Biến đổi khí hậu là gì 240

Thông tin TPHCM bị “xóa sổ” vào năm 2050 chưa đủ căn cứ khoa học

 

Thông tin “vào năm 2050, TP. Hồ Chí Minh (TPHCM) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ bị xoá sổ” là chưa đủ cơ sở khoa học và dựa trên các giả định cực đoan. Tuy nhiên, đây cũng là một thông điệp cần quan tâm để các phương án quy hoạch chú ý đến sự sụt lún, nước biển dâng và ngập lụt do triều cường; từ đó đề xuất phương án hợp lý giải quyết vấn đề nước biển dâng cho ĐBSCL và TPHCM.

a
Thông tin “vào năm 2050, TPHCM và ĐBSCL sẽ bị xoá sổ” chưa đủ cơ sở khoa học và dựa trên các giả định cực đoan

Mới đây, nghiên cứu của Scott A. Kulp & Benjamin H. Strauss đến từ Climate Central đăng trên tạp chí Nature Communications đã đưa ra những nhận định về nguy cơ ngập bởi nước biển dâng do biến đổi khí hậu cho các đồng bằng trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Theo đó, nước biển dâng do biến đổi khí hậu có thể xóa sổ một số thành phố ven biển. Nghiên cứu chỉ ra, miền Nam Việt Nam, cụ thể là ĐBSCL có thể biến mất trong vòng 30 năm tới. Khoảng 20 triệu dân sẽ ảnh hưởng nặng nề do nước biển tăng cao. Ngoài ra, phần lớn diện tích trung tâm kinh tế hàng đầu là TPHCM sẽ biến mất hoàn toàn.

Nhận định về những kết quả của nghiên cứu này, PGS. TS. Huỳnh Thị Lan Hương, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, việc quan tâm đúng mức đến nguy cơ mất đất do nước biển dâng ở khu vực ĐBSCL là hết sức cần thiết; tuy nhiên, nghiên cứu của Climate Central có nhiều điểm cần làm rõ.

Thứ nhất, trong nghiên cứu của Climate Centreal, số liệu địa hình ven biển được xây dựng trên cơ sở hiệu chỉnh sai số của STRM DEM (số liệu địa hình của NASA –NASA’s Shutter Radar Topography Mission, 2000). Thực tế, STRM DEM thường có sai số về độ cao lớn do bao gồm cả các lớp thực vật và nhà cửa. Vì vậy, bài báo đã hiệu chỉnh số liệu địa hình ven biển thông qua sử dụng số liệu địa hình Lidar tại Mỹ và mạng thần kinh nhân tạo MLP, sau đó áp dụng cho toàn cầu. Như vậy, nghiên cứu đã không hiệu chỉnh cho ĐBSCL nên số liệu địa hình trong nghiên cứu này chưa phản ánh đúng độ cao thực tế của khu vực.

Từ năm 2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng, tại kịch bản này, số liệu địa hình được sử dụng để xây dựng bản đồ nguy cơ ngập do nước biển dâng cho khu vực ĐBSCL được lấy từ mô hình số địa hình kích thước ô lưới là 2 mx2 m của 13 tỉnh ĐBSCL do Cục Viễn thám Quốc gia thực hiện năm 2008 và Bản đồ số địa hình tỉ lệ 1:2.000 do dự án bay chụp Lidar của Cục Đo đạc Bản đồ và Thông tin Địa lý Việt Nam thực hiện. Các số liệu này đều được quy chuẩn theo mốc quốc gia về bề mặt khu vực. Do vậy, có thể nói, số liệu trong nghiên cứu của Climate Central không chính xác bằng số liệu mà Bộ Tài nguyên và Môi trường đã sử dụng.

Thứ hai, trong nghiên cứu của Climate Central, các tác giả sử dụng kịch bản nước biển dâng 2 m kết hợp với triều cường trong xây dựng bản đồ nguy cơ ngập. Thực tế, đây là sự chồng chập của hai giả định rất cực đoan, nên tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng nguy cơ rủi ro rất cao. Hơn nữa, kết quả đưa ra sẽ không thể phân biệt ngập lụt do mực nước biển dâng vì biến đổi khí hậu (ngập vĩnh viễn) và nguyên nhân ngập lụt do hiệu ứng thủy triều (chỉ trong vài giờ). Bên cạnh đó, kịch bản nước biển dâng 2 m không được đề xuất trong báo cáo Đánh giá lần thứ 5 của Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (AR5).

Trong Kịch bản BĐKH đã được công bố năm 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, kết quả xác định nguy cơ ngập ứng với mực nước dâng 100 cm (tương ứng với kịch bản RCP 8.5, đến năm 2100) như sau: Khoảng 16,8% diện tích đồng bằng sông Hồng, 1,47% diện tích các tỉnh ven biển miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, 17,8% diện tích TPHCM, 38,9% diện tích ĐBSCL có nguy cơ bị ngập; cụm đảo Vân Đồn, Côn Đảo và Phú Quốc có nguy cơ ngập cao. Nguy cơ ngập đối với quần đảo Trường Sa là không lớn. Quần đảo Hoàng Sa có nguy cơ ngập lớn hơn.

Thứ ba, trên thực tế, ĐBSCL hiện nay, có chỗ hạ, chỗ nâng đan xen, đặc biệt Long An, An Giang nâng lên rõ rệt. Khu vực Bạc Liêu theo nghiên cứu hạ nhiều nhất (nhưng trong hạ vẫn có nâng, tuy rất ít).

Trên cơ sở số liệu địa hình mới cập nhật (2019), Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu đã tiến hành xây dựng kịch bản ngập cho tỉnh Bạc Liêu ứng với mực nước biển dâng 100 cm để thử nghiệm so sánh với kịch bản BĐKH năm 2016. Kết quả cho thấy không thay đổi nhiều so với kịch bản năm 2016, có khu vực diện tích nguy cơ ngập tăng, có khu vực lại giảm (mức ngập trong bản đồ năm 2016 và năm 2019 tương ứng là 48,6% và 49,1%).

Theo PGS. TS. Huỳnh Thị Lan Hương, nghiên cứu của Climate Central có ý nghĩa về mặt khoa học, tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, bản đồ số độ cao do Bộ Tài nguyên và Môi trường sử dụng trong xây dựng bản đồ nguy cơ ngập do nước biển dâng trong kịch bản năm 2016 là nguồn số liệu cập nhật và tốt nhất. Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã xây dựng bản đồ nguy cơ ngập với kịch bản nước biển dâng 100 cm là mức cao trong trong kịch bản RCP 8.5 (kịch bản cao). Do vậy, các cơ quan, địa phương khi đánh giá nguy cơ ngập do nước biển dâng cần sử dụng số liệu chính thức do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố.

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tiến hành cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Dự kiến, trong thời gian tới, sẽ tiếp tục cập nhật các bản đồ nguy cơ ngập do nước biển dâng từ dữ liệu cập nhật này trong các kịch bản tới.

PGS. TS. Huỳnh Thị Lan Hương nhận định, thông tin “vào năm 2050, TPHCM và ĐBSCL sẽ bị xoá sổ” là chưa đủ cơ sở khoa học và dựa trên các giả định cực đoan. Tuy nhiên, đây cũng là một thông điệp cần quan tâm để khi xây dựng các phương án quy hoạch, các cơ quan thực hiện cần chú ý đến sự sụt lún, nước biển dâng và ngập lụt do triều cường để đề xuất phương án hợp lý giải quyết vấn đề nước biển dâng cho ĐBSCL và TPHCM.

(Theo chinhphu.vn)

.

Nâng cao kỹ năng ứng phó thiên tai, biến đổi khí hậu trong trường học

 

Nâng cao kỹ năng ứng phó thiên tai, biến đổi khí hậu trong trường học

Vừa qua, tại tỉnh Ninh Thuận, hơn 500 học sinh Trường trung học cơ sở Hà Huy Tập (xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc) đã trực tiếp tham gia diễn tập phòng chống giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Học sinh Trường trung học cơ sở Hà Huy Tập diễn tập sơ, cấp cứu khi xảy ra tai nạn thương tích. Ảnh: Nguyễn Thành
Cô và trò Trường trung học cơ sở Hà Huy Tập được rèn luyện thêm các kỹ năng chủ động ứng phó với tình huống thiên tai khẩn cấp. Ảnh: Nguyễn Thành

Dựa vào tình hình thiên tai thực tế tại địa phương, các em tham gia diễn tập tình huống giả định như: ứng phó với sét, giông lốc, động đất và sóng thần; sơ cấp cứu chấn thương. Trong mỗi tình huống đưa ra, các em chia thành nhiều nhóm nhỏ để thực hành kỹ năng ứng phó với thiên tai, tai nạn thương tích nhằm đảm bảo an toàn cho bản thân và bạn bè.

Ban tổ chức trao phần thưởng cho các em học sinh hoàn thành tốt buổi diễn tập. Ảnh: Nguyễn Thành

Cô Trần Kim Dung, Hiệu trưởng Trường trung học cơ sở Hà Huy Tập cho biết, buổi diễn tập giúp giáo viên, học sinh rèn luyện thêm các kỹ năng chủ động ứng phó với tình huống thiên tai khẩn cấp có thể xảy ra, góp phần vào việc xây dựng môi trường giáo dục an toàn.

Nguyễn Thành

85% thành phố cảm nhận được biến đổi khí hậu, nhưng gần một nửa không đối phó

 

Moitruong24h- Lũ lụt và nhiệt độ cực cao đe dọa gần như mọi thành phố trên thế giới, đặc biệt là dân số dễ bị tổn thương trong các thành phố. Nhưng một báo cáo mới công bố cho thấy, rất ít thành phố sẵn sàng cho những gì xảy ra sắp tới.

85% thành phố cảm nhận được biến đổi khí hậu, nhưng gần một nửa không đối phó

Lũ lụt và nhiệt độ cao đang đe dọa 85% thành phố trên toàn thế giới. Ảnh: CDP

Năm ngoái, Liên hợp quốc đã báo cáo rằng, vào năm 2050, khoảng hai phần ba dân số toàn cầu sẽ sống ở các thành phố. Trong bối cảnh mọi người đổ về các trung tâm đô thị, một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Vương quốc Anh mang tên CDP đã hỗ trợ 620 thành phố trên toàn thế giới đánh giá tác động và nguy cơ của biến đổi khí hậu mang lại.

Kết quả cho thấy, năm 2018, 85% các thành phố đã báo cáo gặp phải các vấn đề khí hậu lớn, từ sóng nhiệt cực độ đến lũ lụt. Tuy nhiên, 46% các thành phố trong số này báo cáo rằng họ không có hành động nào để giải quyết những vấn đề đó.

Theo thông tin của CDP được công bố trong báo cáo Rủi ro Thành phố mới (bao gồm dữ liệu năm 2018), lũ lụt là chuyện thường xuyên xảy ra đối với 71% thành phố. Trong khi đó, 61% các thành phố báo cáo đã phải đối phó với nhiệt độ cực cao và 36% đã trải qua hạn hán.

Là một phần trong báo cáo của CDP, mỗi thành phố được tự đánh giá điểm số của mình theo mức độ nguy hiểm. Điểm số từ con số hoặc rủi ro mà mỗi thành phố báo cáo được nhân với mức độ nghiêm trọng của từng rủi ro (1 điếm cho mức độ ít nghiêm trọng hơn, 3 điểm cho những người cực kỳ nghiêm khắc). Ở Mỹ, điểm số nguy hiểm cao nhất thuộc về thành phố St. Louis, bang Missouri, nơi báo cáo rủi ro biến đổi khí hậu cộng với 34 điểm nguy hiểm, cũng là điểm cao thứ hai trên toàn thế giới, dưới thành phố Rio de Janeiro, với số điểm 35. Ở giữa phạm vi, các thành phố như New York được đánh giá 10 điểm và thấp nhất là thành phố Moab (Utah) có một điểm.

Tuy nhiên, điểm số của các thành phố không phải là điều mà chúng ta nên quan tâm nhất.

Bà Katie Walsh, người phụ trách các thành phố, tiểu bang và khu vực của CDP Bắc Mỹ nhấn mạnh rằng, việc báo cáo thông tin này cho CDP là một quá trình tự nguyện. Vì thế, có những thành phố không báo cáo về bất kỳ mối nguy hiểm khí hậu nào đối với mình. Trong khi đó, việc công khai các điểm số đánh giá của các thành phố như St. Louis đã làm lại là một điều tốt.

Đánh giá tính dễ bị tổn thương buộc các thành phố phải xem xét cả hệ thống vật lý và xã hội của họ sẽ bị ảnh hưởng như thế nào bởi biến đổi khí hậu. Thí dụ, CDP yêu cầu các thành phố đánh giá hệ thống giao thông sẽ bị ảnh hưởng như thế nào và biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đến lưới điện năng lượng của thành phố như thế nào. Các đối tượng dễ bị tổn thương nhất như người cao tuổi sống ở đâu trong thành phố? Các khu dân cư thu nhập thấp ở đâu? Bà Walsh cho rằng, tiến hành những đánh giá này là cách tốt nhất để các thành phố bắt đầu chuẩn bị đối phó với những biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng trong tương lai.

Các thành phố cũng chia sẻ với CDP những rủi ro xã hội mà họ tin rằng sẽ xuất phát từ biến đổi khí hậu, cũng như liệu những rủi ro đó là mối quan tâm ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn. Rủi ro ngắn hạn lớn nhất được báo cáo bởi 156 thành phố trên toàn thế giới, đó là đối với những người dân dễ bị tổn thương. Đây là mối quan tâm lâu dài tập trung vào sự dịch chuyển dân số và sự lây lan của dịch bệnh. Nhiều thành phố cũng coi đây là mối quan tâm ngắn hạn và trung hạn.

Chỉ 11% các thành phố trên toàn cầu có xu hướng báo cáo rủi ro dài hạn. Trong khi bà Walsh cho biết, có rất nhiều yếu tố góp phần vào việc này, nhưng nhiều thành phố chưa hoàn thành các đánh giá về lỗ hổng, mà điều này sẽ giúp họ thấy trước các vấn đề dài hạn tốt hơn.

Bà Walsh cho biết chênh lệch về sự giàu có là một trong những bất bình đẳng giữa các thành phố. Tổng cộng, 54 thành phố đã báo cáo loại bất bình đẳng này như là một rào cản đối với hành động ứng phó biến đổi khí hậu. Nhìn rộng hơn, các quốc gia giàu có và vị trí tốt hơn có thể phản ứng và thích ứng với biến đổi khí hậu tốt hơn.

DN/theo Nhandan

Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu chính thức có hiệu lực

 

JPEG

Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu là cam kết toàn cầu đầu tiên về khí hậu, chính thức có hiệu lực kể từ ngày 4 tháng 11 tới, sau một năm được thông qua. Đây là lần đầu tiên một văn bản quốc tế nhận được tham gia mạnh mẽ và nhanh chóng, minh chứng cho sự ủng hộ đặc biệt của cộng đồng quốc tế đối với các vấn đề khí hậu.

Hiệp định này đi vào hiệu lực sẽ tạo ra xung lực mạnh mẽ, thúc đẩy các quốc gia thành viên thực hiện cam kết của mình đã được nêu ra trong năm 2015. Giai đoạn mới này cũng là một tín hiệu mạnh mẽ đối với toàn thể các tác nhân của xã hội dân sự, các doanh nghiệp, nhà đầu tư cho thấy rằng một mô hình phát triển mới, ít các-bon, từ nay được tất cả các quốc gia trên thế giới lựa chọn.

Sau khi đi vào hiệu lực, Hiệp định Paris còn cả quãng đường dài phía trước và các quốc gia thành viên cần góp phần vào việc triển khai Hiệp định này. Hơn nữa, cần phải tiếp tục khuyến khích các quốc gia khác gia nhập Hiệp định này để đảm bảo tính toàn cầu của hiệp định. Bên cạnh đó, ba ưu tiên tiếp tục được triển khai :(1) thực thi và theo dõi các cam kết của các quốc gia thành viên ; (2) triển khai chính sách công phù hợp của từng quốc gia, có sự hỗ trợ bên ngoài đối với các nước đang phát triển ; (3) triển khai những nội dung cam kết trước năm 2020 bởi các doanh nghiệp ; thành phố, vùng, tổ chức phi chính phủ và các nhà đầu tư để thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi nguồn năng lượng cần thiết để đạt mục tiêu chung đã đề ra, cụ thể là hạn chế mức tăng nhiệt độ trái đất ở ngưỡng +1.5°C vào năm 2018.

Để kỷ niệm thời khắc lịch sử này, Khải Hoàn Môn tại Paris sẽ được chiếu sáng bằng hình ảnh Nụ cười Trái đất (hình dưới đây). Cũng nhân dịp này, Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội giới thiệu đến công chúng bộ ảnh « 60 giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu » vào ngày 3 tháng 11, được treo trên bức tường bao quanh khuôn viên của Đại sứ quán Pháp.Triển lãm này cũng là dịp đánh dấu kết thúc nhiệm kỳ chủ tịch COP21 của Pháp, ngay trước thềm COP 22 tại Marrakech.

Qua triển lãm « 60 giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu », AFD và Fondation GoodPlanet, bằng nghệ thuật sử dụng ánh sáng và hình ảnh, đưa ra các giải pháp đột phá và hiệu quả để ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế. Bộ ảnh gồm 21 tác phẩm của nhiếp ảnh gia Yann Arthus-Bertrand, nằm trong bộ sưu tập nổi tiếng « Trái đất nhìn từ bầu trời », giới thiệu cho khán giả các sáng kiến cụ thể trên 4 lĩnh vực : thành thị, nông nghiệp, chuyển đổi nguồn năng lượng và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Biến đổi khí hậu toàn cầu

 

 

  |   Viết bởi : TS. Lê Thành Ý – Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt NamSau 2 tuần đàm phán khẩn trương, Hội nghị lần thứ 24 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (COP 24) đã kết thúc tại thành phố Katowice, Ba Lan. Hội nghị đã thông qua các văn kiện hướng dẫn thực hiện chi tiết vấn đề cốt lõi của COP 24, tạo cơ sở thống nhất để triển khai những quy định trong Thỏa thuận Paris năm 2015, nhằm hạn chế sự gia tăng nhiệt độ trái đất không vượt quá 1,50C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Hướng tới mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu trong giai đoạn tới, bài viết đề cập đến một số quan điểm trao đổi giữa các nhà khoa học và tổ chức nghiên cứu trong thời gian gần đây

Đại dương nóng lên nhanh hơn chúng ta suy nghĩ.

Các đại dương đang ấm lên theo xu hướng gây hại cho sinh vật biển so với ước tính trước đây. Những phép đo được hỗ trợ bởi mạng lưới gồm hàng nghìn chiếc phao quan sát trên các đại dương kể từ năm 2000 cho thấy, nhiệt độ nóng lên của trái đất đã đáng kể từ năm 1971 so với tính toán đánh giá của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu. Phát thải khí nhà kính đang làm nóng bầu khí quyển và phần lớn lượng nhiệt lan tỏa được các đại dương hấp thụ. Sự nóng lên của nước biển buộc các loài thủy sinh phải chạy trốn và gây những tổn hại to lớn. Nhằm hạn chế tác động bất lợi, gần 200 quốc gia đã có kế hoạch loại bỏ nhiên liệu hóa thạch trong thế kỷ này.

Dữ liệu được công bố gần đây cho thấy, năm 2018 là năm nóng kỷ lục của các đại dương. Lijing Cheng, nhà nghiên cứu của Viện Vật lý Khí quyển thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc nhận xét, hồ sơ đại dương nóng lên hàng năm dường như đã bị phá vỡ kể từ năm 2000 và nhiệt độ đại dương ở sâu dưới 2.000 mét đã tăng lên khoảng 0,1 độ C (0,18 độ F) (Alister Doyle 2019).

Nhiệt độ đại dương liên tục gia tăng trong ba thập kỷ gần đây, mặt nước biển sẽ tiếp tục nóng lên do lượng khí nhà kính tích tụ trong khí quyển ngày một lớn. Theo báo cáo của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên thế giới, Nam bán cầu đã trải qua sự ấm lên dữ dội với nhiệt lượng tích tụ mạnh ở vùng trung du Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Các mô hình El Niño và La Niña tự nhiên tác động thường xuyên đến nhiệt độ trái đất. Tương tự, những trận bão cũng ảnh hưởng đáng kẻ đến nhiệt độ đại dương trong nhiều năm, tháng … Xu hướng gia tăng tổng thể nhiệt độ trái đất gần đây cho thấy, tình trạng nóng lên toàn cầu là do con người tạo ra. Gần như tất cả nhiệt độ ở các bề mặt đại dương quan sát được đều ở trên mức trung bình do điều kiện tự nhiên luôn kết hợp El Niño với sự nóng lên do con người tạo ra. Trong những quan sát ghi nhận được, khoảng một phần tư đã phá vỡ mức cao kỷ lục .

Trong nhiều thập kỷ, năng lượng hấp thụ luôn lớn hơn so với lượng phát ra. Đại dương có khả năng lưu trữ nhiệt cao, phần lớn năng lượng thải dư thừa được khu vực này thu giữ. Khi các đại dương lưu trữ nhiều nhiệt lượng, chúng sẽ mở rộng. Tình trạng giãn nở nhiệt đã gây ra 1/3 gia tăng mực nước biển dâng. Kể từ năm 1955, hơn 90% lượng nhiệt dư thừa trên trái đất do khí nhà kính gây ra đã được các đại dương hấp thụ. Các nhà khoa học đại dương cảm thấy, dường như  trong nghiên cứu BĐKH hiện tượng này đã bị bỏ qua (Tim Wallage 2016).

Mực nước biển dâng đang tăng với tốc độ 3 mm/năm, lớp băng ở Bắc Cực bị thu hẹp và các khu vực ở vĩ ​​độ cao đang nóng lên nhanh chóng. Trên toàn cầu, đại dương đã có 8 trong số 10 năm ấm nhất kể từ 1860. Tác động hỗn hợp của biến đổi khí hậu và biến thiên tự nhiên đẫn đến lũ lụt ven biển gia tăng, hạn hán nghiêm trọng, sóng nhiệt cực đoan và thường xuyên hơn với những cơn bão nhiệt đới nghiêm trọng. Nhằm đưa ra dự báo tin cậy, cần có các mô hình khí hậu được cải thiện của toàn bộ hệ thống trái đất (Agro 2019)

Đại dương hoạt động như khối bọt biển nhiệt khổng lồ, che chở các lục địa và con người sống trên hành tinh. Đại dương gần mặt nước chỉ mất vài thập kỷ để ấm lên, nhưng đại dương sâu thẳm phải mất hàng thế kỷ để làm gia tăng mực nước biển. Đại dương ấm lên nhanh có thể làm tăng khả năng tàn phá của thời tiết khắc nghiệt, như lốc xoáy và bão lớn. Trên thực tế, ảnh hưởng nước biển ấm hơn đã lan rộng rất nhanh trong những thập niên gần đây (Tim Wallage 2016).

Nghiên cứu riêng biệt được thực hiện bởi tổ chức Dịch vụ biến đổi khí hậu Copernicus thuộc Liên minh châu Âu cho biết, năm 2018 là năm thứ tư nhiệt độ toàn cầu nóng nhất kể từ thế kỷ 19. Nhiệt độ đại dương ít bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi theo từng năm thời tiết; nhưng đại dương sâu thẳm luôn phản ánh khí hậu quá khứ. Trong những hiệu ứng gây ra, hiện tượng ấm lên của đại dương dẫn đến giảm lượng oxy và làm hỏng các rạn san hô. Nước biển nóng lên giải phóng nhiều độ ẩm có thể gây những cơn bão mạnh và làm gia tăng mực nước biển dâng.

Kết quả công bố trên tạp chí Science ngày 11 tháng 01 năm 2019 cho thấy, đại dương đang nóng lên nhanh hơn nhiều so với ước tính. Những cảnh báo từ cộng đồng khoa học đã chỉ ra, từ thập niên 1950, nhiệt độ đại dương liên tục gia tăng và đang tăng hơn 40% so với những tính toán của các nhà khoa học. Theo đó, bụi phóng xạ có thể làm nước biển dâng, phá hủy san hô, làm tan chảy băng và những dòng sông băng, khiến hệ thống thời tiết trở nên khắc nghiệt hơn nhiều. Vào năm 2100, nước biển có thể dâng cao thêm 30cm dẫn đến những hậu quả khó lường (Kamakshi Ayyar 2019).

Biến đổi khí hậu do tác động của con người, xuất phát từ sự mất cân bằng năng lượng hệ thống khí hậu trái đất. Sự mất cân bằng này do có tới 93% năng lượng được tích lũy khi hàm lượng nhiệt đại dương (OHC) tăng cao. Những ước tính dựa trên quan sát gần đây cho thấy, nóng lên của đại dương đã làm gia tăng nhanh cường độ mưa, nước biển dâng, phá hủy rạn san hô, giảm lượng oxy, làm suy giảm sông băng và nhất là tan băng ở các địa cực (Lijing Cheng 2019).

Theo các nhà phân tích, đại dương hấp thụ hơn 90% nhiệt lượng do khí nhà kính bị giữ lại trong khí quyển, khiến chúng trở thành một bộ điều chỉnh quan trọng của bộ điều nhiệt hành tinh. Tuy nhiên, vai trò của đại dương chưa được chú ý vì dữ liệu không đầy đủ và thiếu chính xác.

Cải thiện phương pháp đo lường đánh giá nhiệt độ đại dương

Hiểu và dự đoán được những thay đổi trong bầu khí quyển và đại dương là việc làm cần thiết để hướng dẫn các hành động quốc tế, để tối ưu hóa các chính sách của chính phủ và định hình các chiến lược phát triển. Nhằm đưa ra những dự đoán hữu ích, các nhà khoa học đang hướng tới cải thiện các mô hình khí hậu dựa trên các quan sát bền vững về khí quyển, đại dương và đất đai là những nhân tố gây cản trở sự phát triển của các mô hình khí hậu.

Khắc phục những hạn chế về dữ liệu, giới nghiên cứu đã thực hiện những cải tiến nhằm cải thiện việc thu thập và quan sát bên trong đại dương thông qua việc lấy số lượng mẫu và tăng độ bao phủ cả về thời gian và không gian. Phân tích thông tin dữ liệu được Argo* công bố với một hệ thống quốc tế gồm hàng nghìn phao đo nhiệt độ và độ mặn ở phần trên của đại dương có thể là một hướng mới trong nghiên cứu những tác nhân ảnh hưởng tới BĐKH.

 

* Argo là một dự án quốc tế nhằm thu thập thông tin về nhiệt độ và độ mặn của phần trên của các đại dương. Dự án sử dụng những chiếc phao robot dành phần lớn cuộc đời trôi dạt dưới bề mặt đại dương tới độ sâu 2.000m, nó thực hiện các phép đo nhiệt độ và độ mặn nước biển và truyền dữ liệu tới các vệ tinh. Hiện có hơn 3.800 phao sản xuất thực hiện trên 100.000 hồ sơ nhiệt độ, độ mặn mỗi năm.

 

Cơ chế hoạt động của hệ thống được thực hiện thông qua những chiếc phao được nhấn chìm xuống độ sâu nhất định dưới đáy biển. Sau 10 ngày bơm hơi vào, phao được đẩy lên mặt nước. Ở đây, phao, được định vị bởi các vệ tinh và tải về hồ sơ nhiệt độ, độ mặn. Sau đó xì hơi và phao sẽ chìm trở lại độ sâu để lặp lại các chu kỳ đã định. Phao thu thập dữ liệu được thiết kế để thực hiện khoảng 140 chu kỳ đo lường trong 4 năm. Tuổi thọ của phao phụ thuộc vào độ sâu định hình và mật độ nước mặt mà phao hoạt động.

 

Nhiệt độ trong các cấu hình Argo chính xác đến ± 0,002 ° C và áp suất chính xác đến ± 2,4dbar. Việc hiệu chỉnh được thực hiện cho cả độ lệch cảm biến đã xác định và lỗi độ trễ nhiệt, điều này có thể xảy ra khi phao di chuyển qua một vùng có độ dốc nhiệt độ mạnh.

 

Nguồn Argo Frequently Asked Questions partt of the Intergrated  Global Observation Strategy http://www.argo.ucsd.edu/

 

Những nghiên cứu thực hiện đã thể hiện nỗ lực cải thiện phương pháp sử dụng để giải thích cho các khoảng trống không gian và thời gian trong các phép đo nhiệt độ đại dương. Chiến lược lấp đầy khoảng trống truyền thống đã đưa ra một khuynh hướng đối với những thay đổi cường độ thấp. Để giảm thiểu mức độ thiên vị, người ta đã thực hiện quan sát đo độ cao vệ tinh để bổ sung cho độ thưa quan sát đại dương tại chỗ và cập nhật chuỗi thời gian OHC toàn cầu kể từ năm 1970. Cheng và cộng sự đã đề xuất phương pháp lấp đầy khoảng trống mới bằng mô phỏng đa mô hình, cho phép truyền bá thông tin từ các vùng giàu dữ liệu đến các khoảng trống dữ liệu, mở rộng phân tích tới độ sâu 2.000 m và sử dụng phương pháp làm ấm đại dương được phân lập từ tác động trực tiếp của khí thải nhân tạo và nhấn chìm CO2, để ước tính độc lập những thay đổi của OHC theo thời gian sau năm 1991.

Những ước tính OHC dựa trên quan sát gần đây cho thấy, sự nóng lên trong giai đoạn 1971-2010 đối với phần 2.000 m của đại dương đã tăng tốc từ sau năm 1991 với mức độ đến 0,55 đến 0,68 W/m 2.Nhiều bằng chứng từ các nhóm nghiên cứu độc lập cho thấy, sự nóng lên của OHC được quan sát còn mạnh mẽ hơn ( Lijing Cheng et al 2019)

 src=

Phao Argo cung cấp vùng phủ sóng dữ liệu toàn cầu cho phần trên 2000 m của đại dương.(Alica Navidad)

Triển khai mạng Argo vào đầu những năm 2000 đã dẫn đến phạm vi quan sát vượt trội và giảm sự không chắc chắn so với thời gian trước đó. Vào thời kỳ 2005-2017, tốc độ ấm lên của nước biển trong các mô hình ở độ sâu 2.000 m có giá trị trung bình là 0,68 ± 0,02 W/m2−2, trong khi các quan sát thu nhận được có tỷ lệ 0,54 ± 0,02; 0,64 ± 0,02 và 0,68 ± 0,06 W/m2 cho thấy, ​​những thay đổi OHC là đáng tin cậy.Tuy nhiên, điều quan trọng là thiết lập được một hệ thống quan sát đại dương sâu để theo dõi những thay đổi dưới độ sâu 2.000 m nhằm cải thiện hồ sơ lịch sử, bằng cách khôi phục các quan sát OHC chưa được số hóa.

Mô phỏng khí hậu tương lai sử dụng tập hợp các kịch bản. Có 2 kịch bản thể hiện hình ảnh nóng lên đáng kể trong thế kỷ 21.  Kịch bản Con đường tập trung đại diện, gần với mục tiêu của Thỏa thuận Paris là hạn chế sự nóng lên toàn cầu xuống dưới 2°C, dự kiến đại dương ​​sẽ nóng lên với sự gia tăng 1037 zettajoules (ZJ) vào cuối thế kỷ 21. Với kịch bản kinh doanh,lượng khí thải nhà kính cao hơn, các mô hình dự kiến nóng thêm ở mức gia tăng 2020 ZJ sẽ tác động lớn đến hệ sinh thái. Thông qua giãn nở nhiệt, nước biển sẽ dâng cao thêm 30 cm chưa tính đến sự gia tăng do băng tan trên mặt đất.

Báo cáo từ Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) tháng 10 năm 2018, lo ngại về sự tồn tại của hành tinh. Nhằm tránh tác động do biến đổi khí hậu (BĐKH) tàn phá. Các Chính phủ trên thế giới đã ý thức hơn về trách nhiệm của mình, có gần 200 quốc gia cam kết giảm phát thải khí nhà kính theo hiệp định khí hậu Paris 2015.

Ngăn chặn biến đổi khí hậu thảm khốc đề xuất từ chuyên gia và các tổ chức quốc tế

Xu hướng nóng lên toàn cầu tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong năm 2018, với nhiệt độ trung bình cao thứ tư trong những kết quả kỷ lục được ghi nhận. Tổ chức Khí tượng thế giới (WNO) cho biết, 10 tháng đầu năm 2018, nhiệt độ trung bình của trái đất, cao hơn gần 1°C so với các chỉ số ghi nhận của thời kỳ tiền công nghiệp (1850-1900). Trong 22 năm gần đây, có 20 năm nhiệt độ trái đất đạt trung bình cao nhất, đặc biệt trong thời kỳ 2015-2018 nhiệt độ trung bình đã đứng đầu danh sách. Chính phủ các quốc gia trên toàn thế giới đang hướng tới thực hiện “những thay đổi nhanh chóng và sâu rộng chưa từng có trong mọi khía cạnh của xã hội” nhằm tránh trái đất nóng quá mức gây ra thảm họa toàn cầu. Theo nhiều phân tích, nếu nhiệt độ trái đất tăng quá 1,50C so với thời kỳ tiền công nghiệp sẽ dẫn đến nguy cơ hạn hán, lũ lụt và thiếu lương thực cho hàng trăm triệu người.

Do mức phát thải khí nhà kính gia tăng cao, trái đất nóng lên đang là một thách thức lớn. Đến nay, toàn cầu đã ấm lên 10C và đã vượt qua 2/3 chặng đường để cán mốc tăng 1,50C. Để hạn chế nhiệt độ trái đất tiếp tục gia tăng, đòi hỏi nhân loại phải hành động khẩn cấp, bởi nếu vượt quá giới hạn tăng thêm 1,50C, hành tinh loài người đang sống sẽ nóng hơn nhiều. Ngoài ra, nước biển dâng cao, bão tố, hạn hán và mưa cực đoan sẽ còn tồi tệ hơn. Theo các nhà khoa học, để giữ được nhiệt độ trái đất ấm lên ở mức 1,50C vào năm 2030, lượng khí thải carbon dioxide toàn cầu cần giảm tới 45% so với mức của năm 2010 và đạt “không số” ( 0 ) vào  năm 2050. Muốn giảm lượng khí thải xuống mức độ này, đòi hỏi phải có những thay đổi rộng rãi cả về năng lượng, công nghiệp, xây dựng, giao thông và đô thị hóa (Brandon Miller& Jay Croft 20018).

Biến đổi khí hậu đã xảy ra và những gì tiếp theo có thể còn tồi tệ hơn nhiều. Thông điệp đưa ra trong báo cáo đặc biệt của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) cuối tháng 12 năm 2018 đã nhấn mạnh, chúng ta đã thấy hậu quả nóng lên toàn cầu ở mức 10C thông qua thời tiết khắc nghiệt, nước biển dâng cao và băng biển Bắc cực giảm dần. Ngay cả khi giữ được mức nóng lên ở dưới 1,50C, những tác tác động bất lợi cũng sẽ lan rộng; tại các nước châu Âu trong mùa hè, nhiệt độ có thể tăng thêm trên 30C (IPCC 2018).

Cùng với nhiệt độ gia tăng, hạn hán sẽ dữ dội, các trận mưa lớn sẽ thường xuyên hơn và những rạn san hô trên biển bị ảnh hưởng nghiêm trọng với khoảng 70% đến 90% bị chết. Chung xu thế hiểm họa gia tăng do BĐKH, các nước Nam bán cầu sẽ nằm trong diện tồi tệ và được dự báo ​​sẽ trải qua những tác động lớn nhất đến tăng trưởng kinh tế.

Báo cáo của IPCC đã nhấn mạnh, mức gia tăng nhiệt độ trái đất dù là nhỏ trong mục tiêu cơ sở nhưng cũng sẽ làm xấu đi nhiều do tác động của các thảm họa. Mức tăng nhiệt độ trái đất ở 1,50C so với 20C sẽ làm nước biển dâng toàn cầu thấp hơn 10 cm; đưa Bắc Băng Dương không băng biển vào mùa hè chỉ một lần trong mỗi thế kỷ, thay vì một lần mỗi thập kỷ và các rạn san hô giảm từ 70% đến 90% thay vì bị xóa sổ gần như hoàn toàn (IPCC2018)

Nhằm thực hiện Thỏa thuận Khí hậu Paris 2015,197 quốc gia đã đồng ý với mục tiêu giữ nhiệt độ toàn cầ thấp hơn 2 0C  so với mức trước cách mạng công nghiệp và theo đuổi các nỗ lực để giới hạn ở mức 1,50C. Hạn chế nhiệt độ nóng lên toàn cầu có thể thực hiện theo các định luật hóa học và vật lý, nhưng đòi hỏi những thay đổi chưa từng có. Theo đó, hợp tác quốc tế là điều bắt buộc để hạn chế khí thải và những tác động của chúng cũng như phối hợp thích ứng một cách hiệu quả và rộng khắp.

Có 2 cách để loại bỏ dioxit carbon khỏi khí quyển đó là tăng các quá trình tự nhiên hoặc thực hiện các giải pháp công nghệ lưu trữ và loại bỏ. Tuy nhiên, các phương pháp đang ở những giai đoạn phát triển khác nhau, một số còn mang tính khái niệm chưa được thử nghiệm ở quy mô tin cậy. Báo cáo của IPCC cảnh báo và yêu cầu sự tham gia chính trị đáng kể trên toàn cầu nhằm làm giảm lượng khí carbon phát thải. Trước thái độ thờ ơ của Chính phủ một số nước lớn, các nhà khoa học thế giới đã làm rõ hơn những gì đã từng nêu ra. đó là chuyển đổi khẩn cấp và nhanh chóng sang nền kinh tế năng lượng sạch toàn cầu (Brandon Miller& Jay Croft 20018).

Tổng thư ký WMO Petteri Taalas nhận định, xu hướng nóng lên toàn cầu trong thời gian dài diễn ra như điều hiển nhiên, nếu nhân loại vẫn duy trì các hoạt động sinh hoạt và sản xuất như hiện nay. Ông nhấn mạnh “Nhiệt độ Trái đất có nguy cơ tăng từ 3°C đến 5°C kể từ nay cho đến cuối thế kỷ. Nồng độ khí nhà kính sẽ đạt mức kỷ lục. Nếu chúng ta khai thác tất cả các nguồn nhiên liệu hóa thạch, sự gia tăng nhiệt độ sẽ còn đáng sợ hơn nhiều” . Ông kêu gọi “….Cần phải cùng nhau hành động, bởi chúng ta là thế hệ đầu tiên hiểu được tác động của biến đổi khí hậu, nhưng cũng là thế hệ cuối cùng có thể đối phó với vấn đề này trước khi quá muộn” (Minh Duy 2018)

Thay cho lời kết

Trong báo cáo đặc biệt về tác động của sự nóng lên 1,5°C trên toàn cầu so với thời kỳ tiền công nghiệp và lộ trình phát thải khí nhà kính toàn cầu tương ứng, trong bối cảnh tăng cường ứng phó với mối nguy biến đổi khí hậu, phát triển bền vững và các nỗ lực xóa nghèo, Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) nhấn mạnh: Tăng cường năng lực cho hành động khí hậu của chính quyền cấp quốc gia và địa phương, xã hội dân sự, khu vực tư nhân, người bản địa và cộng đồng địa phương có thể hỗ trợ thực hiện các hành động đầy tham vọng về hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức 1,5°C. Theo đó, hợp tác quốc tế có thể tạo một môi trường thuận lợi để đạt được điều này ở tất cả các nước và cho tất cả mọi người. Trong bối cảnh phát triển bền vững. hợp tác quốc tế là một yếu tố tạo điều kiện then chốt cho các nước đang phát triển và các khu vực dễ bị tổn thương. Hy vọng từ những thành công mới trong nghiên cứu BĐKH và tinh thần hợp tác quốc tế sâu rộng sẽ giúp Việt Nam có được những giải pháp hữu hiệu trong ứng phó, khắc phục có hiệu quả những hiểm họa của một quốc gia nằm trong nhóm 10 nước có nguy cơ lớn nhất về BĐKH toàn cầu ./.

Tài liệu tham khảo

IPCC (2018) Báo cáo đặc biệt về sự nóng lên toàn cầu 1.5ºC(tóm tắt dànhcho nhà hoạch định chính sách)

http://www.ipcc.ch/report/sr15/ hoặc www.ipcc.ch  Hàn Quốc, ngày 6tháng 10

Alister Doyle (2019)  Oceans warming faster than expected set heat record in 2018

https://www.reuters.com/article/us-climatechange-oceans/oceans-warming-faster-than-expected-set-heat-record-in-2018-scientists-idUSKCN1P42H Ngày 11 tháng01

Agro (2019) Argo part of the Intergrated  Global Observation Strategy

http://www.argo.ucsd.edu/14 January

Kamakshi Ayyar (2019) Ocean warming climate change impact

http://time.com/5500002/oceans-warming-climate-change-impact/ ngày 11 tháng 01

Lijing Cheng et al (2019)     Vì sao các đại dương nóng lên nhanh chóng?

http://science.sciencemag.org/content/363/6423/128 ngày 11 tháng 01

Tim Wallage (2016) .      Đại dương đang hấp thụ toàn bộ sức nóng toàn cầu

https://www.nytimes.com/interactive/2016/09/12/science/earth/ocean-warming-climate-change.html  12 tháng 12

Brandon Miller&Jay Croft(2018)   Ngăn chặn biến đổi khí hậu thảm khốc,cảnh báo từ các chuyên gia

https://edition.cnn.com/2018/10/07/world/climate-change-new-ipcc-report-wxc/index.html   8 tháng 10.

Minh Duy (2018)            2018 là năm thứ tư liên tiếp có nhiệt độ trung bình cao nhất

http://nhandan.com.vn/thegioi/item/38433502-2018-la-nam-thu-tu-lien-tiep-co-nhiet-do-trung-binh-cao-nhat.html ngày01 tháng12.

 

TP.HCM trước thách thức ngập, lún, nước biển dâng | Tài chính – Kinh doanh

 

Phải di dân chạy ngập?

Ngày 30.10, tờ The New York Times dẫn nghiên cứu do Tổ chức khoa học Climate Central thực hiện và công bố trên tạp chí Nature trước đó 1 ngày cho biết, hiện tượng nước biển dâng sẽ xóa sổ nhiều thành phố lớn ven biển vào năm 2050, khiến số dân cư bị ảnh hưởng tăng lên tới 150 triệu người, gấp 3 lần so với dự đoán trước đây.

Trong 6 quốc gia châu Á (Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ, VN, Indonesia và Thái Lan), có khoảng 237 triệu người đang sống ở những khu vực bờ biển dễ có nguy cơ ngập lụt. Nếu không có các công trình bảo vệ vùng ven biển, nhiều khu dân cư tại 6 nước trên có thể bị ngập lụt ít nhất mỗi năm một lần vào năm 2050, cao hơn gấp 4 lần so với những ước tính dựa trên dữ liệu độ cao cũ là khoảng 80 triệu người.

 

Vấn đề đầu tư nghiên cứu, quy hoạch là trách nhiệm của cơ quan nhà nước và cần làm nhanh, làm ngay, không thể chậm trễ hơn được nữa

TS Nguyễn Xuân Thuyên

 

Đáng chú ý, Climate Central cảnh báo phần lớn ĐBSCL có thể bị ngập do tác động của triều cường vào năm 2050, so với các dự báo trước đó về việc chỉ ngập một phần. Khu vực sinh sống của hơn 20 triệu người, tương đương gần 1/4 dân số, sẽ bị ngập do ảnh hưởng của nước biển dâng. Phần lớn diện tích TP.HCM cũng sẽ chìm dưới nước.
Thông tin trên gây lo lắng cho rất nhiều người dân tại TP.HCM cũng như các tỉnh ĐBSCL bởi đây không phải lần đầu tiên họ bị “dọa” sẽ chìm trong nước biển trong vòng vài chục năm tới. Trước đó, năm 2015, kết quả tính toán của Liên doanh tư vấn quốc tế Deltares – Royal Haskoning chỉ ra rằng với mức độ khai thác nước ngầm như hiện nay thì đến năm 2050 có nhiều nơi tại TP.HCM mặt đất sẽ bị lún thêm từ 0,5 m đến hơn 1 m.
Điều này khiến tình trạng ngập lụt thời gian tới sẽ ngày càng nghiêm trọng. Đó là chưa kể đến tình trạng biến đổi khí hậu, nước biển dâng và triều cường. Tổ chức này đưa ra 3 kịch bản. Kịch bản 1, nếu lượng mưa 100 mm sẽ khiến khu vực ngoại thành như: các quận 7, 9, 12, huyện Nhà Bè, Bình Chánh, Hóc Môn bị ngập úng. Kịch bản 2, khi triều cường đạt đỉnh 1,68 m như thời gian qua thì khu vực Q.7, huyện Nhà Bè, Bình Chánh sẽ bị ngập. Kịch bản 3, kết hợp mưa và triều cường, xả lũ hồ Trị An và hồ Dầu Tiếng thì 64% diện tích bị chìm trong biển nước, thậm chí khu vực trung tâm sẽ bị ngập lên đến 6 giờ.
Sau đó, nghiên cứu của Đại học Utrecht (Hà Lan) cũng dự báo hiện tượng sụt lún mặt đất, mất phù sa, nước biển dâng… sẽ khiến gần như toàn bộ ĐBSCL chìm dưới mặt nước biển vào năm 2100. Kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên – Môi trường (TN-MT) cũng chỉ ra rằng đến năm 2100, nếu mực nước biển dâng 100 cm thì TP.HCM sẽ có 20% diện tích bị nhấn chìm.

Tuy nhiên, khác với những nghiên cứu trước đó, công bố mới đây của Climate Central thật sự gây hoang mang khi không dừng lại ở những con số cảnh báo, các nhà khoa học còn khuyến cáo ngay từ bây giờ, các quốc gia nên bắt đầu chuẩn bị cho công tác tái định cư.

Trên The New York Times, ông Benjamin Strauss, Giám đốc điều hành Climate Central, cho biết khoảng 110 triệu người đang sinh sống tại các khu vực này ở dưới mức nước ở đỉnh triều là nhờ các biện pháp xây dựng đê biển và tường bao. Nhưng kể cả khi có đầu tư như vậy, các biện pháp phòng ngừa cũng chỉ có tác dụng tới mức nhất định.

Trong khi đó, bà Dina Ionesco, thuộc Tổ chức Di trú quốc tế, dự đoán sắp tới có thể sẽ diễn ra một trong những đợt di dân với quy mô lớn nhất từ trước tới nay. Sau đó, nhiều báo chí trong và ngoài nước diễn dịch báo cáo này thành “nguy cơ phải di tản 12 triệu người”.

Có thể còn “chìm” nhanh hơn, nhưng không phải tất cả

Trả lời Thanh Niên, bà Nguyễn Thị Thanh Mỹ, Phó giám đốc Sở TN-MT TP.HCM, thừa nhận có nhiều con số nghiên cứu cho thấy TP.HCM đang sụt lún và có thể xảy ra ngập lụt do biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, vẫn chưa có một số liệu chính xác nào về việc 50 năm nữa TP sẽ “chìm”.

Trong khi đó, TS Nguyễn Xuân Thuyên, Trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia TP.HCM), nhận định mô hình dự đoán không thể chính xác tuyệt đối. Cũng chưa có bất cứ cơ quan nào kiểm định về các con số và chỉ ra xác suất sẽ xảy ra kịch bản trên là bao nhiêu phần trăm. Tuy nhiên, sau khi đọc kỹ bản gốc của nghiên cứu, ông Thuyên đánh giá tài liệu này đáng tin cậy và cho rằng kịch bản thực sự rất đáng lo trong tương lai gần.

Climate Central mới chỉ dự báo từ góc độ tính toán nước và cốt nền hiện tại, chứ chưa tính đến lún vì họ không thể đủ dữ liệu. Trong khi đó, tình trạng lún nền do bê tông hóa và khai thác nước ngầm mới thật sự đang là mối nguy lớn nhất gây hiện tượng ngập lụt tại TP.HCM cũng như các tỉnh ĐBSCL.

“Chỉ với số liệu nước dâng được tính toán kỹ như vậy đã thấy nguy rồi. Nếu cộng thêm tốc độ lún tăng nhanh như hiện nay và còn có thể tăng nhanh hơn nữa trong tương lai gần, việc lún, “chìm” có thể còn diễn ra sớm hơn nữa và các nhà lãnh đạo không thể bỏ qua các nghiên cứu như thế này”, ông Thuyên lo ngại.

Dù đồng tình với kịch bản xấu nhất mà Climate Central đưa ra, song ông Thuyên khẳng định đây là dự báo chung mang tính chất toàn cầu, vấn đề địa phương khác hơn nhiều. Ngay cả số liệu lún, không phải chỗ nào cũng giống nhau, không đồng loạt nên không thể đưa ra con số chung chung để khẳng định toàn vùng miền Nam VN sẽ “chìm” vào thời điểm đó.

Cùng quan điểm, TS Dương Văn Ni, Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên – Trường đại học Cần Thơ, nhận xét các nhà khoa học từ Climate Central có tính đến cả độ lún nhưng tính bằng con số trung bình, không cụ thể cho một địa điểm nào nên kết quả chỉ mang tính tham khảo trong phạm vi nghiên cứu của họ. Bên cạnh đó, kết quả bao nhiêu phần trăm diện tích miền Nam VN có độ cao thấp hơn mực nước biển vào năm 2050 có độ tin cậy cao nhưng diễn giải, giả định bao nhiêu người phải di cư là sai.

“Bản gốc nói kỹ cao trình mặt đất bị ngập ở những đỉnh triều. Hầu hết các vùng đồng bằng trên thế giới, mặt đất vào thời điểm 2050 đều thấp hơn đỉnh triều, ở những diện tích như vậy. Nhưng về mặt khoa học thì không có chứng minh nào thuyết phục rằng người dân tại các vùng đó phải di cư. Ngay tại ĐBSCL hiện nay, có nhiều vùng mấy chục năm qua đất thấp hơn mực nước biển nhưng người dân vẫn sinh sống bình thường. Đơn cử như vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, mỗi năm có 6 tháng ngập tới vài mét nhưng trong thời gian đó cũng không có ai rời đi. Họ vẫn sinh hoạt, lao động, sản xuất và có thu nhập bình thường. Những diễn giải trên đang khiến người dân hiểu theo hướng nước ngập tới chân thì nhất định phải đi, tạo cảm giác ĐBSCL, TP.HCM phải di cư, gây hiệu ứng tiêu cực đối với người dân”, ông Ni nhấn mạnh.

Cần quy hoạch sống chung với nước

Theo TS Dương Văn Ni, những dự báo về tình trạng sụt lún, nước biển dâng sẽ nhấn chìm ĐBSCL hay TP.HCM trong vài chục năm tới thật sự đáng lo ngại, nhưng lại đang “lo ngại” sai cách. Cụ thể, xu hướng chống ngập tại TP.HCM hiện nay vẫn là đắp đê ngăn nước, làm các biện pháp công trình với mục tiêu “hong khô” tất cả các điểm ngập. Lãnh đạo TP luôn bày tỏ kỳ vọng kiểm soát ngập có hiệu quả nhưng thực tế, tất cả biện pháp công trình đều không còn hiệu quả nữa, và vô cùng tốn kém.

“Trước đây, Mỹ đã nhiều năm chạy theo, nghiên cứu các thành tựu kỹ thuật với niềm tin con người có thể chế ngự được thiên nhiên. Cho đến năm 2005, khi bão Katrina đã phá hủy hàng loạt hệ thống đê đập ngăn lũ tại New Orleans của Mỹ và khu vực ngoại ô thành phố khiến hơn 1.800 người thiệt mạng, họ đã phải chấp nhận chịu thua ông trời. Chính quyền Mỹ sau đó đã phải chính thức tuyên bố “Đây là khu vực ngập”, không cấm nhưng sẽ không bán bảo hiểm ngập cho bất cứ người dân nào mua nhà và sinh sống tại đây. Nói vậy để thấy, đã đến lúc TP.HCM cần có nghiên cứu bài bản, cho ra những con số chính thức và tính đến chuyện quy hoạch sống chung với nước. Trong đó, chỉ rõ những vùng chấp nhận chịu ngập để người dân có kế hoạch thích nghi, thích ứng. Những khu vực trọng yếu có thể giữ sẽ được tập trung kinh phí, bao đê quyết liệt, bảo đảm 100% không ngập”, ông Ni đề xuất.

Đây cũng là quan điểm xuyên suốt của TS Nguyễn Xuân Thuyên trong nhiều năm nghiên cứu tìm cách giúp TP.HCM và ĐBSCL ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo ông Thuyên, biến đổi khí hậu không chỉ diễn ra tại VN mà có tác động đến toàn thế giới và chúng ta không thể kiểm soát hay chống lại tự nhiên. Trước thiên tai, con người phải xác định chỉ có thể xây dựng phương án dự phòng bằng cách tích hợp nhiều giải pháp. Nhưng xuyên suốt phải theo tôn chỉ thích ứng, thích nghi chứ không chống lại tự nhiên.

Mới đây, chính phủ Indonesia vừa công bố kế hoạch dời thủ đô sang tỉnh Đông Kalimantan vào năm 2024 vì đô thị hiện hữu đã quá chật chội, không còn đủ khả năng đối phó với ngập lụt, kẹt xe, ô nhiễm… Hàn Quốc và Thái Lan cũng có chung ý định. Điều đó cho thấy các nước đã nhận ra rằng nếu cứ đổ tiền vào các công trình hàng trăm, nghìn tỉ để chống ngập thì cũng coi như đổ xuống sông, xuống biển. Cần có cái nhìn xa hơn, xây dựng nhiều kịch bản ứng phó khác nhau, thích nghi với điều kiện thay đổi khí hậu thực tế. Trong đó, phải tính đến chuyện tích lũy đầu tư xây dựng các khu đô thị mới để lùi lại, nhường bước trước tự nhiên.

Muốn như vậy, lãnh đạo, các cơ quan quy hoạch cần xem xét lại tất cả quy hoạch và phải có lựa chọn. Cần đặt trong bài toán tổng thể để trả lời một loạt các câu hỏi: Bỏ ra hàng nghìn tỉ làm đê, đắp đập thì những công trình này có thích ứng được với kịch bản biến đổi khí hậu xấu nhất hay không? Hạn sử dụng các công trình này trong bao lâu? Số tiền bỏ ra có tương xứng hay không? Trong trường hợp không thể chống ngập thì phương án dự phòng cho người dân ở khu vực đó thế nào? Nếu phải dời đi, họ sẽ đi đâu, tiền ở đâu để đảm bảo đời sống của người dân trong hoàn cảnh đó?…
“Có rất nhiều nghiên cứu, nhưng mỗi nhà khoa học có phương pháp, đáp án khác nhau. Họ cũng không thể có đủ điều kiện để cho ra bức tranh tổng thể về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, cũng như thầy bói xem voi vậy. Vấn đề đầu tư nghiên cứu, quy hoạch là trách nhiệm của cơ quan nhà nước và cần làm nhanh, làm ngay, không thể chậm trễ hơn được nữa”, ông Thuyên nhấn mạnh.
 

Tới cuối thế kỷ này, toàn bộ những vùng đất độ cao thấp hơn 4 m tại TP.HCM có nguy cơ ngập nước và những phần diện tích xây dựng không thuận lợi chiếm tới 60 – 70% tổng diện tích tự nhiên của TP. Để hạn chế tình trạng ngập lụt, bắt buộc phải lựa chọn những vùng đất có độ cao từ 4 m trở lên.

Qua nghiên cứu, vùng đất xây dựng TP mới phù hợp nhất là H.Củ Chi và một phần H.Hóc Môn. Diện tích tự nhiên cho xây dựng đô thị các khu vực này vào khoảng gần 80.000 ha, trong đó, có hơn 70% diện tích xây dựng thuận lợi, bao gồm cả đường thủy, đường bộ, bến cảng… phù hợp với phát triển đô thị. Phần còn lại là hồ chứa, kênh rạch và rừng tự nhiên. Không những vậy, nghiên cứu về thổ nhưỡng cho thấy khu vực này ít sụt lún và đất cao nên việc xây dựng TP về hướng này là phù hợp cho trước mắt và tương lai để đối phó với tình trạng nước biển dâng.

Về lâu dài cần xây dựng một cốt nền xây dựng mới với chuẩn độ cao có thể lên 4 m. Những công trình cấp đặc biệt, những khu đô thị mới phải bắt buộc nâng cốt theo quy định mới được xây dựng; những công trình khác nhà nước giao đất có thời hạn 70 năm trở xuống buộc phải xây dựng với cốt từ 2 m trở lên. Làm như vậy, các công trình xây dựng mới vẫn tồn tại và phát triển cho tới tận cuối thế kỷ. Việc đầu tư này mặc dù đắt hơn nhưng phải chấp nhận.

TS Phạm Gia Yên (nguyên Chánh thanh tra Bộ Xây dựng)

 

Biến đổi Khí hậu | Công ty Cà phê Starbucks

 

Giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu là ưu tiên hàng đầu của Starbucks. Chúng tôi tin rằng giờ là thời điểm để tăng cường đầu tư vào các giải pháp và chiến lược giải quyết cuộc khủng hoảng này. Các bước đang thực hiện không chỉ giải quyết dấu ấn môi trường của chúng tôi mà còn đảm bảo khả năng cung cấp cà phê có chất lượng cao như khách hàng mong đợi trong tương lai.

Mục tiêu của chúng tôi

Chúng tôi cam kết hỗ trợ các chương trình giúp người nông dân tiếp cận với thị trường cácbon, cho phép họ kiếm thêm thu nhập trong khi ngăn chặn được hiện tượng phá rừng.

Kết quả Đạt được

Starbucks đã triển khai chiến lược về biến đổi khí hậu kể từ năm 2004, tập trung vào năng lượng có thể tái tạo, bảo tồn năng lượng, cộng tác và thảo luật. Chúng tôi đang nỗ lực để làm giảm đáng kể dấu ấn môi trường bằng cách bảo tồn năng lượng và nước, giảm lãng phí những chiếc cốc đựng, tăng cường tái chế và kết hợp thiết kế xanh vào các cửa hàng của chúng tôi. Chúng tôi cũng cam kết ủng hộ chính sách tiến bộ về biến đổi khí hậu khi hợp tác với các doanh nghiệp và tổ chức khác.

Các dự án Cácbon Cà phê của Starbucks & CI

Chúng tôi lo lắng về những tác động tiềm ẩn của biến đổi khí hậu tại các vùng trồng cà phê. Để giúp giải quyết vấn đề này, chúng tôi đã hợp tác với Tổ chức Bảo tồn Quốc tế nhằm tiến hành các chương trình thí điểm cải tiến quá trình sản xuất cà phê, bảo tồn và khôi phục môi trường sống tự nhiên và tìm hiểu các cơ hội hỗ trợ người nông dân tiếp cận thị trường cácbon trồng rừng.

Năm vừa qua, chúng tôi đã thu hút 29 cộng đồng trồng cà phê tại Sumatra, Indonesia và Chiapas, Mexico – các vùng có môi trường nhạy cảm đặc biệt và truyền thống trồng cà phê khác biệt – vào những chương trình thí điểm này. Chúng tôi hiện đang nỗ lực để thu hút thêm tối thiểu 20 cộng đồng trong những khu vực này.

Thông qua mối quan hệ mở rộng với Tổ chức Bảo tồn Quốc tế, chúng tôi thí điểm các chương trình khuyến khích bảo tồn rừng nhằm giúp nông dân trồng cà phê tiếp cận được thị trường cácbon. Theo mô hình này, chúng tôi làm việc với người nông dân để tiến hành các hoạt động giảm thiểu phát thải các bon.

Phát thải Khí Nhà kính

Để tiếp tục theo dõi và định lượng dấu ấn môi trường của riêng mình, chúng tôi đã tiến hành đánh giá tình trạng phát thải khí nhà kính (GHG) vào năm 2011. Bằng cách sử dụng Giao thức Khí Nhà kính của Hội đồng Thương mại Thế giới về Phát triển Bền vững (WBCSD)/Viện Tài nguyên Thế giới (WRI), chúng tôi đã đánh giá được mức độ phát thải nghiêm trọng từ các cửa hàng bán lẻ trên toàn cầu và hoạt động rang cà phê của chúng tôi. Vì hơn 80 phần trăm lượng phát thải GHG là do việc sử dụng năng lượng tại các cửa hàng, văn phòng và nhà máy rang cà phê của chúng tôi, chúng tôi đang tập trung nỗ lực để bảo tồn năng lượng và thu mua năng lượng có thể tái tạo.

Climate Change Article

Starbucks đã sử dụng Tiêu chuẩn Công ty theo Giao thức GHG của WRI/WBCSD để đánh giá tình trạng phát thải khí nhà kính trong năm tài chính 2010 của chúng tôi. Quá trình đánh giá của năm 2011 cho biết mức phát thải trong Phạm vi 1 và Phạm vi 2 của chúng tôi là 979,963 tấn cácbon đioxit. Theo Giao thức này, Phạm vi 1 bao gồm việc phát thải GHG trực tiếp từ các nguồn do công ty sở hữu hoặc kiểm soát. Đối với Starbucks, những nguồn này bao gồm các nhà máy rang cà phê, hoạt động của cửa hàng, phương tiện vận tải và máy bay do công ty sở hữu. Phạm vi 2 bao gồm việc phát thải GHG trực tiếp từ quá trình tạo điện năng đã mua để tiêu thụ của công ty. Tin tốt là, so với dấu ấn GHG trong năm 2010 với khoảng 1.006.,954 tấn*, chúng tôi đã thành công trong việc giảm phát thải GHG là 2,7% trên cơ sở tuyệt đối. Con số này phản ánh sự thành công của chương trình hiệu suất năng lượng.

*dấu ấn năm 2010 được điều chỉnh do thông tin sửa đổi của nhà cung cấp

Hành Động vì Biến Đổi Khí Hậu

 

Tại Samsung Electronics, Chúng Tôi Không Ngừng Mở Rộng Việc Sử Dụng Năng Lượng Tái Tạo

Là một công ty CNTT hàng đầu toàn cầu, Samsung Electronics đã mở rộng việc sử dụng năng lượng tái tạo để ứng phó với biến đổi khí hậu và chính thức công bố các mục tiêu lớn vào tháng 6 năm 2018.

– Chúng tôi sẽ chuyển sang sử dụng 100% năng lượng tái tạo ở tất cả các cơ sở của chúng tôi tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Trung Quốc vào năm 2020.
Samsung Electronics đã đặt ra mục tiêu ngắn hạn là mở rộng việc sử dụng năng lượng tái tạo bắt đầu ở Hoa Kỳ, Trung Quốc và Châu Âu, những nơi có đủ cơ sở hạ tầng để sử dụng năng lượng tái tạo và đang tiếp tục không ngừng nỗ lực để đạt được mục tiêu đó.
Đầu tiên, chúng tôi đã chuyển sang sử dụng 100% năng lượng tái tạo đối với tất cả điện năng được sử dụng ở các trụ sở khu vực và các công trường bán dẫn ở Hoa Kỳ vào năm 2019, đồng thời trước đó, đã chuyển sang sử dụng năng lượng tái tạo 100% tại công trường Slovakia ở châu Âu. Hướng đến tương lai, chúng tôi có kế hoạch chuyển sang sử dụng năng lượng tái tạo phù hợp theo khu vực, dần dần ở các công trường khác ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Ngoài ra, chúng tôi đã lắp đặt một cơ sở sản xuất năng lượng quang điện 5,5MW trên nóc tòa nhà của các công trường sản xuất TV và chất bán dẫn ở Trung Quốc. Giống như ở Hàn Quốc, tất cả năng lượng được tạo ra đang được sử dụng cho hoạt động của các cơ sở sản xuất và cơ sở phụ trợ.

– Chúng tôi sẽ lắp đặt các cơ sở sản xuất năng lượng quang điện và địa nhiệt ở các bãi đỗ xe và trên mái nhà của tất cả các công trường trong nước của chúng tôi như Suwon, Hwaseong và Pyeongtaek vào năm 2020.
Để phù hợp với mục tiêu của chính phủ Hàn Quốc là tăng cường việc sử dụng năng lượng tái tạo lên mức 20% vào năm 2030 và 30 đến 35% vào năm 2040, khu làm việc Suwon của Samsung Electronics đã lắp đặt các cơ sở sản xuất năng lượng quang điện với tổng công suất 1,9MW trong tháp đậu xe và trên nóc nhà của năm cơ sở nghiên cứu như một dự án thí điểm trong nước. Năng lượng được tạo ra bởi các cơ sở quang điện đang được sử dụng trực tiếp cho các cơ sở nghiên cứu và bãi đỗ xe có liên quan. Bằng cách theo dõi kết quả lắp đặt cơ sở quang điện thí điểm, chúng tôi dự định sẽ liên tục giới thiệu các cơ sở sản xuất năng lượng quang điện và địa nhiệt tại các trung tâm hậu cần và các công trình lớn khác ở Hwaseong và Pyeongtaek vào năm 2020

– Bằng cách tham gia Chuỗi cung ứng CDP vào năm 2019, chúng tôi có kế hoạch đề xuất 100 đối tác kinh doanh quan trọng nhất của chúng tôi để thiết lập mục tiêu sử dụng năng lượng tái tạo.
Để hỗ trợ việc mở rộng việc sử dụng năng lượng tái tạo của các đối tác kinh doanh của chúng tôi, Samsung Electronics dự định tham gia Chuỗi cung ứng CDP để yêu cầu 100 đối tác kinh doanh quan trọng nhất của chúng tôi dựa trên số tiền mua hàng thiết lập mục tiêu sử dụng năng lượng tái tạo và mở rộng việc sử dụng năng lượng tái tạo trong khi đóng vai trò trong việc tạo ra một môi trường lành mạnh hơn.

Leave your Comment