dùng 2 bức vẽ của 2 vị tướng quân này, treo bên ngoài phòng ngủ, ở 2 bên cánh cửa, từ đó, vị hoàng đế bắt đầu ngủ ngon trở lại mà không cần phiền đến 2 vị tướng quân kia.

Từ đó, câu chuyện này đã được truyền đi khắp Trung Quốc và người dân tin rằng, việc treo các bức ảnh các vị thần nổi tiếng có thể giúp họ có 1 giấc ngủ ngon, xua đi xui xẻo và các linh hồn xấu xa quanh nhà họ. Văn hóa này tiếp tục lan truyền sang Việt Nam và phát triển cho đến ngày nay.

 

Có những vị thần cửa nào phổ biến?

Trong lịch sử Trung Quốc, có thể chia ra thành 2 vị thần phổ biến là thần cửa dân gian và thần cửa chiến tranh.

Thần giữ cửa

Các vị thần chiến tranh thực chất là các tướng quân nổi tiếng, được ghép thành 1 cặp trong suốt lịch sử. Các vị tướng quân này hội tụ đủ các yếu tố như kỹ năng vũ khí, sức mạnh, lòng trung thành và sự đáng tin cậy. Thường các vị tướng này vẫn được vẽ giữ nguyên áo giáp và vũ khí, bảo vệ nhà cửa bằng sức mạnh và kỹ năng thể chất của họ và thường được thấy nhiều nhất ở các cửa bên ngoài.

Thần cửa dân gian thường là những vị thần dựa trên tôn giáo và sử dụng kiến thức và tâm trí của họ để đánh bại các linh hồn ma quỷ. Những vị thần này thường canh giữ cửa bên trong và cũng được cho là mang lại cảm giác bình yên và thoải mái cho cư dân trong nhà, ngoài các đặc tính bảo vệ của gia chủ.

 

Khi nào bạn nên treo thần giữ cửa cho ngôi nhà?

Mặc dù, thần giữ cửa rất quan trọng trong nét sống văn hóa, tuy nhiên, bạn cần phải biết khi nào nên thay thế hoặc treo mới thần giữ cửa đúng cách. Theo phong tục, những dịp xuân về, đặc biệt là năm mới, là thời điểm thích hợp nhất. Để chào mừng năm mới, các bức tranh Thần cửa thường được tân trang lại với màu sắc tươi sáng, thường là màu đỏ.

Thần giữ cửa liệu có còn phổ biến hiện nay?

Tất nhiên là có, tuy nhiên, nó không còn được quá nhiều người coi trọng. Thần cửa vẫn là một phần của phong tục ở Việt Nam, và vẫn còn được trang trí nhiều cánh cửa trên khắp đất nước.

Thần giữ cửa

Mặc dù, trong cuộc sống hiện đại, đặc biệt ở các thành phố lớn, ít ngôi nhà nào còn tồn tại phong tục này. Tuy nhiên, với nhiều hộ kinh doanh hoặc nhiều người bị cuốn hút vào ý tưởng bảo vệ người thân của họ thì Thần giữ cửa vẫn là 1 trong những việc cần phải làm mỗi năm.

Cho dù bạn có được truyền cảm hứng để thay đổi diện mạo của cánh cửa của bạn hay bạn chỉ quan tâm đến hiện tượng hấp dẫn này, hãy dành chút thời gian để xem xét liệu Thần canh cửa có lợi cho ngôi nhà của bạn không.

Hy vọng, thông qua bài viết này, cửa thép vân gỗ Koffmann đã mang đến cho bạn nhiều kiến thức hơn về phong tục thần giữ cửa nổi tiếng này. Các loại cửa thép vân gỗ của chúng tôi có các màu sắc sẽ làm nổi bật ngôi nhà và vị thần canh cửa nhà bạn. Tham khảo chi tiết tại hotline 0914.860.455 nhé.

 

Sự thật về Bao Công, vị quan từng bị xếp vào loại “ngưu quỷ xà thần” | Thế giới

 

Câu chuyện về cuộc đời ông còn là niềm cảm hứng dạt dào cho điện ảnh cũng như văn học. Chúng ta từng biết tới một nhân vật Bao Thanh Thiên trên màn ảnh là một vị quan có làn da đen với vết sẹo hình trăng lưỡi liềm trên trán.

Tuy nhiên, ngoại hình của Bao Thanh Thiên ngoài đời thực không hoàn toàn giống phim ảnh.

su that ve bao cong - vi quan tung bi xep vao loai “nguu quy xa than” hinh anh 1

Nhân vật Bao Công trong bộ phim nổi tiếng “Bao Thanh Thiên”  (1993) do diễn viên Kim Siêu Quần đảm nhận (Ảnh cắt từ phim).

Bao Thanh Thiên tên thật là Bao Chửng (999-1062, tự Hy Nhân), quê ở Lư Châu, nay thuộc tỉnh An Huy, Trung Quốc. Dưới thời hoàng đế Tống Nhân Tông trị vì (1022 – 1063), Bao Chửng nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, công tư phân minh và không khiếp sợ quyền uy.

Trước khi trở thành Thừa tướng, ông đảm trọng trách Phủ doãn phủ Khai Phong trong một năm. Trước đó, ông từng làm Nhậm đốc chuyển vận sứ do làm phật ý Hoàng đế.

Theo truyền thuyết, Bao Chửng là một vị thần giáng trần; bởi vậy ông có thể xử án ở cả hai thế giới âm – dương. Ban ngày, ông xử án trần thế, ban đêm lại xử án âm phủ.

Theo sử sách, có đến hơn 30 người quyền cao chức trọng, thậm chí là hoàng thân quốc thích bị trừng trị dưới tay Bao Chửng. Ngoài tên thật, ông còn được biết đến với nhiều cái tên khác như Bao Thanh Thiên, Bao Công, Bao Hắc Tử,…

Bao Chửng qua đời đột ngột ở tuổi 63, chỉ sau khi lâm bệnh 13 ngày. Cái chết của ông đến nay vẫn còn nhiều uẩn khúc; bởi nhiều giả thiết cho rằng ông bị đầu độc.

Nhiều học giả cho biết trong số thuốc mà Bao Chửng uống khi lâm bệnh là do Ngự y dâng lên, của Hoàng đế ban cho. Sinh thời, ông đã vạch mặt nhiều thái y nên có không ít kẻ thù. Việc các nhà sử học hoài nghi Bao Chửng bị đầu độc là hoàn toàn có lý.

Sự ra đi của ông đã lấy đi nước mắt và để lại niềm xót thương cho vô số người dân. Đích thân Hoàng đế Tống Nhân Tông đã làm lễ truy điệu cho ông. Trong lễ tang, Hoàng đế cũng phong Bao Chửng là Lại bộ Thượng Thư và phái một đoàn ngự lâm quân hộ tống linh cữu ông về mai táng ở quê nhà.

Ngoại hình thật của Bao Công

Nếu trên phim, hình tượng Bao Công do Kim Siêu Quần thủ vai là một người đàn ông khá to cao, da đen và có đặc điểm nổi bật nhất là vết sẹo hình trăng lưỡi liềm trên trán, thì ngoại hình của Bao Công thật hoàn toàn khác.

Dựa vào hài cốt đã khai quật được ở mộ phần của Bao Công, các nhà khoa học cho biết Bao Thanh Thiên cao khoảng 1m65, sở hữu làn da trắng và trông có vẻ thư sinh.

Theo nghệ thuật tạo hình trong Kinh Kịch Trung Quốc, mặt trắng đại diện cho tiểu nhân; mặt đỏ là đại diện cho nghĩa khí, trung nghĩa; mặt đen đại diện cho quân tử, công chính liêm minh.

Có lẽ bởi vậy mà chúng ta thấy trên màn ảnh một Bao Thanh Thiên da đen do dụng ý của đạo diễn nhằm khắc họa rõ nét tính cách cương trực, quân tử của vị quan liêm chính nổi tiếng nhất lịch sử Trung Hoa này.

Ngoài đời thực, Bao Chửng không có vết sẹo hình trăng lưỡi liềm trên trán. Việc tạo hình nhân vật Bao Thanh Thiên trong phim sở hữu “vầng trăng khuyết” vì theo truyền thuyết, vầng trăng này sẽ soi đường chỉ lối cho ông ngay khi ông ở trong hoàn cảnh tăm tối nhất.

Cuộc sống gia đình

Bao Công sống với cha mẹ cho tới khi họ qua đời, không phải bị bỏ rơi và ở với Tẩu nương như trong phim. Cha của ông là Bao Nghi, một đại phu trong triều đình. Sau khi qua đời, ông được phong Hình bộ thị lang. Thủa còn thơ, Bao Chửng được biết đến là đứa trẻ ngon ngoãn, biết vâng lời và có lòng hiếu thảo với cha mẹ.

Ngoài ra, Bao Thanh Thiên ngoài đời thật không hề sống độc thân. Ông có một vợ và một thiếp cùng hai đứa con trai. Khi khai quật mộ của ông, người ta phát hiện ông được chôn cùng với người vợ thứ hai.

su that ve bao cong - vi quan tung bi xep vao loai “nguu quy xa than” hinh anh 2

Mộ Bao Công với án thờ ở phía trên (ảnh: Wikipedia).

Công Tôn Sách chỉ là một nhân vật trong phim?

Theo những tài liệu nghiên cứu về Bao Chửng, không hề tồn tại ghi chép nào về nhân vật Công Tôn Sách. Bởi vậy, nhiều học giả cho rằng bên cạnh Bao Thanh Thiên không có trợ thủ nào như Công Tôn Sách trong phim.

Tại nơi an táng của vị quan liêm chính này, người ta còn tìm thấy tấm mộ chí của ông bị đập ra làm nhiều mảnh. Sau khi các mảnh vỡ được ghép lại tương đối hoàn chỉnh, các nhà sử học phát hiện ra hàng ngàn chữ kể về cuộc đời của Thanh Thiên đại lão gia, nhiều hơn gấp ba lần so với các dữ kiện được lưu trong “Tống sử”.

su that ve bao cong - vi quan tung bi xep vao loai “nguu quy xa than” hinh anh 3

Lối vào nơi chôn cất Bao Công (Ảnh: Wikipedia).

Vị quan thanh liêm từng bị xếp vào loại “ngưu quỷ xà thần” phải quét sạch

Sinh thời, Bao Công nổi tiếng là vị quan liêm chính, công tư phân minh và không nể nang ai, thậm chí cả hoàng thân quốc thích. Với dân thường, ông đúng là “trời xanh”. Thế nhưng, trong thời kỳ Cách mạng văn hóa ở Trung Hoa, phong trào “Phá tứ cựu, lập tứ tân” lan rộng năm 1966, Bao Chửng bị xem là “ngưu quỷ xà thần”, còn tồi tệ hơn cả tham quan bởi ông ủng hộ và duy trì chế độ phong kiến.

Những thứ liên quan đến cuộc đời Bao Công nhẽ ra được trưng bày lại bị đập phá. Từ đường nằm trong khu Bao Hà trở thành nhà nấu ăn của hợp tác xã; bia đá, hoành phi, liễn đối, tượng Vương Triều, Mã Hán đều bị phá nát; thậm chí tượng của Bao Thanh Thiên còn bị các Hồng vệ binh dùng dao chém nát và bức họa truyền thần Bao Công được truyền qua nhiều đời bị treo lên cây đốt cháy thành tro.

Khu lăng mộ Bao Công được đổi tên thành “Vạn tuế quán” cũng bị Hồng vệ binh thiêu hủy nhiều thư tịch cổ. Phần mộ của vị quan thanh liêm một thời không thể duy trì vẹn toàn. Trước đó, nơi đây cũng bị đào trộm, về sau bị lấn chiếm để làm đất canh tác.

Theo sử sách, sau khi Bao Công ra đi; các cận vệ bên cạnh ông đều lang bạt giang hồ; chỉ còn lại duy nhất Vương Triều ở lại chăm mộ chủ. Về sau, khi Vương Triều qua đời, hậu duệ của Bao Công thờ ông như người nhà.

Wikipedia có ghi lại hiện có 15 mảnh xương của Bao Thanh Thiên được trưng bày trong Nhà Bảo tàng tỉnh An Huy. Tại điện thờ ông có hai câu liễn: “Lý Oan Ngục, Quan Tiết Bất Thông, Tự Thị Diệm La Khí Tượng. Chẩn Tai Lê, Từ Thiện Vô Lương, Y Nhiên Bồ Tát Tâm Trường”, ý nói phẩm chất cao quý của ông.

Ngày nay, phủ Khai Phong trở thành một trong những điểm tham quan hút khách du lịch của Trung Quốc.

su that ve bao cong - vi quan tung bi xep vao loai “nguu quy xa than” hinh anh 4

Phủ Khai Phong ngày nay thành điểm du lịch hút khách (Ảnh: Internet).

(Bài viết có tham khảo từ nhiều nguồn).

Tình yêu của các vị thần trong thần thoại Hy Lạp | Du lịch Hoàn Mỹ | Du lịch Mỹ

 

>> Chương trình tour Thổ Nhĩ Kỳ – Hy Lạp tham khảo

Chuyện tình không phải lúc nào cũng luôn lãng mạn, đặc biệt là các câu chuyện trong thần thoại Hy Lạp, các bạn ạ!

1. Zeus và Hera

Thần Zeus có hàng chục người con với 12 vị thần, chưa kể là rất nhiều người phàm, tiên nữ khác. Trong đó, người vợ quyền lực nhất phải kể tới nữ thần Hera, cũng là chị của thần Zeus.

Sau khi được giải cứu khỏi tên vua cha bạo chúa, Hera sống xa kinh thành Olympus một thời gian dài, cho đến khi Zeus vĩ đại tình cờ nhìn thấy nàng trong chuyến du hành của mình. Ban đầu, Hera không chấp nhận Zeus làm chồng vì dù sao đây cũng là em trai nàng. Hơn thế nữa, Hera đã chứng kiến Zeus nuốt vợ cả của mình là Metis Titaness nên nàng đã từ chối Zeus trong 300 năm.

Khi hết thời hạn 300 năm dài đằng đẵng ấy, Zeus trở lại và tạo nên một trận bão rất lớn. Thần tự biến mình thành một chú chim nhỏ, bay lạc vào cửa sổ căn phòng của Hera. Hera thấy chú chim đáng thương liền ôm vào ngực vỗ về. Zeus ngay lập tức trở về hình dạng chính mình và quyết liệt tán tỉnh Hera. Chỉ đến lúc này, Hera mới đồng ý làm vợ thần Zeus.

Các vị thần đã tổ chức cho họ một đám cưới linh đình. Nữ thần Cầu Vồng Iris cùng các Nữ thần Duyên Dáng mặc cho Hera bộ váy áo đẹp nhất, làm cho nàng đẹp lộng lẫy và rạng rỡ hẳn lên giữa các thần linh trên núi Olympus.

tinhyeucuacacvithan_01
Zeus và Hera xung quanh các con trên đỉnh Olympus.

Hera và Zeus có 4 người con là Ares (thần Chiến tranh), Hebe, Eris, Eileithyia (thần Kỹ nghệ). Theo truyền thuyết, Hera là một bà vợ rất nóng tính và hay ghen. Khi Zeus đem lòng yêu thần sông Nin (Ios), sợ bị Hera phát hiện nên Zeus đã biến Ios thành một con bò trắng. Hera thấy vậy nên đã mang con bò trắng về, nhờ người khổng lồ Argos với các con mắt dày đặc trên người canh giữ ngày đêm.

Ngoài ra, vì không ưa Hercules, là con trai của Zeus với một người phàm trần, nên Hera cũng đã gây ra rất nhiều bi kịch cho cuộc đời Hercules.

tinhyeucuacacvithan_02
Máu ghen của nữ thần Hera “kinh khủng” đến nỗi thần Zeus cũng phải sợ.

Hera là Nữ thần Hôn nhân, bảo trợ cho sự bền vững và thánh thiện của cuộc sống gia đình. Cũng như chồng, Hera toàn quyền thống trị như một vị Nữ hoàng trên đỉnh Olympus.

2. Bi kịch anh hùng Hercules và công chúa Deianeira

Hercules là con của thần Zeus với một phụ nữ phàm trần tên là Alcmena. Vì là một á thần (một nửa là thần tiên, một nửa là người phàm trần) nên Hercules có sức khỏe phi thường. Nhưng cũng chính từ đây mà chuỗi bi kịch gia đình của chàng bắt đầu.

Người vợ đầu tiên của Hercules là công chúa Megara (con gái vua Creon, chúa thành Thebes). Họ có với nhau ba cậu con trai kháu khỉnh. Những tưởng hạnh phúc đã đến thì trên đỉnh Olympus, Hera nguyền cho Hercules hóa điên, khiến chàng ra tay giết chết vợ và con của mình.

tinhyeucuacacvithan_03
Hercules anh hùng là thế nhưng vẫn không tránh được bi kịch gia đình.

Để rửa sạch tội lỗi, Hercules đã phải thực hiện 12 nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Trải qua nhiều gian truân, Hercules trở về quê hương rồi đến Calidon cầu hôn công chúa Deianeira (Deana). Với tiếng tăm anh hùng của mình, chàng đã nhận được lời đồng ý của công chúa và nhà vua.

Trong một ngày đẹp trời, Hercules dắt vợ đến thành Tyrins chơi. Họ đến một khúc sông chảy xiết. Từ đây, mâu thuẫn bắt đầu được nhen nhóm. Khi Nesxus (tên Nhân mã làm nghề chở người qua khúc sông này) nảy sinh lòng tham, định bắt cóc nàng Daena, hắn đã bị Hercules hạ gục ngay tức khắc. Tuy nhiên, trong lúc hấp hối, Nesxus đã kịp hứng lấy một ít máu của mình, trao cho Daena và nói rằng đây là phương thuốc giúp nàng công chúa giữ chồng.

tinhyeucuacacvithan_04
Tranh miêu tả nhân mã Nesxus cướp nàng Daena khỏi tay Hercules.

Ít lâu sau, trong cuộc chinh phạt xứ Okhali, Hercules bắt sống được công chúa Ioler, người con gái sắc nước hương trời. Sợ chồng bị Ioler mê hoặc, Deana đã nhỏ những giọt máu xưa kia vào bộ lễ phục của Hercules.

Ngay khi khoác áo vào người, Hercules bỗng cảm thấy toàn thân mình nóng như lửa đốt. Máu long xà Hydra hòa với máu Nhân mã đã tạo thành một chất độc khủng khiếp. Biết mình không qua khỏi, Hercules đã lập giàn thiêu cho mình. Về phía Deianeira, do quá tủi nhục nên đã vào phòng riêng thắt cổ.

Khi Hercules lên giàn thiêu, chàng được cha mình là Zeus cứu sống. Sau đó, chàng đã sống hạnh phúc với người vợ thứ 3 của mình là Hebes (con gái Zeus và Hera) trên đỉnh Olympus.

Theo kenh14.vn

Leave your Comment