Bạch cầu là gì 337

Hướng dẫn cách đọc kết quả xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu trên máy tự động


Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu là một trong các xét nghiệm thường quy được thực hiện khi khám sức khỏe, khám bệnh, cấp cứu và theo dõi quá trình điều trị của bệnh nhân. Sau đây là cách đọc và ý nghĩa của sự thay đổi các chỉ số trong xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu được thực hiện trên máy tự động:

1. RBC (Red Blood Cell – Số lượng hồng cầu trong một thể tích máu):


– Giá trị bình thường: Nữ: 3.8 – 5.0 T/L; Nam: 4.2 – 6.0 T/L.



– Tăng: mất nước, chứng tăng hồng cầu.



– Giảm: thiếu máu.



2. HBG (Hemoglobin – Lượng huyết sắc tố trong một thể tích máu):



– Huyết sắc tố là một loại phân tử protein của hồng cầu có vai trò vận chuyển oxy từ phổi đến các cơ quan trao đổi và nhận CO2 từ các cơ quan vận chuyển đến phổi trao đổi để thải CO2 ra ngoài và nhận oxy. Huyết sắc tố đồng thời là chất tạo màu đỏ cho hồng cầu.



– Giá trị bình thường: Nữ: 120 – 150 g/L; Nam: 130-170 g/L.



– Tăng: mất nước, bệnh tim và bệnh phổi,…



– Giảm: thiếu máu, chảy máu và các phản ứng gây tan máu,…



3. HCT (Hematocrit – Tỷ lệ thể tích hồng cầu/ thể tích máu toàn bộ):



– Giá trị bình thường: Nữ: 0.336-0.450 L/L; Nam: 0.335-0.450 L/L.



– Tăng: dị ứng, chứng tăng hồng cầu, hút thuốc lá, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh mạch vành, ở trên núi cao, mất nước, chứng giảm lưu lượng máu,…



– Giảm: mất máu, thiếu máu, thai nghén,…



4. MCV (Mean corpuscular volume – Thể tích trung bình của hồng cầu):


– Được tính từ hematocrit và số lượng hồng cầu.



– Giá trị bình thường: 75 – 96 fL



– Tăng: thiếu hụt vitamin B12, thiếu acid folic, bệnh gan, nghiện rượu, chứng tăng hồng cầu, suy tuyến giáp, xơ hoá tuỷ xương,…



– Giảm: thiếu hụt sắt, hồng cầu thalassemia và các bệnh hemoglobin khác, thiếu máu trong các bệnh mạn tính, suy thận mạn tính, nhiễm độc chì,…



5. MCH (Mean Corpuscular Hemoglobin – Lượng huyết sắc tố trung bình có trong một hồng cầu):



– Giá trị bình thường: 24- 33pg.



– Tăng: thiếu máu đa sắc hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh.



– Giảm: bắt đầu thiếu máu thiếu sắt, thiếu máu nói chung, thiếu máu đang tái tạo



6. MCHC (Mean Corpuscular Hemoglobin Concentration – Nồng độ huyết sắc tố trung bình trong một thể tích máu):



– Giá trị này được tính bằng cách đo giá trị của hemoglobin và hematocrit.



– Giá trị bình thường: 316 – 372 g/L



– Tăng: thiếu máu đa sắc hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh.



– Trong thiếu máu đang tái tạo, có thể bình thường hoặc giảm do giảm folate hoặc vitamin B12,…



7. RDW (Red Cell Distribution Width – Độ phân bố hồng cầu):



– Giá trị bình thường: 9 -15%.



– Giá trị này càng cao nghĩa là độ phân bố của hồng cầu thay đổi càng nhiều.



+ RDW bình thường và:



. MCV tăng, thường gặp trước bệnh bạch cầu.



. MCV bình thường: Thiếu máu trong các bệnh mạn tính, mất máu hoặc tan máu cấp tính, bệnh enzym hoặc bệnh hemoglobin không thiếu máu.



. MCV giảm: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, thalassemia dị hợp tử



+ RDW tăng và:



. MCV tăng: thiếu hụt vitamin B12, thiếu hụt folate, thiếu máu tan huyết do miễn dịch, ngưng kết lạnh, …



. MCV bình thường: thiếu sắt giai đoạn sớm, thiếu hụt vitamin B12 giai đoạn sớm, thiếu hụt folate giai đoạn sớm, thiếu máu do bệnh globin,…



. MCV giảm: thiếu sắt, bệnh HbH, thalassemia,…



8. WBC (White Blood Cell – Số lượng bạch cầu trong một thể tích máu):



– Giá trị bình thường: 4.0 đến 10.0G/L.



– Tăng: viêm nhiễm, bệnh máu ác tính, các bệnh bạch cầu,…



– Giảm: giảm sản hoặc suy tủy, thiếu hụt vitamin B12 hoặc folate, nhiễm khuẩn,…



9. NEUT (Neutrophil – Bạch cầu trung tính):



– Giá trị tăng cao trong nhiễm khuẩn cấp, nhồi máu cơ tim cấp, stress, ung thư, bệnh bạch cầu dòng tuỷ,…



– Giảm: nhiễm virus, giảm sản hoặc suy tủy, các thuốc ức chế miễn dịch, xạ trị,…



10. LYM (Lymphocyte – Bạch cầu Lymphô):



– Giá trị bình thường: 19- 48% (0.9 – 5.2 G/L).



– Tăng: nhiễm khuẩn mạn, lao, nhiễm một số virus khác, bệnh CLL, bệnh Hogdkin,…



– Giảm: giảm miễn nhiễm, nhiễm HIV/AIDS, ức chế tủy xương do các hóa chất trị liệu, các ung thư, tăng chức năng vỏ thượng thận, sử dụng glucocorticoid…



11. MONO (Monocyte – Bạch cầu Mono)



– Giá trị bình thường: 3.4 – 9% (0.16 -1 G/L).



– Tăng: chứng tăng bạch cầu đơn nhân do nhiễm khuẩn của nhiễm virus khác, bệnh bạch cầu dòng mono, trong rối loạn sinh tủy,…



– Giảm trong các trường hợp thiếu máu do suy tủy, các ung thư, sử dụng glucocorticoid…



12. EOS (Eosinophil – Bạch cầu đa múi ưa axit)



– Giá trị bình thường: 0- 7% (0- 0.8 G/L).



– Tăng: nhiễm ký sinh trùng, dị ứng,…



13. BASO (Basophil – Bạch cầu đa múi ưa kiềm)



– Giá trị bình thường: 0 – 1.5% ( 0 – 0.2G/L)



– Tăng: một số trường hợp dị ứng, bệnh bạch cầu, suy giáp.



14. LUC (Large Unstained Cells)



– Có thể là các tế bào lympho lớn hoặc phản ứng, các monocyte hoặc các bạch cầu non.



– Giá trị bình thường: 0- 4% (0- 0.4G/L).



– Tăng: bệnh bạch cầu, suy thận mạn tính, phản ứng sau phẫu thuật và sốt rét, nhiễm một số loại virus (LUC bình thường ko loại trừ nhiễm virus vì không phải tất cả các virus có thể làm tăng số lượng LUC),…



15. PLT (Platelet Count – Số lượng tiểu cầu trong một thể tích máu):



– Tiểu cầu không phải là một tế bào hoàn chỉnh, mà là những mảnh vỡ của các tế bào chất (một thành phần của tế bào không chứa nhân của tế bào) được sinh ra từ những tế bào mẫu tiểu cầu trong tủy xương.



– Tiểu cầu đóng vai trò sống còn trong quá trình đông máu, có tuổi thọ trung bình 5- 9 ngày.



– Giá trị bình thường: 150–350G/L.



– Số lượng tiểu cầu quá thấp có thể gây ra chảy máu. Còn số lượng tiểu cầu quá cao sẽ hình thành cục máu đông, làm cản trở mạch máu có thể gây nên đột quỵ, nhồi máu cơ tim, nghẽn mạch phổi, tắc nghẽn mạch máu,…



– Tăng: rối loạn tăng sinh tuỷ xương, bệnh tăng tiểu cầu vô căn, xơ hoá tuỷ xương, sau chảy máu, sau phẫu thuật cắt bỏ lách, các bệnh viêm.



– Giảm: ức chế hoặc thay thế tuỷ xương, các chất hoá trị liệu, phì đại lách, đông máu trong lòng mạch rải rác, các kháng thể tiểu cầu, ban xuất huyết sau truyền máu, giảm tiểu cầu do miễn dịch đồng loại ở trẻ sơ sinh…



16. PDW (Platelet Disrabution Width – Độ phân bố tiểu cầu):



– Giá trị bình thường: 6 – 11%.



– Tăng: K phổi, bệnh hồng cầu liềm, nhiễm khuẩn huyết gram dương, gram âm.



– Giảm: nghiện rượu.



17. MPV (Mean Platelet Volume – Thể tích trung bìnhcủa tiểu cầu):



– Giá trị bình thường: 6,5 – 11fL.



– Tăng: bệnh tim mạch, tiểu đường, hút thuốc lá, stress, nhiễm độc do tuyến giáp…



– Giảm: thiếu máu do bất sản, thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, hoá trị liệu ung thư, bạch cầu cấp…






BS CKII. Trương Thị Minh Nguyệt



Khoa Huyết học – Bệnh viện TƯQĐ 108

Bạch cầu tăng, tiểu cầu giảm do đâu?

Hỏi: Mới đây, em gái tôi kiểm tra sức khỏe định kỳ thì phát hiện bạch cầu tăng, tiểu cầu giảm. Bình thường em gái tôi có một số biểu hiện như có vết thâm tím trên người, hay kêu nhức đầu… Xin hỏi bệnh của em tôi là gì? Có nguy hiểm không? (Nguyễn Hoài Nhạ – Thái Nguyên)

Trả lời:

Máu là chất lỏng màu đỏ lưu thông trong động mạch, tĩnh mạch, mao mạch. Máu có chức năng chuyên chở các chất đến các cơ quan và chức năng chống nhiễm khuẩn. Cấu tạo của máu gồm có các tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương.

Bạch cầu là một loại tế bào có màu trắng để phân biệt với hồng cầu có màu đỏ. Bạch cầu có nhiệm vụ tăng cường sức đề kháng của cơ thể với các tác nhân gây bệnh, nhất là các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm ký sinh trùng, nhiễm độc. Bình thường, bạch cầu dao động trong khoảng 4.000-10.000/mm3 máu. Tiểu cầu có vai trò quan trọng trong quá trình đông máu của cơ thể, số lượng tiểu cầu bình thường có khoảng 150.000 – 400.000/mm3 máu.

bach-cau-tang-tieu-cau-giam-do-dau

Nguyên nhân gây tăng bạch cầu do các bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn, ký sinh trùng hoặc gặp trong các trường hợp nhiễm khuẩn các cơ quan trong cơ thể như viêm phổi, áp-xe gan… hoặc trong các bệnh ung thư của hệ tạo máu như bệnh bạch cầu cấp tính, mạn tính. Còn giảm tiểu cầu thường gây hiện tượng chảy máu, nhất là ở các mạch máu nhỏ gây xuất huyết dưới da và các cơ quan khác trong cơ thể (như tiêu hoá, hô hấp, niêm mạc, não…). Có nhiều nguyên nhân gây giảm tiểu cầu như: cường lách, thiếu máu hồng cầu to, do tia phóng xạ… hoặc tiểu cầu vô căn. Trong thư bạn không nói rõ số lượng bạch cầu và tiểu cầu em gái bạn được xét nghiệm là bao nhiêu nên chúng tôi khó đưa ra được lời khuyên chính xác đó là bệnh gì. Tốt nhất bạn nên đưa em gái đến chuyên khoa huyết học bệnh viện Hồng Ngọc hoặc Bệnh viện Huyết học và Truyền máu Trung ương để có những thăm khám cụ thể và có biện pháp điều trị thích hợp.  

Một số thông tin về máu và hiến máu

Máu là một chất lỏng lưu thông trong hệ tuần hoàn của cơ thể. Máu gồm hai thành phần chính: các tế bào máu và huyết tương.

Thành phần và chức năng của máu:

 

Máu là một chất lỏng lưu thông trong hệ tuần hoàn của cơ thể. Máu gồm hai thành phần  chính: các tế bào máu và huyết tương.


Các tế bào máu bao gồm: 

– Hồng cầu: chiếm số lượng nhiều nhất, chứa huyết sắc tố (chất làm cho máu có màu đỏ). Hồng cầu làm nhiệm vụ vận chuyển khí ôxy từ phổi đến các mô và nhận khí cacbonic từ các mô tới phổi để đào thải. Đời sống trung bình của hồng cầu là 120 ngày; hồng cầu già bị tiêu hủy chủ yếu ở lách và gan. Tủy xương sinh các hồng cầu mới để thay thế và duy trì lượng hồng cầu ổn định trong cơ thể.

 

– Bạch cầu: Bạch cầu có chức năng bảo vệ cơ thể bằng cách phát hiện và tiêu diệt các “vật lạ” gây bệnh. Có nhiều loại bạch cầu khác nhau với đời sống từ một tuần đến vài tháng.  Bạch cầu được sinh ra tại tủy xương.

 

– Tiểu cầu: Là những mảnh tế bào rất nhỏ tham gia vào chức năng cầm máu bằng cách tạo các cục máu đông bịt các vết thương ở thành mạch máu. Ngoài ra, tiểu cầu còn làm cho thành mạch mềm mại, dẻo dai nhờ chức năng làm “trẻ hóa” tế bào nội mạc. Đời sống của tiểu cầu khoảng 7 – 10 ngày. Cũng giống như hồng cầu và bạch cầu, tủy xương là nơi sinh ra tiểu cầu.

 

Huyết tương: là phần dung dịch có màu vàng, thành phần chủ yếu là nước; ngoài ra còn có nhiều thành phần khác như: kháng thể, đạm, mỡ, đường, vitamin, muối khoáng, các men…

 

Huyết tương thay đổi theo tình trạng sinh lý trong cơ thể, ví dụ sau bữa ăn huyết tương có màu đục và trở nên trong, màu vàng chanh sau khi ăn vài giờ. Nếu đơn vị máu có huyết tương “đục” sẽ không được sử dụng vì có thể gây sốc, gây dị ứng cho người bệnh; vì vậy, người hiến máu chỉ nên ăn nhẹ, ăn ít đạm, ít mỡ trước khi hiến máu.

 

Lượng máu có trong cơ thể người

– Lượng máu ở người khỏe mạnh tương đối ổn định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, giới, cân nặng… Lượng máu tỷ lệ thuận với trọng lượng cơ thể, mỗi người có trung bình từ 70 – 80ml máu/kg cân nặng. Lượng máu tương đối ổn định nhờ cơ chế điều hòa giữa lượng máu sinh ra ở tủy xương và lượng máu bị mất đi hàng ngày. Tuy vậy, nếu mất một lượng máu quá lớn hoặc chức năng sinh máu của tủy xương bị rối loạn thì lượng máu trong cơ thể mất ổn định.

 

– Lượng máu liên quan trực tiếp đến hoạt động của cơ thể như khi mất nhiều mồ hôi, hoặc mất nước thì lượng máu có thể giảm do bị cô đặc. Trong những trường hợp bệnh lý như thiếu máu do mất máu, do suy tủy… lượng máu trong cơ thể sẽ bị thay đổi tùy thuộc tình trạng bệnh lý. Nếu mất trên 1/3 tổng lượng máu thì cơ thể sẽ bị rối loạn chức năng của nhiều cơ quan, có thể gây sốc, thậm chí bị tử vong.  

 

Hiến máu 

Hiến máu là khi một người tự nguyện cho máu của mình để dùng cho mục đích nghiên cứu, cấp cứu, điều trị cho bệnh nhân. Người hiến máu có thể hiến máu toàn phần hoặc một số thành phần máu.

 

– Hiến máu toàn phần: là hiến máu được lấy từ tĩnh mạch người hiến máu có chứa các loại tế bào máu, huyết tương và được chống đông.

 

– Hiến thành phần máu: là hiến một hoặc một số loại tế bào máu và hoặc huyết tương được lấy trực tiếp từ người hiến máu bằng gạn tách và được chống đông.

 

Tiêu chuẩn người hiến máu

Người hiến máu phải có đủ tiêu chuẩn về tuổi, sức khỏe và các điều kiện khác, cụ thể:

Tuổi: từ đủ 18 đến 60 tuổi.

 

Sức khỏe:

– Người có cân nặng ít nhất là 42 kg đối với nữ, 45 kg đối với nam được phép hiến máu toàn phần. Người có cân nặng ít nhất là 50 kg được phép hiến một hoặc nhiều thành phần máu bằng gạn tách.

 

– Không mắc các bệnh mạn tính, cấp tính về thần kinh, tâm thần, hô hấp, tuần hoàn, tiết niệu, tiêu hoá, gan mật, nội tiết, máu và tổ chức tạo máu, bệnh hệ thống, bệnh tự miễn, tình trạng dị ứng nặng; không có tiền sử lấy, hiến, ghép bộ phận cơ thể người; không nghiện ma tuý,  rượu; không có các khuyết tật nặng và đặc biệt theo quy định tại Luật Người khuyết tật; không sử dụng một số thuốc có nguy cơ gây đột biến di truyền theo quy định của Bộ Y tế; không mang thai, không mắc các bệnh lây truyền qua đường máu, đường tình dục tại thời điểm đăng ký hiến máu;

 

– Huyết áp tối đa trong khoảng từ 100 mmHg đến dưới 160 mmHg và tối thiểu trong khoảng từ 60 mmHg đến dưới 100 mmHg; Mạch trong khoảng từ 60 đến 90 lần/phút;

– Không có một trong các biểu hiện: gày, sút cân nhanh (trên 10% cân nặng cơ thể trong thời gian 6 tháng); da xanh, niêm mạc nhợt; hoa mắt, chóng mặt; vã mồ hôi trộm; hạch to xuất hiện nhiều nơi; sốt; phù; ho, khó thở; tiêu chảy; xuất huyết các loại; có các tổn thương, dấu hiệu bất thường trên da;

 

– Tùy theo hiến máu toàn phần hay thành phần máu mà người hiến máu phải làm các xét nghiệm phù hợp, kết quả xét nghiệm phải đạt tiêu chuẩn theo qui định của Bộ Y tế đối với người hiến máu.

 

Ngoài các tiêu chuẩn trên, việc được hiến máu do bác sỹ khám tuyển chọn người hiến máu xem xét, quyết định.

Những trường hợp phải trì hoãn hiến máu

 Những người phải trì hoãn hiến máu trong 12 tháng kể từ thờiđiểm:

 

– Phục hồi hoàn toàn sau các can thiệp ngoạikhoa;

 

– Khỏi bệnh sau khi mắc một trong các bệnh sốt rét, giang mai, lao, uốn ván, viêm não, viêm màng não;

 

– Kết thúc đợt tiêm vắc xin phòng bệnh dại sau khi bị động vật cắn hoặc tiêm, truyền máu, chế phẩm máu và các chế phẩm sinh học nguồn gốc từ máu;

 

– Sinh con hoặc chấm dứt thai nghén.

 

Những người phải trì hoãn hiến máu trong 06 tháng kể từ thờiđiểm:

 

– Xăm trổ trênda; Bấm dái tai, bấm mũi, bấm rốn hoặc các vị trí khác của cơthể;

 

– Phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể từ người có nguy cơ hoặc đã nhiễm các bệnh lây truyền qua đường máu;

 

– Khỏi bệnh sau khi mắc một trong các bệnh thương hàn, nhiễm trùng huyết, bị rắn cắn, viêm tắc động mạch, viêm tắc tĩnh mạch, viêm tuỷ xương, viêm tụy.

 

Những ngườì phải trì hoãn hiến máu trong 04 tuần kể từ thờiđiểm:

 

– Khỏi bệnh sau khi mắc một trong các bệnh viêm dạ dày ruột, viêm đường tiết niệu, viêm da nhiễm trùng, viêm phế quản, viêm phổi, sởi, ho gà, quai bị, sốt xuất huyết, kiết lỵ, rubella, tả, quaibị;

 

– Kết thúc đợt tiêm vắc xin phòng rubella, sởi, thương hàn, tả, quai bị, thủy đậu,BCG.

 

Những ngườì phải trì hoãn hiến máu trong 07 ngày kể từ thờiđiểm:

 

– Khỏi bệnh sau khi mắc một trong các bệnh cúm, cảm lạnh, dị ứng mũi họng, viêm họng, đau nửa đầuMigraine;

 

– Tiêm các loại vắc xin khác các loại đã được quy định ở trên.

 

Một số quy định liên quan đến nghề nghiệp và hoạt động đặc thù của người hiến máu:

 

Người làm những công việc, hoạt động đặc thù sau đây chỉ hiến máu trong ngày nghỉ hoặc chỉ thực hiện các công việc, hoạt động này sau khi hiến máu tối thiểu 12giờ:

 

– Người làm việc trên cao hoặc dưới độ sâu: phi công, lái cần cẩu, công nhân làm việc trên cao, người leo núi, thợ mỏ, thủy thủ, thợlặn;

 

– Người vận hành các phương tiện giao thông công cộng: lái xe buýt, lái tàu hoả, lái tàuthuỷ;

 

– Các trường hợp khác: vận động viên chuyên nghiệp; người vận động, tập luyệnnặng.

 

Ngoài các trường hợp trên việc trì hoãn hiến máu còn do bác sĩ khám tuyển chọn người hiến máu xem xét và quyết định.

Số lượng lấy máu hiến:

– Mỗi lần hiến máu toàn phần không quá 250 ml với người có cân nặng từ 42 kg đến dưới 45 kg; không quá 09 ml/kg cân nặng và không quá 500ml mỗi lần đối với người có cân nặng 45 kg trở lên.

 

– Mỗi lần hiến một hoặc nhiều thành phần của máu, tổng thể tích máu hiến không được quá 500 ml với người có cân nặng từ 50 kg; không quá 650 ml với người có cân nặng từ 60 kg.

 

Khoảng cách tối thiểu giữa 2 lần hiến máu liên tiếp:

 

– 12 tuần đối với hiến máu toàn phần hoặc khối hồng cầu bằng gạn tách;

 

– 02tuần đối với hiến huyết tương hoặc hiến tiểu cầu bằng gạn tách;

 

– Hiến bạch cầu hạt trung tính hoặc hiến tế bào gốc bằng gạn tách máu ngoại vi tối đa không quá ba lần trong 07ngày;

 

– Trường hợp xen kẽ hiến máu toàn phần và hiến các thành phần máu khác nhau ở cùng một người hiến máu thì khoảng thời gian tối thiểu giữa các lần hiến được xem xét theo loại thành phần máu đã hiến trong lần gần nhất.

 

Hiến máu theo đúng hướng dẫn không có hại cho sức khỏe

– Các thành phần máu chỉ có đời sống nhất  định và được thay thế hàng ngày. Ví dụ hồng cầu trong cơ thể có đời sống khoảng 120 ngày và được thay thế bởi hồng cầu mới;

 

– Cho đi dưới 1/10 lượng máu trong cơ thể thì không ảnh hưởng tới sức khoẻ.

 

Quyền lợi của người hiến máu tình nguyện: 

– Máu sẽ được hoàn trả cho bản thân người hiến máu khi có nhu cầu;

 

–  Được làm các xét nghiệm máu miễn phí để kiểm tra trước hiến máu;

 

– Được tư vấn miễn phí, đảm bảo bí mật về thông tin cá nhân; được cấp giấy chứng nhận hiến máu tình nguyện;

 

– Được chăm sóc, điều trị, hỗ trợ chi phí  khi có các tai biến không mong muốn xảy ra trong và sau hiến máu theo quy định của pháp luật;

 

– Được cơ quan có thẩm quyền xem xét tôn vinh, khen thưởng và bảo đảm các quyền lợi khác về tinh thần, vật chất theo quy định của pháp luật.

 

Một số lưu ý với người hiến máu: 

Trước khi hiến máu:

 

– Đêm trước không nên thức quá khuya;

 

– Ăn nhẹ, không uống rượu bia trước khi hiến máu;

 

– Mang theo chứng minh thư nhân dân hoặc thẻ hiến máu khi tham gia hiến máu;

 

–  Chuẩn bị tâm lý ổn định thoải mái…

 

Sau khi hiến máu: 

 

– Hạn chế các hoạt động gắng sức đòi hỏi nhiều thể lực như: đá bóng, tập thể hình, không leo trèo cao, không thức quá khuya;

 

– Tăng cường sử dụng các chất dinh dưỡng bổ máu: thịt, gan, trứng, sữa. Dùng thêm các thuốc cung cấp sắt nếu có thể;

 

– Hạn chế sử dụng rượu bia trong ngày đầu sau khi hiến máu.


 

Trung tâm KSBT Hà Nội

 

Bạch cầu tăng cao là bao nhiêu, có nguy hiểm không?

Bạch cầu là gì?

Bạch cầu là một loại tế bào máu có màu trắng để phân biệt với hồng cầu có màu đỏ. Bạch cầu là thành phần quan trọng có nhiệm vụ tăng cường sức đề kháng của cơ thể với các tác nhân gây bệnh, nhất là các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm ký sinh trùng, nhiễm độc. Nó được ví như một đội quân có nhiệm vụ chống lại mọi tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể chúng ta.

bach-cau-tang-cao-la-bao-nhieu-co-nguy-hiem-khong-voh

Bạch cầu có nhiệm vụ quan trọng trong cơ thể (Nguồn: Internet)

Bình thường, số lượng bạch cầu dao động trong khoảng 4.000 – 10.000/mm3 máu (theo đơn vị quốc tế là 4.0 – 10.0 Giga/lít, viết tắt là G/l).

Trong máu người bình thường, bạch cầu được chia làm chủ yếu 5 thành phần, có tỷ lệ và chức năng khác nhau trong việc bảo vệ cơ thể:

  • Bạch cầu đa nhân trung tính.
  • Bạch cầu đa nhân ưa axit.
  • Bạch cầu đa nhân ưa base.
  • Bạch cầu Lymphocyte.
  • Bạch cầu Monocyte.

Bạch cầu tăng bao nhiêu là cao?

Bạch cầu tăng là một hiện tượng trong đó số lượng tế bào bạch cầu tăng cao hơn so với bình thường. Chúng tích tụ gây cản trở lưu thông máu và can thiệp vào một số chức năng quan trọng của cơ thể bao gồm việc sản xuất ra các tế bào máu khỏe mạnh.

Nếu bạch cầu tăng quá cao, trên 100.000/ml thì chúng ta phải nghĩ đến những bệnh như bệnh ung thư của hệ tạo máu còn gọi là bạch cầu mạn hoặc bạch cầu cấp hay bệnh bạch cầu (bệnh máu trắng).

Dấu hiệu nhận biết bạch cầu tăng cao

Các triệu chứng và dấu hiệu của hiện tượng bạch cầu tăng cao gồm có:

bach-cau-tang-cao-la-bao-nhieu-co-nguy-hiem-khong-voh

Bạch cầu tăng cao dễ gây bầm tím trên cơ thể (Nguồn: Internet)

  • Mệt mỏi.
  • Giảm cân không rõ nguyên nhân.
  • Khó chịu hoặc có cảm giác chung của việc không khỏe.
  • Sốt.
  • Nhiễm trùng.
  • Khó thở, yếu cơ.
  • Vết thương khó lành.
  • Dễ bị chảy máu, bầm tím và đổ mồ hôi đêm.
  • Nổi mề đay, ngứa.

Vì sao bạch cầu tăng cao?

Bạch cầu tăng cao có nhiều nguyên nhân gây ra như:

  • Các bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn, kí sinh trùng khiến cơ thể gia tăng việc sản xuất bạch cầu để bảo vệ cơ thể hoặc gặp trong các trường hợp nhiễm khuẩn các cơ quan trong cơ thể như viêm phổi, áp xe gan, viêm ruột thừa, nhiễm trùng máu,…
  • Do bệnh nhân mắc phải những hội chứng di truyền như hội chứng Down, hội chứng Bloom, hội chứng Fanconi, hội chứng Wiskott Aldrich.
  • Bạch cầu tăng còn gặp trong bệnh bạch cầu (hay còn gọi là ung thư máu) là một bệnh máu ác tính do sự tăng sinh hỗn loạn của bạch cầu trong tủy xương, thường gặp nhất là tăng sinh dòng lympho bào cấp tính, bạch cầu tủy cấp tính (AML), bạch cầu lympho bào mạn tính.
  • Những yếu tố gia tăng nguy cơ phát triển bệnh như thuốc lá, bức xạ, hóa chất (thuốc trừ sâu, benzene…), corticosteroids và epinephrine.
  • Do điều trị bệnh ung thư: Một số loại hóa trị và xạ trị cho bệnh ung thư khác được coi là yếu tố nguy cơ cho bệnh tăng bạch cầu.

Bạch cầu tăng cao có nguy hiểm không?

Bạch cầu làm nhiệm vụ bảo vệ cơ thể bằng cách tiêu diệt các chất lạ xâm nhập cơ thể. Tuy nhiên, khi tế bào bạch cầu bị tăng số lượng một cách đột biến sẽ làm chúng thiếu “thức ăn” và có hiện tượng ăn hồng cầu.

Hồng cầu sẽ bị phá hủy dần dần, người bệnh sẽ có nguy cơ bị thiếu máu nặng và dẫn đến tử vong.

Như vậy, bạch cầu tăng cao sẽ gây nguy hiểm khi bệnh nhiễm trùng hoặc các bệnh lý khác đang diễn tiến nặng mà không được điều trị kịp thời.

Bạch cầu tăng cao điều trị bằng cách nào?

Khi có những dấu hiệu bạch cầu tăng cao, bạn cần nhanh chóng đến bệnh viện để thăm khám. Trước tiên, bạn cần được xét nghiệm máu và xác định nguyên nhân cụ thể. Nếu tăng bạch cầu do viêm nhiễm, bạn cần tập trung vào bộ phận bị nhiễm trùng và sử dụng thuốc kháng sinh để chống nhiễm trùng.

Số lượng bạch cầu sẽ tự hạ xuống khi tình trạng viêm nhiễm được chữa khỏi. Khi đó, hãy bổ sung thêm các chất như sắt, vitamin B9 và B12 vào chế độ ăn uống nếu có dấu hiệu bị thiếu máu.

Biện pháp phòng tránh bạch cầu tăng cao

Những điều sau đây sẽ góp phần làm giảm nguy cơ gây bệnh tăng bạch cầu:

bach-cau-tang-cao-la-bao-nhieu-co-nguy-hiem-khong-voh

Hãy từ bỏ thuốc lá để phòng ngừa bạch cầu tăng cao (Nguồn: Internet)

  • Duy trì lối sống lành mạnh, rửa tay thường xuyên để tránh nhiễm trùng hoặc các bệnh do ký sinh trùng.
  • Bỏ hút thuốc lá.
  • Uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ.
  • Cố gắng giảm thiểu căng thẳng trong cuộc sống và cân bằng cảm xúc của bản thân.
  • Hạn chế tiếp xúc với những yếu tố khiến bạn bị dị ứng.

Như vậy, đa phần các trường hợp tăng bạch cầu là một phản ứng của cơ thể với các tình trạng nhiễm trùng hoặc viêm nên đây không phải là tình trạng báo động. Tuy nhiên, nó cũng có thể liên quan đến các bệnh lý nghiêm trọng như ung thư bạch cầu hoặc các loại bệnh ung thư khác. Vì vậy, khi có dấu hiệu bất thường trên cơ thể hãy đi khám ngay để được bác sĩ chẩn đoán chính xác và tìm cách kiểm soát triệu chứng, điều trị bệnh thích hợp.

Tài liệu tham khảo:

  1. Trang suckhoedoisong.vn, cơ quan ngôn luận của Bộ Y tế
  2. Trang hellobacsi.com
  3. Trang vinmec.com
  4. Trang uebe.vn

Giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh là gì?

Triệu chứng

Triệu chứng thường xuất hiện ngay sau sinh.

Bạch cầu trung tính là một loại bạch cầu chống lại vi khuẩn. Giảm số lượng bạch cầu trung tính nặng sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm vi khuẩn. Sốt cũng là một triệu chứng thường gặp, nhưng điều này thường là do nhiễm trùng gây nên chứ không phải do mất bạch cầu trung tính. 

 src=

Chấn đoán

Trong suốt giai đoạn nhiễm trùng, bác sĩ sẽ tiến hành xét nghiệm công thức máu. Giảm bạch cầu trung tính nặng (dưới 500 tế bào/mcl) chỉ ảnh hưởng đến một loại tế bào máu là bạch cầu, còn hồng cầu và tiểu cầu nên ở mức bình thường. Thông thường, tế bào bạch cầu đơn nhân (một loại bạch cầu) sẽ tăng. Nếu có hơn 1 loại tế bào máu bị ảnh hưởng, những chẩn đoán khác như hội chứng Shwachman Diamond nên được xem xét.

Khi được chẩn đoán bệnh mất bạch cầu hạt nghiêm trọng, bạn sẽ tiếp tục được điều trị:

  • Đầu tiên bạn sẽ xét nghiệm công thức máu 2-3 lần mỗi tuần để loại bỏ chứng mất bạch cầu theo chu kì (lành tính hơn)
  • Bước tiếp theo là sinh thiết tủy xương. Xét nghiệm này bao gồm đưa một mẫu xương nhỏ từ xương chậu để đánh giá tủy xương là nơi bạch cầu sinh ra.
  • Trong chứng mất bạch cầu trung tính nặng bẩm sinh, tế bào được sinh ra một cách bình thường nhưng sau đó chúng sẽ chết trước khi được đưa vào vòng tuần hoàn.
  • Nếu tủy xương liên tục mất bạch cầu trung tính, bác sĩ sẽ gửi xét nghiệm gen để xác định loại đột biến mà bạn mắc. Điều náy khá quan trọng do chúng sẽ quyết định liệu bạn có truyền bệnh này cho con bạn hay không.

Điều trị

  • G-CFS (yếu tố kích thích cụm tế bào hạt) được tiêm dưới da hằng ngày. Thuốc này sẽ kích thích tủy xương sản xuất và giải phóng bạch cầu trưởng thành. Mục đích là đưa lượng bạch cầu trung tính về mức bình thường.
  • Cấy tủy xương: Cấy tủy xương thường được cân nhắc với những người đáp ứng kém với G-CFS. Nếu nhận được tủy cấy từ anh em, điều quan trọng là những người anh em này cũng phải không mắc chứng mất bạch cầu trung tính bẩm sinh.
  • Kháng sinh: nếu bạn mắc chứng bệnh này và bị sốt, bạn nên đến bệnh viện ngay. Sốt có thể là triệu chứng của nhiễm trùng.  Xét nghiệm máu nên được gửi đi để xác định nguyên nhân. Trong thời gian này bạn sẽ được truyền kháng sinh qua tĩnh mạch trong trường hợp bạn bị nhiễm trùng.
 src=

Những hậu quả lâu dài

Với việc điều trị tốt, tuổi thọ của những người mắc chứng mất bạch cầu trung tính bẩm sinh nặng sẽ được cải thiện đáng kể. Tăng tuổi thọ, bạn cũng sẽ có nguy cơ mắc hội chứng loạn sản tủy và ung thư bạch cầu cao hơn so với người bình thường. Nguy cơ này được xem như là thứ phát do điều trị bằng G-CFS nhưng cũng có thể xuất hiện như một biến chứng của bệnh.

Điệu trị với G-CFS có thể dẫn đến lách to. Thông thường tăng kích thước của lách sẽ làm giảm số lượng tiểu cầu. Nếu giảm tiểu cầu nghiêm trọng, bạn có thể cần cắt bỏ lách.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Phân biệt bệnh bạch cầu và ung thư bạch huyết

Bạch cầu cao nên ăn gì? – Cách cải thiện bệnh

Những người có bạch cầu cao nên ăn các loại trái cây, bí ngô, hải sản,…Cần tránh các thức uống chứa trà xanh, vitamin C, sữa chua,…để tránh gây bệnh thêm trầm trọng.

Bạch cầu được xem là một trong những thành phần chính trong máu với chức năng chính là tăng cường sức đề kháng, giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh.

bạch cầu cao nên ăn gì tốt cho sức khỏe

Bạch cầu tăng quá mức gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm

Do đâu lại có lượng bạch cầu cao? Nó có nguy hiểm như thế nào? Bạn nên có cách chăm sóc và chế độ dinh dưỡng ra sao? Cùng Thế Giới Điện Giải tìm hiểu cụ thể hơn những thông tin bệnh tăng bạch cầu cao.

1. Bạch cầu tăng cao là gì?

Các chuyên gia nhận định, bạch cầu là một trong những thành phần chính trong máu. Với nhiệm vụ tăng cường sức đề kháng và chống lại các tác nhân gây bệnh, đặc biệt là những căn bệnh về nhiễm trùng và nhiềm ký sinh trùng.

Lượng bạch cầu bình thường của người khỏe mạnh là 4.000/ml – 8.000/ml. Nếu vượt quá ngưỡng 8.000/ml, bạn đang có lượng bạch cầu cao. Nguy hiểm hơn nếu trên 10.000/ml, nó sẽ dẫn đến một căn bệnh khác, có thể là ung thư mà mọi người hay gọi là bạch cầu mạn hay bạch cầu cấp.

Bạch cầu tăng là tăng số lượng tế bào bạch cầu so với mức bình thường. Mặc dù tăng lên nhiều, những không thể giúp cơ thể chống lại sự nhiễm khuẩn trùng bình thường, gây cản trở lưu thông máu và tác động vào một số chức năng quan trọng bao gồm việc sản xuất các tế bào máu khỏe mạnh.

2. Nguyên nhân làm bạch cầu tăng cao

Bạch cầu giúp chống lại sự xâm nhập và tấn công của các vi khuẩn gây hại, giúp tăng sức đề kháng cho cơ thể. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố làm gia tăng số lượng bạch cầu trong máu, có thể bạn sẽ bắt gặp một số nguyên nhân dưới đây:

  • Di truyền: Nếu thành viên trong gia đình bạn có bạch cầu tăng cao, khả năng bạn sẽ bị nhiễm bệnh khá cao
  • Rối loại di truyền: Những căn bệnh như Down, Fanconi, hội chứng Bloom,,…
  • Do nhiễm trùng: Đây được xem là nguyên nhân chính của bệnh tăng bạch cầu cao. Khi cơ thể bị nhiễm trùng và đột ngột gia tăng bạch cầu để bảo vệ cơ thể.
  • Điều trị ung thư: Đây là yếu tố gây bệnh bạch cầu tăng cao. Khi hóa trị hoặc xạ trị khiến bạch cầu tăng cầu.

Ngoài ra, còn có những yếu tố khác như sử dụng thuốc lá, làm việc trong môi trường bức xạ, tiếp xúc nhiều hóa chất nguy hiểm,…

3. Dấu hiệu của bệnh bạch cầu tăng cao

dấu hiệu bạch cầu cao

Dấu hiệu của bạch cầu cao

Tùy vào mức độ nặng nhẹ của người bệnh sẽ có những dấu hiệu từ nhẹ đến nghiêm trọng như:

  • Cảm thấy cơ thể mệt mỏi, giảm cân không rõ lý do, cảm giác khó chịu, căng thẳng khi đi,…
  • Người bệnh bị sốt, có hiện tượng khó thở, yếu cơ.
  • Xuất hiện các vết bầm tím hoặc vết thương khó lành
  • Đột ngột chảy máu cam không rõ nguyên nhân

Ngoài ra, bạn có thể xác định chuẩn xác mình có tăng bạch cầu hây không, nên đi xét nghiệm máu. Để loại trừ trường hợp nguy hiểm như bạch cầu cấp, ung thư máu…

4. Bạch cầu tăng nên ăn gì?

Xây dựng chế độ dinh dưỡng là yếu tố quan trọng giúp hạn chế tình trạng bạch cầu tăng cao. Người đang mắc bệnh nên cần lựa chọ những thực phẩm:

Là một trong những loại củ được biết đến có tác dụng tăng cường số lượng hồng cầu trong máu hiệu quả nhất. Bạn có thể chế biến đa dạng như nấu canh, nấu cháo hoặc làm nước ép.

Đây là loại thực phẩm tăng cường lượng hồng cầu trong máu. Hơn nữa, trong bí ngô chứa nhiều vitamin A giúp cơ thể tạo ra protein và lượng tiểu cầu cần thiết. Bí ngô có thể dùng nấu canh, nấu sữa bí ngô hay nấu chè, nấu cháo,…

Trong củ cải chứa một lượng Fe khá lớn, kèm theo lượng vitamin và khoáng chất. Những chất này có tác dụng sản sinh ra hồng cầu, tăng cường hấp thụ và vận chuyển tối đa lượng oxi trong máu.

bạch cầu cao nên ăn củ cải

Củ cải có tác dụng sản sinh hồng cầu và vận chuyển oxi trong máu rất tốt

Những thực phẩm chứa nhiều chất sắt như thịt cừu, dê, lợn,… hỗ trợ qua trình tái tạo hồng cầu bị tổn thương trước đó và sản sinh tế bào hồng cầu mới.

Hải sản được xem là dưỡng chất thiết yếu cần thiết cho cơ thể trong quá trình sản sinh hồng cầu. Với các loại hải sản như tôm, hàu, cua,…sẽ giúp bạn tăng lượng hồng cầu cho cơ thể.

Loại rau có khả năng tại tạo tế bào hồng cầu bị tổn thương. Bạn có thế nấu canh, ăn sống hoặc ép lấy nước uống mỗi ngày.

5. Bạch cầu tăng không nên ăn gì?

Những thực phẩm không dành cho người bị bệnh bạch cầu tăng , vì nó có khả năng làm sản sinh bạch cầu nhiều hơn.

Trong trà xanh chứa nhiều chất chống oxy hóa, các mầm bệnh. Là yếu tố tác động đến quá trình sản sinh bạch cầu diễn ra nhanh và nhiều hơn.

Chất giúp sản sinh lượng bạch cầu nhiều trong máu là vitamin C. Cơ thể con người luôn cần vitamin C để tăng cường sức đề kháng, ngăn ngừa các bệnh do virus, vi khuẩn gây ra. Nhưng với những ngượi tăng bạch cầu không nên hấp thụ quá nhiều.

tránh hấp thụ vitamin c khi bạch cầu cao

Tránh hấp thụ vitamin C khi bạch cầu cao

Cần hạn chế các thực phẩm chứa nhiều vitamin C như cam, buổi, quýt, chanh,….

Tỏi là thực phẩm tăng số lượng bạch cầu hiệu quả, chống các lại nguy cơ bệnh, tăng hệ miễn dich. Bạn nên dùng tỏi khi bạch cầu trong máu trở lại bình thường.

Trong sữa chua có chứa probiotic, giúp cải thiện, tăng lượng bạch cầu trong máu. Do đó, bạn nên hạn chế sử dụng sữa chua.

Như vậy, đối với người bị tăng bạch cầu nên có chế độ dinh dưỡng phù hợp, nên ăn những thực phẩm cần thiết tốt cho sức khỏe. Hạn chế tối đa các thực phẩm gây hại khiến bệnh thêm trầm trọng. Bên cạnh đó, những người bị mắc bệnh nên đến bác sĩ để kiếm tra chính xác lượng bạch cầu trong cơ thể.

Tác giả: Minh Thư

Tin liên quan

Giảm Bạch Cầu Trung Tính

Giảm Bạch Cầu Trung Tính

Giảm bạch cầu trung tính là gì?

Giảm bạch cầu trung tính xảy ra khi mức bạch cầu trung tính thấp bất thường. Bạch cầu trung tính là một loại tế bào bạch cầu phổ biến, được tạo ra bởi tủy xương, lưu thông theo dòng máu và di chuyển đến các khu vực bị nhiễm trùng. Ngoài ra, bạch cầu trung tính còn giải phóng hóa chất để tiêu diệt các vi sinh vật xâm nhập và rất quan trọng trong việc chống lại nhiễm trùng, đặc biệt là nhiễm trùng gây ra do vi khuẩn.

Đối với người lớn, số lượng bạch cầu trung tính trên mỗi microliter máu nếu ít hơn 1.500 được coi là giảm bạch cầu trung tính. Đối với trẻ em, số lượng tế bào để đánh giá là giảm bạch cầu trung tính thay đổi theo tuổi.

Bên cạnh đó, một số trường hợp có số lượng bạch cầu trung tính thấp hơn trung bình, nhưng không tăng nguy cơ bị nhiễm trùng. Trong những trường hợp này, giảm bạch cầu trung tính không đáng phải lo ngại. Không những thế, số lượng bạch cầu trung tính ít hơn 1.000 trên mỗi microliter máu – đặc biệt ít hơn 500 bạch cầu trung tính trên mỗi microliter máu – được coi là giảm bạch cầu, thậm chí vi khuẩn bình thường ở miệng và đường tiêu hóa cũng có thể gây ra nhiễm trùng nghiêm trọng.

 src=

Hiện nay có 4 loại giảm bạch cầu trung tính:

Giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh: giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh xảy ra ngay lúc mới sinh. Giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh được gọi là hội chứng Kostmann. Bệnh này gây ra mức độ bạch cầu trung tính rất thấp. Trong một số trường hợp không có bạch cầu trung tính làm cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nguy cơ bị nhiễm trùng nghiêm trọng.

Giảm bạch cầu trung tính chu kỳ: giảm bạch cầu trung tính chu kỳ xảy ra ngay lúc trẻ mới được sinh. Giảm bạch cầu trung tính chu kỳ làm cho số lượng bạch cầu trung tính thay đổi trong chu kỳ (21 ngày). Số lượng bạch cầu trung tính giảm từ bình thường xuống thấp. Thời gian giảm bạch cầu có thể kéo dài vài ngày. Thời gian còn lại của chu kỳ có số lượng bạch cầu trung tính bình thường. Sau đó, chu kì khởi động và bắt đầu lại.

Giảm bạch cầu trung tính tự miễn dịch: trong giảm bạch cầu trung tính tự miễn, cơ thể tạo ra các kháng thể chống lại các bạch cầu trung tính. 

Những kháng thể này tiêu diệt các bạch cầu trung tính gây ra giảm số lượng bạch cầu trung tính. Giảm bạch cầu trung tính tự miễn phát triển sau này trong cuộc sống.

Giảm bạch cầu trung tính vô căn: giảm bạch cầu trung tính vô căn phát triển bất cứ lúc nào trong đời và có thể ảnh hưởng đến bất cứ ai. Hiện nguyên nhân chưa được xác định.

Nguyên nhân gây ra giảm bạch cầu trung tính là gì?

Sau đây là các nguyên nhân gây giảm bạch cầu trung tính bao gồm:

 src=

  • Vấn đề liên quan đến việc sản xuất bạch cầu trung tính trong tủy xương.
  • Phá hủy các bạch cầu trung tính bên ngoài tủy xương.
  • Nhiễm trùng.
  • Thiếu dinh dưỡng.

Nguyên nhân giảm sản xuất bạch cầu trung tính:

 src=

  • Trẻ sinh ra có một vấn đề liên quan đến sản xuất tế bào máu của tủy xương (bẩm sinh).
  • Bệnh bạch cầu và các tình trạng khác ảnh hưởng đến tủy xương hoặc dẫn đến suy tủy.
  • Xạ trị.
  • Hóa trị.

Một số loại nhiễm trùng có thể gây giảm bạch cầu trung tính:

 src=

  • Bệnh lao.
  • Bệnh sốt xuất huyết.
  • Nhiễm virus như vi-rút Epstein-Barr, cytomegalovirus, HIV, viêm gan siêu vi.

Giảm bạch cầu trung tính có thể là do hệ miễn dịch của cơ thể nhắm vào các tế bào bạch cầu trung tính. Điều này có thể liên quan đến các tình trạng tự miễn dịch như:

 src=

  • Bệnh Crohn.
  • Viêm khớp dạng thấp.
  • Lupus.

Ở một số trường hợp, giảm bạch cầu có thể do một số loại thuốc nhất định như:

 src=

  • Kháng sinh.
  • Thuốc huyết áp.
  • Thuốc tâm thần.
  • Thuốc động kinh.

Ngoài những nguyên nhân đã nêu ở trên thì các yếu tố sau đây làm tăng nguy cơ làm giảm bạch cầu trung tính như:

 src=

  • Ung thư.
  • Bệnh bạch cầu.
  • Hệ miễn dịch suy yếu.
  • Hóa trị và xạ trị.
  • Những người từ 70 tuổi trở lên có nguy cơ cao hơn.

Những triệu chứng giảm bạch cầu trung tính là gì?

Cho đến nay, Giảm bạch cầu trung tính thường không gây ra triệu chứng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, giảm bạch cầu trung tính được phát hiện khi làm các xét nghiệm máu vì một lý do không liên quan. Vì vậy, người bệnh có thể có các triệu chứng khác do nhiễm trùng hoặc vấn đề tiềm ẩn gây giảm bạch cầu trung tính.

Ngoài ra, nhiễm trùng có thể xảy ra như một biến chứng của giảm bạch cầu trung tính. Chúng thường xuất hiện nhất ở màng nhầy như trong miệng và da. Những nhiễm trùng này có thể xuất hiện như:

 src=

  • Loét.
  • Áp xe (rất nhiều mủ).
  • Phát ban.
  • Vết thương mất nhiều thời gian để chữa lành.
  • Sốt cũng là một triệu chứng phổ biến của nhiễm trùng.

Những kỹ thuật y tế chẩn đoán giảm bạch cầu trung tính là gì?

Một số xét nghiệm được dùng để chẩn đoán giảm bạch cầu trung tính:

 src=

  • Công thức máu toàn phần (CBC) đo đếm bạch cầu trung tính. Xét nghiệm CBC liên tục có thể giúp bác sĩ kiểm tra những thay đổi về số lượng bạch cầu trung tính ba lần mỗi tuần trong sáu tuần.
  • Xét nghiệm kháng thể trong máu để kiểm tra giảm bạch cầu trung tính do tự miễn.
  • Bác sĩ có thể hút tủy xương để kiểm tra tế bào tủy xương.
  • Sinh thiết tủy xương bằng cách khoan lấy một mẩu tủy xương nhỏ để xét nghiệm.
  • Xét nghiệm sinh học phân tử nghiên cứu cấu trúc tế bào.

Những phương pháp điều trị giảm bạch cầu trung tính là gì?

Hiện tại khi quyết định điều trị, bác sĩ sẽ tìm hiểu nguyên nhân và mức độ nghiêm trọng của tình trạng giảm bạch cầu trung tính. Đối với những trường hợp nhẹ thì có thể không cần điều trị. Trong nhiều trường hợp, giảm bạch cầu trung tính tự biến mất khi tủy xương phục hồi và bắt đầu sản xuất đủ tế bào máu trắng.

Sau đây là một số phương pháp điều trị giảm bạch cầu trung tính bao gồm:

Kháng sinh điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn nếu nguyên nhân cơ bản do nhiễm trùng.

Một phương pháp điều trị khác được gọi là yếu tố kích thích tạo dòng bạch cầu hạt (G-CSF). Cách này kích thích tủy xương tạo ra nhiều tế bào máu trắng hơn. Nó được sử dụng cho một số loại giảm bạch cầu trung tính, kể cả các loại bẩm sinh. Điều trị này có thể cứu sống những trường hợp giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh.

Thay đổi thuốc (nếu có thể) trong trường hợp giảm bạch cầu do thuốc gây ra.

 src=

Truyền bạch cầu hạt (bạch cầu).

Cấy ghép tế bào gốc có thể đem lại lợi ích trong việc điều trị một số loại giảm bạch cầu nghiêm trọng, bao gồm những loại gây ra bởi các vấn đề về tủy xương.

Nguy cơ nhiễm trùng nghiêm trọng thường tăng lên dẫn đến:

  • Số lượng bạch cầu trung tính giảm.
  • Thời gian giảm bạch cầu nghiêm trọng kéo dài hơn.

Sau đây là một số biện pháp khắc phục tại nhà có thể giúp mọi người đối phó với giảm bạch cầu trung tính:

 src=

  • Duy trì vệ sinh răng miệng sạch, khám răng thường xuyên và sử dụng nước súc miệng kháng khuẩn.
  • Tiêm phòng vắc xin thường xuyên.
  • Đi bác sĩ khi bị sốt trên 38,5°C.
  • Rửa tay sạch sẽ.
  • Chăm sóc các vết cắt và trầy xước.
  • Sử dụng thuốc kháng sinh và thuốc chống nấm theo chỉ dẫn.
  • Nói chuyện với bác sĩ trước khi đi du lịch nước ngoài.

KHÓA PROTEIN ĐỂ NGĂN SỰ DI CĂN CỦA UNG THƯ BẠCH CẦU

Ung thư bạch cầu cấp tính dòng tủy (AML) là một loại ung thư xâm lấn và gây hại nhiều nhất. Bệnh ít biểu hiện triệu chứng và tỉ lệ sống trong vòng 5 năm chỉ 24%. Tuy nhiên, phương pháp điều trị sẽ nhanh chóng được cải thiện vì các nhà nghiên cứu đến từ Walter and Eliza Hall Institute ở Melbourne, Úc đã xác định được protein giữ vai trò chủ chốt trong sự di căn của ung thư máu.

Protein đó là Hhex protein, bằng cách làm ngưng sự sản xuất của nó, nhóm nghiên cứu đã cho thấy ung thư có thể bị chặn lại khi di căn và ít nhất có thể xảy ra trong điều kiện thí nghiệm. Bước kế tiếp là xem thử cơ chế “phanh tay – handbrake” tương tự có phải hoạt động trên người hay không, các dấu hiệu ban đầu khả quan.

Các nhà nghiên cứu thấy rằng khi ngừng cung cấp Hhex thì ung thư bạch cầu ngừng di căn không kiểm soát. Hơn thế nữa, protein này không cần thiết cho tế bào máu bình thường, điều này mở ra hy vọng cho liệu pháp nhắm trúng đích Hhex mà không bị tác dụng không mong muốn, điển hình là tác dụng phụ do điều trị AML.

“Hầu hết các liệu pháp điều trị AML hiện nay không đặc hiệu cho ung thư và thường giết cả tế bào máu khỏe mạnh trong quá trình trị liệu”, Matt McCormack, một trong các nhà nghiên cứu đã nói. “Hhex chỉ cần thiết cho tế bào ung thư bạch cầu, nghĩa là chúng ta có thể nhắm đích và điều trị ung thư bạch cầu mà không gây độc trên tế bào bình thường, qua đó tránh được nhiều tác dụng phụ nguy hiểm khi điều trị ưng thư bằng các liệu pháp chuẩn.”

Trong khi cơ thể có cơ chế tự bảo vệ để làm ngưng các tế bào bị stress và ngăn các tế bào này nhân lên có thể thành ung thư – protein Hhex bất hoạt cơ chế này nên cho phép các tế bào bị bư hại lây lan. Nếu các nhà khoa học có thể loại bỏ Hhex, các quá trình an toàn bình thường diễn ra trong cơ thể có thể được hồi phục và sự di căn của ung thư như AML có thể được kiểm soát.

McCormack nói “Hhex chỉ điều hòa một số lượng nhỏ gen và nó không cần thiết cho tế bào máu bình thường. “Điều này cho chúng ta một cơ hội hiếm hoi để tiêu diệt tế bào AML mà không gây ra nhiều tác dụng phụ. Chúng tôi hy vọng xác định chính xác vùng protein Hhex có chức năng này, điều này giúp chúng tôi thiết kế thuốc mới cần thiết hơn để điều trị AML.”

Vì hiện nay các nhà khoa học biết tế bào AML phát triển không kiểm soát bằng cách nào nên họ có thể sử dụng cách nào đó để kiểm soát sự phát triển của tế bào AML. Trong khi thuốc hiện hành có thể bị ngưng thì thuốc này có thể giúp bệnh nhân giảm đau và chịu những tác dụng do phương pháp điều trị hiện tại, cũng như cải thiện tiên lượng bệnh trong thời gian dài.

31.1

Hình minh họa từ sciencealert

 

 

LÊ VĂN TRÌNH – LÊ THỊ KIM HÒA dịch

Theo sciencealert.com

Địa chỉ email: lvtrinh@hcmus.edu.vn lethikimhoa19492@gmail.com

Link: http://www.sciencealert.com/new-protein-handbrake-stops-leukaemia-in-its-tracks

 

Leave your Comment